Hồi 43 – Vào Bạch Ðằng trúng kế, Hán Đế Hầu nguy

Hàn đế bàn tính với triều thần xong, truyền lệnh khởi binh tấn phát.

Quân gồm ba mươi vạn, tướng mạnh năm mươi viên, gồm có Tào Tham, Phàn Khoái, Ngân Hấp, Lư Quán là những tay dõng tướng.

Hán đế giao Tiêu Hà coi việc triều chính, rồi phái người đến Bạch Ðằng, Thái Nguyên xem xét địch tình.

Bấy giờ Hàn vương là Cơ Tín, đóng tại thành Tấn Dương, Chúa Hung Nô là Mặc Ðặc ở đất Ðại Cốc, đều hay tin Hán đế ra binh, cho người đi thám thính, liền đem những binh mã khỏe mạnh giấu cả sau núi, chỉ để lại trong dinh toàn những binh lao, mã liệt, đi đứng liểng xiểng.

Người do thám của Hán đế thấy vậy mỉm cười, trở về báo lại. Giữa lúc đó Hán đế đã đóng binh nơi Triệu Thành.

Hán đế muốn kéo đại binh đến đánh gấp, Trần Bình can:

– Người Hung Nô quỷ quyệt, lại thêm Cơ Tín liên kết e rằng chúng dùng mưu gạt ta đó. Cần phải dò xem biết đích thực mới tiến binh.

Hán đế hỏi:

– Sức mạnh của Mặc Ðặc, Cơ Tín, so với Hạng Vũ ai hơn?

Trần Bình tâu:

– Mặc Ðặc cũng là tay vũ dũng chớ nên xem thường.

Hán đế lòng nghi ngại, vội sai Lâu Kính đi thám thính lần nữa.

Lâu Kính đi vài ngày trở về tâu.

– Xưa nay hai nước đối đích thường đem cái hay, cái mạnh ra khoe. Nay Mặc Ðặc cạnh trại bừa bải,quân mã gầy còm, chắc là hắn giấu những quân tinh nhuệ đi để gạt ta. Vậy xin Bệ hạ hãy thong thả để dò xét kỹ càng đã.

Hán đế hét lớn nói:

– Ta sai nhà ngươi đi thám thính, nhà ngươi đã không dò được địch tình, còn trở về kiếm lời láo khoét làm nhụt chí ba quân.

Nói xong, sai tả, hữu bắt Lâu Kính giam nơi Triệu Thành, rồi truyền quân nhổ trại tấn phát.

Quân đi một ngày đến Bành Thành, Hán đế sai Phàn Khoái thử đi dò thám.

Phàn Khoái đến nơi, thấy quân Mặc Ðặc yếu ớt, đóng đồn trên núi Tiểu Tùng phía Bắc, độ vài vạn người.

Phàn Khoái trở về tâu với Hán đế.

Hán đế cười khúc khích nói:

– Lâu Kính tư thông với Hung Nô, sợ đại binh của trẫm kéo đến nên tìm cách cản trở trẫm, để có thì giờ cho địch quân rút lui. Nay tình hình đã rõ, còn chờ gì không diệt địch.

Nói xong xua ba quân tiến thẳng vào thành. Quân trong thành rất ít, họ kháng cự qua loa rồi mở cửa đầu hàng.

Hán đế đem binh vào thành kiểm điểm ba quân, mở tiệc ăn mừng.

Giữa lúc đó bên ngoài có tiếng súng nổ vang trời.

Tiếp theo đó, tiếng quân reo dậy đất. Quân Hung Nô ồ ạt kéo đến, vây phủ bốn mặt, đèn đuốc nối liền nhau tỏa ánh sáng hơn năm dặm.

Hán đế thất kinh nói:

– Ta đây lầm kế của giặc rồi. Chỉ vì ta không chiu nghe lời Lâu Kính.

Bèn đòi Trần Bình vào vấn kế.

Trần Bình tâu:

– Quân Hung Nô tính hiếu chiến lại liều lĩnh, quân ta không nên dùng sức kháng địch, phải dùng kế lừa họ mới mong thoát khỏi vòng vây.

Hán đế hỏi:

– Kể ấy như thế nào?

Trần Bình nói:

– Hạ thần có nghe Mặc Ðặc thường hay chiều chuộng người vợ là Át Chi. Mọi việt đều do nàng Át Chi chủ trương. Vợ chồng một bước không rời nhau. Nay sai người họa một bức tranh mỹ nhân tuyệt đẹp, đem dâng cho Át Chi và nói: “Vua Hán vì bị vây khốn nên muốn đem mỹ nhân này cống hiến cho Mặc Ðặc, nhờ phu nhân chuyển đạt”. Nàng Át Chi tất ghen chồng, sợ chồng say mê sắc đẹp, khuyên Mặc Ðặc rút quân.

Hán đế khen là diệu kế, truyền Trần Bình lựa thợ khéo vẽ bức tranh, rồi sai người lén ra ngoài thành, dùng vàng bạc đút lót cho kẻ thân tín nàng Át Chi, để dâng cho nàng Át Chi bức tranh ấy.

Át Chi xem bức tranh, rõ được sự tình, lòng ghen tức lẩm bẩm:

– Nếu để Ðại vương vây thành Hán, Hán đế cống mỹ nhân, Ðại vương sẽ say mê người ấy thì địa vị ta sau này ra sao? Chi bằng khuyên Ðại vương rút binh để cho Hán đế khỏi phải tiến dâng mỹ nữ.

Ðêm hôm ấy, nàng Át Chi nói với Mặc Ðặc:

– Hán đế bị vây đến nay đã bảy ngày mà không hề nao núng. Như vậy là lòng trời phù hộ Hán đế. Vả lại Hán đế là chân mệnh, các chư hầu khắp nơi đều tùng phục. Nếu ta cứ vây mãi, lỡ ra binh mã các nơi đến ứng cứu thì ta cự sao lại?

Mặc Ðặc nói:

– Nàng nói cũng phải! Quân ta cần chỗ tốc chiến tốc thắng. Nếu vậy lâu ngày bất lợi.

Sáng hôm sau Mặc Ðặc truyền lệnh giải binh.

Cơ Tín nghe lệnh ấy ngạc nhiên vào yết kiến Mặc Ðặc, nói:

– Ðại vương đã vây Hán đế nơi đây, cớ sao lại giải binh?

Mặc Ðặc nói:

– Quân ta vây nơi đây lâu ngày, chư hầu kéo đến ứng cứu thì cự sao lại. Chi bằng tính trước đi để bảo tồn thực lực.

Cơ Tín nói:

– Ðại vương lầm kế của Hán đế rồi. Tôi có nghe Hán đế họa hình mỹ nhân sang dâng cho Ðại vương yêu cầu Ðại vương rút quân. Việc này chỉ là kế để lừa gạt ta, chứ Hán đế làm gì có mỹ nhân?

Mặc Ðạc nghe nói ngạc nhiên, dò hỏi hồi lâu mới rõ tự sự, liền nói:

– Nếu Hán để đã chịu dâng mỹ nhân vậy ta bắt phải trình diện xem thử.

Ðêm hôm ấy, Mặc Ðặc đứng dưới thành, kêu quân Hán nói:

– Nếu Hán đế chịu dâng mỹ nhân thì phải dẫn lên thành để ta xem mặt.

Quân vào báo. Hán đế liền gọi Trần Bình vào hỏi:

– Mặc Ðặc đòi xem mặt mỹ nhân, nay phải liệu làm sao?

Trần Bình nói:

– Tôi đã tính trước rồi, nên có sai thợ làm mấy tượng hình gỗ. Bây giờ đem trang điểm, cho ăn mặc sang trọng, dắt lên thành, dưới ánh đèn mập mờ, thế nào chúa Hung Nô cũng phải lầm.

Hán đế nhận lời. Trần Bình sai trang điểm các tượng gỗ, dựng trên cửa thành, rồi gọi Mặc Ðặc đến xem.

Dưới ánh đèn lồng, áo xiêm lòe loẹt, son phấn rực rỡ, Mặc Ðặc trông thấy hơn vài mười mỹ nữ, mặt mày xinh xắn, lòng say sưa, không kể lời can gián của Cơ Tính và lòng phẫn nộ của nàng Át Chi, nhất định lui binh, để cho quân Hán thoát nạn.

Hán đế thấy quân Hung Nô rút lui, liền truyền quân kéo ra khỏi thành, nhắm hướng Nam tẩu thoát.

Mạc Ðặc thấy quân Hán đã ra hết liền đem quân vào thành bắt mỹ nữ. Nhưng khi vào đến nơi, thấy các mỹ nữ ấy toàn là tượng gỗ.

Vua tôi ngơ ngác nhìn nhau, lòng căm tức chẳng cùng.

Giữa lúc đó, Hán đế đã lui binh về đến Triệu Thành, cùng văn võ bá quan mở tiệc ăn mừng.

Nghĩ đến Lâu Kính là người bị hàm oan, Hán đế truyền quân mở ngục, thả Lâu Kính ra và phủ dụ rằng:

– Trẫm không nghe lời khanh, suýt bị giặc Hung Nô bắt giết. Nay trẫm đã thấy lỗi, và rõ khanh là kẻ có công.

Vậy trẫm phong cho khanh làm Kiến Tín Hầu.

Ngày hôm sau, Hán đế kéo quân về Nam, đi ngang huyện Khúc Ốc, thấy nơi đó thành trì đẹp đẽ, đường sá thẳng tắp, dân chúng đông đảo, lòng thích thú nói với tả hữu:

– Huyện Khúc Ốc này đẹp thay! Ta đi chu du trong thiên hạ rất nhiều, nhưng không đâu đẹp bằng Lạc Dương và Khúc Ốc.

Nói xong, gọi Trần Bình đến phán:

– Trẫm được khanh nhiều lần bày kế, giúp nhiều việc lớn vậy trẫm phong cho khanh đất Khúc Ốc này.

Trần Bình nói:

– Ðó không phải là tài năng của hạ thần mà chính là nhờ hồng phúc của Bệ hạ.

Hán đế nói:

– Lòng trẫm đã định, khanh chớ khiêm nhượng.

Trần Bình dập đầu tạ ơn.

Mấy ngày sau đại binh về đến Tràng An, thấy Tiêu Hà xây dựng cung Vị Ương rát tráng lệ Hán đế nổi giận:

– Thiên hạ loạn lạc đã mấy năm nay, mới bình định xong, lúc này là lúc cần nên thiết dụng, để thiên hạ đỡ tốn kém, lo việc làm ăn, cớ sao lại phung phí?

Tiêu Hà nói:

– Thiên tử lấy bốn bể làm nhà, nếu cung thất không tráng lệ sao đủ tỏ uy quyền với thiên hạ?

Hán đế nói:

– Cung thất đã làm xong, dẫu có nói cũng không ích gì nữa. Song trẫm không muốn một mình hưởng sự giàu sang đó.

Liền sai tả, hữu mời Thái thượng hoàng đến rồi cùng các quan đặt tiệc vui chung.

Tiệc tan, quần thần đưa Thái thượng hoàng về cung an nghỉ.

Hán đế chợt nhớ đến Hàn Tín lâu nay bị bệnh không vào chầu, liền sai tả, hữu mời Hàn Tín đến phủ dụ.

– Khanh đã lâu không vào chầu. Trong lúc bá quan chung vui an lạc mà vắng khanh, trẫm mong nhớ lắm, nên vời vào đây để thăm viếng.

Hàn Tín nói:

– Ngày xưa, khi thần cầm quân đánh Sở, có khi đến mười ngày không được ăn no, vì mất sức lâu ngày thành bệnh. Nay nhàn rỗi, bệnh cũ trở lại. Hạ thần nhiều lúc cũng nhớ long nhan, song không làm sao đặng.

Hán đế nói:

– Khanh có bệnh, nên tìm thầy thuốc điều trị cho khỏi, chớ nên chậm trễ.

Hàn Tín tâu:

– Hạ thần vì vô sự nên sinh bệnh, chứ nếu được làm công việc gì thì bệnh tật tất khỏi hẳn.

Hán đế nói:

– Khanh là một kẻ có tài, rất quan hệ trong lúc biến loạn. Khanh nên bảo trọng đến tấm thân hữu dụng của khanh.

Ðoạn, Hán đế lại cùng Hàn Tín bàn luận về các tướng, người nào có thể chống được giặc, người nào không cầm được quân.

Hàn Tín nhất nhất tâu bày, Hán đế rất hợp ý, và nhân lúc vui miệng hỏi:

– Như trẫm có thể cầm được bao nhiêu quân?

Hàn Tín nói:

– Bệ hạ bất quá chỉ cầm được mười vạn quân mà thôi.

Hán đế hỏi:

– Trẫm so với tướng quân thì như thế nào?

Hàn Tín nói:

– Như hạ thần thì quân càng nhiều càng tốt.

Hàn đế cười lớn nói:

– Càng nhiều càng tốt cớ sao còn bị trẫm bắt?

Hàn Tín nói:

– Bệ hạ không giỏi cầm quân nhưng giỏi cầm tướng.

Vì thế mà thần bị Bệ hạ bắt. Vả lại, Bệ hạ có trời giúp, không phải sức người mà làm nên như thế được.

Hán đế nghe lời giải bày của Hàn Tín, tuy ngoài mặt vui cười, song lòng thêm nghi kỵ, bèn cho về dinh dưỡng bệnh chứ không tính đến việc gia phong nữa.

Hàn Tín buồn bã, bái tạ Hán đế trở về dinh. Mối buồn quanh quẩn mãi không nguôi.

Trong lúc đó, chẳng những Hàn Tín mang mối sầu riêng, mà Trương Lương cũng buồn bã không kém

Từ khi Hàn vương là Cơ Tín họp binh với Hung Nô mưu phản. Trương Lương cáo bệnh, ngồi nơi tư dinh suốt ngày tịnh cốc.

Hễ ai đến chơi, Trương Lương lại nói:

– Ðời người chẳng khác nào bóng câu qua cửa sổ, trăm năm chi là một cái chớp mắt thì công danh phú quý mà chi! Tôi muốn vào núi tầm tiên học đạo, tìm kế trường sinh, thoát vòng danh lợi, nhưng vì Hoàng thượng quá trọng hậu tôi, nên tôi chưa nỡ rời.

Hán vương thấy Trương Lương không vào chầu, lòng nghi hoặc, nhưng khi nghe Trương Lương nói câu ấy lấy làm lạ. Một hôm cho vời Trương Lương vào dò ý:

– Trẫm từ khi được Tiên sinh chẳng khác nào như chim hồng thêm cánh. Nhờ Tiên sinh mà trẫm dựng nên nghiệp cả, ý trẫm muốn lựa một nước lớn phong cho để đền ơn Tiên sinh.

Trương Lương nói:

– Thần từ khi theo Bệ hạ vào đất Quan Trung, được nhờ hồng đức của Bệ hạ làm nên đôi việc. Tuy nhiên, thần là kẻ áo vải, chân không mà được Bệ hạ cho làm Lưu hầu thế cũng đã cao sang lắm rồi, đâu còn dàm mong ước gì hơn. Sau khi đã được đội ơn dày của Bệ hạ thần muốn xa lánh nhân gian, theo ông Xích Tùng Tử tu luyện, nghiên cứu cái phép tịnh cốc làm kế trường sinh, để sống một cuộc đời an nhàn cho thỏa thích.

Hán đế thấy Trương Lương có ý thành thực và khẩn thiết, bèn chuẩn y cho về dưỡng bệnh, lại truyền mỗi tháng phải một lần vào chầu.

Trương Lương từ đó đóng cửa, không bước chân ra khỏi nhà ngồi tu tâm dưỡng tánh, mỗi tháng chỉ theo các quan vào chầu một lần. Khi tan chầu chẳng hề bận nghĩ đến điều gì cả.

Một hôm con Trương Lương là Trương Tích Cường nói với cha:

– Phụ thân suốt đời tận tụy việc nước, công lao rất lớn. Ðến lúc nước thịnh dân an, lẽ ra vui hưởng phú quý, sao lại cam chịu khắc khổ?

Trương Lương nói:

– Mày có biết đâu được thói đời leo cao té nặng, càng vinh hoa phú quý càng mang lấy họa vào thân. Hễ ngồi cao thì bị đời ghen ghét, vua sanh lòng ngờ. Cái phú quý ấy chẳng khác nào như phù vân. Sao bằng đem vinh hoa đổi lấy gió mây, tận hưởng cảnh thanh nhàn, không vướng mùi tục lụy.

Tích Cường bái phục thưa:

– Bây giờ con mới rõ cái tịch cốc của phụ thân tức là phương châm giữ mình vậy.

Sau đó Trương Lương thường ngao du sơn thủy để hưởng nhàn.

Một hôm, đến phía Ðông Cốc thành, chợt thấy một hang đá vàng, Trương Lương chợt nghĩ:

– Năm xưa ta gặp ông già ở Dĩ Thượng, ông ấy có nói sau này có gặp một viên đá vàng ở Cốc Thành tức là ông ta vậy. Thế thì lời nói ấy nay quả ứng nghiệm.

Nghĩ rồi liền phục lạy mấy lạy để đền ơn.

Nhắc lại vua Hung Nô Mặc Ðặc giận vì Hán đế dùng mỹ nhân kế đánh lừa, lòng căm tức, đem đại binh phá rối nơi biên cương, cướp của giết người làm xôn xao thiên hạ.

Các phủ, huyện dâng sớ về triều xin viện binh. Hán đế lấy làm lo lắng.

Lâu Kính thấy vậy bước ra tâu:

– Thiên hạ lâm cảnh chiến tranh lâu ngày, ai cũng chán ngán. Nếu nay lại động binh e trái lòng dân. Vả lại Mặc Ðặc là kẻ phi nhân cướp ngôi cha, lấy vợ cha. Người như thế không thể dùng đạo đức chinh phục được. Chi bằng Bệ hạ đem trưởng công chúa gả cho Mặc Ðặc. Mặc Ðặc yêu công chúa tất lập làm chánh cung, sau này có con nối ngôi sẽ là cháu ngoại của Bệ hạ. Ðiều đó rất có lợi.

Hán đế nói:

– Ta đường đường là một thiên triều, đất cất gồm thâu bốn bể, binh uy cường mạnh, quốc thể không hèn, lại không có cách gì chống đối với Hung Nô hay sao mà phải đem công chúa gả cho phường tanh hôi vô đạo.

Lâu Kính thưa:

– Bệ hạ dùng nhân đức thu phục sơn hà. Ðã bao lâu, sinh linh khổ sở về binh cách. Nay Bệ hạ cầu hòa với Hung Nô không phải vì hèn yếu, mà chính vì muốn cho dân chúng được an lạc, ấm no. Còn việc gả công chúa cho Mặc Ðặc, chỉ cần chọn một mỹ nữ trong dân giả, giả làm công chúa mà thôi.

Hán đế theo lời, lựa một mỹ nhân giả làm công chúa, đưa đến thành Thái Nguyên để cùng Mặc Ðặc giảng hòa.

Mặc Ðặc hay được việc ấy lòng mừng khấp khởi thân hành ra khỏi thành đón rước sứ giả, nhận lãnh công chúa, và dập đầu về phía Nam lạy tạ, hứa chẳng bao giờ quấy rối biên cương nữa.

Sứ giả làm xong việc ấy, về triều phục chỉ. Hán đế mừng rỡ ban thưởng Lâu Kính rất hậu.

Lâu Kính lại tâu:

– Ðất Tần Trung từ sau khi bị tàn phá, dân thưa, ruộng hoang, phía Bắc lại gần rợ Hồ, phía Ðông giáp sáu nước chư hầu Tề, Sở, Yên, Triệu, Hàn, Ngụy. Nay phải tập trung dân giả, cùng các nhà hào kiệt nơi đó lo việc khai khẩn ruộng nương, tích lũy đồn binh, lúc bình thì lo việc sản xuất, lúc biến chuyển ra thế phòng ngự, như thế mới mong cơ nghiệp lâu dài.

Hán đế khen phải, liền ra lệnh di dân sáu nước cùng các hào kiệt các nơi đến đó hơn mười vạn.

Bây giờ trong nước vô sự, triều đình nhàn rỗi.

Một hôm Hán đế thấy nàng Thích Cơ sanh đựợc đứa con trai là Như Ý, tuổi đã lớn khôn, tư chất lại thông minh hơn Thái tử Doanh. Hán đế có ý muốn bỏ Thái tử Doanh lập Như Ý làm Thái tử, nên đem việc ấy bàn với quần thần.

Quan Thượng đại phu là Chu Xương nghe nói thất kinh, bước ra can:

– Không nên! Không nên! Bệ hạ làm như thế tức là tự gây cho mình mối loạn đó.

Hồi 44 – Trần Hy mưu phản Triệu Ðại

Hán đế muốn bỏ Thái tử Doanh, lập Như Ý, quần thần can gián, Hán đế theo lời, không nghĩ đến việc ấy nữa.

Cách vài hôm sau, có quan Thái thú Triệu Ðại sai người vê triều báo rằng:

– Quân Phiên lại kéo đến đánh phá nơi biên giới, dân chúng bỏ chạy trốn, các quận, huyện không làm sao cự nổi, nếu triều đình không kíp phái binh đến e cả vùng Yên, Triệu đều phải thất thủ.

Hán đế chưa biết tính lẽ nào, quần thần ai nấy đều lo lắng. Trần Bình tâu:

– Cứu binh rất gấp, Anh Bố và Bành Việt đều ở xa, không thể gọi ngay được. Hàn Tín thì trí sĩ vô quyền, không thể dùng, duy có Trần Hy, trí dũng gồm đủ, xin Bệ hạ sai đem quân ra biên giới mới cự nổi giặc.

Hán đế cho triệu Trần Hy đến phán:

– Trẫm lâu nay đã mỏi việc binh, lần này quân Phiền lại đến phá rối nữa, thanh thế rất lớn. Nay khanh nên vì ta cử binh mười vạn, đem theo các quân dụng do Hàn Tín trước kia chế ra, đến Ðại Châu trừ khử quân giặc.

Trần Hy tâu:

– Thần vâng chiếu mệnh Bệ hạ, đâu dám chẳng ra công. Nhưng e binh lực không đủ chống với quân giặc chăng?

Hán đế nói.

– Trẫm sẽ ban cho khanh ấn phù, nếu binh mã không đủ thì đi đến đâu lấy thêm đến đấy.

Trần Hy bái biệt Hán đế, đem mười vạn quân đến Ðai Châu.

Nhân lúc đi ngang qua nhà riêng của Hàn Tín, Trần Hy nghĩ mình trước kia chịu ơn Hàn Tín rất nhiều, lại nhờ Hàn Tín chỉ dạy binh pháp nên ghé vào để vấn kế.

Hai người gặp nhau thi lễ xong, Trần Hy nói:

– Tôi vâng mệnh Hoàng thượng đem quân đến Ðại Châu bình Phiên tặc. Nhân ghé sang đây nhờ đại nhân chỉ bảo đôi lời.

Hàn Tín lưu Trần Hy ở lại chơi, đặt tiệc khoản đãi.

Trong lúc đối ẩm, Hàn Tín đuổi hết tả, hữu ra ngoài, rồi nói:

– Ông đem quân bình Phiên sẽ gặp nhiều gian nan khổ sở. Tuy nhiên, cái công khó ấy chẳng đem lại lợi ích gì.

Hàn Tín nói đến đấy, thấy Trần Hy ngơ ngác chưa hiểu, liền nói tiếp:

– Công bình Phiên của ông ngày nay với công phá Sở của tôi trước kia ai hơn?

Trần Hy nói:

– Công phá Sở của đại nhân là cái công muôn đời! Tôi sánh sao kịp?

Hàn Tín nói:

– Thế mà ngày nay tôi bị bỏ rơi, ngồi một xó. Ô dẫu có bình được giặc Phiên cũng chẳng ích gì. Chi bằng sẵn dịp ông đang cầm đại binh trong tay, mưu việc lớn, đoạt thiên hạ. Tôi sẽ tùy cơ làm nội ứng giúp đỡ ông.

Trần Hy suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Tôi nghe theo lời dạy của đại nhân.

Hai người bàn định xong, Trần Hy từ biệt ra đi.

Ðại binh kéo đến Triệu Ðại, Trần Hy truyền lệnh đóng quân lại, chờ xem địch tình rồi sẽ quyết định.

Quân do thám đi dò xét vài hôm, rồi trở về báo:

– Quân Phiên có bốn trại lớn mỗi trại có chừng vạn người. Phiên vương đóng trại ngoài thành Ðại Châu quân hơn ba mươi vạn. Thủ hạ Phiên vương có một kiện tướng là Cáp Duyên Xích, sử dụng cây búa lớn nặng trăm cân, muôn người không địch nổi. Nếu Nguyên soái dùng kế gì dụ được tướng ấy đến hàng thì phá quân Phiên không khó.

Trần Hy nghe nói mừng rỡ, hội các tướng, nói:

– Quân Phiên thế mạnh, không thể dùng sức đánh được, phải dùng kế thủ thắng.

Nói xong ban lệnh cho các tướng thi hành.

Ngày hôm sau, Trần Hy đem quân ra trận khiêu chiến. Phiên vương xông ngựa ra trước trận, gọi Trần Hy nói:

– Hán đế nhà ngươi đánh không nổi Mặc Ðặc, phải gả con cho Mặc Ðặc để cầu hòa, thật là xấu hổ. Ta đây binh lực còn mạnh hơn Mặc Ðặc lẽ nào lại không đòi hỏi ở Hán đế một quyền lợi nào sao?

Trần Hy nói:

– Hán đế là một Hoàng đế thiên triều há lại không trị nổi nhà ngươi hay sao?

Dứt lời cầm đao đâm tới. Phiên vương tránh sang một bên ra hiệu cho một Phiên tướng ra đánh.

Phiên tướng cầm búa chém tới rất mạnh, Trần Hy đưa đao ra đỡ. Hai bên đánh nhau một hồi, Trần Hy yếu sức quất ngựa bỏ chạy. Phiên tướng giục ngựa đuổi theo chạy được ba mươi dặm, đến một hòn núi cao, trước mặt có một khe suối cạn. Trần Hy quất ngựa lội qua suối, Phiên tướng cũng cho ngựa băng qua. Nhưng lúc Phiên tướng vừa đến giữa suối thì bỗng nước suối chảy xuống ầm ầm, sâu hơn hai trượng.

Phiên tướng thất kinh, muốn quảy ngựa trở lại nhưng không còn kịp nữa.

Quân Hán đã phục sẵn hai bên suối, nổi dậy dùng tên bắn Phiên tướng nhào xuống ngựa.

Phiên tướng ấy chính là Cáp Duyên Xích, kiện tướng của Phiên vương.

Phiên vương đem quân tiếp cứu, đến nơi thấy nước suối chảy ầm ầm, quân Hán đang vây giết quân Phiên tở mở.

Phiên vương toan đốc quân vào giải vây, thì chợt có quân đến báo:

– Quân Hán thừa lúc Ðại vương dẫn quân đi ứng cứu, đến cướp trại và đốt lương thảo quân ta cháy sạch.

Phiên vương nghe nói không dám trở về trại, dàn quân mã bản bộ nhắm đường Bắc Phiên mà chạy về.

Trần Hy đại thắng, phá vỡ hơn bốn mươi vạn quân Phiên. Ngày hôm sau vào thành đặt tiệc khao thưởng tướng sĩ.

Rượu được vài tuần, Trần Hy nâng cốc nói với các tướng:

– Ta dùng kế thắng quân Phiên, nhưng thực ra nhờ ở sự tận tâm của các tướng. Ðó là một vinh dự, đáng khen. Chỉ hiềm có một điều là Hán đế không biết thương kẻ cực nhọc, lúc biến thì trọng tướng thương quân, lúc bình thì sanh tâm nghi kỵ. Xem như Hàn Tín, công lao phá Sở rất lớn. thế mà nay vẫn bỏ xó không dùng, lại còn muốn tìm cơ hãm hại. Cứ như thiển ý của ta, chúng ta đóng quân nơi đây, trấn giữ những nơi hiểm yếu, tích thảo dồn lương mưu việc thiên hạ. Hán đế hiện nay tuổi tác đã cao, việc binh nhung trễ biếng. Còn trong triều không ai giỏi hơn Hàn Tín, chúng ta còn sợ gì. Nếu nghiệp cả được thành, phú quý ta sẽ cùng các ngươi chung hưởng.

Các tưởng đồng thanh nói:

– Vâng! Chúng tôi xin nguyện làm theo ý của tướng quân.

Tháng bảy năm ấy, Trần Hy truyền hịch ước hội dùng với bọn Vương Hoàng để cùng nhau ứng viện. Ðoạn tự lập lên làm vua, cướp bóc các quận, huyện ở miệt Triệu Ðại.

Ngụy Vương hay việc ấy vội vã viết hịch về triệu cấp báo.

Hán đế xem biểu thất kinh, vội vã triệu Tiêu Hà, Trần Bình vào thương nghị.

Hán đế nói:

– Ta đãi Trần Hy không bạc, cớ sao hắn lại phản?

Tiêu Hà nói:

– Trần Hy vốn có mưu lược lại võ nghệ tinh thông, cả triều không ai địch nổi. Duy có Anh Bố và Bành Việt là hai tay đối thủ. Vậy xin Bệ hạ kíp xuống chiếu vời hai người ấy đến đánh Trần Hy thì mới xong.

Hán đế theo lời, viết chiếu thôi thúc Anh Bố và Bành Việt đem binh dẹp loạn.

Bấy giờ, Hàn Tín được tin Trần Hy làm phản, lại nghe Hán đế lấy quân Sở, Lương để đánh Trần Hy, liền viết một mật thư, sai người đến hai nước xui Anh Bố và Bành Việt đừng đem quân đi đánh Trần Hy.

Anh Bố và Bành Việt được mật thư của Hàn Tín vội mở ra xem. Trong thư đại khái viết:

“Tôi là người có công lớn, thế mà Chúa thượng không tưởng đến công lao, đối xử tệ bạc. Nếu hai ông vâng chiếu đánh Trần Hy, khi Trần Hy bị bắt, ắt các ông cũng bị giết. Bởi vì, Hán đế là người chỉ có thể cùng ở trong lúc ly loạn, mà không có thể cùng ở trong lúc thái bình.

Các ông càng lập được công to, càng dễ bị giết, không mong gì được ngồi yên ở đất Hoài Nam và Ðại Lương đâu.

Tín tôi sợ hai ông không tỉnh ngộ, sa vào cạm bẫy nên sai người đến tỏ bày, mong hai ông đừng dẫm trên bước chân tôi mà hối hận.”

Anh Bố và Bành Việt xem thư xong thác bệnh không chịu xuất quân.

Sứ giả trở vê triều tâu lại, Hán đế lo lắng đòi Trần Bình đến bàn rằng:

– Bành Việt và Anh Bố đều cáo bệnh không đến, phải làm thế nào?

Trần Bình nói:

– Trần Hy làm phản bởi ba nguyên nhân. Một là Trần Hy thấy Hàn Tín bị bãi chức không còn ai có thế đối địch với hắn. Hai là hắn nghĩ Bệ hạ lâu nay chán việc binh, không muốn chinh phạt, nên sanh ra cuồng vọng. Ba là Triệu Ðại, hai nơi ấy đất rộng người đông, dễ bề cố thủ. Nay xin Bệ hạ đừng nản việc binh, cử binh chinh phạt, tạm giao cho Tiêu Hà giúp Hoàng hậu giữ đất Bao Trung, như thế chư hầu mới bái vọng.

Hán đế theo lời, sai Chu Bột, Vương Lăng làm tiên phong, Phàn Khoái, Tào Tham, Hạ Hầu Anh làm tả chi, hữu dực, dẫn bốn mươi vạn quân tấn phát.

Trước khi xuất quân, Hán đế vào cung nói với Lã hậu:

– Nay Trần Hy làm phản, xâm chiếm Triệu Ðại, tự xưng vương vị. Trẫm đã xuống chiếu sai Anh Bố và Bành Việt đem quân đi đánh, nhưng hai người ấy đều cáo bệnh, không tuân. Xét lại các tướng trong triều, không ai địch nồi Trần Hy, nên trẫm phải đem quân trừ loạn. Ái khanh ở nhà coi việc triều đình, nhất là phải để ý đến Hàn Tín, vì Hàn Tín lâu nay bất mãn, có ý ngấm ngầm phản loạn, e thừa túc ta ra ngoài làm kế nội gián. Nếu ái khanh có điều gì khó khăn nên bàn với Trần Bình rồi sẽ quyết định.

Lã hậu tâu:

– Hàn Tín trước kia quyền binh tại thủ, lợi dụng thế lực lập nhiều công lớn. Song hiện nay đã bãi chức, hắn chỉ là một đứa thất phu, có gì đáng ngại. Xin Bệ hạ cứ an lòng xuất chinh.

Hán đế lại gọi Tiêu Hà đến trước điện, phủ dụ:

– Trẫm nay phải ngự giá thân chinh, đất Quan Trung không có người coi giữ. Trẫm giao cho khanh ở nhà giúp cho Hoàng hậu coi việc nhiếp chánh. Phàm việc gì lớn nhỏ đều phải bàn bạc kỹ càng, chớ nên sơ xuất.

Tiêu Hà dập đầu bái lĩnh và tâu:

– Hạ thần chỉ mong Bệ hạ dẹp yên phản tặc, còn việc nhiếp chính thần xin hết lòng lo lắng.

Xa giá khởi hành, trăm quan đưa đón. Ðại binh nhắm miền Triệu Ðại tấn phát.

Một hôm, xa giá đi đến Hàm Ðan, vào thành an nghỉ, các tướng túc trực ứng hầu, Hán đế hỏi:

– Trần Hy hiện nay đóng quân ở đâu, binh mã được bao nhiêu?

Các tướng đòi những quan thị trấn đến hỏi, rồi tâu:

– Quân Trần Hy hiện đóng ở Khúc Dương, binh mã bản bộ và các nơi họp lại ước hơn năm mươi vạn, tướng tá hơn hai mươi người do bọn Lưu Võ cầm đầu.

Hán đế băn khoăn, quay lại hỏi quần thần:

– Theo ý trẫm, Hàm Ðan là hiểm địa, thế mà Trần Hy không thủ nơi đây, lại đóng quân ở Khúc Dương. Xem đó thì kiến thức Trần Hy cũng chẳng đáng sợ.

Quần thần đều khen lời của Hán đế rất phải Hán đế liền sai Chu Xương ra các quận, huyện chung quanh lựa bốn người tráng sĩ đến dùng làm hướng đạo.

Chu Xương lựa được bốn người đem vào dâng nạp.

Hán đế hỏi:

– Các người có dám vì trẫm đi trước dẫn đường cho đại binh chăng?

Bốn tráng si đều tâu:

– Thiên binh của Hoàng thượng từ xa đến đây, thinh thế lẫy lừng. Tuy nhiên chưa rõ đường lõi thì chưa nên tấn binh vội. Quân pháp có câu: “Muốn thắng địch phải nắm vững trận thế trước khi điều binh”. Vậy xin Bệ hạ cho chúng tôi đi dò thăm trước đã.

Hán đế liền phong cho bốn người đó làm chức Thiên Hộ, và ban thưởng rất hậu.

Bốn tráng sĩ mừng rỡ, nhảy nhót ra đi. Các tướng thấy vậy nói với Hán đế:

– Bốn tráng sĩ chưa có tấc công nào, một sớm Bệ hạ đã ban thưởng trọng chức là ý gì vậy?

Hán đế nói:

– Trần Hy làm phản, sách nhiễu dân chúng. Nay binh thiên triều đến đây, nếu không ban ân để mua chuộc lòng dân thì ai còn kể đến cái nhân nghĩa của ta. Phong thưởng bốn người, mà cả dân Triệu, đều ngưỡng vọng, như thế chẳng lợi hơn sao?

Tả, hữu nghe nói đều bái phục.

Rồi đó, bốn tráng sĩ ăn mặc giả làm thương dân đất Ðại đi đến Khúc Dương, dò nghe hư thực.

Chẳng bao lâu, bốn người trở về Hàm Ðan, vào yết kiến Hán đế, tâu:

– Trần Hy dùng bọn tướng tá toàn là những lái buôn vàng ngọc. Nếu Bệ hạ chịu tốn phí một ít vàng bạc, đến mua chuộc họ, thì việc bắt Trần Hy chẳng khó khăn gl.

Hán đế triệu quần thần đến hỏi:

– Bây giờ ai dám len lõi vào trong quân của Trần Hy, đem vàng bạc đút lót, khiến cho các tướng làm nội phản. Như vậy ắt Trần Hy phải thất thủ.

Một người bước ra tâu:

– Hạ thần xin lãnh trách nhiệm ấy.

Hán đế xem lại, thấy người vừa nói là quan Trung đại phu Tùy Hà, lòng mừng rỡ, phán:

– Nếu khanh lành trách nhiệm này thì trẫm không lo gì nữa.

Tùy Hà đem một trăm thoi vàng và mấy người tùy tùng ra đi. Trước hết, Tùy Hà viết một bực thư, nói dối là Hán đế gởi đến dụ hàng.

Trần Hy nghe tin Tùy Hà đưa thư đến dụ hàng, nghĩ thầm:

– Tùy Hà là một gã thuyết khách. Bức thư ấy chắc là hắn dối trá chứ không phải do Hán đế sai đến.

Liền sai tả, hữu mời Tùy Hà vào. Tùy Hà vào trông thấy Trần Hy chào theo lễ vua tôi.

Trần Hy nói:

– Quan Ðại phu với tôi cũng là đồng hàng, cớ sao lại dùng lễ ấy.

Tùy Hà nói:

– Túc hạ cầm quân trăm vạn uy dậy hai nước, nay cùng Hoàng thượng tranh hùng để đồ vương định bá, tôi đâu dám vô lễ mà đem cổ thử gươm!

Trần Hy nói:

– Quan Ðại phu nói quá lời. Sở dĩ tôi đóng quân nơi đây là vì thấy Hán đế hay nghi ky, lúc biến cùng khổ, nhưng lúc bình không được cùng hưởng, lẽ ấy chắc quan Ðại phu cũng rõ. Nhưng chẳng hay quan Ðại phu đến đây muốn phủ dụ tôi như thế nào?

Tùy Hà nói:

– Tôi vâng mệnh Hoàng thượng đến đây để chiêu phủ túc hạ bãi việc chiến tranh. Nếu túc hạ bằng lòng, Hoàng thượng sẽ phong cho túc hạ làm Ðại vương, cai trị miền đất Ðại này.

Trần Hy biết là kế của vua Hán, bụng bảo dạ:

– Nếu ra hàng tất bị bắt.

Liền nói với Tùy Hà:

– Hán đế đã đem quân đến đây, chưa cùng tôi giao chiến, sao quan Ðại phu đã đem thư chiêu phủ. Tôi e thư này không phải thực bụng chăng?

Tùy Hà nói:

– Hoàng thượng lúc mới đến, cũng muốn cùng túc hạ giao tranh, song vừa rồi các tướng can gián, bảo phải trọng sinh mệnh thiên hạ, vì vậy Hoàng thượng đổi ý sai tôi đi dụ hàng. Nếu túc hạ không tin, tôi trở về bẩm mệnh chứ biết làm sao?

Trần Hy nói:

– Hàn Tín công rất lớn lao, thế mà Hoàng thượng còn nghi kỵ, giả cách ra chơi Vân Mộng để bắt, huống hồ tôi đây là kẻ tạo phản, làm sao tin được lời nói của Chúa thượng. Xin phiền quan Ðại phu trở về tâu lại.

Tùy Hà cố ý kéo dài câu chuyện với Trần Hy trong nửa ngày.

Giữa lúc đó, bọn tùy tòng đã đem vàng bạc đút lót cho bọn tướng lĩnh Trần Hy, khuyên đừng nghe lệnh của Trần Hy nữa.

Các tướng lĩnh được vàng, vui vẻ nhận lời.

Tùy Hà giã biệt Trần Hy trở về, yết kiến Hán đế tâu hết mọi việc. Ngày hôm sau Hán đế dẫn quân ra trận, gọi Trần Hy ra nói chuyện.

Trần Hy trông thấy Hán đế, ngồi trên ngựa nghiêng mình nói:

– Bệ hạ xuân thu đã cao, tội gì đem quân ra chỗ chiến địa.

Hán đế nói.

– Trẫm chưa hề phụ ngươi, sao ngươi nỡ phản ta?

Trần Hy nói:

– Bệ hạ giết hại công thần, vô ân bội nghĩa, dẫm chân lên vết xe đổ của Tần Chính, Hạng Vũ, lẽ nào tôi lại không làm phản.

Hán đế nổi giận, quay nhìn các tướng nói:

– Có tướng nào dám ra bắt tên phản loạn đó chăng?

Phàn Khoái, Chu Bột vỗ ngựa xông đến cùng Trần Hy giao chiến. Ðánh nhau được hơn vài mươi hiệp, Vương Lăng và Chu Xương xông ra trợ lực. Trần Hy cự không lại dẫn quân chạy về hướng Nam cố ý chờ bọn Lưu Võ đem quân tiếp cứu.

Nhưng bọn Lưu Võ đã nhận vàng bạc của Hán đế, không tiếp cứu, cứ đóng quân trong trại ngồi xem.

Quân Trần Hy rối loạn, quân Hán đế đuổi theo, chém giết rất hăng.

Trần Hy chạy được hai mươi dặm, đàng sau quân Hán đuổi theo rất gấp, bỗng phía trước mặt có một doanh trại lập rất uy nghi, quân kỳ tề chỉnh. Trần Hy vừa chạy đến đó thì một tiếng pháo lệnh nổ, cửa trại mở ra bốn mặt, quân sĩ ùa ra cứu ứng cho Trần Hy, đánh lùi quân Hán đế lại.

Hán đế thấy trời đã tối, vội vã thu quân về trại, nói với chư tướng:

– Ngày nay tuy chiến đấu mỏi mệt, song đêm nay không nên ngủ, cần phải đề phòng địch quân cướp trại.

Trần Hy bị thua một trận, song nhờ cứu binh, không đến nổi thiệt hại nặng lắm.

Khi về đến bản doanh Trần Hy gọi bọn Lưu Võ đến trách:

– Các ngươi thấy ta lâm trận sao chẳng ứng cứu.

Nếu ta không lập trước cái trại này để phòng bị thì còn gì tánh mạng. Sau này nếu tướng nào còn vi lệnh, ta quyết chẳng dung.

Các tướng đều sợ sệt, lùi ra.

Ngày hôm sau, Hán đế thăng tướng, cùng các tướng đàm luận.

Vương Lăng bước ra tâu:

– Trần Hy là tay mưu lược, xem như trận vừa rồi, Trần Hy lập sẵn trại quân cứu ứng, tỏ ra lối dùng quân rất chu đáo. Nếu ở đây đánh mãi với hắn khó thắng. Chi bằng lui về Hàm Ðan, lấy quân các lộ chư hầu, tích thảo dồn lương, quyết một trận thư hừng, mới bắt Trần Hy nổi.

Hán đế nói:

– Ta tự nhiên lui quân, e bị Trần Hy truy kích.

Vương Lăng nói:

– Quân ta vừa thắng trận, Trần Hy là tay lão luyện, dám đâu đuổi theo. Hắn cũng biết rằng quân lực của ta chưa hao mòn, một khi rút lui tất có binh phục.

Hán đế khen phải. Ðêm ấy phân phối các tướng mai phục hai bên ven đường, rồi truyền lệnh kéo đại binh về Hàm Ðan.

Quân thám thính được tin ấy vào báo. Trần Hy nói:

– Hán đế lui quân là vì thấy đóng nơi đây bất lợi.

Vả lại từ xa kéo đến, lương thực thiếu thốn, không thể đóng lâu được.

Các tướng nói:

– Ta nên nhân cơ hội này truy kích đánh cho quân Hán tan tành.

Trần Hy nói:

– Hán đế lui binh vì thấy bất lợi quân cơ chớ đâu phải bại tẩu. Nếu ta đuổi theo không khỏi bị quân phục đánh chết.

Các tướng không tin, cho người dò xét, quả có quân Hán mai phục hai bên lộ, lòng khen ngợi Trần Hy chẳng cùng.

Hán đế lui quản về Hàm Ðan, an dinh hạ trại. Từ đó hai bên chỉ đóng quân canh giữ, chưa nghĩ đến chuyện đánh nhau nữa.

Hồi 45 – Cung Vị Ương, Lã Hậu giết Hàn Tín

Từ lúc Hán đế kéo binh ra khỏi Tràng An đi đánh Trần Hy, Hàn Tín thác bệnh không theo, ở nhà cho người dò hỏi quân cơ.

Khi hay được Trần Hy đóng quân ở Khúc Dương, Hàn Tín nghĩ thầm:

– Trần Hy đáng lẽ nên đóng ở Hàm Ðan, và sai quân chặn chẹt đường sông Chương Hà mới thủ thế được, cớ sao lại bỏ Hàm Ðan mà đóng nơi Khúc Dương?

Liền viết một phong thư, sai người đem đến Trần Hy, bảo Trần Hy cho một cánh quân lẻn về đánh Tràng An, để mình sẽ ở trong làm nội ứng.

Tuy nhiên, lúc Hàn Tín sai người ra đi, lại có tên nô bộc đi theo, cùng người đem thư đến quán uống rượu.

Người nô bộc ấy tên Tạ Công Trứ, tánh hay chè chén say sưa.

Tối hôm ấy, Tạ Công Trứ về dinh, hơi men còn nồng nặc.

Hàn Tín tức giận, gọi đến mắng:

– Mày đi đâu cả ngày mà say sưa bê bết như thế?

Trong cơn say, Tạ Công Trứ không còn biết gì là đạo tôi tớ buộc miệng nói càn:

– Tôi đi uống rượu chớ có tư thông với ai đâu mà sợ.

Hàn Tín nghe Tạ Công Trứ nói câu ấy, mặt mày biến sắc, bước vào phòng trong nghĩ kế giết Tạ Công Trứ để khỏi lộ chuyện kín của mình.

Vợ Hàn Tín là Tô thị, thấy vậy hỏi:

– Công Trứ nói gì mà tướng quân giận dữ như thế?

Hàn Tín nói:

– Nó say rượu, nói năng bậy lắm, cần phải giết nó mới được.

Tô thị nói:

– Ðứa say nói càn, hơi đâu chấp trách. Tướng quân để nó tỉnh rượu rồi sẽ xử trí cũng chẳng muộn.

Hàn Tín theo lời, vào phòng an nghĩ.

Ðêm ấy, Tạ Công Trứ ngủ vùi, đến đầu canh năm tĩnh rượu mới chợt giấc.

Người vợ nói:

– Tối hôm qua lang quân đi uống rượu về, nói năng bậy bạ, làm cho Hàn Tín tức giận. Thế nào lang quân cũng bị tội.

Tạ Công Trứ thất kinh hỏi:

– Ta nói những gì?

Người vợ đáp:

– Lang quân nói: “Tôi có tư thông với ai mà sợ “.

Công Trứ nhủ thầm:

– Trong lúc say ta đã điên cuồng tiết lộ điều bí mật quan trọng của chủ. Ôi! Mạng ta chắc chẳng còn.

Nghĩ rồi âm thầm thu xếp hành trang định bỏ trốn đi Nhưng lúc đó trời chưa sáng, cửa thành đóng chặt, quân sĩ canh gác rất nghiêm.

Công Trứ lại nghĩ:

– Nếu đợi sáng, Hàn hầu ắt sai quân tìm bắt, ta chạy trốn sao được Chi bằng đem việc này tiết lộ với Tiêu Thừa tướng. Hàn hầu có chết thì ta mới sống được.

Liền chạy đến dinh Tiêu Hà tố cáo rằng:

– Tôi có việc cơ mật nơi dinh Hàn hầu, xin báo cho Thừa tướng rõ.

Tiêu Hà lúc ấy đang thức dậy, ngồi kiểm điểm lại công việc trong triều, nghe nói thất kinh vội hỏi:

– Ngươi tố cáo việc chi?

Công Trứ nói:

– Hàn hầu tư thông với Trần Hy, liên kết nhau phản loạn.

Tiêu Hà nói:

– Việc này quan trọng, không phải chuyện chơi. Nếu nhà ngươi tố cáo gian sẽ mất mạng ngay lập tức.

Công Trứ nói:

– Tôi đâu dám gian ngoa. Ngày trước khi Trần Hy đi đánh Phiên, Trần Hy không có ý làm phản, chỉ vì Hàn hầu xúi giục nên Trần Hy mới có ý ấy. Lâu nay hai bên vẫn có thư thông nhau. Hôm qua Hàn hầu lại viết thư sai tôi, mật đưa cho Trần Hy, bảo Trần Hy lẻn về đánh Tràng An, Hàn hầu sẽ làm nội ứng. Tôi vì say rượu nói lỡ lời, Hàn hầu sợ bị lộ nên toan giết tôi.

Tiêu Hà liền đưa Công Trứ vào yết kiến Lã hậu, kể hết mọi sự.

Lã hậu thất kinh nói:

– Hàn Tín đã ra mặt phản loạn rồi, Thừa tướng có ý kiến thế nào?

Tiêu Hà nói:

– Bây giờ nên giấu tên quân này đi. Sáng mai vào trong lao tìm một tù nhân mặt mày giống Trần Hy, chặt lấy đầu, giả cách từ mặt trận gởi về, nói Chúa thượng đã giết được Trần Hy, truyền bêu nơi Tràng An làm hiệu lệnh. Các quan được tin ấy tất phải đến chúc mừng. Hàn Tín cũng sẽ đến. Bấy giờ hạ thần tùy dịp bắt lấy dâng cho Hoàng hậu nghi xử.

Lã hậu nói:

– Kế ấy rất hay.

Liền mật sai người vào lao lựa một tù nhân đem chém lấy đầu, đựng vào một cái hòm, giả cách đến phủ Thừa Tướng báo tiệp.

Tiêu Hà tuyên bố cho mọi người biết. Các quan hay tin đều đến chúc mừng

Tiêu Hà nói:

– Các ông vào triều chúc mừng nên rủ cả Hàn hầu cùng đi. Tuy Hàn hầu tạm thời bị bỏ, nhưng nghe nói Chúa thượng định gia phong quyền tước đó.

Các quan nghe Tiêu Hà nói, đến thuật lại cho Hàn Tín nghe.

Hàn Tín bâng khuâng đưa tiễn các quan về rồi trở vào phòng noi với vợ là Tô Thị.

– Ngay mai tôi phải vào triều chúc mừng về việc Hoàng thượng dẹp loạn.

Tô phu nhân nói:

– Ngày trước đi đánh Trần Hy, tướng công cáo bệnh chứng theo. Bấy lâu nay lại chưa có lần nào vào triều kiến Lã hậu. Nay nghe có tiệp âm đưa về lại vào chúc mừng e Lã hậu nghi hoặc. Xin tướng công xét kỹ.

Hàn Tín nói.

– Nếu nay không vào triều chúc mừng, đến lúc Hán đế hồi loan, ta còn mặt mũi nào nhìn Hán đế. Vả lại, hiện nay Tiêu Thừa tướng đang giữ quyền nhiếp chánh, không lẽ không bênh vực ta.

Tô phu nhân nói:

– Luôn mấy ngày nay, tôi thấy khí sắc tướng công chẳng tốt e có việc chẳng lành.

Hàn Tín thở dài:

– Ta có việc riêng, cần phải vào triều xem hư thiệt. Ðây là một cơ hội không nên bỏ qua.

Ngày hôm sau, Hàn Tín theo các quan vào triều kiến.

Chào mừng xong, Lã hậu nói:

– Các quan cứ tự tiện lui về. Riêng Tiêu Thừa tướng và Hàn hầu hãy vào tiền điện để cùng ta bàn việc cơ mật.

Tiêu Hà bước xuống điện mời Hàn Tín vào nội cung.

Vừa qua khỏi mấy dãy hành lang, chợt có bốn năm mươi võ sĩ phục sẵn, xông đến bắt Hàn Tín trói lại dẫn đến điện Trường Lạc.

Hàn Tín nói:

– Tôi có tội gì mà Hoàng hậu bắt tôi?

Lã hậu nói:

– Hoàng thượng trước kia đăng đàn bái tướng, giao cho ngươi tất cả quyền binh, không có việc gì bạc với ngươi. Ngươi muốn làm Tề vương Hoàng thượng phong cho, sau thấy nước Tề dân không phục nên cải phong làm Lỗ vương. Lòng ưu ái ấy đáng lẽ ngươi phải biết ơn, cớ sao sanh tâm phản phúc. Trước đây, Hoàng thượng giả cách ra chơi Vân Mộng, cốt bắt ngươi đem về giết, nhưng nghĩ vì ngươi là một công thần khai quốc, không nỡ xử bạc.

Ngày nay, ngươi lại còn tư thông với Trần Hy, xui Trần Hy đem quân về cướp Tràng An, để ngươi làm nội ứng.

Tâm địa ngươi như thế làm sao dung thứ được.

Hàn Tín nói.

– Hoàng hậu buộc tội tôi như thế có gì làm bằng chứng chăng?

Lã hậu nói:

– Tên gia bộc nhà ngươi là Tạ Công Trứ đến đây tiết lộ điều đó.

Hàn Tín nói:

– Công Trứ say rượu nói càn, bị tôi hăm giết nên kiếm lời hại tôi.

Lã hậu nói:

– Chính Hoàng thượng trong lúc đánh với Trần Hy cũng đã bắt được một mật thư chính tay ngươi viết gởi đến, ngươi còn chối cãi làm gì nữa.

Hàn Tín nghe nói cúi đầu, không cãi lại.

Lã hậu sai đem trói Hàn Tín nơi cung Vị Ương, rồi sai võ sĩ đem chém.

Lúc sắp chết, Hàn Tín nói:

– Ta hối hận đã không nghe lời Khoái Kiệt trước kia, để đến nỗi bị đàn bà sát hại.

Người sau có thơ rằng:

Ðem thân bách chiến dựng cơ đồ,

Thế sự hưng vong một cuộc cờ.

Danh lợi anh hùng mang thảm lụy

Gương treo nhật nguyệt chửa phai mờ

Lã hậu giết Hàn Tín xong sai Tiêu Hà viết biểu và sai Lục Giả đem thủ cấp Hàn Tín đến mặt trận trình cho Hán đế biết.

Hán đế tiếp được biểu, mở ra xem, biểu như sau:

“Nhà Ðại Hán năm thứ mười một, Hoàng Lã hậu cúi đầu dâng biểu.

Trộm thấy: hình để răn kẻ dưới, rạng phép nước nhà. Pháp để trị người dân, tỏ oai vua chúa. Kính nghĩ:

Hoàng đế bệ hạ thần võ khắp muôn phương, uy đức vang bốn bể. Vậy mà Hoài Âm hầu Hàn Tín, đã ăn lộc Hán, không giữ đạo vua tôi, liên kết với Trần Hy âm mưu phản loạn. Tên gia nô của Hàn Tín mật tấu tõ hết mọi lời. Thần thiếp trộm nghĩ: căn bệnh bên ngoài đâu bằng tâm bệnh bên trong, nên bàn với Tiêu Thừa tướng giết bỏ kẻ nghịch, củng cố sơn hà. Kẻ có tội phải đền, ba họ tru di.

Nay thần thiếp gởi đầu Hàn Tín đến Hàm Ðan, khiến Trần Hy trông thấy mà mất vía, kẻ gian nghe mà kinh hồn. Ðại binh đến đâu dẹp tan đến đấy, thần thiếp khôn xiết vui mừng“.

Hán đế xem biểu xong, mừng rỡ vì đã trừ được Hàn Tín, một kẻ ngấm ngầm tạo phản.

Tuy nhiên Hán đế cũng không khỏi bùi ngùi nhớ đến công khai quốc lớn lao của Hàn Tín, đôi dòng lệ ướt nhòa.

Các tướng thấy vậy đều cảm động.

Nhắc lại Trần Hy, khi bắt được mật thư của Hàn Tín định sai một cánh quân theo đường nhỏ kéo về họp với Hàn Tín đánh lấy Tràng An.

Nhưng quân chưa kịp ra đi thì đã nghe tin Hàn Tín bị Lã hậu giết, sai Lục Giả đem đầu bêu nơi Hàm Ðan.

Trần Hy hét lên một tiếng nhào lăn xuống đất.

Tả, hữu vội đỡ dậy, lay gọi một lúc, Trần Hy mới tỉnh.

Quá đau xót, Trần Hy mếu máo nói:

– Ta chịu ơn Hàn Tín dạy bảo bấy nay, tuy người khác họ, song coi như tình ruột thịt. Hàn hầu đã thác, công việc ta ắt hỏng rồi, biết liệu làm sao?

Các tướng nói:

– Hàn hầu tuy chết, Ðại vương cũng chớ nên thoái chí. Chúng tôi xin nguyện cùng Ðại vương kéo quân đến Hàm Ðan, cùng Hán đế giao tranh một trận.

Các tướng còn đang suy luận thì đã có tin Hán đế ồ ạt kéo đại binh đến Khúc Dương.

Trần Hy dặn các tướng phải hết lòng chiến đấu chớ thờ ơ như trước nữa.

Các tướng Vâng lệnh, hàng ngũ chỉnh tề chia hàm hai đội ra khỏi thành đóng trại chờ địch quân.

Giữa lúc đó, quân Hán cũng đã đóng trại xong cách thành Khúc Dương ba mươi dặm

Hán đế biết rằng Hàn Tín đã chết, uy thế của Trần Hy không còn nữa, lúc này là lúc cần phải đánh gấp

Ðêm ấy Hán đế sai Phàn Khoái, Chu Bột, Vương Lăng kéo quân mai phục nơi phía Bắc Khúc Dương, chờ lúc Trần Hy thua chạy đến đó đổ ra bắt. Lại sai Chu Xương dẫn quân ra mai phục sau thành, chặn đường cứu ứng của Trần Hy. Còn Quán Anh lãnh việc xáp chiến với Trần Hy, hễ Trần Hy thua phải đuổi theo tận lực.

Các tướng được lệnh, dự bị sẵn sàng.

Ngày hôm sau, Quán Anh đem quân ra trận, kêu Trần Hy mắng:

– Hởi đứa phản thần, hãy đem đầu ra đây dâng nạp.

Trần Hy xốc ngựa đến nói:

– Ta quyết lấy đầu ngươi để báo thù cho Hàn hầu.

Dứt lời cầm đao đâm tới Quán Anh rước đánh.

Hai tướng đánh nhau được hai mươi hiệp thì cánh quân tả, hữu của Trần Hy ùa ra tiếp cứu. Bên Hán, Chu Xương dẫn đạo binh phục của mình ngăn lại, cùng quân Trần Hy giao tranh.

Hai bên đánh nhau một hồi, thế trận vẫn chưa bên nào hơn kém.

Hán đế thấy vạy liền ra lệnh các tướng kéo quân ào tới vây Trần Hy vào giữa.

Trần Hy thấy hai cánh quân mình bị chặn đánh, không cứu ứng nổi, quân Hán lại đông, nhắm bề cự không ai, quay ngựa nhắm hướng Bắc mà chạy.

Hán vương lập tức đốc quân đuổi theo. Quân của Trần Hy thấy chủ tướng yếu thế, quay ra đầu hàng cả.

Bọn Lưu Võ đều bị Chu Xương giết chết trong đám loạn quân.

Trần Hy đang lúc tìm đường tẩu thoát, chợt nghe có tiếng pháo nổ, hai cánh quân phục của Hán đế nổi dậy cầm đầu là Phàn Khoái và Vương Lăng.

Trần Hy thất kinh, người ngựa lính quýnh bị Phàn Khoái đâm cho một kích, nhào xuống đất.

Lúc đó Hán vương cũng vừa rượt đến, cầm đao cắt đầu Trần Hy rồi thu quân về trại.

Ðêm ấy, vua tôi mở tiệc ăn mừng, vì đã trừ xong mầm phản loạn.

Ðoạn, Hán đế sai người đi chiêu an dân chúng hai miền Triều, Ðại, rồi kéo đại binh trở về Lạc Dương.

Dọc đường, dân chúng các quận, huyện đặt bàn hương án lạy mừng.

Khi xa giá về đến Lạc Dương triều thần ra khỏi thành ba mươi dặm nghênh tiếp. Hán đế vui vẻ hỏi Hoàng hậu việc xử trị Hàn Tín. Lã hậu thuật lại mọi việc.

Hán đế hỏi:

– Lúc thọ hình, Hàn Tín có nói câu nào chăng?

Lã hậu đáp:

– Hắn bảo rằng hắn quá hối hận vì trước kia không nghe lời Khoái Kiệt, nên ngày nay mới bị chết về tay một người đàn bà.

Hán đế hỏi tả, hữu:

– Khoái Kiệt là người thế nào, đã bày mưu gì cho Hàn Tín?

Trần Bình tâu.

– Khoái Kiệt là người nước Tề, đa mưu túc trí. Trước đây Khoái Kiệt đã từng bày Hàn Tín đừng diệt Sở, chiếm lấy nước Tề, chia thiên hạ làm thế ba chân vạc, nhưng Hàn Tín không nghe. Hiện nay Khoái Kiệt sợ mang tội với triều đình, giả điên đi lang thang đây đó.

Hán đế nói:

– Ta làm sao có thể trừ được người ấy?

Trần Bình nói:

– Người ấy chỉ có thể dùng trí mà lừa chứ không thể dùng sức mà đánh. Nếu bức bách, Khoái Kiệt tự vẫn ngay.

Hán đế liền hỏi tả, hữu:

– Có ai vì ta sang Tề đón vời Khoái Kiệt về đây chăng?

Lục Giả bước ra tâu:

– Hạ thần xin đi.

Hán đế liền cấp cho Lục Giả hơn mười người tùy tùng, sang nước Tề tìm Khoái Kiệt.

Lục Giả lên đường, sang nước Tề, trước tiên vào nhà quân thú là Lý Hiển nghỉ ngơi để dò xét hoạt động của Khoái Kiệt.

Lục Giả hỏi Lý Hiển:

– Khoái Kiệt bây giờ ở đâu?

Lý Hiển đáp:

– Người ấy hiện nay vẫn tiếp tục lang thang khắp chợ búa, lúc nói, lúc cười như người rồ dại. Tôi thường lấy lễ mời hắn, nhưng hắn không chịu đến. Chúa thượng thiếu gì người dùng mà phải tìm người điên như thế cho nhọc.

Lục Giả nói: Khoái Kiệt chỉ giả điên đó thôi. Ông nên tìm hắn rủ hắn uống rượu, rồi làm y kế tôi dặn, tức khắc hắn sẽ hết điên ngay.

Lý Hiển theo lời, tuyển hai người nói giỏi, đưa cho ít tiền, bảo rủ cho được Khoái Kiệt đến uống rượu, và làm theo kế đã dặn.

Hai người lĩnh mệnh đi ra chợ, thấy Khoái Kiệt đang xõa tóc, vừa đi vừa hát:

Ngựa qua cửa sổ

Bóng thời gian lố nhố

Mùi phú quý hôi tanh

Ðất thẳm trời xanh

Say sưa ba chén rượu

Mây trắng rợn xây thành

Hỡi công danh, hỡi công danh

Ðời đen như mực, dữ, lành ai hay?

Hát xong câu hát, Khoái Kiệt lại lủi thủi đi về phía Nam.

Sai nhân của Lý Hiển đi theo đàng sau, đến gần nắm lấy ta Khoái Kiệt vừa cười vừa nói:

– Ông rồ, nhưng chúng tôi cũng điên, vậy cùng nhau vào quán nhắp chơi vài chén.

Khoái Kiệt vui vẻ, theo hai người vào hàng rượu.

Sau vài ngày nữa chúng tôi sẽ ra bể ngao đu, không thèm sống trên dải đất này, quyến luyến công danh với người đời nữa.

Khoái Kiệt thấy hai người ăn nói khác thường, liền hỏi:

– Tôi phát bệnh điên là bởi một duyên cớ, còn các ông có điên vì một duyên cớ nào chăng?

Hai người nói:

– Cái cớ phát điên của chúng tôi không thể nào nói được Chúng ta cứ cùng nhau uống rượu là đủ. Nói nhiều lỡ ai có hay được thì chúng ta lại còn phải điên nặng hơn.

Khoái Kiệt nghiêm sắc mặt nói:

– Hai ông quyết không phải là người thường, xin cho tôi biết quý danh.

Hai người nói:

– Hai chúng tôi nguyên là người Triệu, nghe Hàn hầu là người hiền nên theo đến Sở để hầu hạ. Không ngờ Hàn hầu vô cớ, bị kẻ nô bộc vu phàm, khiến cho Lã hậu tru di tam tộc. Lúc sắp gia hình Hàn hầu có nói: “Ta tiếc rằng không nghe lời Khoái Kiệt” câu nói ấy vẫn như còn văng vẳng bên tai chúng tôi Chúng tôi thấy Hàn hầu chết oan như vậy đau xót vô cùng, bỏ cả công danh, không màng phú quý, đi ngao du trong thiên hạ, nói xiêng nói quàng cho hả lòng căm tức. Hôm nay gặp ngài hát mấy câu biết ngài là Khoái tiên sinh, nên thỉnh vào đây hầu vài chung tửu để tỏ tâm sự.

Hai người nói đến đây khóc òa. Khoái Kiệt bất giác thở dài dậm chân xuống đất nói:

– Hàn hầu không sớm tỉnh ngộ để đến nỗi phải thác oan. Tấm thân ta vô chủ, còn sống sao được?

Ba người đang khóc lóc, tủi hờn, thì bỗng có một người từ bên ngoài bước vào, nắm lấy Khoái Kiệt nói:

– Bấy lâu nay anh cứ giả điên mãi, nay mới để lộ chân tướng.

Khoái Kiệt biến sắc hỏi:

– Ông là ai?

Người ấy nói:

– Ta là quan Trung Ðại phu Lục Giả, vâng mệnh vua đến đây bắt anh.

Nói dứt lời, hô bọn tùy tùng trói Khoái Kiệt lại, rồi lấy lễ tiếp đãi và nói:

– Khoái tiên sinh bất tất phải giả điên như thế, nên mau mau sửa sang áo mũ cùng tôi đến Lạc Dương yết kiến Hoàng thượng. Hiện nay bốn bể đều thu về một mối, các hiển sĩ đều họp mặt cùng nhau lo hưởng thái bình. Kẻ trí giả tất phải thức thời, kẻ hiền giả tất phải biết chọn chúa. Hán đế là bậc chân chủ đời nay, mấy ai bì kịp.

Khoái Kiệt nói:

– Tôi điên đã mấy năm, chỉ có ông mới tìm thấy căn nguyên!

Nói xong, sửa sang quần áo cùng hành trang theo Lục Giả về Lạc Dương, ra mắt Hán đế.

Hán đế thấy Lục Giả dẫn Khoái Kiệt về, liền nói:

– Nhà ngươi có phải ngày trước xui Hàn Tín làm phản chăng?

Khoái Kiệt tâu:

– Vâng, chính tôi đã nhiều lần xúi Hàn Tín làm phản.

Hán đế hỏi:

– Tại sao nhà ngươi lại bất trung như vậy?

Khoái Kiệt nói:

– Tâu Bệ hạ, lúc đó hạ thần xui Hàn hầu tạo phản là chí trung vậy. Nhà Tần mất, mọi người tranh nhau đoạt thiên hạ, ai có tài thì người ấy được. Con chó của thằng Tích cắn vua Nghêu không phải vua Nghêu là người bất đức, chỉ vì vua Nghêu không phải là chủ của nó. Tôi phò Hàn Tín, chỉ biết có Hàn Tín chứ đâu biết đến Bệ hạ. Nếu Hàn Tín lúc đó chịu nghe lời tôi thì thế sự sẽ không phải như ngày nay. Nay Hàn Tín đã chết, tôi cũng không muốn sống một mình. Bệ hạ muốn giết tôi, tôi xin sẵn sàng chịu chết, chẳng hề ân hận.

Hán đế cười lớn, nói với triều thần:

– Lời Khoái Kiệt trình bày đáng là một trung thần. Trẫm không có ý trách cứ.

Ðoạn quay qua nói với Khoái Kiệt:

– Bây giờ ta cho ngươi làm quan, ngươi nghĩ thế nào?

Khoái Kiệt nói:

– Làm quan tôi không muốn, chỉ xin Bệ hạ nghĩ đến cái công bình thiên hạ của Hàn Tín, cho tôi được đem hài cốt của Hàn Tín về chôn nơi Hoài Âm, và phục chức cho Hàn Tín.

Hán đế nói:

– Khoái Kiệt là người rất có nghĩa.

Liền truyền quân đem mộ Hàn Tín cải táng nơi Hoài Âm, xây cất tử tế, và xuống chiếu phục chức cho Hàn Tín.

Khoái Kiệt không chịu làm quan, tự do đi ngao du trong thiên hạ. Người sau khen Khoái Kiệt là bậc trượng phu.

Chẳng bao lâu, một hôm Hán đế cùng quần thần đàm đạo, chợt có quân vào báo:

– Ngoài thành có một người xin vào cáo việc cơ mật.

Hán đế ngơ ngác nói:

– Việc Trần Hy vừa xong, lại biến gì khác chăng?

Liền cho đòi vào.

Hồi 46 – Thành Lạc Dương, Loan Bố khóc Bành Việt

Người xin vào cáo việc cơ mật là quan Thái Bộc nước Lương.

Thái Bộc bị Bành Việt nhân lúc say rượu mắng mấy câu, sinh lòng căm tức nghĩ thầm:

– Ta với Bành Việt vốn là bầy tôi nhà Hán, hắn lay lập được công lớn, nên vua phong làm Lương Vương. Hắn lài cậy quyền thế khinh bỉ ta thậm tệ. Ta chẳng có gia quyến gì ở đây, chi bằng trốn về Tràng An cáo biến, khiến cho cái vương tước của hắn phải mất ta mới hả dạ Nghĩ rồi thu thập hành trang, đang đêm lẻn vào Tràng An cáo biến.

Hán đế đòi vào hỏi:

– Ngươi là người ở đâu? Vào tố cáo việc cơ mật gì?

Thái Bộc nói:

– Thần tuy làm quan ở Lương, nhưng thực là bề tôi nhà Hán. Gần đây thấy Lương vương chiêu tạp binh mã, dụng ý phản loạn nên thần trốn về đây cấp báo.

Hán đế nói:

– Lời nói nhà ngươi có gì làm bằng chứng chăng?

Thái Bộc tâu.

– Trước đây, Trần Hy phản loạn, Bệ hạ truyền chỉ sai Lương vương đi dẹp loạn, Lương vương cáo bệnh không xuất quân, đó là bằng chứng thứ nhất. Lúc Hàn Tín bị giết, Lương vương khóc lóc rất thảm thiết, đó là bằng chứng thứ hai. Nếu không có ý khác sao lại hành động như vậy?

Hán đế liền sai triệu Trần Bình vào cung thượng nghị.

Trần Bình nói:

– Bành Việt thấy Bệ hạ giết Hàn Tín nên sanh dị tâm. Nay phải cho người đến triệu về. Nếu hắn chịu về thì bắt giữ lại, cách chức đi. Bằng hắn không chịu về, ta sẽ đem quân đến đánh.

Hán đế theo lời, sai Lục Giả đến Ðại Lương truyền triệu Bành Việt.

Lục Giả vâng mệnh đến nơi. Bành Việt tiếp đón rất hậu và nói:

– Quan Ðại phu đến đây có việc gì?

Lục Giả nói:

– Quan Thái Bộc nước Lương tố cáo ngài mưu phản, nhưng lời tố cáo thiếu bằng chứng, khiến cho Hoàng thượng nghi ngờ, bắt hắn giam lại, rồi sai tôi đến đây triệu ngài về triều để hỏi cho rõ ràng.

Bành Việt nói:

– Người ấy vì lâu nay chính sự bê trễ, tôi có vài lần khiển trách nên hắn thù tôi vu cáo đó. Nay Chúa thượng đã vời tôi về tôi xin tuân lệnh để tỏ lòng thanh bạch của tôi

Lục Giả nói:

– Ngài nghĩ như thế rất phải.

Bành Việt bèn đặt tiệc khoản đãi Lục Giả rồi sắp sửa hành trang để cùng Lục Giả ra đi.

Hổ Triệt bước ra can:

– Trong lúc Hán đế đang nghi ngờ, Ðại vương về triều không khỏi bị hại như Hàn Tín.

Bành Việt nói:

– Hàn Tín là kẻ có tội, còn ta là người trong trắng, lẽ nào lại trốn không về để cho thiên hạ cho ta là đứa phản phúc.

Lục GIả nghe Hổ Triệt nói vội vã bàn:

– Lời quan Ðại phu họ Hổ chẳng qua là cái lo tạm thời, chứ không phải cái lợi lâu dài. Nay có người tố cáo ngài, mà ngài không chịu về triều, tất nhằm vào âm mưu của kẻ vu cáo. Hoàng thượng sẽ đem quân đến đánh, chừng đó ngài tránh sao khỏi tội.

Bành Việt nghe Lúc Giả nói, suy nghĩ một lúc rồi quyết định về triều.

Lúc khởi hành, các bô lão nước Lương đồng kéo đến đưa tiễn rất đông.

Vừa ra đến cửa thành, Bành Việt thấy Hổ Triệt treo ngược đầu xương đất cố ý can gián.

Bành Việt nói:

– Cớ gì mà quan Ðại phu lại khổ gián như vậy?

Hổ Triệt nói:

– Tôi treo ngược đầu xuống đất còn được Ðai vương cứu, nhưng nếu Ðại vương về triều, bị khổ hình biết lấy ai cứu? Tấm gương Hàn Tín còn đó, sao Ðại vương đã quên.

Bành Việt nói:

– Lời quan Ðại phu tuy là xác luận, song lòng ta đang nóng gặp Hán đế để minh oan, không thể nghe lời quan Ðại phu được.

Dứt lời cùng Lục Giả thẳng tiến.

Bấy giờ gặp lúc vua Hán ra tuần du ở Lạc Dương.

Bành Việt liền đến nơi yết kiến.

Hán đế thấy mặt Bành Việt, nổi giận mắng:

– Ngày trước Trần Hy làm phản, ta sai nhà ngươi đi dẹp loạn sao nhà ngươi không đến?

Bành Việt tâu:

– Lúc ấy hạ thần bệnh, chứ không phải kháng lệnh.

Hán đế nói:

– Nay viên Thái Bộc tố cáo ngươi tội mưu phản, ngươi nói làm sao?

Bành Việt nói:

– Người ấy lười biếng, bỏ bê công việc bị hạ thần khiển trách, nên sanh thù oán. Xin Bệ hạ sáng soi kẻo hạ thần bị hàm oan.

Hán đế giao Bành Việt cho tòa Ngự Sử tra hỏi.

Bành Việt vẫn một mực kêu oan.Chợt có một người đến trước cửa tiểu xin vào yết kiến Hán đế.

Hán đế đòi vào hỏi:

– Nhà ngươi là ai?

Người ấy nói:

– Tôi là quan Ðại phu nước Lương tên Hổ Triệt.

Hấn đế hỏi:

– Nhà người đến đây có việc gì?

Hổ Triệt nói:

– Bệ hạ lúc trước bị khốn nơi Huỳnh Dương, nếu không có Lương vương chặn đường lương của Sở, thì Bệ hạ đâu có ngày nay. Lương vương hết lòng với Bệ hạ như thế mà Bệ hạ nghe lời vu cáo, làm hại Lương vương, thiên hạ sẽ kinh động chăng?

Hán đế nghe nói, lòng hoang mang chưa quyết. Hổ Triệt vẫn quỳ mãi trước thềm không chịu lui ra.

Hán đế nói:

– Trẫm có ý định giết Bành Việt. Nay nghe lời ngươi cũng có lý. Vậy trẫm cách chức Bành Việt, cho làm thứ dân ở huyện Thanh Y thuộc Tây Xuyên, trọn đời không được hưởng bổng lộc gì cả.

Lại phong cho Hổ Triệt làm quan Ðại phu.

Hổ Triệt nói:

– Lương vương bị cách chức, tôi lẽ nào lại nhận làm quan! Xin Bệ hạ cho tôi được về cày ruộng là đủ lắm rồi.

Hán đế thở dài, truyền Hổ Triệt lui ra.

Bành Việt bị đày đi Tây Xuyên, lòng đau đớn nhưng không biết nói sao, âm thầm sắp sửa hành trang lên đường.

Một hôm, đi đến Ðồng Quan bỗng gặp Lã hậu cùng sang Lạc Dương với Hán đế.

Bành Việt thấy Lã hậu, khóc lóc chạy đến trước long xa kêu oan.

Lã hậu hỏi:

– Nhà ngươi là ai? Có việc chi?

Bành Việt nói:

– Tôi là Lương vương Bành Việt, vốn vô tội, Chúa thượng nghe lời tên nô bộc vu oan, đày tôi sang đất Thục, xin Hoàng hậu cứu gỡ cho.

Lã hậu nói:

– Vậy thì nhà ngươi theo ta đến Lạc Dương, ta sẽ tâu xin Hoàng thượng tái xét.

Bành Việt dập đầu tạ ơn và nói:

– Nếu Hoàng hậu cứu tôi phen này thật là ơn tái tạo

Lã hậu đến Lạc Dương, vào yết kiến Hán đế và tâu:

– Bành Việt là một tráng sĩ, trí dũng có thừa. Nếu hắn đã sanh tâm tạo phản thì nên giết phứt đi, sao lại đày vào đất Thục cho sanh thù oán. Thần thiếp gặp hắn ở giữa đường, có đem hắn về đây, xin Bệ hạ xét nghĩ.

Hán đế nói:

– Lã hậu nói rất phải.

Liền truyền lệnh đem Bành Việt ra chém, kết tội phản quốc.

Lã hậu lại nói:

– Thiên hạ vì thấy Bệ hạ nhân từ nên coi thường uy lực, không tuân phép nước. Nay nên đem xác Bành Việt ướp làm mắm rồi chia cho chư hầu. Có thế chư hầu mới không dám loạn động.

Hán đế theo lời, toan đem xác Bành Việt làm mắm, bỗng có một người từ phía Ðông thành Lạc Dương chạy đến, ôm thây Bành Việt vừa khóc, vừa nói:

– Oan ức thay

Quân canh liền bắt nộp cho Hán đế. Hán đế hỏi:

– Ngươi là ai? Tại sao ôm thây kẻ tôi mà khóc?

Người ấy nói:

– Tôi là Loan Bố, người đất Xương ấp làm chức Ðại phu ở nước Lương. Tại vì thấy Lương vương chết oan, nên đến đây khóc.

Hán đế nói.

– Lương vương mưu phản, sao ngươi lại bảo là chết oan.

Loan Bố nói:

– Ngày xưa, Bệ hạ bi khổn nơi Huỳnh Dương, Hàn Tín thì nằm yên nơi Bắc Hà không đến, trong cơn nguy ngập ấy Lương vương đã kéo binh đến chận đường lương của Sở, khiến cho Sở phải lui binh. Chẳng những thế, mấy lần Bệ hạ lâm nguy, Lương vương đều tận tâm giải cứu.

Nay thiên hạ thái bình, kẻ có công mong được cộng hưởng vinh hoa, thi Bệ hạ lại nghi ngờ, nghe kẻ thất phu hãm hại tôi trung. Tôi chỉ sợ sau này công thần ai nấy đều tự lo thân mình, chẳng ai muốn cùng Bệ hạ lo việc thiên hạ.

Nói xong, Loan Bố lại cất tiếng khóc ầm ĩ.

Hán đế ngồi yên một lúc, không nói lời nào, rồi truyền phong cho Loan Bố làm chức Ðô úy.

Loan Bố từ chối, nói:

– Thần không muốn làm quan, chỉ ước mong được thu nắm xương tàn của Lương vương đem về mai táng.

Hán đế nhậm lời. Loan Bố liền đem hài cốt Bành Việt về đất Lương.

Ngay lúc đó, quân sĩ đã lóc hết thịt của Bành Việt để làm mắm rồi, Loan Bố chỉ còn thu nhặt bộ xương trắng đem đi mà thôi.

Quân sĩ làm mắm xong, Hán đế sai đem chia cho các chư hầu mỗi nơi mỗi lọ.

Một hôm, sứ thần đem mắm đến Hoài Nam đưa cho Anh Bố.

Gặp lúc Anh Bố đang bày tiệc ở lầu Vọng Giang, thết đãi quần thần, thấy vua ban lọ mắm, vội vàng bái lĩnh và mở ra nếm một miếng.

Mắm vừa qua khỏi cổ, Anh Bố bỗng nôn ọe ra ngã xỉu xuống đất.

Tả, hữu xúm lại đỡ dậy. Hồi lâu Anh Bố mới tỉnh, lòng nghi ngại, hỏi sứ thần:

– Thịt gì có mùi vị lạ vậy?

Sứ giả không dám giấu, thực mình kể lại. Anh Bố nổi giận hét lớn rút gươm chém sứ giả rơi đầu, rồi điểm hai mươi vạn binh đóng ngoài thành, quyết chống lại Hán đế.

Tin ấy đồn khắp xa gần.

Bỗng một hôm, Loan Bố mặc đồ tang, chống gậy tre tìm đến yết kiến Anh Bố kể lại việc Lương vương chết oan.

Loan Bố nói:

– Trước kia nhờ có Hàn hầu, Lương vương và Ðại vương ra công diệt Sở, nghiệp Hán mới thành. Thế mà Hán đế đang tâm giết Hàn hầu và Lương vương, không tưởng đến chút công lao. Nay chỉ còn Ðại vương đây, tôi e sớm muộn không khỏi vạ.

Anh Bố nói:

– Tôi đã giết sứ thần, quyết dấy binh báo thù cho Hàn hầu và Lương vương. Nay lại có quan Ðại phu đến đây giúp đỡ công việc ắt thành.

Phi Hách nói:

– Phàm việc quân, trước tiên phải tạo lấy thế. Ðại vương nên truyền hịch đến các vùng Yên, Triệu, chiếm giữ đất Sơn Ðông làm căn bản, rồi sau sẽ tính việc giao tranh. Chớ nên vì cái nộ khí nhất thời mà hỏng việc lớn.

Anh Bố nói:

– Việc trả thù rất gấp, lòng ta như lửa đốt, thế mà ngươi lại bảo diên trì, để thủ thế thì bao giờ mới trừ được cừu nhân?

Anh Bố chẳng nghe lời Phi Hách, tức tốc điểm binh đánh đất Thượng Sái và đất Ngô. Vua chư hầu hai nước này là Lưu Giao và Lưu Giả đem quân chống cự. Thế quân của Anh Bố quá mạnh, Lưu Giao và Lưu Giả cự không lại đều bị tử trận.

Tin báo về đến Tràng An, Hán đế thất kinh, triệu các tướng vào triều nghị kế.

Các tướng nói:

– Anh Bố là đứa hữu dõng vô mưu, làm được trò gì mà lo.

Như Âm hầu Thắng Công nói:

– Tôi có một người môn khách, nguyên là quan lệnh doãn nước Sở, tên Tiết Công. Lúc hay tin Anh Bố làm phản, hắn cười lớn nói: “Kẻ ấy mà làm nên việc gì”. Hạ thần đoán chắc là Tiết Công có kế gì hay!

Hán đế vội sai người tiểu Tiết Công đến hỏi.

Tiết Công tâu:

– Sách lược của Anh Bố có ba đường. Nếu hắn dùng thượng sách thì Bệ hạ phải mất hẳn Sơn Ðông, thiên hạ chia đôi. Nếu hắn dùng trung sách thì hai bên thắng bại chưa biết. Nếu hắn dùng hạ sách thì nhà Hán vững như bàn thạch không lo ngại gì cả.

Hán đế hỏi:

– Thế nào là thượng sách?

Tiết Công nói:

– Mặt Ðông lấy Ngô, mặt Tây lấy Sở, gồm Tề, nuốt Lỗ, truyền hịch đi các vùng Yên, Triệu, thì dù Bệ hạ có bá vạn hùng binh cũng không thể nào chiếm lại đất Sơn Ðông nổi.

Hán đế hỏi:

– Thế nào là trung sách?

Tiết Công nói:

– Mặt Ðông lấy Ngô, mặt Tây lấy Sở, gồm Hàn, chiếm Ngụy, giữ kho thóc Ngao Thương, lấy cửa Thành Cao, như vậy Bệ hạ khó mà thắng nổi.

Hán đế hỏi:

– Còn thế nào là hạ sách?

Tiết Công nói:

– Ðông lấy Ngô, Tây lấy Thượng Sái, để ý đất Việt, kéo quân đến Trường Sa đánh vào Tràng An. Như vậy Bệ hạ có thể yên gối mà nằm.

Hán đế hỏi:

– Ngươi đoán chừng Anh Bố sẽ theo đường nào?

Tiết Công tâu:

– Anh Bố quyết sẽ theo hạ sách.

Hán đế hỏi?

– Tại sao vậy?

Tiết Công nói:

– Anh Bố là bọn ly sơn, không phải người trí dũng chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không để ý đề phòng những tai hại về sau. Tôi chắc Anh Bố sẽ theo hạ sách.

Hán đế mừng rỡ, phong cho Tiết Công làm chức Thiên Hộ, rồi truyền điểm quân, ngự giá thân chinh, giao Tiêu Hà ở lại Tràng An coi việc nhiếp chính.

Lúc đó vào mùa đông năm thứ mười hai nhà Ðại Hán.

Ðại binh của Hán đế kéo đến đóng dọc bờ sông Hoài, hai bên gặp nhau đình binh hạ trại và sai người dò xét địch tình.

Chẳng bao lâu, quân thám thính trở về báo với Hán đế:

– Anh Bố đã lấy đất Ngô, thuận đường kéo qua sông Hoài, chiếm Thượng Sái rồi. Ðịch quân chỉ còn cách nơi đây mười dặm.

Hán đế cười lớn nói:

– Lời Tiết Công quả không sai.

Liền sai Vương Lăng dẫn một đội binh mã đi trước thám thính, và sai Chu Bột, Quán Anh theo sau tiếp ứng.

Ngay lúc đó Anh Bố cũng đã hay tin đại binh Hán đế kéo đến một mặt củng cố dinh trại, sắp đặt việc canh phòng nghiêm mật, một mặt dẫn quân qua mé Ung Sơn để dò chừng địa thế.

Vừa đến nơi, gặp đội binh của Vương Lăng cũng vừa đến.

Vương Lăng giục ngựa đến trước, gọi Anh Bố mắng lớn:

– Nhà ngươi chẳng qua là một tên phu làm mướn ở Ly Sơn, một sớm được phong tước vương, lẽ ra lấy thế làm thỏa mãn lắm rồi cớ sao còn manh tâm phản loạn?

Anh Bố nổi giận hét:

– Lưu Bang là đứa rượu chè nơi huyện Bái, nhờ được bọn ta giúp sức mới nên nghiệp lớn. Thế mà đặng chim bẻ ná, bội nghĩa vong ân, giết Hàn Tín, hại Bành Việt. Ta quyết trả thù cho hai kẻ ấy. Còn bọn các ngươi cũng nên sớm tỉnh ngộ, cùng ta diệt đứa bất nhân để khỏi ân hận về sau.

Vương Lăng không đáp, cầm đao phóng tới. Anh Bố cũng vang búa đánh lại. Hai bên hỗn chiến được một lúc thì quân Hán ồ ạt kéo đến tiếp cứu.

Quân Anh Bố cự không lại chạy trốn tản mác nơi chân núi.

Hán đế cưỡi con bạch long ung dung tiến đến, thấy quân Anh Bố thua chạy, liền ra lệnh đuổi theo truy kích.

Chẳng ngờ Loan Bố núp sau hốc núi, thấy Hán đế đi qua, giương cung bắn một mũi, tên găm vào bả vai, Hán đế sa xuống ngựa.

Tả hữu thất kinh, xúm lại đỡ Hán đế lên ngựa, đưa về trại. Các tướng Hán nghe tin ấy không ai còn hăng đánh nữa, lần lượt kéo binh về.

May thay! Hán đế bị mũi tên không nặng lắm, ngày hôm sau có thể đứng dậy được.

Thấy các tướng vào viếng an, Hán đế nói:

– Anh Bố thấy ta thọ tiễn ắt không phòng bị, các ngươi nên thừa cơ đánh một trận tất thắng.

Trần Bình nói:

– Chớ nên đánh vội. Cứ án binh bất động làm cho Anh Bố tưởng Bệ hạ bị thương nặng, sanh lòng kiêu ngạo, chừng ấy mới xuất quân.

Hán đế theo lời, truyền quân canh phòng cẩn mật.

Lại sai Tào Tham lĩnh ba vạn quân đến Lục An tróc nã gia quyến Anh Bố, lại sai Ky Thông lĩnh hai vạn quân phục sau trại Anh Bố, sai bọn Chu Bột đóng giữ bến Hoài Giang. Tất cả đều chuẩn bị, chờ mệnh lệnh.

Anh Bố thấy Hán đế mấy ngày không ra quân, mừng rỡ nghĩ thầm:

– Hán đế tất bị thương nặng nên án binh bất động. Ta nên thừa cơ tiến đánh.

Loan Bố nói:

– Ta nên dò xét cẩn thận, e họ có mưu kế gì khác chăng?

Anh Bố nói:

– Thế trận đã vậy còn chờ gì nữa.

Liền chia hai cánh quân kéo đến khiêu chiến. Song suốt ba ngày, dinh Hán không có một người nào ra đối địch.

Anh Bố nói:

– Vua quả đã bị thương, nên quân không chủ tướng. Ðêm nay ta thừa cơ đến cướp trại chắc được toàn thắng.

Loan Bố nói:

– Bọn Trần Bình có sẵn nhiều chước quỉ. Tôi e chúng có mưu kế gì đây.

Nói chưa dứt lời, có quân vào báo:

– Ðại dinh đã bị tướng Hán là Kỷ Thông cướp mất rồi. Hiện bọn Chu Bột đang đóng giữ cửa sông, còn Tào Tham thì đem binh đến Lục An, bắt hết gia quyến của Ðại vương.

Anh Bố nghe báo thất kinh vội vã thu quân dồn về phía sau núi đóng trại. Song chưa kịp lui binh thì đã thấy trong dinh Hán có một cánh binh mã hùng hổ kéo ra, tướng cầm đầu là Phàn Khoái.

Phàn Khoái giục ngựa đến, lớn tiếng gọi Anh Bố nói:

– Nhà ngươi mau đầu hàng kẻo mất mạng.

Anh Bố nổi giận, kềm ngựa lại cùng Phàn Khoái giao chiến.

Hai tướng đánh nhau hơn hai mươi hiệp, quân Hán ồ ạt kéo đến tiếp viện.

Anh Bố không dám đánh nữa quảy ngựa bỏ chạy. Quân Hán thừa thế đuổi theo, giết quân Anh Bố không biết bao nhiêu mà kể.

Anh Bố chạy đến mé sông Hoài, nhìn đàng sau chỉ còn hơn hai mươi quân kỵ, nghĩ thầm:

– Nếu lẩn quẩn nơi đây mạng ta ắt chẳng còn, chi bằng qua đất Ngô, tìm đến nhà người bạn là Ngô Nhuế ẩn thân, chiêu tập nghĩa sĩ rồi sẽ tính.

Nghĩ rồi giục ngựa qua sông Hoài, nhắm phía Ðông Nam chạy thẳng.

Hán đế thấy Anh Bố chạy trốn, liền thu quân về trại, mật sai người dò xem Anh Bố chạy đến đâu? Trú ngụ nơi nào? Rồi sẽ tìm kế đến bắt.

Anh Bố chạy đến đất Ngô, vào nhà Ngô Nhuế, nhưng rủi thay, lúc đó Ngô Nhuế đi săn, vắng nhà, chỉ có người cháu là Ngô Thành ở đó.

Ngô Thành trước kia từng bị Anh Bố làm nhục, lòng căm phẫn chưa nguôi. Nay thấy Anh Bố làm phản, bị quân Hán đánh tan tành, nên nghĩ thầm:

– Anh Bố là đứa vũ phu, trước kia ỷ thế, trấn thủ Hoài Nam, xem người như cỏ rác. Nay đến đây ta cũng nên trả thù cho hả dạ.

Nghĩ rồi bước ra tiếp đón Anh Bố vào phủ, sai tả, hữu đặt tiệc khoản đãi.

Anh Bố hỏi:

– Lệnh thúc đi chơi đâu vắng?

Ngô Thành nói:

– Chú tôi khi rảnh việc thường đến Nam Sơn săn bắn, có khi năm sáu bên mới về. Xin Ðại vương cứ an lòng ở đây nghỉ ngơi ít bữa.

Anh Bố nói:

– Bữa trước tôi xuất quân sang Ngô, nhờ được lệnh thúc đem quân ra hàng nên tôi mới lấy được Thương Soái và kéo binh đến Thiện Tây. Chẳng ngờ bị sa cơ, để quân Hán cướp trại, thế quân bị thất. Nay tôi định đến đây tạm trú ít hôm, đợi lệnh thúc về sẽ họp binh mã cùng quân Hán quyết chiến. Nếu thu được thiên hạ, phú quý chúng ta cùng hưởng.

Ngô Thành giả cách vâng lời, cố mời Anh Bố uống rượu. Anh Bố uống đến say mèm, rồi ra nhà công quán nằm ngủ.

Gần đến canh hai, Ngô Thành dẫn bốn mươi tráng sĩ, trang bị dao mác, từ phía sau nhà công quán trèo tường vào, sẽ lén đến chỗ Anh Bố nằm ngủ.

Ðến nơi, thấy Anh Bố đang ngáy như sấm. Ngô Thành rút kiếm, chém một nhát, đầu Anh Bố rơi xuống. Ở phòng bên cạnh, có vài mươi tên quân hầu, nghe động, la ầm lên.

– Bên phòng Ðại vương có việc gì thế?

Chúng đổ xô chạy đến. Nhưng bốn mươi tráng sĩ của Ngô thành chân lại giết hết.

Ngô Thành đem thủ cấp của Anh Bố đến nạp cho Hán đế.

Hán đế mừng rỡ, truyền Ngô Thành đem đầu Anh Bố vào, Trần Bình can:

– Không nên, Anh Bố là tay kiện tướng một thời, nay thốt nhiên bị giết như vậy hồn phách chưa tan nếu đến gần e ác khí xung phạm vào long thể.

Hán đế nói:

– Trẫm từ lúc khởi binh đất Bái, đã từng xông pha trăm trận, trải mấy mươi năm chiến đấu? Những đầu lâu lớn nhỏ trông thấy biết muôn vạn, nào sá gì cái đầu của Anh Bố mà sợ.

Liền truyền đem thủ cấp Anh Bố vào.

Hán đế vừa trông thấy, đã buột miệng mắng lớn:

– Thất phu! Không biết giữ bổn phận làm tôi, mưu tâm phản loạn. Nay đã bị chém đầu, phỏng còn ngang dọc ở vùng Ngô Sở nữa chăng?

Lời Hán đế vừa dứt, chiếc đầu Anh Bố cử động, râu tóc dựng ngược lên, rồi một luồng ác khí xông ra, bay vào mặt Hán đế làm cho Hán đế xây xẩm, té xuống đất.

Hồi 47 – Trương Lương bày kế giúp thái tử

Tả hữu thấy Hán đế bi ác khí xông váo mặt, ngã xỉu xuống đất, liền xúm lại đỡ dậy đưa vào nội cung, tìm ngự y điều trị.

Qua mấy ngày nằm liệt trên giường, Hán đế không nói năng gì cả. Các tướng vào vấn an, đem lòng lo lắng.

May thay! Chỉ độ mười ngày Hán đế lần lần tỉnh lại rồi bình phục.

Một hôm, Hán đế lâm triều, đòi Ngô Thành vào, ban thưởng rất hậu, và phong chức Trung Nghị hầu, lại viết chiếu khuyên Ngô Nhuế dụng tâm gìn gìn đất Giang Hạ, phong con Lưu Trọng là Lưu Hán làm Ngô vương, cho trấn thủ đất Giang Ðông.

Qua một thời gian, Hán đế lại đi tuần du khắp nơi, để vỗ về dân chúng. Khi đến nước Lỗ thấy có đền thờ đức Khổng tử ở làng Khuyết Lý, Hán đế bèn thân xuất trăm quan đến đó làm lễ tế, rồi phong cho con cháu họ Khổng làm quan cả.

Xong việc ấy, Hán đế lại trở về Phong Bái, đặt tiệc rượu ở Bái cung, cho mời tất cả bô lão trong vùng và các trẻ con nơi đó đến dự.

Tiệc rượu linh đình suốt mấy ngày đêm không ngớt tiếng đàn, tiếng hát.

Hán đế tự mình đặt ra một bài hát, dạy bọn trẻ con hát như sau:

Gió lộng trời cao thẳm

Rồng vườn mây cùng bay!

Giang sơn này! Sự nghiệp này!

Phong lưu cho bõ những ngày lao lung

Bọn trẻ hát vang trời. Hán đế bất giác cảm động, ứa nước mắt nói với các bô lão:

– Kẻ du tử này nghĩ đến cố hương không khỏi động lòng bi cảm. Như ta, lúc còn bé, ngày ngày cùng các người hàng xóm gần gũi chuyện trò, tình quyến luyến thực không nỡ dứt. Ðến sau, Khởi binh ở Phong Bái, ngược xuôi trong trường chinh chiến, sống chết như cánh lông hồng, trải bao nguy nan, nay mới gầy nên sự nghiệp. Và ngày nay, ta đã trở nên người có tuổi tác, mà các ông thì cũng đã đầu bạc răng long. Nghĩ lại việc xưa, tình cảm biết mấy. Ta đây, tuy trong cảnh phú quý, song lúc muôn tuổi vong hồn sẽ về nơi quyến luyến với đất Phong Bái.

Nói xong, lấy huyện Bái làm ấp Thang Mộc, miễn cả các sắc thuế trong vùng.

Dân chúng reo vui, các bô lão cả ngày đến chầu chực rộn rịp.

Hán đế thấy thế sợ làm phiền nhiễu mọi người, tỏ ý trở về Tràng An. Các bô lão cố nài, xin vua ở nán lại cho thỏa tình hoài vọng.

Hán đế nói:

– Trẫm về đây binh mã quá nhiều, huyện Bái chỉ là một ấp nhỏ, làm sao cung cấp nổi! Nếu ở lâu sanh điều phiền toái.

Hán đế chỉ ở lại thêm mấy ngày nữa rồi truyền lệnh xa giá trở về Lạc Dương.

Lã hậu, Thái tử, Thích Cơ, Như Ý và văn võ bá quan đều ra ngoài thành nghênh tiếp.

Hán đế truyền mở tiệc ăn mừng, khao thưởng tướng sĩ.

Từ đó, thiên hạ thái bình thịnh tri, lớn nhỏ lạc nghiệp âu ca.

Hán đế có lòng yêu thứ hậu Thích Cơ, nên Lã hậu đem lòng ghen tức nhiều lần tìm cách gây sự với Thích Cơ. Nhưng Thích CƠ vẫn một mực nhẫn nhục.

Một hôm Hán đế yếu mình, Thích Cơ nhân vào cung chầu chực, tâu với Hán đế:

– Bệ hạ xuân thu đã cao, nếu thánh ý không quyết định thế nào e mẹ con thần thiếp sau này phải bị tận diệt.

Hán đế nói:

– Việc đó rất dễ. Thỉnh thoảng rồi trẫm sẽ tính.

Một hôm, Hán đế ngự sang Tây cung, cùng Thích Cơ uống rượu. Lúc say, Hán đế gối đầu vào đùi Thích Cơ ngủ thiếp. Lã hậu cho người do thám, biết được liền thân hành đến Tây cung.

Kẻ hầu cận vội vào báo với Thích Cơ, nhưng Thích Cơ bị Hán đế gối đầu trên vế, không biết làm cách nào để ra tiếp đón Lã hậu được.

Lã hậu xông vào, chỉ mặt Thích Cơ mắng:

– Con tiện tỳ, mày mỗi khi gặp ta thường tỏ ra vô lễ. Nay ta đến cung mày, mày không đứng dậy, phỏng có còn ra thể thống gì nữa.

Thích Cơ thưa:

– Tiện thiếp hay Chánh hậu đến, song Chúa thượng đang an giấc, không dám kinh động, có đâu lại dám thất lễ.

Lã hậu nói:

– Mỗi việc mày đều đưa Chúa thượng ra để che chở.

Sau này lúc Chúa thượng trăm tuổi ta xem thử lấy ai che chở mày.

Nói rồi bỏ ra ngoài. Thích Cơ ngồi lặng hồi lâu, nước mắt ràn rụa rơi vào mặt rồng.

Hán đế chực thức dậy, thấy Thích Cơ đang khóc liền hỏi:

– Ái khanh có việc gì mà khóc thế?

Thích Cơ thưa:

– Vừa rồi Bệ hạ nằm ngủ say trên vế thiếp, chợt Chánh hậu từ ngoài vào, thiếp sợ giấc rồng bị động, chẳng dám đứng dậy ra tiếp đón. Chánh hậu vào đây quát mắng, buông lời hăm dọa, thần thiếp tủi phận mà khóc.

Dứt lời Thích Cơ quỳ móp xuống đất, cơn buồn đang tràn trên nét sóng thu, khiến Hán đế lòng bối rối, cảm động đưa tay kéo áo, vỗ về:

– Ái khanh cứ an lòng. Trẫm sẽ tìm cách bảo vệ cho mẹ con ái khanh. Ngày mai vào triều, trẫm sẽ bàn với quần thần, đổi ngôi Thái tử, thử xem Lã hậu từ nay còn đám bạc đãi ái khanh nữa chăng?

Thích Cơ dập đầu lạy tạ. ngày hôm sau, vua lâm triều bá quan ứng hầu đủ mặt, Hán đế viết chiếu ban cho quần thần truyền bàn việc đổi Thái tử sao cho hợp với công luận, không được câu nệ theo ý riêng của mình.

Các quan tuân lệnh, đem việc đó đến phủ Thừa Tướng bàn bạc.

Lã hậu hay được, vội gọi Lã Trạch vào nói:

– Hoàng thượng vì yêu mến Thích Cơ, chẳng nghĩ đến phải trái, mấy lần triệu tập quần thần bàn việc đổi ngôi Thái tử. Nhà ngươi có kế chi giúp ta chăng?

Lã Trạch nói:

– Hạ thần kiến thức thức hẹp hòi, không đủ để mưu việc lớn. Xin Hoàng hậu mật sai người đến hỏi Trương Tử Phòng may ra có kế hay.

Lã hậu nói:

– Tử Phòng nay đã tịch cốc tu hành còn muốn tham dự gì đến việc nước?

Lã Trạch nói:

– Hạ thần vẫn quen biết với con Tử Phòng là Tích Cường, vậy nhờ hắn khéo nói với Tử Phòng, ắt Tử Phòng không nở từ chối.

Lã hậu liền sai Lã Trạch và Tử Cường đến yết kiến Trương Lương.

Trương Lương từ chối không tỏ ý.

Lã Trạch nói:

– Tôi vâng mệnh Hoàng hậu tới đây vấn kế, nếu Tôn công không chỉ dạy, tôi biết về tâu với Hoàng hậu làm sao. Thôi thà tôi liều chết ở đây chứ quyết không ra khỏi cửa này.

Trương Lương nói:

– Việc ấy không phải tôi không muốn nói. Chỉ sợ nói ra không tiện mà thôi.

Lã Trạch nói:

– Lời Tôn công nói ra chỉ lọt vào tai tôi, có gì mà không tiện?

Trương Lương suy nghĩ một lúc rối ghé vào tai Lã Trạch nói nhỏ:

– Ngày thường, Bệ hạ vẫn nghe tiếng bốn hiền sĩ ẩn trong núi Thương Sơn. Núi này hiểm trở lắm, bốn người ấy chỉ ăn cỏ chi, uống nước suối mà sống thảnh thơi. Bệ hạ đã nhiều lần vời về triều, nhưng họ nhất định không ra. Bệ hạ lại có ý muốn trừ họ đi, song sợ thiên hạ chê bai, tàm cho kẻ hiền sĩ bốn phương không dám tìm đến triều phục. Vì vậy mà Bệ hạ đành chịu vậy. Nay Chánh hậu nên chọn một người ăn nói giỏi, dùng lễ vật mời họ về triều can ngăn. Lời nói của bốn người ấy có sức mạnh hơn trăm vạn binh hùng, ngôi Thái tử sẽ không mất.

Lã Trạch nói:

– Xin Công tôn cho biết tên bốn người hiền sĩ đó.

Trương Lương nói:

– Bốn người đó có một người họ Ðường tên Tuyên Minh, quê ở Ðông viên, hiệu là Ðông Viên Công Một người họ Y tên Lý Quý, quê ở hàm Ðan, trước ẩn ở Thương Nam. sau cùng Ðông Viên kết bạn. Một người họ Thôi, tên Hoàng, tự là Thiếu Thông, quê ở nước Tề, ẩn ở Hạ Hoàng, niên hiệu là Hạ Hoàng Công. Một người họ Chu tên Thuật, tự là Nguyên Ðạo, người ở Hà Nội, hiệu là Giốc Lý Tiên sinh.

Lã Trạch liền trở về cung tâu lại với Lã hậu.

Lã hậu sai nội sứ sắm sửa vàng rồng, bạc nén, cùng đem theo bốn con ngựa tốt đến Thương Sơn tìm yết kiến bốn nhà ẩn sĩ.

Lúc ấy, bốn ông già vừa đi hái rau chi về, thấy sứ giả đem lễ vật đến quỳ móp bên chân núi, liền hỏi:

– Quý ngài có việc gì đến đây lại thủ lễ với chúng tôi dường ấy?

Sứ giả nói:

– Hoàng Thái tử ngày nay là người nhân hiền, lâu nay vẫn ngưỡng mộ danh các ngài, vì vậy sai chúng tôi đến đây rước bốn ngài về triều giúp đỡ, và dạy bảo Thái tử để thành cái nghiệp thái bình thịnh trì.

Bốn vị ẩn sĩ ban đầu từ chối nhưng sau cùng sứ giả thành khẩn, quỳ mãi không đứng dậy, nên bằng lòng thu lễ vật, sắm sửa hành trang về Tràng An yết kiến Thái tử.

Lã hậu đặt tiệc khoản đãi bốn hiền sĩ rất long trọng.

Từ đó bốn người sớm tối cùng Thái tử bàn luận việc thiên hạ, một phút không rời.

Ngày kia Hán đế lâm triều, hỏi quần thần:

– Trẫm giao cho quần thần định việc lập ngôi cho Thái tử chẳng hay ý các khanh thế nào?

Thúc Tôn Thông và Chu Xương bước ra tâu:

– Xưa Tấn Hiếu Công vì say mê nàng Ly Cơ, bỏ Thế tử lập Hề Tề nên nước Tấn bị loạn mười năm. Nước Tần vì không sớm định ngôi Thái tử của Phù Tô khiến Triệu Cao được dịp trái lập họ Hồ mà nghiệp Tần phải mất. Ðó là những tấm gương Bệ hạ từng thấy rõ. Nay Thái tử là người nhân hiếu, thiên hạ đều biết tiếng cả. Bệ hạ lại bỏ con lớn, lập con thứ, sao cho khỏi thiên hạ dị nghị.

Hán đế nghe nói, vung tay áo, bỏ đứng dậy đi vào trong, định sang Tây cung, nhưng vừa đi đến tiền điện xảy gặp Thái tử từ điện Văn đức đến, có bốn ông già theo sau.

Hán đế ngạc nhiên hỏi:

– Bốn người kia từ đâu đến?

Bốn người phục xuống đất xưng rõ họ tên. Hán đế kinh ngạc, hỏi:

– Trẫm nghe danh các ngươi đã lâu, dùng hậu lễ đến rước cớ sao các ngươi không đến, nay lại theo con ta?

Bốn người nói:

– Bệ hạ vẫn có tánh hay khinh kẻ sĩ, vì vậy chúng tôi khiếp sợ xa lánh. Nay nghe Thái tử là người nhân hiếu, nguyện đem thân đến phò.

Hán đế nói:

– Phiền các ngươi cố gắng dạy bảo Thái tử.

Bốn ông già phục xuống lạy tạ, tướng mạo uy nghi, khí phách trang nhã. Hán đế đứng nhìn một lúc rồi mới dời chân.

Sang đến Tây cung, Thích Cơ ra rước vào, Hán đế thuật lại chuyện triều thần can ngăn không cho đổi ngôi Thái tử.

Thích Cơ nghe nói, bất giác rơi lệ. Hán đế an ủi:

– Ðể ta phong cho Như Ý đến một nơi đất tốt, làm căn bản lập nghiệp không còn lo gì nữa.

Thích Cơ nói:

– Tại sao hôm nay Bệ hạ đổi ý?

Hán đế nói:

– Thái tử vừa thu nạp được bốn kẻ sĩ có tài, như thế tức là vây cánh đã định. Vả lại Thái tử cũng là bậc nhân hiếu thiên hạ đều ngưỡng phục. Nếu thay đổi e sanh biến.

Thích Cơ dập đầu lạy tạ nói:

– Thần thiếp chỉ ước mong làm sao sống an thân là đủ rồi, có đâu dám cao vọng. Chẳng hay Bệ hạ định phong Như Ý nơi nào?

Hán đế nói:

– Vừa rồi ta đi tuần du ở Hàm Ðan, thấy phong thổ thuần hậu, nhân dân giàu mạnh, đó là nơi hiểm trở, trước có Yên Ðài ngăn cách, sau có Chương Hà bủa vây, đất vuông nghìn dặm, hiền sĩ khá nhiều. Nếu đóng đô ở đấy cũng như đống đô ở Tràng An, suốt đời thanh nhàn sung sướng. Vả lại Hàm Ðan cách Tràng An xa lắm, có thể làm chỗ dung thân được.

Thích Cơ nói:

– Phong Như Ý làm Triệu vương, thiếp xin cảm tạ ơn dày của Bệ hạ, song Như ý hãy còn trẻ dại, cần phải có một người theo bảo vệ, ngỏ hầu mới giữ nổi cõi bờ.

Hán đế nói:

– Trẫm sẽ lựa một người đủ tài trí theo phò, ái khanh chớ lo.

Ngày hôm sau, Hán đế ngự triều, cùng văn, võ bá quan đàm đạo.

Hán đế nói:

-Trẫm y theo lời luận của quấn thân, không đổi ngôi Thái tử, song xét Như Ýcũng đã lớn tuổi, không nên để mãi trong cung, trẫm muốn phong cho Như Ý làm Triệu vương, đóng đô ở Hàm Ðan, các khanh nghĩ thế nào?

Quần thần tâu:

– Bệ hạ phong Như ý làm Triệu vương rất hợp với công luận

Hán đế nói:

– Như Ý đến Hàm Ðan cần phải có một người theo giúp đỡ sớm tối dạy bảo. Vậy các khanh xem thử ai có thể đảm dương việc ấy?

Tiêu Hà nói:

– Quan Ngự sử Chu Xương là một người chính trực, có thể tin cậy việc ấy được.

Hán đế truyền đòi Chu Xương đến ban trách nhiệm.

Chu Xương nói:

– Bệ hạ sai thần việc gì thần đâu dám trái mệnh, song thần xin Bệ hạ viết tờ thủ sắc gồm có ba điều, mới tránh khỏi tai họa về sau.

Hán đế hỏi:

– Ba điều ấy là điều gì?

Chu Xương nói:

– Ðiều thứ nhất, không nên bắt về triều, e địa phương không người coi giữ. Ðiều thứ hai, lúc đến nước Triệu, nhị Ðiện hạ phải nghe lời thần khuyên can. Ðiều thứ ba, nhị Ðiện hạ không nên thường thường cùng với thứ hậu giao thông tin tức. Ðược ba điều ấy, hạ thần mới có thể bảo vệ Triệu vương sau này được.

Hán đế nói:

– Ba điều ấy chẳng có gì khó khăn cả.

Liền viết sắc trao cho Như ý, truyền Như Ý sắm sửa đi trấn nhậm.

Như Ý vào giã biệt Thích Cơ.

Thích Cơ nói:

– Mẹ cùng con ngày nay ly biệt, chưa biết đến bao giờ mới gặp mặt.

Hai mẹ con ôm nhau khóc ròng.

Ngày hôm sau Như Ý khởi hành, Hán đế ngự ra tận ngoài thanh đưa tiễn.

Chu Xương đem cả gia quyến, cũng ngày hôm ấy theo Triệu Vương đến Hàm Ðan.

Hán đế tiễn Như Ý xong, trở vào cung, vừa đi đến cửa thành bỗng có một người cầm một tờ trạng đến trước mặt tâu:

– Tiêu Thừa tướng cho dân cày chỗ đất công trong vườn ngụ lâm, lấy của công để mua lòng riêng đó là bất trung, xin bệ hạ minh xét.

Hán đế nghe nói nổi giận mắng:

– Vậy ra Tiêu Hà ăn tiền của dân, rồi lấy khu đất của ta trong vườn thượng lâm cho dân cày. Thế là trái đạo tôi.

Liền sai quan Ðình úy bắt Tiêu Hà bỏ vào ngục.

Tiêu Hà vẫn lặng thinh, không hề chống cãi gì cả.

Ðược vài ngày, có quan Vệ úy họ Vương đến gõ cửa khuyết tâu:

– Quan Thừa tướng họ Tiêu có tội gì mà Bệ hạ bắt bỏ vào ngục?

Hán đế nói:

– Tội ăn lộc của người rồi lấy đất vườn ta mà mua lòng dân, nên ta phải trị.

Vương vệ úy nói:

– Việc lợi cho dân thì làm, đó chính là nhiệm vụ của quan Tể Tướng. Bệ hạ chống Sở mấy năm, sau đến việc Trần Hy, Anh Bố, đều đem đất Quan Trung giao cho Thừa Tướng. quản thủ. Nếu là kẻ bất trung thì cả dãy đất lớn lao ấy có còn cho Bệ hạ ngày nay chăng? Bệ hạ chỉ thấy cái lỗi nhỏ mà quên cả cái đức lớn.

Hán đế ngồi ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

-Trẫm rất có lỗi.

Ngay hôm ấy, Hán đế sai cận vệ vào ngục thả Tiêu Hà ra.

Tiêu Hà vào triều tạ ơn.

Hán đế nói:

– Việc của khanh làm chính là nhiệm vụ của quan Tể Tướng, ta vì nông cạn, đã phạm đến kẻ có đức, lỗi của ta rất lớn.

Tiêu Hà tâu:

– Bệ hạ là bậc minh chính, hạ thần dẫu có ai đâu dam kêu nài.

Việc này thấu đến tai Trương Lương, Trương Lương thở dài, than:

– Hàn Tín, Bành Việt, Anh Bố đã bị giết, nay Tiêu Hà lại bị hạ ngục, đủ biết tâm địa của vua Hán đối đãi với công thần như thế nào rồi. Ta vừa giúp cho Thái tử giữ được ngôi, nếu Hán đế biết được ắt ta không khỏi nạn. Chi bằng kíp xa lánh cảnh phồn hoa này cho xong.

Nghĩ như vậy, Trương Lương tìm đến bốn ông cụ già bàn bạc, rủ nhau đến núi Chung Nam tu tiên.

Bốn ông lão đồng ý, cùng với Trương Lương vào yết kiến vua tâu rằng:

– Ngày nay thiên hạ nhất thống, bốn bể thanh bình, cơ nghiệp có thể bền vững muôn năm. Chúng tôi tuổi già sức yếu không làm gì được nữa, vậy xin lạy từ Bệ hạ, cùng nhau lên núi Chung Nam học đạo, công danh phú quý chẳng bận lòng, được Bệ hạ đoái thương ơn ấy rất lớn.

Hán đế nói với Trương Lương:

– Trẫm từ khi được thiên hạ đến nay, ơn tiên sinh chưa báo đáp. Ngày trước phong làm Lưu hầu, nhưng tiên sinh không lĩnh nay lại từ giã trẫm mà đi, chẳng biết sau này có còn cùng nhau tương ngộ chăng?

Ðoạn, Hán đế lại nói với bốn ông lão:

– Các ông đến giúp Thái tử, trẫm có lòng mừng.

Nay chưa bao lâu, cũng lại muốn lánh vào chốn núi rừng, sao nỡ lòng làm thế.

Bốn ông già nói:

– Hiện nay anh tài đầy triều, thiện nhân tham chinh, bọn tôi chỉ là phường hủ nho, nào có ích gì cho quốc gia. Chỉ mong Bệ hạ tha cho, được về nơi thảo dã, di dưỡng tuổi thừa thì thực suốt đời chẳng dám quên ơn.

Vua thấy mọi người có ý khẩn thiết, bèn tặng mỗi người một ít vàng lụa, rồi đưa ra khỏi thành. Bốn ông già cùng Trương Lương bái biệt, cất bước lên đường. Hán đế nhìn theo, bóng của họ khuất dần trong cát bụi.

Hán đế vào cung, ngồi nghĩ đến Trương Lương, nhớ đến các vị công thần khai quốc, từ lúc áo vải theo hầu, lập nhiều công lớn nay có kẻ bị giết, có kẻ bỏ đi, lòng bâng khuâng cảm động.

Bèn sai thợ, xây một cái đài công thần, tạc đủ hình tượng và ghi tên họ những công thần lên.

Ðài lập xong, Hán đế đưa Thái tử đến xem. Qua mỗi một tượng, Hán đế đều nói rõ lai lịch, công trạng từng người.

Xem đến tượng Kỷ Tín, Thái tử nói:

– Nếu không có người này thì Phụ hoàng không có được đến ngày nay.

Lại xem đến tượng Hạ Hầu Anh, Thái tử nói:

– Nếu không có người này, con không còn trông thấy mặt Phụ hoàng nữa.

Hán đế nói:

– Con ta như thế thực là một kẻ không quên gốc.

Hôm ấy, Thái tử cho mời con Kỷ Tín là Kỷ Thông, và Hạ Hầu Anh đến ban thưởng rất hậu.

Ai nấy đều ngợi khen Thái tử là người nhân đức.

Hán đế rất vui lòng.

Chợt có một người nói lớn:

– Bệ hạ cùng điện hạ nhớ công lao của Kỷ Tín và Hạ Hầu Anh, sao không nhớ công lao của cha tôi?

Hán đế xem lại thì đó là Hạng Ðông, con của Hạng Bá.

Hạng Ðông nói:

– Bệ hạ ngày trước giao tranh với Sở, bị quân Sở đến cướp trại, cha tôi vì bạn thân với Tử Phòng, nên mật tin cho Bệ hạ biết, và khuyển Hạng vương bãi việc tấn binh. Lại như việc hội yến ở Hồng Môn, nếu không có cha tôi thì tánh mạng Bệ hạ đâu còn. Ðến sau, Hạng vương đặt Thái công lên thớt toan nấu dầu, nếu không có cha tôi, ắt Thái công bị hại. Tôi thiết nghĩ công lao cha tôi không kém gì Kỷ Tín, Hạ Hầu Anh.

Hán đế nghe Hạng Ðông nói, sực nhớ chuyện xưa, trầm ngâm một lúc, rồi nói:

– Quả nhân lâu nay vẫn muốn kết ước ngày xưa, giữ tình hên hảo hai nhà, song vì việc quân bận rộn. Nay nghe lời nói ấy khiến ta tự thẹn.

Ngay ngày hôm ấy, Hán đế truyền đem Thiếu Hoa Công chúa gả cho Hạng Ðông, sai Thúc Tôn Thông định về nghi lễ, chọn ngày thành hôn.

Hạng Ðông từ đó sánh đôi với Công chúa Thiếu Hoa, chồng loan vợ phượng rất nên tương đắc.

Hạng Ðông được phong làm chức Chiêu Tín hầu.

Thời gian trôi, trôi trong cảnh thanh bình, an lạc.

Một hôm, Hán đế vì mũi tên của Loan Bố bắn trước kia, nay yếu sức, bệnh tái phát, làm ung độc, bệnh thế càng ngày càng trầm trọng.

Lã hậu thấy thế bàn với các cung tần:

– Chúa thượng đang tại bệnh mà ngày đêm say đắm Tây cung, lòng ta lo ngại lắm.

Các cung tần nói:

– Việc này Hoàng hậu nên nhờ quần thần khuyên can, chứ nếu Hoàng hậu tỏ ý e Hoàng thượng lại cho là Hoàng hậu là ghen chăng?

Lã hậu nói:

– Các ngươi luận rất phải

Liền đòi Thảm Tự Cơ và Lã Trạch vào, sai đi triệu các gián quan và triều thần.

Các đại thần vào triều, cùng Thái tử đến Tây cung đứng đợi nơi cửa Phúc Thuận.

Hán đế hay việc ấy nói với Thích Cơ:

– Ðó là Lã hậu thấy ta có bệnh, nên sai Thái Tử và quần thần đến đây mời ta về cung.

Thích Cơ nói:

– Nếu Bệ hạ về cung bỏ thiếp nơi đây, tất thiếp bị hại, không còn mong gì được trông thấy long nhan nữa.

Dứt lời, nước mắt tuôn tràn xuống hai má.

Hán đế nói:.

– Ðợi quần thần vào đây ta sẽ có cách bảo vệ.

Liền truyền lệnh cho Thái tử và quần thần vào.

Các quan thấy mặt mày Hán đế xanh xao, thân thể gầy gò, liền khấu đầu tâu:

– Bệ hạ xuân thu đã cao, lại thêm có bệnh nơi đây không phải là chỗ điều dưỡng thánh cung. Cứ ý chung tôi thì Bệ hạ nên trở về chánh cung tịnh dưỡng nịnh rồng, để Thái tử được báo đền hiếu thảo, và quần thần được thăm viếng hàng ngày.

Hán đế nói:

– Ta thọ bệnh là do xong pha nhiều chiến trận, nhọc mệt lâu năm, sức lực mỏi mòn. Nay ta ở cung này, thấy tâm thần thư thái, có thể lành bệnh được, các ngươi chớ có nhiều lời.

Các quan không biết nói sao.

Phàn Khoái dập đầu, tâu:

– Tâu Bệ hạ, hạ thần theo Bệ hạ từ lúc còn mặc manh áo vải, trải bao năm khổ nhọc mong dựng nghiệp lớn. Nay khi thành công, Bệ hạ đã quên chí cũ, xem sắc dục là trọng, xem thiên hạ là khinh, như vậy ai còn ngưỡng vọng nữa.

Hán đế thở dài:

– Các khanh đã hết lời can gián lẽ nào trẫm lại chẳng nghe.

Liền để cho quần thần đưa về cung Trường Lạc.

Thích Cơ đưa Hán đế về chính cung xong, vào yết kiến Lã hậu, đoạn trở lại Tây cung.

Bấy giờ, Lã hậu cùng quần thần bàn việc tìm lương y điều trị cho vua.

Trần Bình nói:

– Cách thành Trường An hai trăm dặm, vê phía Bắc núi Lịch Dương có một người thầy thuốc rất giỏi, vậy xin Hoàng hậu lấy lễ mời người ấy đến, họa may chửa được.

Hoàng hậu theo lời, săm sứa lễ vật, sai người đến Lịch Dương rước thầy thuốc. Ðộ ba hôm, lương y đến, vào nội Cung ra mắt Lã hậu. Lã hậu kể lại bệnh trạng của vua.

Lương y nói:

– Bệnh đó tuy trầm trọng, song nguyên khí Hoàng thượng còn cường tráng, có thể chữa được.

Lã hậu mừng rỡ, đưa lương y đến chính cung.

Hán đế trông thấy lương y buông lời quát mắng ngay:

– Ta từ lúc trảm xà khởi nghĩa, đem ba thước gươm bình thiên hạ, dựng nghiệp đế vương, công lao rất nhọc. Nay lâm bệnh là tại trời, chết sóng có mạng, ngươi chẳng qua là một đứa tầm thường, đến đây làm gì.

Hán đế nhất định không cho lương y chữa bệnh, bảo phải trở về Lịch Dương.

Từ đó, bệnh tình Hán đế mỗi lúc một tăng. Lã hậu sớm tối chầu chực bên giường.

Nhân lúc Hán đế tỉnh táo Lã hậu hỏi:

– Vạn nhất, Bệ hạ sau khi muôn tuổi, mà Tiêu Thừa tướng cũng mất thì nên cừ ai làm tướng?

Hán đế đáp:

– Tào Tham có thể thay được.

Lã hậu lại hỏi đến sau Tào Tham?

Hán đế nói:

– Vương Lăng có thể thay được. Tuy nhiên Vương Lăng tính trực mà ương, cần phải có Trần Bình giúp sức. Trần Bình trí khôn có thừa nhưng không thể gánh vác một mình. Chu Bột là kẻ thật thà, tánh thận trọng, nên cùng hắn làm chức Thái úy.

Lã hậu lại hỏi về sau nữa.

Hán đế nói:

– Ta chỉ biết đến đó mà thôi.

Hôm sau, Thái tử vào vấn an, Hán đế nói:

– Ta nay đã già yếu, bệnh hoạn không thể khỏi được. Con là người nối nghiệp trị dân, có đủ đạo đức để bảo vệ non sông. Chỉ có một điều, ta hằng lo lắng là mẹ con Thích Cơ, ta nhờ con đùm bọc. Cái gì cha yêu thì kẻ làm con cũng yêu. Có thế mới tròn hiếu đạo. Con nên ghi nhớ.

Thái tử nói:

– Ðạo thân phụ, nghĩa thủ túc, hai điều ấy con đâu dám bỏ. Xin Phụ hoàng bảo tồn long thể, cho bệnh được chóng lành, đừng lo lắng đến chuyện đó nữa.

Cách vài ngày sau, Hán đế băng hà. Hôm ấy vào ngày giáp thìn tháng tư mùa hạ, nhà Ðại Hán năm thứ mười hai.

Vua Cao đế sinh năm thứ 51 đời Tần tiên vương thọ được 63 tuổi.

Hồi 48(hết) – Lã Thái Hậu Mưu Giết Công Thần

Hán đế mất đã bốn ngày mà Lã Hậu chưa chịu phát tang, sai người đòi Lã Trạch và Thẩm Tự Cơ vào nói:

– Ngày nay, các công thần trong triều phần nhiều ngông nghênh hống hách, lòng mỗi người lại có ngầm ý riêng. Nếu hay được tin Chúa thượng băng hà tất khởi loạn, không chịu phò Thiếu đế. Ta muốn giả một tờ chiếu, đòi các quan lớn nhỏ vào nội cung để nghe lời di chúc của Chúa thượng rồi cho võ sĩ phục bên trong, giết cả đi, để sau này khỏi sanh họa.

Thẩm Tự Cơ nói:

– Hoàng hậu tính kế ấy rất hay, song phải lựa một viên tướng tâm phúc xuất lãnh bọn võ sĩ, thì kế ấy mới khỏi sợ thất bại.

Lã hậu nói:

– Các đại tướng duy có Lịch Thương là có thể tin cậy được. Nhà ngươi nên vời hắn đến đây để bàn.

Lã Trạch liền đi mời Lịch Thương.

Lịch Thương được lệnh vào yết kiến Lã Hậu.

Lã Hậu đem việc cơ mật bàn với Lịch Thương.

Lịch Thương nói:

– Việc ấy không phải là việc tốt. Nếu Hoàng Hậu làm như thế xã tắc phải lâm nguy. Hiện nay Trần Bình, Quán Anh cầm mười vạn binh đóng nên Huỳnh Dương. Phàn Khoái, Chu Bột cầm binh hai mươi vạn, đóng quân ở Yên Ðại, còn các tướng khác đóng ở các xứ cũng đều có binh lực ít nhiều. nếu họ hay tin Hoàng Hậu đánh lừa vào cung để mưu hại, tất họ liên kết nhau kéo vào đánh Quan Trung, cơ đồ sụp đổ tức khắc. Xin Hoàng Hậu xét lại.

Lã Hậu nói:

– Lời ngươi rất có lý. Thế thì cơ biến ngày nay phải làm thế nào?

Lịch Thương nói:

– Cứ như ngu ý Hoàng Hậu, nên tuyên bố trong ngoài hay tin vua mất. Vời bọn Phàn Khoái, Vương Lãng, Chu Bột về phòng bị Quan Trung. Trên thì giữ được cái nghiệp muôn năm của tiên đế, dưới bảo vệ được địa vị của Thiếu quân.

Lã hậu nói:

– Nếu vậy nên gọi Thúc Tôn Thông vào thảo chiếu để tuyên bố cho trong ngoài đều biết.

Lịch Thương tuân lệnh đòi Thúc Tôn Thông đến, thảo chiếu giả lời di mệnh của Hán đế.

Từ đó khắp nơi an hưởng thanh bình, không còn sinh việc binh cách.

Lã Hậu lên làm Thái hậu, bọn Lã Trạch cậy thế ra vào cấm môn. Các người họ Lã đều được phong trọng chức.

Bấy giờ Tiêu Hà đã già không coi việc triều chính được nữa. Chẳng bao lâu lại phát bệnh nặng.

Huệ đế đến tận nhà hỏi thăm:

– Thừa Tướng đau yếu ra làm sao?

Tiêu Hà tâu:

– Hạ thần tuổi già sức yếu, lâm bệnh nặng, thế tất chẳng sống được lâu. Nay được Bệ hạ chiếu cố, dẫu thịt nát xương tan cũng chưa đền ơn đặng.

Huệ đế nói:

– Thừa Tướng nên giữ gìn quí thể, mời thầy thuốc điều trị chớ nên nói thế.

Tiêu Hà nói:

– Hạ thần phò Tiên đế từ ba mươi năm nay theo việc chiến chinh, tinh thần hao tổn, sức lực kiệt quệ, nay thiên hạ thái bình, dẫu có chết cũng đã phải.

Huệ đế nghe nói ứa nước mắt hỏi:

– Thừa Tướng sau khi trăm tuổi thì ai có thể thay thế đế giúp trẫm?

Tiêu Hà nói:

– Việc này không ai hiểu hơn Tiên đế.

Huệ đế nói:

– Tiên đế có nói đến Tào Tham, chẳng biết Tào Tham như thế nào?

Tiêu Hà nói:

– Tào Tham là cựu thần của Tiên đế, bản tính trung thực, rất đủ điều kiện gánh vác việc nước.

Huệ đế biệt Tiêu Hà về cung.

Sau vài ngày Tiêu Hà mất. Huệ đế thương xót chẳng cùng, lo việc tang tế, rồi đòi Tào Tham đến phong làm Thừa tướng.

Tào Tham tuân lệnh, vào bệ kiến Huệ đế nói.

– Tiêu Thừa Tướng trước khi ta thế có tiến cử khanh, và Tiên đế trước khi băng hà cũng có nhắc đến. Vậy khanh nên hết lòng vì nước, đừng phụ mệnh trẫm.

Tào Tham tâu:

– Thần đâu dám chẳng đem hết sức ra đền ơn Bệ hạ.

Tào Tham lên làm Thừa Tướng, nhất nhất theo khuôn phép của Tiêu Hà, không hề sửa đổi một điều nào.

Dân trụ mỗi ngày một thuần, sĩ phong mỗi ngày một tốt, trăm họ yên vui trong đời thịnh trị.

Sau ba năm, Tào Tham nghĩ mình tuổi cao tác lớn, theo phò Hán đế từ lúc khởi binh nơi Phong Bái, nay được đến ngôi tột bực, tưởng như thế cũng đã đủ lắm rồi, liền viết sớ xin về dưỡng lão.

Huệ đế cầm lại không được phải thuận tình, phong Tào Tham làm Tuyên Bình Công, phong Ấp ăn lộc mười vạn, con cháu suốt đời thừa ấm.

Huệ đế lại theo lời di chiếu của Cao đế, dùng Vương Lãng làm hữu Thừa Tướng, Trần Bình làm tả Thừa Tướng, Chu Bột làm Thái Úy, bọn Phàn Khoái huấn luyện binh mã.

Từ đó, thiên hạ vô sự, tiếng khen truyền khắp nhân gian thật là một đời thái bình thịnh trị.

Hết

Hồi 1: Vương Giáo Đầu, phủ Duyên lánh gót – Cửu Văn Long, thôn sử ra tay

Về đời nhà Tống, Triết Tôn Hoàng Đế làm vua, cách với đời của vua Nhân Tôn Hoàng Đế đã xa; Giữa phủ Khai Phong, ở ngay Đông Kinh, thuộc khu của thành Tuyên Vũ Quân nảy nồi một tên con nhà lông bông mất dạy, là dòng họ Cao, bày hàng đứng vào thứ hai. Anh ta thuở nhỏ không chịu làm ăn, chỉ thích múa thương đánh gậy, và đá cầu rất giỏi, bởi thế trong Kinh Sư gọi anh ta là Cao Cầu, đổi gọi Cao Nhị. Đoạn chữ cầu có chữ Mao là lông ở bên cạnh, sau phát tích khá lên, mới đổi chữ Cầu có chữ Nhân là người đứng cạnh.

Anh chàng này lại giỏi thổi sáo múa bộ, chơi bời nghịch ngợm đủ lối, mà còn học đòi thơ phú, võ vẽ sách vở, nhưng nói đến Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, hạnh trung lương, thì tuyệt nhiên không hiểu chút gì.

Suốt ngày anh ta chỉ ở trong thành ngoài thành Đông Kinh, bám vào những tay du thủ du thực, đánh đu với một anh con trai Sinh Thiết Vương Viên Ngoại, để kiếm tiền tiêu xài, đĩ bợm với nhau.

Bất đồ không bao lâu bị Viên Ngoại có đơn thưa kiện Cao Cầu trong phủ Khai Phong, quan Phủ cho bắt Cao Cầu kết án phạt đánh 20 trượng, trục xuất ra khỏi Đông Kinh, cấm nhân dân ở trong thành không ai được dung túng ở trong nhà.

Cao Cầu vô kế khả thi, đành phải đi sang miền Hoài Tây, chạy vào bám ở một nơi sòng bạc của Liễu Đại Lang gần đó. Anh này nguyên tên là Liễu Thế Quyền, bình sinh chỉ quen kết nạp những hạng bơ biếng phỉnh phờ, bao nhiêu hạng dông dài bợm bãi đâu đâu, cũng đều chứa chấp hết thẩy.

Cao Cầu tới đó được tới ba năm, nhân gặp khi Triết Tôn Thiên Tử đi lễ Nam Giao, cảm thấy mưa hòa gió thuận, gia ơn đại xá cho các tội tù, Cao Cầu cũng dự vào hạng ấy.

Được tin ân xá, Cao Cầu nhân muốn trở về Đông Kinh, liền nói cho Thế Quyền hay. Liễu Thế Quyền vốn có một người bà con, tên là Đổng Trương Sĩ mở hàng thuốc sống ở phía cầu Kim Lương trong Đông Kinh liền viết một phong thư và thu xếp ít tiền lộ phí, giới thiệu cho Cao Cầu sang ở với Đổng.

Cao Cầu được thư giới thiệu, từ giã Liễu Đại Lang đeo khăn gói tìm lối quay về Đông Kinh, thẳng đến cầu Kim Lương, kiếm hàng thuốc Bắc Đổng Sinh, đưa thư trình diện.

Đổng Trương Sĩ trông thấy Cao Cầu, lại thấy bức thư của Liễu Thế Quyền, trong bụng nghĩ thầm:

Thằng cha Cao Cầu này, nhà ta dung làm sao được. Nếu phải hắn là người có chí hướng thành thực, thì cũng có thể cho ở đây, quanh quẩn ra vào, kèm dạy cho mấy đứa nhỏ… Nhưng hắn lại là một tay du thu du thực, con nhà mất dạy, không một chút tín nghĩa gì, hơn nữa trước đây đã phạm tội phát phối, thì chứng cũ đã chừa sao được?

Nay ta để luôn trong nhà, không khỏi con trẻ tập theo những thói vô loại, rồi đây biết làm sao kịp? Mà nếu không dung hắn ở đây, thì đối với Liễu Đại Lang cũng hơi có điều bất tiện…

Nhân thế phải làm ra bộ vui vẻ tươi cười, hãy lưu Cao Cầu ở lại trong nhà, và hằng ngày cung đốn rượu chè rất là tử tế.

Cách 10 hôm sau, Đổng Trương Sĩ chợt nghĩ được ra một kế liền sắm sửa quần áo mới, viết một phong thư rồi bảo Cao Cầu:

– Nhà đệ ở đây, như ánh sáng của con đom đóm, không thể soi rõ được người, chỉ sợ sau này lầm lỡ cho túc hạ, nay tôi xin tiến túc hạ sang chỗ quan Học Sĩ Tiểu Tô, sau này sẽ có đường xuất thân cho túc hạ chẳng hay túc hạ nghĩ sao?

Cao Cầu nghe nói mừng rỡ mà cảm tạ Trương Sĩ, Trương Sĩ liền trao quần áo cho Cao Cầu mặc, và sai người mang thư sang phủ Học Sĩ.

Khi tới nơi môn lại vào báo cho Học Sĩ ra, sau khi trông thấy Cao Cầu, và đọc qua bức thư, Học Sĩ hiểu Cao Cầu là hạng người phù phiếm phỉnh phờ, liền nghĩ thầm:

– Nhà ta đây dụng hạng này thế nào được? Chi bằng ta lưu chút nhân tình, tiến cử anh ta sang phủ Phò Mã Vương Tấn Khanh, để làm người hầu thân tùy. Ông này vẫn thường gọi là Tiểu Vương, Đô Thái Úy, tất là ông ta ưa thích những hạng người này… “Liền viết thư trả lời cho Đổng Trương Sĩ, rồi lưu Cao Cầu ở trong phủ một đêm.

Sáng hôm sau, viết một bức trình, sai một tên gia nhân mẫn cán đưa dẫn Cao Cầu sang phủ Tiểu Vương Đô Thái Úy.

Vị Thái Úy này nguyên là chồng của bà chị Triết Tôn Hoàng Đế, và là phò mã vua Thần Tôn khi trước vốn là người thích những bọn phong lưu phóng đãng xưa nay, khi nhận được thư Học Sĩ đưa Cao Cầu đến, thì trong lòng lấy làm mừng rỡ liền viết thư trả lời quan Học Sĩ, mà lưu Cao Cầu ở phủ, để cho hầu hạ trân trọng.

Từ đó Cao Cầu được Đô Úy tin dùng, khi ăn ở lúc ra vào, chả khác chi người nhà thân mật vậy.

Một hôm gặp ngày sinh nhật Đô Thái Úy, trong phủ bày đặt yến tiệc để mời Đoan Vương sang dự tiệc. Đoan Vương là con trai thứ II vua Thần Tôn, là em vua Triết Tôn, và là em vợ Đô Thái Úy, hiện giữ chức Đông giá, bài hiệu là Cửu Thiên Vương, vốn là người thông minh tuấn tú, am hiểu mọi cách chơi bời, những sự du nhàn, không gì là không thích, các ngón cầm kỳ, thi, họa, ca vũ, thanh âm, cùng là ngón múa gậy đá cầu là ngón chơi sở thiùch nhất cả.

Hôm đó Đoan Vương sang dự tiệc ở phủ Đô Thái Úy, khi rượu đã vài tuần rồi, đứng dậy chạy vào thư viện để xem. Chợt trông thấy trên bàn sách có một đôi sư tử chặn giấy làm bằng thứ ngọc dương chi rất là tinh hảo, liền cầm tay ngắm nghía hồi lâu mà luôn mồm khen ngợi.

Vương Đô Úy thấy Đoan Vương có ý ưa thích liền nói:

– Ở đây có một cái giá bút rồng bằng ngọc, cũng một người thợ ấy chế ra, để mai xin đem sang dâng ngài dùng. Đoan Vương mừng rỡ tạ ơn, rồi lại cùng nhau quay ra dự tiệc, mãi đến chiều tan tiệc mới lui về vương phủ.

Ngày hôm sau, Tiểu Vương Đô Thái Úy, lấy đôi sư tử và cái giá bút rồng bằng ngọc, bỏ vào cái hộp nhỏ bằng vàng, lấy lụa bọc ngoài, và viết một phong thư sai Cao Cầu đưa sang vương phủ.

Cao Cầu vâng lệnh đem các lễ vật sang phủ Đoan Vương.

Khi tới cổng, báo cho người canh cổng vào bẩm báo với Đoan Vương.

Người canh cổng vào một lúc rồi chạy ra bảo Cao Cầu rằng:

– Có phải là ngươi bên phủ Phò Mã, thì cứ vào trong sân điện kia, ngài đương đánh cầu ở đấy.

Cao Cầu nghe nói, liền nhờ dẫn vào.

Khi tới sân điện, thấy Đoan Vương đầu đội mũ Sài Tiến, mình mặc áo long bào hoa tía, lưng thắt đai văn vũ, tay cầm một bên áo xốc lên, chân đi đôi giày bít gót, thêu phượng bay bằng kim tuyến, cùng với năm bảy tiểu môn đá cầu, Cao Cầu thấy vậy đứng núp đàng sau đám hoàng môn mà không dám thò mặt ra.

Chợt khi ấy quả cầu ở trên không rơi xuống đất. Đoan Vương đón không được, lại bắn đến bên cạnh Cao Cầu, chàng ta liều gan đá luôn một quả về cho Đoan Vương, Đoan Vương lấy làm thích, gọi đến gần mà hỏi là: Ngươi ở đâu?

Cao Cầu quì xuống đất kêu rằng:

– Con là người bên phủ Đô Thái Úy, sai đưa sang mấy bộ đồ ngọc, và bức thư sang dâng đại vương.

Nói đoạn liền lấy thư đưa lên, Đoan Vương xem xong mỉm cười ra dáng vui mừng, không kịp xem đến các đồ ngọc ngoạn, vội sai quân hầu đem cất đi, và lại hỏi luôn Cao Cầu rằng:

– Nhà ngươi tên là gì? Cũng biết đá cầu hay sao?

Cao Cầu cung kính bảo rằng:

– Con tên là Cao Cầu, thủa nhỏ cũng có học đôi chút.

Đoan Vương cười mà bảo rằng:

– Nếu vậy ngươi thử đá chơi với ta một chút xem sao?

– Con đâu dám vô lễ.

– Việc chơi phải như thế mới vui, cho phép ngươi cứ đá thử ngại chi?

Cao Cầu từ chối năm bảy lượt, Đoan Vương nhất định không nghe, sau bất đắc dĩ phải xin lỗi để vào đá.

Cao Cầu vừa mới đá luôn được mấy quả, Đoan Vương đã vỗ tay khen giỏi.

Bây giờ chàng mới giở hết tài bình sinh đá đông đỡ tây, tung cao hứng thấp, làm cho quả cầu kia hết lên lại xuống hết dọc lại ngang, con mắt nhanh nhẹn đến đâu cũng không theo kịp; Đoan Vương reo to lên lấy làm thích chí, rồi giữ riết Cao Cầu ở đấy mà không cho trở về nữa.

Về phần Đô Thái Úy từ khi sai Cao Cầu đi rồi mong mỏi suốt ngày hôm ấy, cũng không thấy về, trong lòng lấy làm nghi ngại, không hiểu cớ làm sao?

Chợt thấy sáng hôm sau, người nhà Đoan Vương đưa giấy đến mời sang vương phủ.

Đô Thái Úy thấy vậy vội vàng dóng ngựa đi ngay. Khi tới nơi Đoan Vương mừng rỡ đón chào, trước hết tạ ơn về những tặng đãi ngọc ngoạn, rồi sau mời vào dự tiệc.

Chè chén hồi lâu, Đoan Vương nói với Đô Thái Úy rằng:

– Tên Cao Cầu ở bên quý phủ có tài đá cầu rất giỏi, ý tôi muốn lưu hắn ở lại đây, để sớm khuya thưởng thức cho vui, chẳng hay Thái Úy có ưng thế cho chăng?

Đô Thái Úy vui cười đáp rằng:

– Nếu điện hạ bằng lòng cho hắn ở đây thì tôi đâu lại không thuận vậy từ nay xin cho hắn theo hầu.

Đoan Vương nghe nói tỏ lòng mừng rỡ, cảm ơn Đô Thái Úy, rồi cùng nhau chè chén, mãi khi mặt trời lặn mới tan.

Từ đó Đoan Vương để cho Cao Cầu hầu hạ thân mật ở trong cung cấm, ngày đêm một bước không rời, cái cảnh tao tế của cậu đãng tử ngày xưa, nay đã bội phần vinh hạnh.

Được ngót hai tháng sau, vì Triết Tôn Hoàng Đế không có con trai, các quan trong triều thương nghị lập Đoan Vương lên làm Thiên Tử, xưng đế hiệu là Huy Tôn, gọi là Ngọc Thành Giáo Chủ, Vi Diệu Hoàng Đế.

Sau khi đã lên ngôi Thiên Tử, liền triệu Cao Cầu đến mà bảo rằng:

– Trẫm cũng muốn đãi ngươi lên quan chức, song tất phải đợi có công lao mới được, nay trẫm hãy giao cho viện Khu Mật, biên tên ngươi vào danh sách tùy giá thiên chuyển, rồi sẽ liệu thăng dần.

Nhân thế mới trong nửa năm trời, Cao Cầu đã thăng lên chức Điện Súy Thái Úy, liền chọn ngày lành tháng tốt để đến phủ nhận việc quan.

Khi đó các hàng nha thuộc cùng các quân lính mã bộ đều hết thẩy phải vào bái yết quan Điện Súy mới.

Quan Điện Súy tra kiểm các hàng đủ mặt, duy còn thiếu tên Giáo đầu là Vương Tiến vì mắc bệnh hơn nửa tháng nay không thể vào hầu được.

Điện Súy ra oai giận dữ sai Bài Hầu đi bắt Vương Tiến đến ngay.

Bài Hầu vâng lệnh đến báo cho Vương Tiến biết, và giục phải vào hầu ngay, nếu không thì Điện Súy tất là quở trách.

Vương Tiến bây giờ tuy yếu đau mới khỏi, song thấy mệnh lệnh thúc bách như vậy, phải gượng vào soái phủ để yết kiến.

Khi tới nơi vừa mới cúi lạy được bốn lạy, thì Cao Cầu đã cất tiếng hỏi ngay rằng:

– Tên này có phải là con Vương Thắng, làm đồ quân Giáo Đầu không?

– Bẩm vâng.

Cao Cầu quát to lên rằng:

– Mầy là đồ bán thuốc múa lao ở đầu đường xó chợ, còn biết võ nghệ gì, các quan trước đã suy cử xằng cho mầy làm chức Giáo Đầu, thế mà nay mầy dám khinh bỉ ta, không chịu đến đây để kiểm duyệt là nghĩa làm sao?

Mầy cậy thần thế ai mà dám tự do như vậy?

Vương Tiến cúi đầu kêu rằng:

– Con đâu dám thế, thực là con bị bệnh chưa khỏi.

Cao Thái Úy không đợi nói hết, vội ngắt mắng ngay rằng:

– Mày đã đau bệnh chưa khỏi, sao mày còn đi được đến đây?

– Bẩm thấy lệnh cho đòi, nên con đã cố gượng dậy để đến hầu.

Cao Thái Úy không phân biệt phải trái, vội nổi giận thét tả hữu lôi cổ Vương Tiến đánh mấy chục roi, bấy giờ các nha tướng cùng các quân chính tư, thấy Thái Úy toan đánh Vương Tiến, liền đổ xô đến can rằng:

– Ngày hôm nay là ngày Thái Úy mới đến phó nhậm ở đây, xin ngài hãy rộng tha cho Giáo Đầu để được trọn sự vui mừng buổi mới.

Thái Úy thấy nhiều người khuyên giải thì gượng nguôi giận mà bảo Vương Tiến rằng:

– Ta nể mặt các tướng khuyên can, hôm nay ta hãy tạm tha cho người rồi mai sẽ liệu.

Vương Tiến lạy tạ, ngẩng đầu lên trông rõ mặt Điện Súy, thì bỗng ngạc nhiên run sợ, vừa bước chân lui ra vừa lẩm bẩm thở dài một mình:

– Trời ơi! Tưởng rằng Cao Điện Súy là ai, té ra chính là bác Cao Cầu ngày xưa, bác ta học múa gậy, bị phụ thân ta đánh cho một gậy, nằm sệt mãi đến ba bốn tháng không dậy được, vì thế bác ta sinh ra hiềm khích với nhà mình? Nay không biết bác ta vì cớ chi mà bác ta đã làm tới chức Điện Súy như thế? Nếu vậy thì tất là tính mệnh ta khó lòng mà chu toàn với hắn ta được.

Nhân thế trong lòng lo âu phiền muộn, lững thững về đến nhà lúc nào không biết. Vương Tiến vốn không có vợ con, chỉ có một bà mẹ già đã ngoài sáu mươi cùng ở.

Khi đó chàng về tới nhà, liền đem đầu đuôi câu chuyện thuật cho bà mẹ nghe, hai người lấy làm ách vận đến nơi, khó lòng mà thoát khỏi.

Bà mẹ sụt sùi than khóc hồi lâu, rồi bảo Vương Tiến rằng:

– Con ơi. Ba mươi sáu chước, chước nào là hơn? Bất nhược mẹ con ta trốn trước là ổn.

– Vâng, có lẽ kế ấy là tiện hơn cả.

– Đành vậy, nhưng con ơi biết tránh vào đâu bây giờ?

– Thưa mẹ, có quan Kinh Lược ở phủ Duyên An, các hàng quan quân của ngài, thường khi qua tới kinh sư, vẫn thích cái lối võ nghệ của con, vậy nay thử liều sang ở đó thì may ra cũng có cơ an thân mà lập nghiệp được.

Bà mẹ lấy làm phải, quyết kế trốn sang phủ Duyên An, nhưng lại nghĩ đi nghĩ lại mà bảo con rằng:

– Ở đây có hai tên Bài Quân là Trương và Lý là do Điện Súy cắt ra để hầu, nay nếu ta muốn đi, mà lở hai tên ấy biết thì làm thế nào cho thoát.

Vương Tiến cười mà đáp rằng:

– Cái đó con đã có cách xử trí, xin mẫu thân chớ lo.

Chiều hôm ấy, Vương Tiến gọi tên Trương Bài lên cho ăn cơm trước mà bảo rằng:

– Dạo trước ta yếu, có đến cầu Nhạc Miếu tại ngoài của Toan Tảo, ngày nay bệnh khỏi ta định sáng mai đi trả lễ, vậy ngươi ăn song phải đến đó trước, bảo Thủ Từ quét tước sạch sẽ, và làm lễ tam sinh để sáng mai ta ra lễ tạ.

Trương Bài vâng lời, cơm nước xong rồi, đi đến Nhạc Miếu trước.

Đêm hôm ấy hai mẹ con Vương Tiến sửa soạn hành lý; gói ghém tiền nong buộc làm hai túi rất to, chờ đến canh năm Vương Tiến gọi Lý Bài dậy, phân phó rằng: Ngươi mang lạng bạc này đến Nhạc Miếu, cùng với Trương Bài mua lễ tam sinh, làm cho sạch sẽ cẩn thận, để chờ ở đó, rồi ta đến sau.

Nói đoạn đưa tiễn cho Lý Bài đi, vào khoảng giữa trống canh năm trời còn sẩm tối, Vương Tiến soạn xong hành lý, khoác hai túi vào hai bên mình ngựa, buộc bịu cẩn thận đâu đấy, còn các đồ vật nặng nề, bỏ lại ở nhà, khóa chặt cửa lại, rồi dắt mẹ lên ngựa. Mình thì gánh một gánh hành lý nhỏ lén ra cửa Tây Hoa, trông đường đi về hướng Duyên An Phủ.

Sáng hôm sau hai tên bài quân Trương và Lý sắm các lễ vật sẵn sàng, đợi Vương Giáo Đầu mãi gần trưa cũng không thấy tới, tên Lý Bài lấy làm sốt ruột, mới chạy về nhà để tìm Vương Tiến.

Khi tới nơi thấy cửa đóng then cài, mà kiếm đâu cũng không ra Vương Tiến. Được một lát Trương Bài cũng sốt ruột ra về.

Sáng hôm sau hai tên quân bài lại đến khắp các nhà thân thích để tìm kiếm mẹ con Vương Tiến, song bóng hồng đã tếch tềnh tang, còn biết đâu là tung tích.

Sau bất đắc dĩ hai tên quân bài phải vào báo cho Điện Súy biết là mẹ con Vương Tiến đã khoá cửa bỏ nhà, mà trốn đi đâu mất.

Cao Thái Úy nghe báo cả giận mà rằng:

– Quân này gớm thật, để ta xem rõ nó trốn đi đâu?

Nói đoạn, sai viết văn thư tư đi các châu, để truy nã hai mẹ con Vương Tiến.

– Về phần Vương Tiến sau khi đi khỏi Đông Kinh thì đêm ngủ trọ ngày lên đường, dãi gió dầm sương, hai mẹ con rất là vất vả.

Đường đi được hơn một tháng, nghe chừng gần tới Duyên An, hai mẹ con lấy làm vui mừng, mãi nói chuyện với nhau, bất giác trời tối lúc nào không biết. Khi quay ra toan tìm chỗ trọ thì độ đường đã lỡ, không còn hàng quán đâu đây, trong bụng đã có phần lo sợ. May đâu chợt thấy đàng xa có khu rừng con, lại có bóng đèn sáng chiếu lập lòe, chắc rằng ở đó có nhà trọ được, liền cùng nhau rảo bước đến xem.

Tới nơi, quả nhiên là một trang viện lớn, có tường đất bao bọc chung quanh ngoài trồng toàn liễu, có tới ba bốn trăm cây, xanh biết chẳng khác chi một khu rừng tùng vậy.

Bây giờ hai người lần đến trang viện, gọi cửa hồi lâu, mới thấy người chạy ra hỏi.

Vương Tiến hạ gánh hành lý ở trên vai xuống, chắp tay vào người kia mà nói rằng:

– Thưa người, bà con tôi chẳng mai đi mất lỡ mất độ đường, không có quán hàng để trọ, vậy chúng tôi muốn phiền người cho vào ngủ trọ ở đây một tối, sáng mai xin nộp tiền trọ cẩn thận, có được chăng?

Người kia nói:

– Để tôi vào nói trang chủ xem sao, nếu được thì sẽ mời vào nghỉ.

Nói rồi vào trong nhà một lát chạy ra bảo Vương Tiến rằng:

– Ông chủ tôi đã ưng lời rồi, xin cứ vào trong nhà.

Vương Tiến quảy gánh lên vai, dắt ngựa đi theo người kia, vào bên cạnh chỗ nhà lúa, đặt gánh xuống rồi đỡ mẹ xuống ngựa, và dắt ngựa ra buộc gốc cây liễu gần đó. Đoạn cùng vào thảo đường để chào chủ nhân. Chủ nhân này đã ngoài sáu mươi tuổi, râu tóc bạc phơ, mình mặc áo rộng, chân mang giầy da, trông ra giống một ông trưởng giả, khi thấy mẹ con Vương Tiến tới nơi liền mời ngồi tử tế và hỏi tên họ.

Vương Tiến nói dối là người họ Trương, vốn ở kinh sư, vì buôn bán thua lỗ, phải đi tìm bà con ở phủ Duyên An để nương nhờ, nhân lỡ bước xin vào để trọ.

Người chủ nghe nói cũng yên chí cho là thực, liền sai người dọn cơm cho mẹ con Vương Tiến ăn.

Cơm nước xong rồi, chủ nhân đưa hai người sang phòng để nghỉ, Vương Tiến nói với chủ nhân rằng:

– Có con ngựa của mẹ tôi cưỡi, nhờ người bảo người nhà cho ăn uống cẩn thận, tôi xin tạ ơn sau.

Chủ nhân cười và đáp rằng:

– Được, nhà tôi cũng có ngựa để tôi bảo nó dắt ra chuồng cho ăn uống một thể.

Nói đoạn đi vào phòng nghỉ.

Sáng hôm sau khi mặt trời mọc đã cao, mà chưa thấy mẹ con Vương Tiến dậy, sau người chủ đi đến phòng khách, thấy tiếng mẹ Vương Tiến kêu rên mà cửa phòng chưa mở, liền hỏi lên rằng:

– Trời sáng đã lâu rồi mà các ngài chưa dậy hay sao?

Vương Tiến nghe tiếng hỏi, vội vàng chạy ra vái chủ nhân mà nói rằng:

– Thưa ngài chúng tôi dậy đã lâu, nhưng mẹ tôi đi đường mỏi mệt, hôm qua sinh chứng đau bụng, cho nên tôi chưa dám mở cửa đi ra.

Trang chủ nghe nói liền bảo Vương Tiến rằng:

– Nếu thế thì ông nói với cụ cứ yên tâm ở lưu lại đây mấy hôm, để tôi tìm thầy thuốc đến chữa.

Vương Tiến vui mừng cảm tạ, rồi lưu mẹ ở đó để phục thuốc, cách năm sáu hôm bệnh của mẹ đã khỏi.

Vương Tiến liền thu thập hành lý để sắp sửa ra đi. Khi ra ngoài tầu nom ngựa, thì thấy có một chàng thiếu niên cởi trần mặc quần đùi, to béo phục phịch, đương múa roi một mình ở sau sân.

Vương Tiến đứng xem một lát, bất giác bật miệng nói lên rằng:

– Roi múa đã khá lắm. Nhưng còn nhiều chỗ hớ hên, chưa có thể gọi là hảo hán được.

Người thiếu niên nghe nói, ngẩng lên thấy Vương Tiến, bỗng nổi giận quát:

– Anh là người nào, dám chê võ nghệ của ta? Ta đi học võ đã bảy tám ông thầy, có lẽ lại không bằng anh hay sao? Có giỏi vào đây đánh thử với ta vài hiệp xem sao?

Đương khi quát tháo ầm ĩ, thì thấy trang chủ ở đâu chạy ra mắng thiếu niên rằng:

– Mầy không được vô lễ thế.

Người thiếu niên nói:

– Anh ta là người nào, mà dám chê võ nghệ của con?

Trang chủ quay lại hỏi Vương Tiến rằng:

– Khách cũng biết đánh roi gậy chăng?

Vương Tiến đáp:

– Tôi có biết đôi chút nhưng thiếu niên kia là người nào?

– Thưa hắn là con của lão đấy.

– Nếu vậy thì tôi xin sửa giúp cho cậu ấy, nhưng không biết cậu ấy có bằng lòng hay không?

Trang chủ nói:

– Ngài có lòng như thế, thì còn gì hơn nữa?

Nói xong liền gọi chàng thiếu niên ấy đến bái chào Vương Tiến làm sư phụ. Thiếu niên nhất định không nghe, lại ra dáng tức giận mà rằng.

– Cha đừng nghe anh ta nói liều, nếu anh ta giỏi. Thì xin ra đây hãy đánh với con vài hiệp, có được thì con xin bái làm sư phụ ngay.

Vương Tiến đáp luôn rằng:

– Được. Nếu cậu muốn thi tài, thì có khó gì.

Chàng thiếu niên nghe Vương Tiến nói, liền múa vung roi chạy thẳng tới chổ Vương Tiến mà nói rằng:

– Bác có giỏi cứ ra đây.

Vương Tiến thấy chàng ta hăng hái quá vậy, chỉ cười không nói gì.

Sau trang chủ quay sang nói với Vương Tiến:

– Nếu ngài có lòng bảo giúp cháu, thì xin ngài cứ thử cho nó biết tay, có ngại gì.

– Nhưng tôi e lỡ ra không tiện cho cậu ấy.

– Xin ngài cứ thử xem, nếu nó có gẫy chân gẫy tay, thì cũng là tại nó; còn kêu ai được nữa đây.

Vương Tiến bất đắc dĩ, phải ra chỗ giá cắm gậy, rút lấy một cây roi, đi ra giữa sân, múa qua mấy vòng cho thiếu niên xem.

– Chàng thiếu niên xem một lát, rồi cũng cầm roi xông ra đánh, Vương Tiến chạy giật lùi, rồi giơ tay ra đỡ, chứ không đánh lại.

Chàng thiếu niên lại sấn đến gần Vương Tiến. Vương Tiến liền giơ roi ra bộ đánh rất mạnh, chàng thiếu niên giơ roi vội lên đỡ, Vương Tiến lại trở đầu roi dí vào bụng thiếu niên, đẩy một cái thật mạnh, làm cho thiếu niên không kịp phòng bị, ngã một cái rất nên thân, Vương Tiến vội vất roi ra đất, chạy lại nâng người thiếu niên dậy, cười nói khuyên giải mấy câu.

Người thiếu niên bị một ngọn roi ấy, mới phục tài Vương Tiến, lóp ngóp bò dậy, vái lấy vái để mà rằng:

– Thưa ngài, thực là tôi đã uổng công học tập bao thầy, mà rút cục không thấm vào đâu với sư phụ cả. Vậy xin ngài tha lỗi mà dạy bảo cho?

Vương Tiến cười mà rằng:

– Tôi đến đây quấy quá cũng nhiều, không biết lấy gì đền ơn cho được. Nếu cậu muốn học tập thêm thì tôi xin hết lòng bảo giúp, không dám tiếc chi.

Trang chủ nghe nói cũng lấy làm mừng, bắt con trai đi theo Vương Tiến vào trong nhà, rồi sai gia nhân giết dê và dọn rượu, thiết đãi mẹ con Vương Tiến. Trong khi dự tiệc, trang chủ cất tiếng mời Vương Tiến rồi hỏi rằng:

– Tôi xem ngài võ nghệ cao cường như vậy, tất là ngài đã làm chức Giáo Đầu thì phải? Bố con nhà tôi thực là có mắt mà không trông thấy núi, xin ngài xá lỗi cho.

Vương Tiến cười mà đáp rằng:

– Chẳng dám dấu chi cụ, tôi nay thực không phải là người họ Trương, mà chính là Giáo Đầu Vương Tiến dạy tám mươi vạn Cấm Binh ơ Đông Kinh. Chỉ suốt ngày múa đao cầm gậy, còn kém chi ai. Nay nhân vì Cao Thái Úy mới đến nhậm chức có lòng thù ghét với tôi. Tôi tự nghĩ mình không địch lại nổi, cho nên hai mẹ con phải bất đắc dĩ trốn sang phủ Duyên An, để vào hầu quan Trung Kinh Lược. Bất đồ lỡ bước tới đây nhờ được lão nhân có lòng hậu đãi, lại mời thầy chữa bệnh cho mẹ tôi, như thế thật là nghĩa nặng ơn sâu, biết lấy gì báo đáp. Nếu công tử nhà có muốn học tập cho hoàn toàn, thì tôi xin bảo giúp cho, còn như những ngón gậy đó, chẳng qua chỉ trông cho đẹp mắt, chứ đến khi ra trận, thì chẳng vào đâu.

Trang chủ nghe nói càng bội phần trân trọng, gọi con trai bảo rằng:

– Nếu vậy con phải lạy tạ sư phụ lần nữa mới được?

Chàng thiếu niên đứng dậy lạy tạ Vương Tiến rồi lại cùng ngồi dự tiệc.

Trang chủ kể chuyện lại với Vương Tiến rằng:

– Nguyên tổ phụ tôi từ xưa vẫn ở địa hạt huyện Hoa Âm này, đàng trước có dãy núi Thiếu Hoa, thôn này tên gọi là Sử Gia Thôn, có tới bốn trăm nhà ở, đều là họ Sử ở cả. Nhà tôi chỉ được thằng cháu đây, nhưng tính nó du đãng, không chịu cày cấy làm ăn, chỉ thích múa côn đánh gậy, mẹ nó ngăn mãi không được, thành ra lo quá mà chết, còn tôi đây cũng phải chìu lòng nó vậy. Từ xưa đến nay phí tổn kể biết bao nhiêu tiền, để đón thầy học võ, rồi lại thuê thợ chế cho một chiếc áo giáp, đằng trước có thêu chín con rồng rực rỡ, nhân thế ở quanh đây, ai cũng gọi nó là Cửu Văn Long Sử Tiến. May nay lại được ngài quá bộ đến đây, vậy xin ngài làm phúc dạy dỗ giúp cho, lão tôi xin hết lòng cảm tạ.

Vương Tiến cả mừng đáp rằng:

– Vâng cụ đã dạy thế, thì từ nay tôi xin lưu lại đây, để bảo giúp cho cậu ấy thành tài, rồi tôi sẽ xin từ biệt.

Khi cơm rượu xong, trang chủ lưu hai mẹ con Vương Tiến ở lại đó, để cho con học tập.

Từ đó, hàng ngày Vương Tiến bắt Sử Tiến học tập mười tám thứ võ nghệ, giảng dạy kỹ càng, luật phép nghiêm chỉnh, thắm thoát trong nữa năm trời, không gì mà không tinh không kín đáo.

Được ít lâu Vương Tiến thấy Sử Tiến khá rồi, mọi môn đều giỏi cả, tự nghĩ mình ở đây lưu luyến mãi thì không tiện, liền ngỏ lời với trang chủ và Sử Tiến cáo từ, để sang Duyên An Phủ kiếm kế lập thân.

Trang chủ cùng con là Sử Tiến cố ý vật nài lưu lại, song Vương Tiến nhất định không nghe, bất đắc dĩ phải đặt tiệc tiễn hành, và đưa ra mấy tấm vải đoạn cùng hai trăm lạng bạc, để tặng Vương Tiến lên đường.

Sáng hôm sau Vương Tiến sửa soạn hành lý, chỉnh đốn cung ngựa, từ giã hai bố con Sử Tiến ra đi, Sử Tiến bắt người gánh đồ hành lý, hết trong một ngày, đưa chân mẹ con thầy học, ra khỏi 10 dặm rồi mới bái biệt trở về.

Sử Tiến từ khi sư phụ đi rồi, thì ngày ngày luyện tập một mình, hết đao lại thương, hết cung lại ngựa, có khi nửa đêm diễn võ ở vườn sau, có lúc ban ngày múa chơi ở sân trước, tháng ngày lẩn thẩn, cơ hồ quên cả tấm thân.

Cách nửa năm sau, trang chủ bị cảm rất nặng Sử Tiến sai người đi đón thầy thuốc khắp mọi nơi, chữa chạy không thiếu gì phương cách, nhưng mình già tuổi yếu, bệnh thế triền miên, được mấy hôm thì ông về nơi tiên giới. Sử Tiến đau đớn khóc thương, nhất diện sắm sanh khâm niệm quách quan, nhất diện đón thầy về làm chay cúng Phật, cho tĩnh độ siêu sinh, rồi chọn tháng tốt ngày lành, làm lễ mai táng ở ngọn núi bên tây.

Từ đó Sử Tiến trong lòng buồn bã, lại càng không thiết đến công việc nông, chỉ đêm ngày lẩn thẩn tìm ngươi đấu võ thi tài làm thích.

Một hôm vào khoảng trung tuần tháng sáu, trời đang bức nực lạ thường, Sử Tiến vác cái ghế ra gốc cây liễu ở gần cạnh bục thóc để ngồi hứng mát. Chợt thấy ở dưới gốc cây tùng bên kia, có người ngấp nghé nom dòm, chàng lấy làm ngạc nhiên quát hỏi lên rằng:

– Quái! Anh nào nom dòm nhà ta thế kia?

Hỏi đoạn, đứng dậy chạy ra xem, thì thấy tên Lý Cát, là tay đi săn đương đứng ở đó. Sử Tiến lại hỏi luôn rằng:

– Lý Cát! Ngươi nấp nom gì đấy? Hay là muốn thử võ với ta chăng?

Lý Cát dạ! Mà đáp lại rằng:

– Thưa cậu, tôi đến đây để săn mấy con cầy, để kiếm rượu, nhưng thấy cậu ngồi đó, nên tôi không dám vào.

– Sao dạo trước săn bắn được cái gì, anh cũng mang đế đây bán, tôi chưa từng chịu tiền của anh bao giờ? Thế mà lâu nay không thấy mang đến đây bán cho tôi nữa. Hay là anh khinh tôi không có tiền chăng?

– Có đâu dám thế, vì dạo này săn không được cái gì, cho nên không dám đến đây thôi.

Sử Tiến quát lên rằng:

– Anh nói cuội, núi Thiếu Hoa rộng lớn như vậy, mà lại không có con vật gì hay sao.

Lý Cát nói rằng:

– Thưa cậu, Nguyên ở núi Thiếu Hoa bây giờ, có một bọn cướp đến đóng, người đầu đảng là Thần Cơ quân sư Chu Vũ, tự xưng làm Đại Vương; người thứ hai là Khiếu Giản Hổ Trần Đạt; còn người thứ ba là Bạch Hoa Sà Dương Xuân, tụ đến năm bảy trăm lâu la, và mấy trăm cỗ ngựa, để đi cướp bóc kiếm ăn. Quan huyện Hoa Âm cấm mãi không được, phải treo giải ba nghìn quan tiền để thưởng người bắt cướp, nhưng nào có ai dám đụng đến chúng nó đâu? Bởi thế lâu nay chúng tôi không dám lên núi, nên không kiếm được gì.

Sử Tiến lắc đầu nói rằng:

– Ta cũng thấy nói có bọn cướp ở đấy, nhưng không ngờ nó hống hách như vậy. Lý Cát ôi! Hôm nay nếu có kiếm được cái gì, thì ngươi phải mang đến đây bán cho ta mới được.

Lý Cát vâng dạ luôn mồm rồi đi.

Sử Tiến quay vào nhà trong suy nghĩ một mình:

Bọn cướp nó lộng hành như vậy, thì tất nhiên có phen quấy rối đến chỗ ta, vậy bất nhược ta phải phòng bị ngay mới được.

Chàng nghĩ như vậy, liền sai người nhà mổ thịt hai con trâu, rồi cho mời mấy trăm nhà trong thôn đến chén.

Khi dưới trên đã tề tựu cả rồi, Sử Tiến cất chén rượu mời, nói với hàng thôn rằng:

– Tôi nghe thấy trộm cướp đến đóng trên núi Thiếu Hoa, đây quân gia có tới năm bảy trăm người, sức mạng người đông, không ai cản nổi thế tất sau này phải quấy nhiễu đến ta, vậy tôi muốn mời đồng dân đến đây, để bàn kế phòng bị, kẻo lỡ khi nguy hiểm đến nơi, khó lòng tránh khỏi. Từ nay các nhà ở trong hàng thôn, ai ai cũng phải phòng bị khí giới, và đặt mõ làm hiệu, nếu có động dạng gì cứ đánh mõ lên, thì các nhà khác phải đổ đến ứng cứu cho mau.

Các thôn dân nghe nói, đều đồng thanh rằng:

– Chúng tôi là nông dân, không biết chút gì, vậy các việc xin nhờ Đại Lang tất cả, hễ có động dạng ở đâu, chúng tôi xin vâng lời đến cứu.

Khi chè chén xong rồi, các dân thôn đâu đấy về nhà, sửa soạn võ khí theo như lời Sử Tiến đã dặn, còn Sử Tiến thì sửa sang cổng ngõ ngăn ngừa giậu vách, và sắp sẵn các đồ đai giáp cung ngựa, để dự bị chống giặc.

Nguyên bọn giặc này, đến đóng ở núi Thiếu Hoa, có ba người làm trùm, một người tên là Thần Cơ Quân Sư Chu Vũ, vốn người ở đất Định Viễn, sai khiến hai cây song đao, võ nghệ dẫu không ra gì, song cũng biết ít nhiều trận pháp, lại mưu lược cũng hơi thông. Một người tên là Trần Đạt; quê ở Nghiệp Thành, vốn hay dùng cây cương sang để ra trận; còn một người thứ ba tên là Dương Xuân, người đất Bồ Châu, huyện Giải Lương, thường cầm một thanh đại đao rất lớn.

Một hôm Chu Vũ bảo với Trần Đạt, Dương Xuân rằng:

– Nghe nói huyện Hoa Âm có treo giải ba nghìn quan tiền để thưởng người tróc nã bọn ta, vậy thì bất nhật tất có quan quân kéo đến, thế mà trong trại ta lương thảo không có là bao, chỉ e khi binh hỏa đến nơi, thì khó lòng chống cự. Nay nhân khi nhàn hạ, sao ta không liệu kế đi tảo vác lấy lương thảo đem về mà phòng bị, sẵn sàng cho vững dạ.

Khiêu Giản Hổ Trần Đạt gật đầu đáp rằng:

– Phải lắm, bất nhược ta đến huyện Hoa Âm mượn ngay họ một ít lương thảo, xem họ xử trí ra sao đã.

Bạch Hoa Sà Dương Xuân gạt ngay đi rằng:

– Ta không nên đến huyện Hoa Âm cứ kéo vào Bồ Thành có lẽ lại thanh thỏa hơn.

Trần Đạt nói:

– Huyện Bồ Thành người thưa lương ít, lấy được bao nhiêu, chi bằng đến huyên Hoa Âm nhân dân giàu có, tiền thóc sẵn sàng, có thú hơn không?

Dương Xuân nói:

– Đành vậy, nhưng anh phải biết rằng, đường đi Hoa Âm, tất phải qua thôn Sử gia, ở đấy có anh Cửu Văn Long Sử Tiến cũng là một tay đại bợm, nếu không trừ được nó, thì sao nó để cho đi.

Trần Đạt làm bộ mạnh bạo mà rằng:

– Sao chú bé mật thế; một thằng nhãi con còn sợ, thì địch thế nào nổi với quân quan.

Dương Xuân nói:

– Anh chớ nên khinh người ấy mới được.

Chu Vũ nói:

– Tôi cũng nghe thấy nói hắn ta anh hùng mà võ nghệ rất giỏi, có lẽ đừng nên phạm vào đấy thì hơn.

Trần Đạt có ý không bằng lòng:

– Các ông thật là chỉ biết tâng bốc chí khí người ta, mà làm nhụt mất cả uy phong của mình, nó bất quá là người, chứ có ba đầu sáu tay gì mà sợ.

Nói đoạn, thét ngay đám lâu la:

– Chúng bay sắp ngựa đem đến đây, ta hãy phá thôn Sử Gia rồi lấy huyện Hoa Âm cho mà xem.

Chu Vũ và Dương Xuân thấy vậy, tỏ ý can ngăn, song Trần Đạt nhất định không nghe, vác thương lên ngựa, dẫn hơn một trăm lâu la, đánh trống khua chiêng, thẳng vào thôn họ Sử. Sử Tiến đương khi chuẩn bị sẵn sàng để chờ giặc đến, bỗng nghe tin báo, thì khua mõ ra lệnh cho thôn dân đổ đến.

Khi thôn dân nghe tiếng hiệu, thì ba bốn trăm nhà đều tay gươm tay gậy bảo nhau kéo đến cứu ứng, tới nơi thấy Sử Tiến đầu đội khăn chữ nhất, mình mặc áo giáp hồng, chân đi giày tía, lưng thắc dây da, trước sau ngực đều có kính yểm tâm, lưng đeo bao tê, tay cầm cây đao ba mũi, rất là oai vệ. Bấy giờ người nhà dắt ra một con ngựa đỏ, Sử Tiến nhảy lên mình ngựa, đàn trước có hơn bốn mươi gia nhân tráng kiện dàn hàng, lại có tám chín mươi người thôn trang khỏe mạnh đi kèm hai bên, còn bao nhiêu thôn dân đi theo sau cùng kéo ra cửa thôn. Vừa đi tới chỗ sườn núi đã thấy Trần Đạt đầu đội khăn hồng, mình mặc áo giáp sắt bọc vàng, chân đi đôi giày ống, cưỡi con ngựa trắng cao đầu, tay vác thanh cương mâu, dẫn lâu la kéo tới.

Sử Tiến trông thấy quát lên hỏi rằng:

– Các ngươi ở đâu dám đến đất này quấy nhiễu lương dân? Tội ấy cũng đã đáng chết, nay còn muốn cả gan xâm phạm đến chỗ ta ở hay sao?

Trần Đạt ngồi trên mình ngựa đáp rằng:

– Vì trong trại chúng tôi thiếu ăn, muốn sang huyện Hoa Âm để vay lương thực, đường đi qua quý thôn đây, muốn phiền ngài cho đi nhờ, khi trở về tôi xin hậu tạ.

Sử Tiến nghe dứt lời quát lên rằng:

– Các ngươi nói dễ chưa, ta đây đương tính đi tróc nã các ngươi, nay mi tự dẫn đến đây, tất là không thể nào tha ra được.

Trần Đạt lại nói:

– Ngài ơí! Trong bốn bể đều là anh em hết cả, hẹp chi mà ngài không cho chúng tôi mượn lối để đi?

Sử Tiến cười đáp:

– Đành vậy, nhưng có một vật kia, nó không chịu cho các ngươi mượn đường để đi, ngươi thử hỏi xem nó có bằng lòng, thì ta sẽ dung cho các ngươi.

Trần Đạt nghe nói cả giận mà rằng:

– Anh này giỏi, anh bảo ta hỏi ai?

– Ngươi hỏi thanh đao trong tay ta đây này, xem nó có bằng lòng không?

Trần Đạt hầm hầm không đợi nói dứt lời, vội múa cương sang xông vào, đánh thẳng. Bên kia Sử Tiến cũng giơ đao, xông ngựa ra chống cự.

Đôi bên đánh lộn bậy hồi lâu, Sử Tiến giả cách hớ hênh, Trần Đạt liền cầm thương nhằm Sử Tiến đâm một nhát thật mạnh. Sử Tiến quất ngựa nhảy rất nhanh, để tránh mũi thương, rồi quay ngoắt ngay vào Trần Đạt, Trần Đạt còn luống cuống toan quay đầu để đỡ bỗng bị Sử Tiến quăng dây nhợ quấn chặt lấy mình, giật ngã xuống ngựa. Bọn lâu la thấy chủ tướng đã thua, đứa nào đứa nấy đều thục thân mà chạy cả. Sử Tiến hô tụi thôn trang khiêng Trần Đạt về trói ở sân, để đợi khi bắt được hai tên kia, thì sẽ giải quan một thể, đoạn rồi đem rượu thịt khao thưởng tại thôn trang rất là vui vẻ.

Bên kia Chu Vũ, Dương Xuân từ khi Trần Đạt đem lâu la ra đi, trong lòng vẫn áy náy không yên, hai người còn đương bàn bạc nghĩ ngợi, thì bỗng thấy một lũ lâu la hớt ha hớt hải, chạy về đem chuyện Trần Đạt bị bắt, giải bày cho nghe.

Chu Vũ nghe nói biến sắc mặt kêu lên rằng:

– Hắn không nghe lời ta, quả nhiên tai họa tới nơi, còn làm sao cho kịp?

Chu Vũ lắc đầu mà rằng:

– Khó lòng, Sử Tiến không phải là người vừa, anh em ta địch làm sao nổi?

– Bây giờ tôi có một khổ kế này, nếu mà không cứu được Trần Đạt ra thì tôi với anh cũng là chịu chết cả thôi.

– Khổ kế là thế nào?

Chu Vũ ghé vào tai Dương Xuân nói thầm mấy câu, rồi lại bảo rằng:

– Trừ phi như thế, thì may ra có thể được mà thôi.

Dương Xuân hơi có dáng mừng mà rằng:

– Nếu vậy thì ta phải mau lên, chứ trì hoãn làm sao được nữa?

Nói đoạn hai người cùng đi.

Bấy giờ Sử Tiến khao thưởng trong thôn, vừa đoạn, trong lòng đương nóng nảy mong bắt được hai tên kia, để cùng đem với Trần Đạt giải quan một thể. Bỗng thấy tráng đinh vào báo rằng:

– Có hai người đến ngoài cổng, nói là Dương Xuân, Chu Vũ đến hầu.

Sử Tiến nghe nói cả mừng rằng:

– “Nếu vậy thì ta thành công rồi, hai thằng ấy có lên trời cũng không thoát được” đoạn nhất diện sai người đánh hiệu cho dân thôn kéo đến, nhất diện sai lấy ngựa để ra cổng trại xem sao? Đương khi sắp sửa cung ngựa, thì đã thấy Dương Xuân cùng Chu Vũ đi bộ bước vào hiên trại, quỳ xuống đất khóc sướt mướt mà không nói gì?

Sử Tiến thấy vậy quát hỏi:

– Các ngươi định làm kế sách gì ở đây? Chu Vũ sụt sùi nói rằng:

– Thưa ngài: Ba anh em chúng tôi chỉ vì nhiều khi bị quan trên ức hiếp, bất đắc dĩ phải đem nhau đi cướp bóc kiếm ăn. Kỳ thủy có nguyện với nhau, không cầu được cùng một ngày sống, mà chỉ cầu sao được cùng chết một ngày, tình thân ái của ba chúng tôi không dám đâu ví với Đào Viên Tam Nghĩa, song sự tử sinh cố kết, thì cũng hơi giống như nhau. Nay em Trần Đạt chúng tôi, chỉ vì không nghe lời tôi bảo, thuận tiện tới đây, phạm đến uy ngai, để ngài bắt được, sự ấy tự nó làm ra, đành là tự thân phải chịu, không còn kêu thán được ai. Vì vậy chúng tôi xin đến đây để nộp thân cho ngài, ngài nghĩ đến tình cố kết cùa chúng tôi mà cho đem nộp quan trên tất cả, để anh em chúng tôi được cùng trông thấy nhau, tức là hạnh phúc cho chúng tôi lắm. Chúng tôi được chết về tay một người anh hùng như ngài, không dám có một điều chi là hối hận.

Sử Tiến nghe nói, tự nghĩ một mình:

– Ừ ba thằng này nó có nghĩa khí với nhau như thế, nay nếu ta đem bắt mà giải quan, thì tất nhiên bọn hảo hán ở đời phải cười ta là người hẹp lượng, xưa nay thường nói, làm đấng anh hùng phải dung kẻ dưới, việc này có lẽ ta phải xử trí sao đây?

Nghĩ đoạn liền bảo hai người kia rằng:

– Các ngươi đi theo ta vào trong này,

Chu Vũ, Dương Xuân ung dung đi theo Sử Tiến vào đến nhà sau; rồi lại quì xuống mà kêu xin chịu trói. Sử Tiến đôi ba phen bảo cứ đứng dậy, xong hai người nhất định không nghe, cứ chăm chăm quì nguyên như trước.

Sử Tiến thấy vậy trong lòng rất cảm động không yên, liền sẽ bảo hai người rằng:

– Các ngươi đã có nghĩa khí đối đãi với nhau như thế, ta đây cũng không nỡ bắt làm chi? Vậy ta muốn tha cho Trần Đạt trở về, thì các ngươi nghĩ sao?

Chu Vũ nói:

– Có đâu chúng tôi lại để lụy anh hùng như thế? Thà rằng xin ngài cứ giải chúng tôi mà lấy thưởng còn hơn.

Sử Tiến nghe nói, lại càng mủi lòng, liền kéo hai người đứng dậy, rồi tha trói cho Trần Đạt, sai người đem rượu thịt ra cho ba người cùng uống và hứa cho về.

Khi uống rượu say sưa, ba người cùng ân cần tạ ơn Sử Tiến rồi quay về trại. Tới trại, Chu Vũ bảo hai người kia rằng:

– Nếu ta không làm cái khổ kế như vậy, thì khó lòng mà cứu được tính mạng cho toàn. Nhưng thế nào mặc lòng, Sử Đại Lang cũng là một tay nghĩa khí lạ thường, cho nên mới đãi chúng ta như thế. Vậy nay mai ta phải kiếm lễ vật gì, mà tạ ơn người ấy mới được.

Cách mươi hôm sau, Chu Vũ sai mấy tên lâu la, vào hồi chập tối, mang ba mươi nén vàng đến để tạ ơn Sử Tiến. Thoạt tiên, Sử Tiến thấy vậy còn từ chối không nhận. Sau thấy tên lâu la kêu nài thảm thiết, thì cũng cảm lòng tốt mà thu lấy. Đoạn, sai lấy cơm rượu cho tên lâu la ăn uống, mà thưởng tiền cho về.

Vào khoảng nửa tháng sau, lũ Chu Vũ kiếm được một hạt minh châu rất lớn, cũng lại sai người đến dâng Sử Tiến.

Sử Tiến nhận minh châu trong lòng lấy làm nghĩ ngợi: Ba người này thành thực trọng đãi ta như thế, nếu ta không có gì xử lại với họ thì tất nhiên họ không tâm phục vớí mình.

Nghĩ đoạn liền sai người nhà đi mua gấm, đặt may ba cái áo, để tặng ba người. Cách mấy hôm sau áo đã may xong, Sử Tiến lại mua ba con dê béo, quay chín tử tế rồi cho tên Vương Tứ đem áo gấm và dê béo vào trại, để tặng bọn Chu Vũ, Dương Xuân, vương tứ là một tay người nhà rất thông thạo ở trong trang viện, nhân thế Sử Tiến mới tin dùng mà sai đến những việc bì mật như vậy.

Vương Tứ tới sơn trại, bọn Chu Vũ nhận được lễ vật mừng rỡ cảm tạ, đoạn rồi cũng sai lấy rượu ngon thịt béo cho Vương Tứ ăn, và lại thưởng cho mươi lạng bạc đem về.

Từ đó Sử Tiến cùng với bọn Chu Vũ thường tặng đưa lễ vật cho nhau, tình ý xem ra cũng hơi có chiều thân mật.

Ngày đi tháng lại, mọt hôm gần đến tết Trung thu, Sử Tiến muốn tìm bọn Chu Vũ đến để nói chuyện cho vui, liền viết một bức thư sai Vương Tứ đưa sang sơn trại, hẹn với Chu Vũ, Dương Xuân và Trần Đạt, đến hôm giữa tết Trung thu, thì cùng đến thôn trang để trông trăng đánh chén. Chu Vũ nhận được thư, trong lòng mừng rỡ vô cùng, liền viết thư đáp, xin đến hôm ấy thì cả ba anh em cùng y lời phó ước. Viết xong thư đưa cho Vương Tứ, sai lấy rượu cho uống, và thưởng cho năm nén bạc rồi mới cho về. Vương Tứ bỏ phong thư vào túi vái tạ ba người. Vừa ra đến cổng bỗng gặp một tên lâu la vẫn hay đưa lễ vật sang trang viên xưa nay. Tên ấy trông Vương Tứ thì vội mừng hớn hở, lôi kéo vào hàng rượu con con ở gần đấy để thiết đãi, Vương Tứ vừa mới uống rượu của bọn Chu Vũ thưởng xong, lại bị tên lâu la ép luôn mươi chén nữa, thì thấy chếnh choáng muốn say, liền đứng dậy từ giã lâu la vội vã ra về.

Khi đi được mấy bước, thấy hơi rượu ngày càng bốc, dần dần choáng váng ngả nghiêng như muốn ngã, Vương Tứ cố gượng toan đi về đến nhà. Bất đồ mới đi độ mươi dặm được, đến một khu rừng con gần đó, thì mê mệt say sưa, nằm vật ngay xuống, không biết trời đất chi nữa.

Bấy giờ có tên Lý Cát đương đi săn ở khu rừng ấy, khi thấy động, chạy đến xem, thì biết ngay Vương Tứ là người nhà của Sử Tiến, liền cố sức dìu dậy muốn đưa về, song dù làm thế nào, cũng không dìu dắt đi được, bất đắc dĩ phải đành mặc đấy. Dè đâu Vương Tứ say quá đến nỗi có mấy lạng bạc của bọn Chu Vũ cho, và bức thư trả lời của bọn họ cũng đánh rơi cả ra mà không biết. Lý Cát bất thình lình nom thấy, liền tự nghĩ trong bụng: ” Ta làm gì một lúc mà được bằng này tiền, bất nhược gặp cơ hội này, ta thủ phăng của anh này, để mà chè chén, có thú hơn không? “Nghĩ xong nhặt lấy tiền đút vào túi, rồi lại cất lấy phong thư để xem. Lý Cát cũng hơi võ vẽ được năm ba chữ, mở thư ra xem thấy trên đề: “Chúng tôi Chu Vũ, Dương Xuân và Trần Đạt, ở Thiếu Hoa Sơn, kính thưa ông Sử Tiến…”Còn ở dưới, liên chi hồ điệp, không hiểu là chữ nghĩa gì, trong bụng nghĩ thầm, nói lẩm bẩm một mình:” Cái này chắc ba chú ở Thiếu Hoa Sơn lại kết giao với Sử Tiến, mà thông tin tức cho nhau đây hẳn? Ưø Sử Tiến, hôm nọ ta đến qua sơn trang hắn còn giậm dọa quát tháo với ta, ai ngờ chính hắn lại thông đồng với bọn giết người lấy của, mà nạt chúng ta? Được lắm; ta cứ giữ nghề thả lưới mò trăng mãi, thì đến bao giờ cho phú quý? Âu là đương dịp quan trên đương thưởng tiền bắt cướp, ta đem bức thư ra tố giác, họa may có cơ hội tốt thì cũng nên”. Nghĩ đoạn liền đút luôn bức thư vào túi, đi ngay lên huyện Hoa Âm để tố cáo.

Khi Vương Tứ cựa mình tỉnh dậy, mở mắt trông thấy trăng sáng lờ mờ, bốn bên toàn là cỏ cây rừng núi, bấy giờ mới biết là mình bị chén đã quá say, mà nằm ở đó, liền đứng dậy sờ đến túi, thì tiền không thấy mà giấy cũng không. Trong bụng bàng hoàng tìm khắp chung quanh không còn tăm hơi chi cả? ” Trời ơi! Không biết đứa nào tinh khôn đến thế, ai xui cho nó đến đây mà lấy cả của mình? Ừ thì tiền nong mất chẳng cần chi, nhưng còn bức thư kia, ngộ nhỡ ra đứa nào biết đến thì sao?

Vương Tứ nghĩ vậy, vò đầu vò tóc, tính quẩn toan quanh, chợt nghĩ ra một kế: “Nếu bây giờ ta nói thực với Sử Đại Lang thì tất là không yên được, vậy bất nhược ta phải nói phăng là không có thư từ gì cả là xong”

Định kế xong rồi, đi thẳng một mạch, vào khoảng đầu trống canh năm về tới nhà, vào báo cho Sử Tiến biết, Sử Tiến thấy Vương Tứ về liền hỏi:

– Sao ngươi đi lâu lắm vậy?

– Dạ! Bẩm cậu, con đi vào đến đó, ba ông ấy còn lưu lại cho con uống rượu thật say, cho nên bây giờ con mới về được.

– Có giấy má gì không?

– Bẩm không! Các ông ấy toan viết thư trả lời, nhưng sợ lỡ đi đường say rượu, mà đánh rơi mất thì khốn. Vì thế con bảo các ông ấy cứ dặn miệng thôi cũng được, vậy các ông ấy có dặn con nói để cảm tạ Đại Lang, và hẹn rằng hôm ấy thế nào cũng đến sớm.

Sử Tiến khen rằng:

– Anh tinh lắm, nếu thế thì không phụ lòng ta tin cậy thực; nhưng đã vậy, thì mai sớm phải đi lên huyện mà sắm sửa hoa quả, và các thức rượu chè sẵn cho ta.

Vương Tứ vâng lời lui ra, cách mấy hôm đến ngày Rằm tháng tám, khí trời mát mẻ, cảnh vật em đềm, lũ Chu Vũ, Dương Xuân và Trần Đạt, giao việc trại cho bọn lâu la coi sóc, rồi đem mấy người thân tín đều dắt đỏan đao thủ thân mà cùng sang Sử thôn phó ước.

Buổi chiều hôm ấy, ở nhà Sử Tiến đã bày tiệc sẵn sàng để đợi. Khi bọn Chu Vũ tới nơi, Sử Tiến rất mừng rỡ, đón rước mời chào, cùng nhau đàm đạo hồi lâu, rồi mới rước vào dự tiệc. Bấy giờ vừa khi sẩm tối, bốn bên mây tạnh trời quang, bóng Hằng Nga vằng vặc ở phương đông đã lù lù kéo đến, soi sáng vào bàn tiệc Trung thu, Sử Tiến cùng bọn Chu Vũ, Dương Xuân cất chén thù tạc với nhau, rất là đắc chí, chợt đâu có tiếng người ồn ào, ở phía ngoài tường, đoạn rồi thấy đóm đuốc sáng quắc tứ bề, Sử Tiến ngạc nhiên kinh lạ, đứng dậy bảo với ba người kia rằng: –  Ba bác hãy ngồi đây xơi rượu, để tôi chạy ra xem việc chi huyên náo thế kia? Nói xong chạy ra quát người nhà đóng chặt cổng người ngõ lại, rồi lấy thang trèo lên tường nom, thì thấy quan Huyện Úy huyện Hoa Âm đương ngồi trên mình ngựa, dẫn hai tên Đô Đầu, Đốc Xuất và ba bốn trăm thổ binh vây bọc quanh nhà mình, Sử Tiến thấy vậy, chạy vào báo cho ba người kia biết, ai nấy đều kinh hoàng sợ hãi, chưa biết định kế ra sao?

Rượu còn chếnh choáng,

Người đã xôn xao,

Vì không tỏ mặt anh hào,

Bỗng nhưng đâu có lụy vào đến thân?

Đã nên có dũng có nhân,

Nặng lòng nghĩa hiệp, nhẹ cân bạc tiền,

Nước non đã vực anh tài,

Sá chi luồn cuối thiệt đời bồng tang;

Tiếng hào còn để làm gương,

Trăm năm thẹn chết những phường tham ngu.

Lời bàn của Thánh Thán:

Một bộ sách lớn gồm bảy mươi hồi, sắp tả ra một trăm linh tám anh hùng. Khi mới mở đầu câu chuyện không thề tả ngay ra hết, hãy tả một người Cao Cầu như khởi điểm. Nếu chẳng tả Cao Cầu, lại tả ngay một trăm linh tám vị anh hùng, thì ra mối loạn bắt đầu tự lũ dưới. Nay chẳng tả ngay lũ anh hùng ấy, mà tả Cao Cầu trước, thì thấy mối loạn sinh ra vốn tự người trên. Xét loạn tự lũ dưới sinh ra, sao dung thứ được? Đó là điều kiêng kị của tác giả đối với mọi chuyện. Nay mối loạn tự người trên sinh ra, không nên để cho to lớn, đó cũng là điều lo sâu của tác giả đối với mọi chuyện. Một bộ sách lớn bảy mươi hồi, mở đầu thấy tả Cao Cầu mới viết vậy.

Cao Cầu trở lại Đông Kinh đắc dụng, khiến Vương Tiến bỏ quan chức trốn đi, Vương Tiến kia là bậc thế nào? Vốn người chẳng bỏ nghiệp cha, khéo nuôi chí mẹ, tức là con hiếu đấy! Khiến ta càng nhớ đến câu: Muốn cầu tôi trung, phải xem ở đám con hiếu. Như thế Vương Tiến cũng bậc tôi trung, từ xưa con hiếu tôi trung, được coi như tường lân oai phượng, hay như ngọc bích tròn, với ngọc khuê vuông, tìm khắp bốn bể chưa lấy nổi một người, thế mà đánh sịch một cái lại có đây, thì đáng tôn quý, đáng vinh dự lắm chứ? Sao mà sinh sự oán ghét, lại toan đánh mắng, đến điều muốn giết chết, bức bách cho phải bỏ đi, thế là tại đâu? Đó là Vương Tiến bỏ đi, đem lại một trăm linh tám người tới vậy.

Như thế Cao Cầu khởi xướng cho một trăm lẻ tám người sinh chuyện. Vì sau Vương Tiến bỏ đi, lại tiếp đến Sử Tiến, chữ Sử là họ kia cũng chữ sử là sách sử vậy, ý nói quan Tỳ Sử cũng chỉ chép sử. Hỡi ơi! Từ xưa có sử để mà chép mọi việc, thì nay quan Tỳ Sử chép gì, hãy chép việc của một trăm lẻ tám người vậy, chép đám người ấy, cũng cho là sử ư? Cho là sử vì lời bàn của dân chúng, cũng là sử được, kể ra dân chúng đâu dám cãi bàn việc nước, bấy lâu nay dân chúng đâu dám cãi bàn, một khi dân chúng chẳng dám cãi bàn, mà lại cứ dám cãi bàn, thì tại đân nhỉ? Theo như thiên hạ có đạo, thì dân nào dám cãi bàn, thì cũng đủ biết thiên hạ không còn đạo nữa! Cũng như Vương Tiến phải bỏ đi, vì Cao Cầu được trở lại vậy.

Họ Sử cũng như sách sử vậy, vốn có chuyện vậy, còn Tiến thì nghĩa sao đây? Xét rằng kẻ kia vốn tự hứa ra tên, dù chẳng phải quan Tỳ Sử chép truyện, song đã tiến dẫn thành sử vậy, ngươi Sử Tiến để tiến dẫn truyện thành ra sử, vốn có vậy. Còn Vương Tiến là nghĩa làm sao? Xét rằng phải được người như thế, ngõ hầu bậc thánh ở ngôi vua, để dạy dân tiến lên vương đạo, phải là như người Vương Tiến, rồi dạy dân tiến lên vương đạo, thế thì một trăm lẻ tám người kia, theo vương đạo phải đem giết bỏ.

Một trăm lẻ tám người kia, theo vương đạo phải đem giết bỏ, sao còn cho hiện lẫn ra một Vương Tiến đáng là dân của bậc thánh minh? Xét rằng Vương Tiến chẳng bỏ nghiệp cha, khéo nuôi chí mẹ, đáng xuất hiện trung gian, để làm gương lắm? Thế rồi chẳng hiện ở trung gian như điểm danh chẳng tới, chẳng thấy từ đâu diễn mãi ra, trốn một bước Diên An; Lại chẳng thấy hiện ra sau cuối nữa, chả có từ đầu tới cuối, cũng như con thần long đó ư? Để cho một trăm lẻ tám người kia, đều hiện ra hết, ta thấy rằng họ khỏi với tội chết vậy, nhưng vẫn chưa bằng Vương Tiến, một trăm tám người kia, xét chưa bằng ấy, vậy sau mới biết khó làm nổi như Vương Tiến. Xét, chẳng hiện làm đầu, để bảo cho người ta, đời loạn nên ẩn, chớ xuất đầu ra; Xét chảng hiện ra cuối nữa cũng bảo cho người ta, đời loạn quyết không thu tàn cục.

Một bộ sách bảy mươi hồi, với một trăm lẻ tám người, theo 36 vị Thiên cương, thì ngôi sao Tống Giang làm chủ; mà khi trước làm trộm cướp vậy, lại theo 72 vị Địa Sát, có ngôi sao Chu Vũ, dẫu rằng bút lục tung hoành của tác giả rất khéo, song cũng ngược với đạo trời mà làm ra vậy.

Thứ diễn đến Khiêu Giản Hổ Trần Đạt, Bạch Hoa Sà Dương Xuân là ẩn nhiên bao quát một bộ sách bảy mươi hồi, có một trăm lẻ tám người đều như hùm, như rắn, chả quý gì mà biết tới. Đã biết sự ẩn quát một bộ sách bảy mươi hồi, với trăm lẻ tám người, thì dùng để làm gì? Nói rằng đấy là Khế Tử, để diễn ra một bộ sách, mà Thợ Trời hoá hiện, mới có một rắn một hùm, khiến độc giả thấy Trần Đạt, Dương Xuân, làm danh hiệu bao gồm một trăm lẻ tám vị anh hùng hảo hán vậy. 

Hồi 2: Sử Đại Lang nửa đêm đốt trại – Lỗ Đề Hạt giữa chợ giết người

Sử Tiến hỏi Chu Vũ rằng:

– Bây giờ các bác tính làm sao cho tiện?

Chu Vũ đứng lên nói:

– Ngài là một người lương thiện vô tội, chỉ vì chúng tôi làm cho liên lụy đến người, vậy xin ngài cứ trói ba chúng tôi đem nộp cho quan Huyện, thế là không còn lôi thôi nữa?

Sử Tiến lắc đầu đáp rằng:

– Nếu làm thế, thì ra tôi đánh lừa đến đây, để bắt các bác mà lấy thưởng hay sao? Đại trượng phu ở đời có đâu như thế, mà để tiếng chê cười cho thiên hạ hậu thế, vậy bây giờ chỉ có là sống cùng sống, mà chết cùng chết là hơn, được các bác cứ ngồi đó, để tôi ra hỏi lại xem sao, rồi chúng ta sẽ liệu.

Nói đoạn chạy ra bờ tường, trèo lên thang quát hỏi:

– Bớ các ngươi, đêm hôm khuya khoắt, các ngươi định đến đây cướp phá nhà ta đó, hay sao?

Hai tên Đô Đầu ở ngoài thấy tiếng Sử Tiến liền đáp:

– Đại Lang ơi! Đại Lang không cần hỏi, đã có tên nguyên cáo là Lý Cát ở đây.

Sử Tiến quát lên rằng:

– Tôi có biết gì đâu? Nhân hôm nọ tôi nhặt được cái thư của Vương Tứ, đánh rơi ở trong rừng, tôi vội đem lên nộp quan, thì ngài sai tôi dẫn đến đây để bắt đấy thôi.

Sử Tiến nghe nói cả giận, quay lại quát hỏi Vương Tứ rằng:

– Sao ngươi bảo với ta, không có thư trả lời, mà bây giờ lại xảy ra như thế?

Vương Tứ luống cuống trả lời:

– Đại Lang tha lỗi cho tôi, hôm ấy vì say rượu đánh rơi mất thư lúc nào không biết.

Sử Tiến bầng bầng quát mắng rằng:

– Quân súc sinh này, như thế còn tin cậy được việc gì nữa?

Rồi quay ra bảo với lũ Đô Đầu ở ngoài rằng:

– Nếu vậy thì hãy cứ đợi ở ngoài, để tôi sẽ trói phạm nhân đem ra nộp vậy.

Ngoài kia hai tên Đô Đầu sợ uy thế của Sử Tiến, cũng đành phải vâng lời đứng ở ngoài, không ai dám ho he gì cả.

Sử Tiến nói xong, quay xuống gọi Vương Tứ ra vườn sau, đưa cho một nhát dao vào cổ, chết thẳng còng queo, rối trở vào gọi người nhà thu xếp các đồng tiền nong tế nhuyễn, gói lấy một ít vào tay nải, còn thì vất để nguyên cả đó. Đoạn rồi cùng với bọn Chu Vũ, mỗi người dắt một con dao sau lưng, sai các gia nhân đều cầm dao cầm gậy, khoác tay nải lên vai, lấy lửa đốt trang viện, rồi mở thẳng cổng xông ra. Sử Tiến đi trước, Chu Vũ, Dương Xuân đi giữa, còn Trần Đạt cùng với bọn lâu la và gia nhân đi chặn sau. Vừa ra khỏi cổng, thì bắt gặp ngay hai tên Đô Đầu và Lý Cát đương luống cuống ở đó, Lý Cát thất kinh toan chạy, bị Sử Tiến đưa một dao chém làm hai đoạn. Còn hai tên Đô Đầu cũng bị Dương Xuân, Chu Vũ tặng cho mỗi kẻ một đao kết quả hai tính mạng.

Huyện Úy thấy vậy, sợ hãi kinh hoàng, tế ngựa chạy trốn, không dám quay cổ lại nữa, bọn dân thổ cũng tản mác chạy mau cho thoát mạng nốt?

Sử Tiến cùng bọn Chu Vũ chạy về trại Thiếu Hoa Sơn để nghỉ. Khi về tới trại, Chu Vũ sai lâu la giết dê trâu làm tiệc ăn mừng, rồi lưu Sử Tiến ở đó, Sử Tiến ở được mấy hôm, chợt trong bụng nghĩ: “Mình chỉ vì cứu ba người này, mà nhất đán đốt mất cả cửa nhà cơ nghiệp, lại gây vạ với thổ quan, thì bây giờ ở đây, sao cho tiện”. Nhân nói với Chu Vũ rằng:

– Tôi có ông sư phụ là Vương Giáo Đầu, hiện theo ở bên phủ Kinh Lược Châu Quan Tây, tôi định ý đi tìm đã lâu, song ngặt vì phụ thân mới mất, cho nên tôi chưa quyết định xong, tới nay đã xảy ra câu chuyện thế này, dẫu muốn không đi không được. Vậy tôi xin từ giã anh em để đi tìm sư phụ.

Chu Vũ va hai người kia đều có ý muốn lưu lại:

– Xin quan bác hãy tạm ở đây ít bữa để bàn định xem sao? Nếu quan bác không thích cái nghề lạc thảo này, thì xin đợi khi yên lặng rồi, chúng tôi sẽ theo về sửa sang trang viện để liệu cách làm ăn có được không?

Sử Tiến nói:

– Đành vậy, nhưng bây giờ tôi nóng lòng muốn tìm thấy ngay sư phụ, mà kiếm xem có kế gì xuất thân, để được hả lòng một chút.

– Vậy thì quan bác ở đây làm ông Trại Chủ, lại chẳng khoát hoạt lắm sao? Chỉ e trại đây nhỏ hẹp, không đủ cho quan bác ở thôi.

– Có lẽ nào thế? Ông cha tôi khi xưa vốn là người lương thiện, nay tôi đem thân đến đây, làm cho ô nhục hay sao? Cái đó xin đừng nói đến nữa.

Bọn Chu Vũ thấy vậy cũng không dám lưu lại, Sử Tiến để cho bọn trang đinh ở lại đó, còn mình thu thập hành lý gói vào khăn gói mà sắp sửa đi tìm Vương Tiến. Bấy giờ Sử Tiến đầu đội mũ dương chiên lớn, có cái mào đỏ ở trên, mình mặc áo chiến bào, lưng thắt dây đay đỏ rất lớn, chân đi đôi giày gai, đeo khăn gói lên vai, giắt dao lưng vào mình, rồi từ biệt Chu Vũ, Dương Xuân và Trần Đạt mà lên đường. Lũ Chu Vũ đưa chân đến tận dưới núi, gạt hai hàng nước mắt, bái biệt mà về.

Sử Tiến đi đường được nửa tháng trời, tới đất Vị Châu, ở đấy cũng có dinh quan Kinh Lược, Sử Tiến ngờ là sư phụ Vương Giáo Đầu ở đó, liền tìm vào một hàng nước, để tạm nghĩ và thăm hỏi dò la. Sử Tiến vào tìm ngồi một chỗ bàn ghế sạch sẽ, gọi nhà hàng pha nước uống rồi hỏi:

– Phủ Kinh Lược đây ở vào phía nào?

Nhà hàng đáp:

– Ở phía đàng trước mặt.

– Trong phủ Kinh Lược, có ông Giáo Đầu tên là Vương Tiến phải không?

– Trong đó có nhiều ông Giáo Đầu mà cũng có tới ba bốn ông họ Vương, nhưng không hiểu ông nào là Vương Tiến.

Nhà hàng vừa nói dứt lời, thì có một người lực lưỡng ở ngoài đi sồng sộc bước vào, Sử Tiến ngẩng lên trông người ấy, mặt tròn tai lớn, mũi thẳng mồm vuông, hai bên mép có một hàng râu xoăn xoắn, mình cao tám thước, vai rộng đẫy ôm, cách ăn mặc ra đàng một tay quan võ.

Người ấy vừa vào đến trong, thì nhà hàng vội trỏ vào bảo Sử Tiến rằng:

– Nếu ngài muốn hỏi viên Giáo Đầu nào, thì cứ hỏi ông Đề Hạt đây sẽ biết.

Sử Tiến nghe vậy, vội vàng đứng dậy chấp tay vái chào mà nói:

– Xin rước ngài vào ngồi xơi nước.

Người ấy thấy Sử Tiến mặt mũi khôi ngô, sức lớn mình cao, võ vẻ đường đường hảo hớn, thì cũng chấp tay đáp lễ, rồi cùng ngồi uống nước một bên. Sử Tiến hỏi:

– Tôi thế này là không phải, nhưng xin dám hỏi cao tính đại danh ngài là gì?

Người kia đáp:

– Tôi họ Lỗ, tên là Đạt Tư, hiện làm Đề Hạt ở phủ Kinh Lược gần đây, vậy dám hỏi quan bác là thế nào?

– Tôi họ Sử tên Tiến muốn đi tìm sư phụ là ông Vương Tiến, trước đã từng làm chức Giáo Đầu, dạy tám vạn quân ở đất Đông Kinh, ngày nay không biết rằng có ở trong phủ Kinh Lược đây không?

Lỗ Đề Hạt ân cần ra ý hỏi:

– Chẳng hay có phải ngài là Cửu Văn Long Sử Đại Lang ở Sử Gia Thôn đó chăng?

Sử Tiến cúi đầu đáp:

– Vâng! Chính tôi đây.

Lỗ Đề Hạt vội mừng cung kính mà nói rằng:

– Người ta thường nói, nghe tên không bằng thấy mặt, thấy mặt gấp mấy nghe tên, nay mới biết quả nhiên như thế. Nhưng nay ngài muốn tìm ông Vương Tiến, có phải là ông Vương Tiến bị quan Cao Cầu Thái Úy ở Đông Kinh ghét đó chăng?

– Chính phải!

– Tôi cũng nghe danh ông ấy, nhưng mà không có ở đây. Nghe nói ông ấy hình như ở bên phủ Kinh Lược Lão Trung ở Diên An thì phải, chứ dinh quan Kinh Lược Tiểu Trung tôi đây không có.

Đoạn rồi bảo Sử Tiến rằng:

– Ngài đã là Sử Đại Lang, tôi thường nghe ngài là tay hảo hán vậy mời ngài ra phố uống với tôi vài chén rượu đã.

Nói đoạn dắt tay Sử Tiến đi ra, bảo nhà hàng rằng:

– Tiền nước để đó, rồi sau ta sẽ trả.

Nhà hàng vâng dạ, ï mà bảo rằng:

– Xin Đề Hạt cứ tự nhiên cho.

Hai người dắt tay nhau ra phố, ước chừng dăm ba mươi bước, thì chợt một đám người đứng bao bọc xúm xít vào một chỗ, Sử Tiến bảo với Lỗ Đề Hạt rằng:

– Ta thử vào đây xem họ làm gì?

Nói đoạn gạt rẽ đám đông mà vào thì thấy có một người, tay cầm một nắm gậy, trên mặt đất bảy mươi thứ thuốc cao, lại có một cái bàn dán đặc giấy giao hàng ở đó.

Sử Tiến trông thấy nhận nhận ra là một người, tên gọi Đả Hổ Tướng Lý Trung, vẫn xưa nay múa gậy bán thuốc dong duổi giang hồ, mà trước kia đã từng dạy cho mình học võ, liền đứng ở ngoài mà gọi lên rằng:

– Sư phụ ơi! Sao lâu nay không được gặp thế?

Lý Trung nghe tiếng ngẩng đầu lên nom, bỗng hớn hở mà rằng:

– Kìa; Hiền Đệ đi dâu mà lại tới đây?

Đề Hạt đứng bên cạnh, thấy hai người nhận nhau là sư đệ, thì bảo rằng:

– Nếu có phải ông là sư phụ Sử Đại Lang thì xin mời cùng đi với chúng tôi, xơi vài chén rượu cho vui.

Lý Trung đáp:

– Vâng! Xin để cho tôi bán ít thuốc cao, kiếm lấy ít tiền, rồi xin theo Đề Hạt cùng đi.

– Ai mà đứng đây đợi được, có đi thì xin đi một thể cho vui.

– Đành vậy, nhưng cơm áo của tiểu đệ, trông cậy vào đâu, xin mời Đề Hạt cứ đi trước, tôi sẻ tìm đến sau, Sử Tiến hiền đệ cứ theo Đề Hạt đi trước đi.

Lỗ Đạt nghe nói nóng ruột, không sao chịu được, vội gạt đuổi những người đứng xem chung quanh mắng rằng:

– Chỉ tại lũ thối thây này, xúm xít vào đây. Ta lại đánh tuốt cho một mẻ bây giờ.

Bọn người đứng xem thấy vậy đều tránh gạt đi mất, còn Lý Trung thấy Đề Hạt ra dáng hung tợn, thì cũng hơi có ý giận, song không dám nói ra, chỉ cười gượng nói rằng:

– Đề Hạt nóng tính quá.

Đoạn rồi thu thập thuốc men gói gấp gửi để một nơi cẩn thận, mà cùng với Lỗ Đề Hạt và Sử Tiến, đến phố Châu Kiều. Khi tới nơi Lỗ Đề Hạt đưa vào nhà tửu điếm họ Phan, là một hàng rượu có tiếng ở đó, tìm một gian sạch sẽ để cùng ngồi.

Lỗ Đề Hạt ngồi chủ vị, Lý Trung ngồi đối diện, còn Sử Tiến thì ngồi vai dưới, tên tửu bảo trông thấy bọn khách Đề Hạt tới nơi, thì vội vội vàng vàng đến bẩm rằng:

– Kính chào đề Hạt, dùng bao nhiêu rượu?

Lỗ Đạt nói:

– Hãy lấy bốn chai rượu, và các rau quả đến đây!

Tửu bảo lại hỏi:

– Các quan xơi cơm gì?

Lỗ Đạt gắt mà rằng:

– Hỏi gì lắm thế? Có thì cứ mang đây, ăn rồi ta trả tiền chứ sao, mày lắm điều quá.

Tửu bảo cúi cổ đi ra, một lát đem rượu thịt bày la liệt trên bàn, rồi ba người cùng nhau đánh chén, rượu được vài tuần, ai nấy có vẻ chếch choáng hơi men, bây giờ mới giở các món côn quyền ra khoe lẫn với nhau rất là đắc chí.

Bỗng đâu bên kia vách, ở gần bàn rượu có tiếng người rền rỉ khóc than, Lỗ Đề Hạt nghe thấy lấy làm bực mình, liền cầm ngay chén rượu còn đang uống, mà vất xuống sàn gác, đánh soảng một cái.

Tửu bảo nghe tiếng vội vang chạy đến, nom thấy Đề Hạt có ý hầm hầm giận dữ, thì đem giọng ngọt mà hỏi rằng:

– Quan muốn truyền mua thức gì, để nhà hàng tôi đem đến.

Lỗ Đạt quát lên rằng:

– Ta muốn thức gì? Ngươi không biết ta hay sao? Sao dám cho đứa nào đến bên kia khóc lóc, làm nhiễu cả cuộc rượu anh em ta thế? Xưa nay ta có thiếu tiền không?

Tửu bảo vội lễ phép nói rằng:

– Chúng tôi đâu dám xuôi ai đến đây khóc, để quấy nhiễu đến tai ngài, đây chẳng qua là hai cha con đứa hát bên kia, nó không biết có ngài ở đây, cho nên nó thở than khóc lóc với nhau, xin ngài tha lỗi cho.

Lỗ Đề Hạt trừng mắt nói:

– Nói làm gì quái lạ thế? Bây gọi nó sang đây ta xem.

Tửu bảo vâng lời đi, một lát đã thấy dẫn một người con gái chừng 18- 19 tuổi đi theo một ông lão già, vào trạc 60 tuổi, tay cầm bộ phách, cùng đến đó.Người con gái trông cũng tầm thường không lấy gì nhan sắc cho lắm, khi đến trước mặt Đề Hạt, thì lấy tay lau nước mắt, rồi cúi chào Vạn Phúc; Đề Hạt hỏi:

– Bây người ở đâu, làm gì ở đây khóc lóc như thế? Người con gái nói:

– Bẩm ngài, nguyên chúng tôi là người ở Đông Kinh theo cha mẹ sang Vị Châu để tìm người họ, bất đồ sang tới nơi thì người họ đã dọn sang ở Nam Kinh mất, đoạn rồi mẹ tôi bị bệnh giữa đường mà chết, thành ra hai cha con tôi phải lưu lacï đến đây, khi đến đây trót nhờ ông tài chủ là Trấn quan Tây Trịnh đại nhân giúp đỡ ít chút, sau ông ấy thấy tôi còn trẻ tuổi, có ý muốn ép làm lẽ liền bắt cha tôi viết bức văn tự bán tôi là 3.000 quan, mà sau rút cục không đồng tiền nào cả, sau bắt tôi ở đấy được non ba tháng, bị người vợ cả ghen tuông quá đỗi, bắt duổi tôi phải đi nơi khác, mà không cho lẩn quẩn trong nhà, đoạn rồi đem văn tự ra đòi tiền cho kỳ được, cha tôi đã già yếu, không có kế chi chống lại được với y, vả chăng khi trước không nhận được của y một đồng tiền nào, thì ngày nay lấy đâu mà trả được. May sao thuở xưa cha tôi có dạy cho tôi một vài bản hát, nay bất đắc dĩ phải tìm đến tửu lâu bên kia, để quanh co hát xướng, kiếm lấy ít tiền, mà trả bớt cho người ta, còn thì cha con đùm bọc lấy nhau, nhưng chẳng may, mấy ngày hôm nay khách hàng thưa vắng, không sao kiếm được đồng nào, chỉ sợ đến hẹn mà không có tiền đưa trả, thì phải khổ với người ta, bởi vậy cha con tôi lo khóc, không ngờ lại xúc phạm đến uy ngài, xin ngài rộng ơn mà tha thứ.

Lỗ Đạt lại hỏi:

– Tên họ nhà ngươi là gì? Ở Tửu điểm nào? Trấn quan Tây Trịnh đại nhân là người nào? Ở đâu?

Lão già khép nép thưa lên:

– Chúng tôi tên là Kim Nhị, con cháu tên là Thúy Liên, trọ ở hàng rượu đối diện bên đông kia, còn Trịnh đại nhân tức ông Trịnh Đồ, bán hàng thịt ở dưới cầu Trạng Nguyên.

Lỗ Đạt nghe nói tắc lưỡi mà rằng:

– Ta vẫn tưởng Trịnh quan nhân nào; té ra chính là thằng Trịnh Đồ bán hàng thịt lợn. Thằng gớm thực? Nó nhờ thế quan Kinh Lược ta được mở cái hàng thịt lợn ở đó, ai ngờ nay dám lộng quyền đến láo quá chừng.

Nói đoạn quay lại bảo Lý Trung, Sử Tiến rằng:

– Các ông hãy ngồi đây, đợi tôi một lát, tôi đi sửa cho thằng này một trận, rồi lại xin đến đây ngay.

Sử Tiến, Lý Trung đều dìu lại mà khuyên rằng:

– Quan bác hãy nguôi giận, để sáng mai sẽ hay.

Hai người khuyên giải đến năm bảy lượt rồi, Lỗ Đạt mới chịu thôi, lại quay bảo bố con Kim Nhị rằng:

– Tôi đãi tiền cho lão già, ngày mai về Đông Kinh được không?

Hai bố con Kim Nhị nói:

– Nếu ngài cứu cho được về cố hương, thì thực ơn bằng cha mẹ, song làm thế nào được chủ hàng cơm cho đi, và nếu khi Trịnh đại nhân theo đuổi đòi tiền thì biết làm sao?

Lỗ Đề Hạt nói:

– Cái đó không cần, tôi sẽ có cách xử trí cho.

Nói đoạn móc tay vào túi lấy ra lạng bạc, để trên bàn, rồi bảo Sử Tiến rằng:

– Tôi có ít tiền quá, quan bác có đấy cho tôi mượn thêm một ít, rồi sáng mai tôi xin trả lại.

Sử Tiến cười mà rằng:

– Có thì bác lấy, đáng bao nhiêu mà nói chuyện trả.

Nói xong, lấy một đỉnh bạc ra để trên bàn, Đề Hạt lại trông Lý Trung mà bảo rằng:

– Bác có cho mượn thêm đây mới đủ.

Lý Trung móc túi mãi, mới được có hai lạng đưa ra. Lỗ Đạt cầm lấy đưa cho Kim lão 15 lạng bạc mà bảo rằng:

– Tiền này cha con giữ để tiêu dùng, rồi thu xếp hành lý cẩn thận, để sáng mai tôi đến đây sớm, tôi sẽ bảo cách cho mà đi, xem đứa nào giữ lại được nữa?

Hai cha con Kim lão nhận tiền rồi, lạy tạ mà lui ra, Lỗ Đạt đưa hai lạng bạc trả lại cho Lý Trung, rồi lại cùng nhau uống rượu một lúc lâu rồi mới tan. Khi đứng dậy Lỗ Đạt lại gọi nhà hàng đến mà bảo rằng:

– Tiền rượu để sáng mai ta sẽ trả.

Chủ hàng vâng lời rằng:

– Xin Đề Hạt để đến bao giờ cũng được.

Đoạn ba người dắt tay đi chơi phố, hồi lâu Lý Trung, Sử Tiến mới từ giã Lỗ Đạt mà đi tìm chỗ trọ riêng.

Cha con Kim lão từ khi nhận được món tiền của Lỗ Đề Hạt, liền trở về trang trải tiền cơm nước vặt vãnh, rồi lại ra ngoài thành thuê một cỗ xe, và sắp sửa các đồ hành lý, để sáng hôm sau đi sớm.

Sáng hôm sau vào khoảng đầu trống canh năm, thì hai cha con Kim lão trở dậy ăn cơm nước xong xuôi, rồi đợi Lỗ Đề Hạt đến, thì sẽ cất gói ra đi. Khi trời vừa tảng sáng, đã thấy Lỗ Đề Hạt ở đâu sồng sộc bước vào, gọi tên hầu ở nhà hàng mà bảo rằng:

– Kim lão trọ ở phòng nào?

Tiểu nhị nghe tiếng, vội vàng gọi Kim lão, mà bảo ra tiếp ứng. Kim lão nghe nói, liền mở cửa phòng, rồi mời Lỗ Đề Hạt vào ngồi chơi.

Đề Hạt ra dáng vội vàng mà nói:

– Thôi, cần chi ngồi chơi, cha con nhà ông có đi thì đi ngay chứ, còn chờ đợi đến bao giờ nữa.

Kim lão vâng lời quảy hành lý lên vai, rồi dắt con gái ra bái tạ Đề Hạt mà đi ra. Vừa bước chân tới cữa thì tên tiểu nhị giữ lại mà hỏi rằng:

– Kim lão đi đâu bây giờ thế?

Lỗ Đề Hạt thấy vậy mà quát hỏi:

– Lão ấy còn thiếu tiền trọ của ngươi hay sao?

– Bẩm, tiền trọ thì hôm qua ông ta tính trả rồi, song ông ta còn nợ của Trịnh đại quan nhân đàng kia, ngài có giao cho tôi để đòi hỏi cho nên tôi phải giữ lại ở đây.

Lỗ Đề Hạt mắng rằng:

– Tiền của Trịnh Đồ để rồi ta trả nó, mày cứ để cho lão ấy đi mới được.

Tên tiểu nhị dùng dằng không chịu cho Kim lão đi, Lỗ Đề Hạt cả giận giơ tay tát tiểu nhị một cái hộc máu mồm ra, rồi lại tát luôn cho vài cái nữa, gãy phăng mất hai cái răng cửa; tiểu nhị thấy vậy kinh sợ chạy lủi vào trong nhà, không dám thò mặt ra ngoài để ngăn trở, hai cha con Kim lão liền thừa thế chạy thẳng ra thành, lên xe đi cho mau thoát.

Lỗ Đề Hạt thấy Kim lão đi rồi, lại e khi tên tiểu nhị ở điếm còn tức mà đuổi theo, để quấy nhiễu, liền bắc ghế trước cửa điếm ngồi giữ ở đó, ước chừng khi Kim lão đi xa rồi, mới đứng dậy mà đi sang cầu Trạng Nguyên, để tìm vào nhà Trịnh Đồ.

Bây giờ Trịnh Đồ đương đứng ở bên quầy, để trông nom cho mấy đứa đồ tể bán thịt, chợt nghe tiếng Lỗ Đề Hạt đến nơi, liền quay ra ra chào hỏi, rồi kéo ghế mời vào ngồi chơi nói chuyện.

Lỗ Đề Hạt ngồi phịch xuống ghế bảo Trịnh Đồ rằng:

– Ta thừa lệnh quan Kinh lược truyền ra lấy 10 cân thịt nạc, thái nhỏ ra từng miếng, mà phải không có một tý mỡ nào dính vào mới được.

Trịnh Đồ vâng lời, rồi sai gọi lũ đồ tể ra cắt thịt. Đề Hạt không nghe mà nói:

– Không để cho chúng nó được, ngươi phải đứng lên cắt ngay cho ta. Trịnh Đồ không dám trái lời, phải đứng dậy đi thái 10 cân thịt. Bây giờ tiểu nhị ở hàng cơm kia, dương lon ton chạy lại nhà Trịnh Đồ, toan báo chuyện Kim lão cho Trịnh Đồ biết, bất đổ vừa đến cửa đã trông thấy Lỗ Đề Hạt, ngồi chễm chệ ở đó, liền đứng thụt ở bên ngoài, mà không dám thò mặt vào nữa.

Khi Trịnh Đồ cắt thịt xong, rồi lấy lá sen gói bọc cẩn thận, đem đến đưa Lỗ Đề Hạt mà nói:

– Thịt đây xin Đề Hạt cho mang về.

Lỗ Đạt nói:

– Mang đi đâu? Phải cắt lấy 10 cân thịt mỡ nữa, rồi cũng thái nhỏ ra, nhưng không dính một tý thịt nạc nào mới được.

Trịnh Đồ lấy làm lạ mới hỏi:

– Trong phủ dùng thịt nạc để nấu nướng thì tốt, chứ thịt mỡ dùng sao được?

Đề Hạt trừng mắt nói:

– Tướng công truyền như vậy, ai dám vào đấy mà hỏi được.

Trịnh Đồ đành phải vâng lời, lại đi ra thái 10 cân thịt mỡ, gói bọc tử tế rồi gọi người nhà bảo cầm theo Đề Hạt để đưa vào trong phủ.

Lỗ Đạt lại quát lên rằng:

– Lấy mười cân sườn nữa thái nhỏ ra, không cho một tý thịt nào bám được.

Trịnh Đồ thấy vậy liền hỏi rằng:

– Chẳng hay Đề Hạt đùa tôi hẳn?

Lỗ Đạt nghe nói vội đứng dậy, tay cầm hai gói thịt, rồi trợn mắt nhìn Trịnh Đồ nói:

– Ta lại đùa với lũ ngươi hay sao?

Nói xong cầm hai gói thịt ném toét vào mặt Trịnh Đồ. Trịnh Đồ bừng bừng nổi giận không sao chịu được, liền với lên bàn thịt cầm lấy con dao nhọn, nhảy sả vào toan đâm, Lỗ Đề Hạt thấy vậy lùi bước đi thẳng ra ngoài phố, hai bên phố xá cùng bọn đồ tể ở trong không ai dám bén mảng đến can ngăn gì cả, bao nhiêu những khách bộ hành đều đứng lại để xem, còn tên tiểu nhị ở hàng cơm đến đấy cũng kinh sợ vô cùng.

Trịnh Đồ tay hữu cầm dao, tay tả thì níu lấy Lỗ Đạt chạy theo toan đánh. Lỗ Đạt thừa thế nắm lấy tay tả Trịnh Đồ, đá vào bụng dưới một cẳng chân ngã lăn xuống phố, rồi lại xông vào giở quả đấm ra hiệu mà bảo rằng:

– Tao đây theo hầu quan Kinh lược Đại tướng, làm đến chức quan tây Ngũ Lộ Liêm Phóng Sứ mới được gọi là Trấn Quan Tây, còn như mày chỉ là một đứa cầm dao bán thịt, thân danh như một con chó, thế mà cũng học đòi gọi Trấn quan tây, rồi lại lừa đảo ép nài bố con Thúy Liên là nghĩa làm sao?

Nói đoạn đánh cho một đấm vào giữa mũi, vẹo về một bên, máu chảy ra lênh láng. Trịnh Đồ không sao bò dậy được, bỏ vất con dao ra mặt đất, trong mồm chỉ lẩm bẩm nói:

– Được lắm! Đánh giỏi!

Lỗ Đạt mắng luôn rằng:

– Mày lại há miệng ra nữa đấy à?

Nói xong lại đánh cho một đấm chính giữa mí mắt, lòi cả con ngươi ra ngoài, rồi lại đấm vào thái dương một cái rất mạnh.

Đoạn thấy Trịnh Đồ nằm sóng soạt ra đất, chỉ thở hơi ra, không hít vào được nữa, Lỗ Đạt liền nói tảng đi rằng:

– Mày giả cách chết à? Ông đánh cho một chập nữa bây giờ.

Dè đâu trông sắc mặt Trịnh Đồ càng ngày càng tái nhợt mãi đi. Lỗ Đạt biết là tất chết, trong bụng nghĩ:

– Ta chỉ định đánh cho đau đớn, ai ngờ mới có ba cái đấm, mà nó đã chết hay sao? Nếu thế thì ta bị quan Tư giam chấp, thì lấy ai đưa cơm nước cho ta? Âu là bất nhược ta liệu trước là xong.

Nghĩ đoạn, rảo bước ngoắt đi, lại còn quay lại trỏ vào xác Trịnh Đồ mà nói rằng:

– Mầy giả cách chết, để rồi tao liệu cho mầy.

Lỗ Đạt miệng thì tức mắng, chân thì cất gót cho mau, phố xá xóm giềng không ai còn dám đến ngăn cản nữa. Khi về tới nhà trọ, thu nhặt tiền nong gói vào một gói. Tay cầm một cái gậy đỏan rồi lén bước ra cửa Nam môn rồi cút đi thẳng.

Lũ đồ tể thấy Lỗ Đạt đi rồi, liền cùng với tiểu nhị và xóm làng, túm vào khua gọi Trịnh Đồ mà đỡ dậy. Không ngờ kêu gọi đến nửa ngày trời cũng không thấy tỉnh, than ôi!

Biết đâu cái đánh vô tình

Xuôi hồn biển tử tan tành như chơi!

Các người lân bang thấy vậy, vội làm đơn đi trình quan Phủ.

Quan Phủ xem đơn trình, biết Lỗ Đề Hạt là người nhà quan Kinh Lược, không dám thiện tiện bắt ngay, bèn lên kiệu vào phủ Kinh lược để trình.

Quan Kinh Lược nghe lời trình của quan Phủ, thì giật mình kinh lạ mà tự nghĩ:

– Lỗ Đạt tuy võ nghệ giỏi, nhưng tính tình vẫn thô mãng xưa nay, nay lại xảy ra có việc án mạng thế này, thì ta che chở làm sao cho tiện, bất nhược ta cứ giao mặc cho tra hỏi là xong.

Liền bảo với quan Phủ rằng:

– Tên Lỗ Đạt vốn là quân quan ở bên dinh Kinh Lược phụ thân tôi, nhưng vì tôi thiếu người sai dùng, cho nên mượn hắn sang đây để làm chức Đề Hạt, nay chẳng may lại phạm việc án mạng như thế, xin cứ theo phép công mà đòi hỏi, xem hắn khai báo ra sao? Rồi sẽ định tội. Nhưng thế nào cũng phải cho phụ thân tôi biết trước, rồi mới quyết đoán được, kẻo nhất lỡ sau này phụ thân tôi cho gọi đến hắn thì thêm rầy.

Quan phủ vâng lời mà rằng:

– Chúng tôi xin tra hỏi căn do, đệ trình lên quan Lão Kinh Lược tướng công, rồi mới dám thi hành, chứ có đâu chúng tôi lại tự xử ngay được.

Quan Phủ Doãn chào quan Kinh Lược, rồi lên kiệu về nha, sai thảo công văn giao cho bọn bộ tập đi bắt Lỗ Đạt. Bấy giờ Vương Quan Sát lĩnh công văn dẫn hai mươi tên công sai, đi đến nhà trọ của Lỗ Đạt, thì thấy chủ nhà nói rằng:

– Lỗ Đạt vừa mới khoác khăn gói, cầm gậy đỏan ra đi lúc nãy. Chúng tôi vẫn tưởng là có công sai gì, cho nên không dám hỏi han đến nữa.

Vương Quan Sát sai phá cửa phòng của Lỗ Đạt ra xem, thì chỉ thấy có một ít quần áo tồi tàn, và chiếu chăn còn bỏ lại ở đó, liền bắt chủ hàng dẫn đi các nơi để tìm bắt, nhưng nào có thấy tung tích ở đâu? Vương Quan Sát bất đắc dĩ phải bắt hai tên lân bang, cùng chủ trọ của Lỗ Đạt mà đem về giải phủ.

Quan Phủ Doãn ra hỏi đầu đuôi xong, nhất diện phái người khám xét tử thi Trịnh Đồ, nhất diện làm thành án văn, viết tên tuổi tướng mạo Lỗ Đạt cho đi dán khắp nơi, nếu ai bắt được phạm nhân sẽ thưởng tiền 2.000 quan, còn các nguyên cáo cùng xóm giềng đều cho về cả.

Lỗ Đạt từ khi đi khỏi Vị Châu rồi, vội vàng hất hải, đi đến chỗ nọ chỗ kia, không biết nơi đâu là định sở, thực là đói không chọn cơm, rét không chọn áo, lạc không chọn đường, nghèo không chọn vợ, tình cảnh bấy giờ thật là nan bách. Mê man vơ vẫn vừa nửa tháng trời mới tới Huyện Nhạn Môn, bước chân vào trong thành thấy phố phường náo nhiệt, xe ngựa tưng bừng, các hàng quán bán buôm rất là tề chỉnh, tuy là một chốn huyện thành, mà lại có phần hơn mọi châu phủ.

Lỗ Đạt đương đi lững thững một mình, bỗng thấy một đám đông người xô lại vào bên đường, để xem bảng yết thị, nên cũng len bước vào xem.

Lỗ Đạt tuy không biết chữ nhưng cũng lắng tai nghe thấy người ta đọc rằng:

– “Châu huyện Nhạn Môn, vâng lệnh quan phủ Thái Nguyên, yết thị cho nhân dân biết: Tên Lỗ Đạt tức là viên Đề Hạt ở phủ quan Kinh Lược Vị Châu, phạm tội đánh chết Trịnh Đồ, rồi trốn mất, ai mà chứa chấp trong nhà, quan trên bắt tội sẽ xử tội như phạm nhân, bằng ai bắt được đem ra nộp thì sẽ được thưởng 1.000 quan… “

Lỗ Đạt vừa nghe đến đó, chợt thấy đàng sau lưng có người kêu to lên rằng:

– Trương Đại Ca ôi! Bác đi đâu đến đây?

Đoạn rồi người ấy ôm lưng Lỗ Đạt mà kéo đi ra khỏi đám người đông đúc. Mới hay:

Anh hùng tiếng đã gọi rằng.

Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha.

Bốn phương đâu chẳng là nhà.

Sao cho thảo mộc sơn hà biết tên?

Chắc đâu là họa là duyên,

Chắc đâu oán trả ơn đền là đâu?

Ở đời thấm thoát bao lâu,

Biết nhau tế độ cho nhau mới là…

Lời bàn của Thánh Thán:

Hồi này vừa tả xong Sử Tiến anh hùng, tiếp tay tả luôn Lỗ Đạt anh hùng. Vừa tả xong Sử Tiến thô tháo; Tiếp tay tả luôn Lỗ Đạt thô tháo. Vừa tả xong Sử Tiến quên Lợi, tiếp tay tả luôn Lỗ Đạt quên lợi; Vừa tả xong Sử Tiến nóng nảy, tiếp tay tả luôn Lỗ Đạt nóng nảy. Tác giả gặp chỗ bí chạy theo đường nghẽn, cho rõ tài bút lục của mình, độc giả cũng nên xem xét từng chỗ, để phân định hai kẻ khác nhau, không phải chỉ tả một thứ con người, mới khỏi phụ lòng khốn khổ của nhà viết nên sử!

Một trăm lẻ tám vị anh hùng, kể đầu từ Sử Tiến, một kẻ xuất danh lãnh chúng sau này. Thế mà tác giả chép ở Thiếu Hoa Sơn, một đoạn văn đặc biệt, rằng:” Ông cha tôi khi xưa, vốn là người lương thiện, có đâu tôi đem thân đến đây, mà làm ô nhục hay sao?… ” Điều đó há phải sơ tâm riêng một con người như Sử Tiến sự thực cũng là sơ tâm của một trăm lẻ tám người kia. Chỉ vì một tay tài điệu, không chỗ giở ra một thân khí lực, không nơi dùng đến, mà tíng con thuồng luồng đâu chịu chết khô trên ruộng cạn, lại thêm những cái oán của đời gian giảo, mới nổi lên một đám với nhau, như vậy con nhà lương thiện đã chả được dùng đến, phải đành chịu tiếng nhơ ở trong thanh giá, cũng chả tiếc được nữa, khiến một trăm lẻ tám người, lạc cả vào Bến Nước. Hỡi ôi! Những tài điệu kia, đều tài điệu của triều đình, những khí lực kia, đều khí lực cho chiến trận, đã phải bất đắc dĩ sa vào Bến Nước (Thủy Hử),đó là lỗi tại ai? ? ?

Chủ đề về Sử Tiến hồi này, cốt tìm tới chốn Lão Trung quan Tướng Công Kinh Lược, để hỏi thăm sư phụ Vương Tiến, chợt đâu biến thể, trật ra ngoài nơi Lão Trung Kinh Lược Tướng Công, mà chuyển sang chốn Tiểu Trung Kinh Lược Tướng Công, ngoài sự tìm sư phụ Vương Tiến, lại hóa hiện ra một sư phụ Lý Trung, đọc đến đây thấy như bức mây đỏ trên vòm trời biến hiện muôn hình vạn trạng, chả phải cứ nhìn theo một con mắt, mà để nhận ra đâu.

Tả cái chỗ làm người của Lỗ Đạt, một bầu máu nóng phát ra, càng thẹn cho những kẻ thư sinh ăn bám của người, chưa dám thò tay liều giúp ai một việc. Đức Khổng Tử nói:Đọc Kinh Thi có thể nổi lên, thì ta với các Tỳ quan, cũng thấy hay lắm vậy!

Đánh chết Trịnh Đồ, thực vội vàng lắm thay, chỉ thêm vào từng chỗ tên tiểu nhị báo tin, làm cho sốt ruột, thấy một lần đầu tiểu nhị nói ra, lần thứ hai ngoài tiểu nhị ra, lại thêm sự mua thịt nữa, lần thứ ba lại thêm ra những kẻ đi đường… Không ngờ tình văn như lụa, tình sự lại như gương, khiến ta muốn vạch ra mà xem tới trong lòng vậy.

Hồi 3: Triệu Viên Ngoại sửa lại Văn Thù Viện – Lỗ Trí Thâm khua động Ngũ Đài Sơn

Lỗ Đạt thấy người ôm mình mà kéo đi, liền quay lại xem thì té ra chính là Kim Lão, gặp ở tửu quán đất Vị Châu khi trước.

Kim Lão kéo Lỗ Đạt ra quãng vắng mà bảo rằng:

– Sao ân nhân to gan thế? Người ta đương yết thị thưởng tiền để bắt mình, mà mình lại đứng đây xem bảng, ngộ lỡ ra quan quân biết đến thì sao?

Lỗ Đạt nói:

– Chẳng dấu gì ông lão, chỉ vì việc của ông lão hôm ấy, mà thành ra tôi đến dưới cầu Trạng Nguyên, gặp tên Trịnh Đồ, đánh cho hắn có ba quyền chết tươi thẳng cẳng, rồi thì tôi phải trốn tránh đến đây.Còn ông lão thì làm sao không về Đông Kinh, mà lại cũng gặp ở đây như thế?

Kim Lão đáp:

– Từ phen được ân nhân cứu thoát, cha con thuê một cỗ xe, định về Đông Kinh, song lại e nhất lỡ bọn kia theo đuổi, mà ân nhân không có ở đấy, thì nguy hiểm không chơi, vì thế tôi phải rẽ đường sang bắc, may sao gặp được người hàng xóm cũ, buôn bán ở đây, liền dắt cha con tôi về cùng ở, rồi sao làm mối cho con cháu một ông Viên Ngoại họ Triệu kia, nhà rất phong lưu phú quý, vì thế sự ăn tiêu chi phí không thiếu thức gì. Ông ta cũng thích nghề quyền võ, một đôi khi con cháu nó kể đến chuyện ân nhân, thì ông ta lại thán phục, mà mong sao được gặp mặt một lần mới thỏa, vậy tiện đây xin đón ân nhân hãy tạm đến nhà tôi nghỉ đó mấy hôm sau rồi sẽ liệu.

Nói xong rồi, dẫn Lỗ Đạt cùng đi.

Đường đi ngót nửa ngày trời, khi tới nơi, Kim Lão bước vào cửa cuốn mành mành lên, gọi con gái ra bảo rằng:

– Ân nhân đến đấy con ạ.

Bấy giờ người con gái ăn mặc lịch sự ở trong nhà chạy ra đón Lỗ Đạt vào. Lỗ Đạt vừa vào, đặt xuống ngồi, thì người con gái thụp lạy sáu lạy, mà nói rằng:

– Nếu không có ân nhân cứu vớt, thì cha con tôi đâu lại có được như ngày nay.

Nói xong mời Lỗ Đạt lên gác để nghỉ.

Lỗ Đạt nói rằng:

– Tôi không ở đây lâu được, phải sắp sửa đi thôi.

Kim Lão không bằng lòng mà nói:

– Ân nhân đã đến đây, có lẽ nào chúng tôi lại để đi ngay.

Đoạn rồi đem khăn gói và gậy lên gác, mà mời Lỗ Đạt lên.

Bây giờ Kim Lão cho con gái ngồi tiếp chuyện Lỗ Đạt, rồi tự mình xuống đem đầy tớ đi chợ, để mua các đồ hoa quả rượu chè, về làm cơm. Khi cơm rượu xong dọn lên bàn rồi, hai bố con rót rượu, ngồi tiếp Lỗ Đạt.

Rượu được vài tuần, bỗng Kim Lão đứng dậy thụp xuống lạy, Lỗ Đạt ngạc nhiên nói rằng:

– Sao lão nhân làm như thế, thực tôi không bằng lòng chút nào.

Kim Lão nói:

– Chẳng dám dấu gì ân nhân, từ khi cha con tôi đến ở đất này, vẫn cảm đến ơn cứu sống của ngài, mà làm bài vị tên ngài bằng mảnh giấy hồng, để sớm khuya đèn hương khấn vái, vậy mà ngày nay được trông thấy ngài, thì có lẽ nào không lạy tạ ân nhân?

Nói xong lại ngồi lên tiếp rượu. Ba người ung dung chén tạc chén thù, mãi đến khi trời đã xế hôm, thì chợt nghe có tiếng ồn ào dưới cửa. Lỗ Đạt chạy ra cửa sổ gác để nom, thấy ở dưới lầu có tới ba mươi người tay roi tay gậy, lại có một người ra dáng quan nhân, cưỡi trên mình ngựa mà quát to lên rằng:

– Chớ để cho quân giặc chạy thoát.

Lỗ Đạt nghe nói, biết là sự không hay, liền quay vào vớ lấy cái ghế, toan ném xuống, Kim Lão thấy vậy, vội vàng đứng dậy xem rồi can lại mà bảo rằng:

– Xin ngài chớ động vội.

Nói xong đi thẳng xuống dưới gác, đứng bên cạnh người cưỡi ngựa, mà bảo thầm chi đó? Đoạn rồi thấy người ngồi trên mình ngựa vui cười, mà thét bảo bọn kia đi hết. Người ấy xuống ngựa đi vào trong nhà, rồi cho mời Lỗ Đạt xuống, vái lạy mà nói:

– Nghe tiếng sao bằng thấy người, thấy người bằng mấy nghe tiếng, dám xin nghĩa sĩ nhận lễ cho.

Lỗ Đạt không hiểu sao, liền hỏi Kim Lão:

– Quan nhân đây là ai, từ xưa chưa quen biết bao giờ; mà lạy chào như thế?

Kim Lão đáp:

– Thưa ngài. Chính đây là Triệu Viên Ngoại, bạn với con cháu nhà tôi đó, vừa rồi hắn vẫn tưởng là anh nào chè chén ở đây, cho nên toan đem trang khách đến để đánh, nhưng sau nghe nói là ngài đến đây, thì lấy làm vui mừng quá đỗi.

Nói xong lại mời Lỗ Đạt lên trên lầu, sai người nhà thay các món ăn để TriệuViên Ngoại cùng ngồi bồi tiếp.

Triệu Viên Ngoại mời Lỗ Đạt ngồi cánh trên, Lỗ Đạt nhất định không nghe. Triệu Viên Ngoại cố ý nhường Lỗ Đạt ngồi trên mà nói:

– Tôi nghe tiếng ngài là một người anh hùng hào hiệp, trong lòng hâm mộ đã lâu, nay trời xanh run rủi được gặp ở đây, thực là may lắm!

Lỗ Đạt cười đáp rằng:

– Tôi là một người thô lỗ vô tài, lại đương mắc tội, trốn tránh đến đây, nếu Viên Ngoại có rộng lòng mà kết làm tương thức, thì sau đây có cần đến việc chi, tôi xin hết sức.

Triệu Viên Ngoại cả mừng, hỏi thăm về việc đánh chết Trịnh Đồ, rồi lại kể các nghề côn kiếm, trò chuyện chè rượu, mãi đến nủa đêm mới tan.

Sáng hôm sau Triệu Viên Ngoại dậy sớm nói với Lỗ Đạt rằng:

– Ở đây tai mắt rất nhiều có khi không tiện, vậy xin đón Đề Hạt về ở trong nhà tôi ít bữa, có lẽ cẩn thận hơn.

– Nhà Viên Ngoại có gần đây không?

– Chỗ tôi ở là Thất Bảo Sơn, cách đây 10 dặm đường.

– Nếu vậy thì tiện lắm.

Triệu Viên Ngoại liền sai người về lấy thêm con ngựa nữa, để mời Lỗ Đạt đi. Trưa hôm ấy có ngựa tới nơi, Viên Ngoại sai người nhà mang khăn gói của Lỗ Đạt, rồi hai người từ giã bố con Kim Lão, mà lên ngựa ra về.

Khi tới nơi Triệu Viên Ngoại cùng Lỗ Đạt xuống ngựa, rồi dắt tay mời vào thảo đường, nhất diện sai người làm cơm thiết đãi.

Lỗ Đạt ở đó được dăm bảy ngày, một hôm cùng với Triệu Viên Ngoại đang ngồi ở thư viện, nói chuyện với nhau, thì bỗng thấy Kim Lão đến chơi.

Kim Lão có dáng cấp bách, nhằm lúc vắng người mà nói rằng:

– Dám thưa ân nhân, hôm nọ ân nhân qua đến nhà tôi, vì Triệu Viên Ngoại không biết đầu đuôi, vội đem người nhà đến toan vây bắt, làm ồn ào cho phố xá ai cũng có lòng ngờ vực, cho nên đến hôm qua có mấy tên công sai lảng vảng dò la xem chừng khẩn lắm, vì sợ khi họ biết ngài ở đây mà đến bắt, thì không tiện cho ân nhân.

Lỗ Đạt nói:

– Nếu vậy thì tôi xin đi chỗ khác cho rảnh.

Viên Ngoại có dáng ân cần mà nói:

– Bây giờ giữ Đề Hạt ở đây, cũng e có điều không tiện thực, song nếu cho ngài đi, thì chúng tôi lại càng không phải lắm, vậy tôi có một kế này, có thể tạm yên mà lánh nạn được, nhưng chẳng hay Đề Hạt có ưng ý hay không?

– Tôi bây giờ đang lúc tội nợ đến nơi, nếu lại được chỗ yên thân, thì còn gì mà không ưng ý?

– Nếu như vậy thì hay lắm, cách đây vào khoảng 30 dặm, có một tòa núi gọi là Ngũ Đài Sơn, trong có viện Văn Thù tức là chùa Đạo Tràng văn Thù Bồ Tát, có năm bảy trăm vị sư tu hành ở đó. Trước đây các cụ tôi bỏ tiền ra tu bổ chùa ấy, công đức rất to mà sư cụ chùa ấy ở đây là Trí Chân Trưởng Giả, lại chính là anh em thân thích với tôi, vậy nếu Đề Hạt có bằng lòng sang ấy, mà cắt tóc đi tu, thì bao nhiêu phí tổn chi tiêu, tôi xin chịu tất.

Lỗ Đạt nghĩ một lúc rồi nói:

– Bây giờ tôi cũng không biết đi đâu cho được, vậy đành phải theo kế ấy là hơn.

Đêm hôm ấy bàn soạn xong rồi, sắm sửa các đồ hành trang lễ vật, rồi đến sáng hôm sau hai người cùng đi sang Văn Thù Viện. Vào khoảng trưa hôm sau đi đến chân núi Ngũ Đài, Lỗ Đạt và Triệu Viên Ngoại đi kiệu lên núi, sai đầy tớ vào chùa báo cho sư cụ biết.

Sư cụ nghe tin vội vàng dẫn đồ đệ đi ra tiếp đón. Khi vào đến phương trượng, sư cụ mời Triệu Viên Ngoại ngồi trên khách vị, còn Lỗ Đạt thì ngồi ở ghế một bên đối diện với sư cụ.

Triệu Viên Ngoại gọi Lỗ Đạt đến bên cạnh bảo thầm rằng:

– Ông định xuất gia, sao lại ngồi đối diện với sư cụ thế?

Lỗ Đạt nói:

– Nào tôi có hiểu ra thế nào ở đâu?

Nói xong, chạy đến ngồi ở phía dưới Triệu Viên Ngoại, còn các vị sư Giám Tự và Thư ký trong chùa, đều theo thứ tự mà ngồi cả hai bên.

Bấy giờ người nhà Triệu Viên Ngoại đem các thứ lễ vật đến bày ở trên mặt án, trước chỗ sư cụ ngồi. Sư cụ trông thấy cười bảo Viên Ngoại rằng:

– Sao người cho lễ vật luôn như thế, thực là phiền cho người lắm.

– Gọi là có chút lễ mọn xin Hòa thượng nhận cho, có chi mà dám nói là nhiều, vả lại tôi có một việc muốn sang kêu với ngài, xin ngài từ mẫn đi cho. Nguyên là tôi có một người biểu đệ họ Lỗ, trước đây đã theo đòi việc quân ở Quan nội, vì nay thấy chuyện đơiø man mác lắm nỗi đắng cay, muốn tình nguyện để xuất gia đầu Phật. Vậy dám mong Hòa thượng lấy lòng từ bi quảng đại mà chấp nhận cho, còn các việc phí tổn thế nào, tôi xin cáng đáng.

– Nếu vậy cũng là vẻ vang cho cửa Phật, lão sư tôi xin vui lòng nghinh tiếp ngay, bây giờ xin mời các vị xơi nước đã.

Uống nước xong rồi, sư cụ gọi lũ Giám Tự và Thư Ký, đến bàn chuyện cho người vào đầu Phật, và sai dọn cơm chay để thiết đãi hai người.Khi ấy chư tăng bàn vụng với nhau:

– Anh chàng này trông hai con mắt hung ác thế kia thì tu hành sao được? Ta nên vào bẩm với sư cụ để người xét kỹ xem sao.

Đoạn rồi chư tăng cử một người vào mời Triệu Viên Ngoại và Lỗ Đạt ra ngồi ở khách sạn, rồi cùng vào bẩm riêng với sư cụ rằng:

– Người vừa rồi trông dáng dữ tợn hung hăng, mặt mũi thô bỉ như thế, nếu sư cụ cho ở chùa này, chỉ e sau đây sinh sự khó chịu gì chăng?

Sư cụ nói:

– Người ấy là anh em của Triệu Viên Ngoại, công đức ở chùa ta, có lẽ nào mà không nhận được, các ngươi cứ an tâm, để ta xem thử ra sao?

Nói xong thắp một nén hương, ngồi xếp bằng tròn, miệng đọc mấy câu thần chú, rồi nhắm mắt ngồi im một lúc, đến khi cháy hết nén hương, mới mở mắt bảo chư tăng rằng:

– Được rồi, các ngươi không ngại, người ấy tuy bây giờ trông dáng hung hăng như thế, song trên ứng với Thiên Tinh mà giữ lòng ngay thẳng, sau này chứng quả rất to, có lẽ các ngươi không bằng được, vậy chớ nên trở ngại làm chi?

Chư tăng nghe vậy, không dám nói năng gì nữa, sư cụ liền sai dọn cơm lên mời khách thụ trai, thụ trai xong rồi, Viên Ngoại bỏ tiền ra sai người sắm sửa lễ vật, và may mũ áo, sắm giầy dép nhà chùa cho Lỗ Đạt.

Ngày hôm sau các vật liệu đã chuẩn bị sẵn sàng, chư tăng ăn mặc lễ phục, đội mũ pháp giới, mặc áo cà sa, ngồi sắp hàng hai bên pháp tọa, còn sư cụ thì ngồi trước Phật đài, bày các đồ lễ phẩm lên trên, rồi thỉnh chuông niệm Phật mà đọ sớ dâng hương, khi đọc sớ xong, đạo đồng dẫn Lỗ Đạt đến trước pháp tọa, bỏ khăn mũ đi rồi, đạo đồng lấy dao cắt tóc.

Bấy giờ Lỗ Đạt đã thấy đầu trọc lóc, duy còn mấy cái râu cong ngược ở mép về cằm, thì ra dáng đắc chí mà rằng:

– Phải, để mấy cái râu này cho mỗ thì thú lắm?

Chư tăng nghe nói buồn cười đến chết, song có sư cụ ở trên, cho nên không ai dám hở răng nữa.

Sư cụ cùng chư tăng lại đồng thanh đọc mấy câu kệ, rồi đạo đồng cắt xoẹt cả râu ria Lỗ Đạt, không còn để lại chút gì.

Đoạn rồi sư cụ đặt pháp danh Lỗ Đạt là Trí Thâm, và giao cho các đồ pháp giới cà sa cùng gậy, giầy nhà Phật.

Trí Thâm ăn bận nhà chùa tử tế, rồi Giám Tự dắt vào trước pháp tọa, sư cụ làm phép mà đọc rằng:

– Phép tu hành: Điều thứ nhất, phải noi theo Phật tính; Điều thứ nhì, giữ gìn khuôn phép; Điều thứ ba, phải theo bạn theo thầy; thế gọi là Tam quy. Còn như ngũ giới thì: Một là không được giết loài sống; Hai là không được trộm cắp; Ba là không được tà dâm; Bốn là không được ham rượu; Năm là không được nói càn, năm điều ấy có giữ được không?

Trí Thâm bỏm bẻm trả lời:

– Đã, tôi nhớ rồi.

Chư tăng ai cũng bật cười không nhịn được.

Bấy giờ các lễ đã xong, Triệu Viên Ngoại mời tất cả các chư tăng ra chỗ Vân Đường rồi đồ tự dẫn Trí Thâm, đi chào các sư huynh sư đệ khắp cả một lượt đến chiều mới xong.

Sáng hôm sau Triệu Viên Ngoại sắp sửa ra về, sư cụ cùng tất cả tăng đồ đều đưa chân xuống cửa núi, Viên Ngoại quay lại nói với chư tăng rằng:

– Em Trí Thâm xưa nay vốn tính thô mãng ăn nói tục tằn vậy, trong khi ở đây ăn mày lộc Phật, lỡ có điều không phải, dám xin hòa thượng, và dưới các sư phụ đều lấy lòng từ mẫn thương đến tôi, mà tha thứ tội đi cho, thì tôi được đội ơn vạn bội.

Sư cụ đáp:

– Viên Ngoại cứ yên tâm, tiểu tăng tôi xin hết lòng uốn nắn dần dần mới được.

Viên Ngoại lại gọi Trí Thâm ra dưới gốc cây tùng, mà dặn nhỏ rằng:

– Hiền đệ ở đây không phải chỗ bình thường, phàm việc gì cũng nên cẩn thận chớ để lỡ ra mà khó xử trí về sau. Còn tiền nong áo xống, thì tôi khắc xin chu tất cả cho.

Trí Thâm gật đầu nói:

– Việc ấy quan bác không phải dặn, tôi đây xin y lời được cả.

Khi đó Triệu Viên Ngoại bái từ sư cụ cùng các tăng đồ, và Trí Thâm mà trở về nhà.

Lỗ Trí Thâm thấy viên ngoại về rồi, một mình vơ vẫn đi vào Phật đài, nằm vật xuống sập mà ngủ ngay một giấc.

Các tăng đồ thấy vậy, thì túm đến dựng dậy mà bảo rằng:

– Đã xuất gia thì phải học ngồi, chứ nằm thế này không được.

Trí Thâm giận mà nói:

– Việc ta ta ngủ, có can gì đến các ngươi?

Nói xong lại nằm vật xuống ngủ, không ai còn ngăn cản được.

Sáng hôm sau bọn tăng đồ toan lên mách với Hòa thượng, nhưng có một người gạt đi mà rằng:

– Sư cụ đã nói về sau tất hắn hơn cả chúng ta vậy ngày nay có nói cũng vô ích thôi mặc quách hắn là xong.

Trí Thâm không thấy ai nói đến càng tự do hơn trước, cứ chưa tối thì đã nằm sóng sượt ra sập để ngủ, tiếng gáy ầm ầm như sấm động, rồi lại phóng uế ra khắp cả đằng sau điện, làm cho bẩn thỉu không ai chịu được. Lũ tăng bất đắc dĩ phải vào bẩm với sư cụ.

Sư cụ gạt đi rằng:

– Thôi, nên nể mặt Triệu Viên Ngoại, cứ để cho hắn ở đây, rồi sau hắn phải sửa đổi dần đi.

Từ đó không ai dám nói đến Trí Thâm nữa.

Lỗ Trí Thâm ở Ngũ Đài Sơn được 4, 5 tháng trời, rất lấy làm khó chịu, một hôm gặp buổi mát trời, chàng ta mặc áo thắt đai chân vận đôi giày thầy chùa, đi lững thững ra mái đình, ở lưng chừng sườn núi, ngồi chơi vơ vẫn một mình. Trong bụng chợt nghĩ:

“Ta mọi khi vẫn cứ rượu ngon thịt béo ăn uống luôn mồm, thế mà bỗng dưng dắt ngay vào đây làm một bác thầy chùa, ăn không được ăn, uống không được uống, như thế có tức hay không? Lão Triệu Viên Ngoại mấy hôm nay cũng không thấy sai người đưa gì đến đây, cho ta chén cả, không biết làm cách gì có rượu uống cho đỡ thèm bây giờ?”.

Đương nghĩ vẫn vơ như vậy, thì thấy một anh chàng quẩy hai thùng rượu ở chân núi đi lên, miệng hát nghêu ngao:

Non xa có phải chiến trường?

Mục đồng nhặt ngọn gươm tàn ngày xưa.

Gió dồn ngọn nước sông ô,

Nỉ non như tiếng Ngu Cơ biệt chồng.

Lỗ Trí Thâm thấy anh chàng đi vừa hát, khi lên đến mái đình, thì đặt gánh xuống ngồi nghỉ, liền cất tiếng hỏi rằng:

– Anh kia gánh những gì trong thùng đó?

– Thưa tôi gánh rượu đây?

– Rượu bao nhiêu tiền?

– Hòa thượng hỏi đùa làm gì thế?

– Ta lại đùa với ngươi hay sao? Ta hỏi thực đó.

– Rượu này tôi gánh lên trên núi, để bán cho đám kiệu phu, đám nhà bếp, cùng các nàng quán họ mua, chứ như ở trong chùa, thì sư cụ đã có lệnh cấm, nếu ai bán rượu cho các vị sư, tất là bị phạt tất cả tiền rượu, mà còn bị đuổi đi ngay lập tức, vậy hòa thượng hỏi làm chi?

Lỗ Trí Thâm cáu lên mà rằng:

– Thế thì ngươi không bán cho ta hay sao?

– Hòa thượng giết, tôi cũng không dám bán.

– Ta không giết ngươi để làm gì, ta chỉ hỏi mua rượu của ngươi để uống thôi.

Anh kia xem chừng núng thế, không cự nổi được hòa thượng, liền nhắc gánh lên vai mà chạy, Trí Thâm vùng dậy đuổi theo, nắm lấy gánh rượu, rồi đá cho anh chàng kia một cái, ngã lăn queo xuống đất, rồi hai tay xách hai thùng rượu, đi lên mái đình, ngồi khật khà khật khưỡng một mình múc rượu mà uống. Được một lát uống hết hẳn một bên thùng rượu, liền gọi tên bán rượu mà bảo rằng:

– Rượu ta mới uống có một thùng, sáng mai đến đây mà lấy tiền.

Bấy giờ anh kia mới lóp ngóp bò dậy, vừa đau đớn vì bị đá, vừa phần sợ sư cụ biết, thì khổ tới thân, đành phải im hơi.

Khi ấy Lỗ Trí Thâm nghe trong mình đã say sưa nóng nảy, liền cổi áo bỏ mũ cho mát, rồi khệnh khạng đi thẳng về chùa.

Vừa khi lên tới cổng chùa, hai tên canh cửa cầm roi chạy ra ngăn lại mà cự rằng:

– Anh là người tu hành, mà sao lại say sưa như thế? Sư cụ đã ra lệnh cho các hòa thượng, nếu ai phá giới uống rượu thì phạt đánh 40 roi, bằng những người canh cổng để cho các sư say rượu vào chùa thì cũng phải phạt đòn một chục. Vậy anh đi xuống ngay đi, thì tôi tha cho mấy chục roi đòn ấy.

Lỗ Trí Thâm vừa bước chân vào cửa thiền môn, tính cũ vẫn còn hăng hái, nay nghe thấy lũ kia nói vậy, thì trừng mắt lên mà nói rằng:

– A! Quân này gớm thực, bây muốn đánh nhau, thì ta đánh nhau, cho mà xem.

Hai tên kia thấy vậy, thì một tên chạy vội vào trong chùa, còn một tên giả cách giơ roi ra để giữ Trí Thâm lại. Trí Thâm sốt ruột sấn vào gạt hất đầu roi đi, rồi tát cho tên kia một cái, lộn chúi vào trong cổng. Tên kia vừa ngóc đầu toan dậy, lại bị Trí Thâm đánh cho một quyền ngã gục xuống đất, kêu ám ỹ cả, rồi Trí Thâm vừa vội vội vàng vàng vừa chạy vào chùa, vừa quay lại nói rằng:

– Ông hãy tha cho mầy đấy.

Trong kia Giám Tự nghe thấy tên canh cửa vào bảo, thì vội vàng gọi những tên nhà bếp cùng là phu kiệu, tất cả tới hai ba mươi người đều cầm roi vác gậy đổ ra ngăn cản Trí Thâm.

Trí Thâm thấy vậy thét lên một tiếng như sấm vang trên núi rồi phóng bộ vào toan đánh. Đám kia thấy Trí Thâm ra dáng hung tợn thì ai nấy đều sợ hãi cùng nhau nấp vào trong điện mà khép cửa lại. Trí Thâm đẩy sấn vào trong điện đánh cho anh nào anh ấy chạy tháo chân không kịp. Giám Tự thấy nguy cấp đến nơi, hớt hải chạy vào báo cho sư cụ biết.

Sư cụ nghe nói mải mốt, dẫn mấy tên đồ đệ chạy đến chỗ Lỗ Trí Thâm mà nạt rằng:

– Trí Thâm không được vô lễ ở đây.

Lỗ Trí Thâm tuy bấy giờ say rượu, nhưng cũng biết sợ sư cụ một chút liền chạy đến gần trước mặt vái chào sư cụ rồi trỏ xuống dưới điện mà thưa rằng:

– Trí Thâm này uống có mấy hớp rượu, cũng không chọc ghẹo đến ai thế mà họ lại kéo nhau đến đánh là nghĩa gì vậy?

Sư cụ kiếm lời đấu dịu mà rằng:

– Ngươi hãy nghe lời ta mà đi ngủ đi, rồi đến mai sẽ hay.

Trí Thâm vâng lời rồi nói một mình rằng:

– Nếu ta không nể lời sư cụ thì tất là đánh chết chúng bây mới thôi.

Nói đoạn sư cụ sai đồ đệ đưa Trí Thâm về tăng phòng để nghỉ.

Bấy giờ chư tăng lại phàn nàn với sư cụ rằng:

– Hôm nay sư cụ nghĩ thế nào? Phỏng có dung người ấy ở trong chùa để làm loạn thanh quý nữa hay không?

– Bây giờ vẫn biết rằng như thế, nhưng sau này làm thế nào hắn cũng có ứng quả to, vả chăng mình cũng phải nể mặt ông Triệu Viên Ngoại, mà hãy dung thứ cho hắn, rồi mai ta sẽ dặn bảo hắn thì tất là hắn cũng tỉnh ra dần dần.

Chư tăng nghe nói ai cũng cười thầm, mà không dám nói gì.

Sáng hôm sau sư cụ sai người gọi Lỗ Trí Thâm đến mà bảo rằng:

– Triệu Viên Ngoại đưa ngươi đến đây, để ăn chay niệm Phật, ta đã răn bảo các lẽ, phàm nhà tu hành là không được sát sinh, hai là không được trộm cướp, ba là không tà dâm, bốn là không được ham rượu, năm là không được nói càn, có giữ được năm điều ấy, mới là đắc đạo; nay ngươi mới tới đây được ít lâu, mà đã rượu chè be bét, đánh hết người này đến người kia, làm cho ầm ĩ cả chùa lên, như thế là nghĩa làm sao?

Trí Thâm quỳ xuống mà đáp rằng:

– Từ nay không dám như thế nữa.

Sư cụ lại nghiêm trách rằng:

– Một người xuất gia đầu Phật, mà rượu chè be bét, làm hại đến thanh quý như thế, nếu ta không nể lòng Triệu Viên Ngoại, thì ta không dung ở chùa này nữa, vậy từ nay ngươi hãy liệu thân mà chừa đi mới được.

Trí Thâm cung kính vâng lời mà đoan rằng:

– Không bao giờ dám làm như thế nữa.

Đoạn rồi sư cụ lưu Trí Thâm ở phương trượng, cho cùng ngồi ăn cơm, mà lấy lời khuyên bảo mơn man, khiến cho trong lòng tự hối mà tỉnh ngộ ra dần. Cho hay:

Cương cường bạo ác đến đâu,

Nước mưa đạo đức tưới lâu cũng mềm.

Lỗ Trí Thâm từ khi phải một bữa say hôm ấy, rồi đến ba tháng trời không hề dám bước chân ra khỏi cửa chùa nữa. Chợt có một hôm chiều trời ấm áp, đương độ tháng hai, một mình ngồi buồn bã ở chốn tăng phòng, liền lững thững dạo ra chơi mát. Khi đi đến sườn núi Ngũ Đài đương đứng xem phong cảnh làm vui, bỗng nghe thấy tiếng lóp đóp lát chát ở đàng xa đưa đến, Trí Thâm vội về tăng phòng, lấy thêm ít tiền bỏ vào túi rồi lững thững ra đi.

Một mình vơ vẫn đi mãi đến núi Ngũ Đài thì thấy cửa nhà đông đúc, hàng quán xôn xao, uyển nhiên là một nơi thành thị, Trí Thâm tự nghĩ tự bụng:

– Nếu ta sớm biết đây có phố xá hàng quán thế này, thì những khi cao hứng phải xuống đây đánh chén, can chi mà phải cướp rượu của ai.

Bụng nghĩ chân đi, vừa đến trước một cửa hàng thợ rèn, có mấy người đương ngồi đánh rèn tại đó, Trí Thâm liền đi thẳng vào trong hàng quán mà hỏi rằng:

– Các anh làm thợ rèn ở đây, có thép tốt hay không?

Anh thợ rèn ngẩng trông lên thấy Lỗ Trí Thâm, tuy ăn mặc lối nhà chùa, song mặt mũi dữ tợn, mà mái tóc lại giở ngắn giở dài, trong bụng cũng có phần kinh sợ, bèn mời Trí Thâm ngồi mà hỏi rằng:

– Chẳng hay hòa thượng muốn đánh vật gì để dùng?

– Ta muốn đánh một cây thuyền trượng, và một thanh giới đao, nhưng không biết rằng có thép tốt hay không?

– Bẩm có, hòa thượng định dùng bao nhiêu cân, để đánh thuyền trượng?

– Ta muốn đánh cây thuyền trượng nặng 100 cân, có thép tốt hay không?

Phó rèn cười mà đáp rằng:

– Bạch hòa thượng, thế nào mà tôi đánh không được, nhưng chỉ sợ hòa thượng không dùng nổi mà thôi, đến như cây đại đao của đức Thánh Quan ngày trước, cũng chỉ có 80 cân nữa là…

Trí Thâm cau trán mắng rằng:

– Ta đây lại không bằng Quan Công à? Hắn cũng là người chứ gì?

– Cứ như ý chúng tôi, chỉ đánh vào khoảng 40, 50 cân, cũng nặng lắm rồi.

– Ừ thôi ta cũng nghe lời anh, cứ đánh 80 cân và nặng bằng cây đao của Quan Công cũng được.

Phó rèn nghĩ một lát rồi nói:

– Tôi thiết tưởng sư phụ to béo như thế, mà cầm cái cây gậy nặng quá thì không tốt, vậy tôi xin chọn thứ thép tốt đánh độ 62 cân cũng được, còn thanh giới đao thì tôi hiểu rồi, bất tất phải nói nữa.

Trí Thâm gật đầu nói:

– Cũng được, tất cả hai cái ấy, ngươi lấy bao nhiêu tiền?

– Tôi không nói thách, xin sư phụ cứ cho đủ năm lạng bạc mới được.

Trí Thâm đưa tiền mà nói:

– Được, 5 lạng ta cũng trả cho anh, nếu anh đánh được tốt, thì ta thưởng thêm cho.

Phó rèn nhận tiền rồi nói:

– Chúng tôi xin đánh cẩn thận cho sư phụ.

Lỗ Trí Thâm lại bảo với phó rèn rằng:

– Ta còn ít tiền lẻ ở đây, anh đi mua rượu về uống với ta một thể cho vui.

Phó rèn nghe nói từ chối rằng:

– Tôi bận việc làm ăn, không thể hầu rượu ngài được, vậy xin sư phụ cứ tự tiện cho.

Trí Thâm đứng dậy, ra khỏi nhà lò rèn, được dăm ba mươi bước thì thấy có hàng rượu ở đó liền bước rảo cẳng, vào hỏi mua rượu để uống.

Nhà hàng thấy vậy, không dám bán mà nói rằng:

– Sư cụ trên chùa đã truyền lệnh, chúng tôi không được bán rượu cho cho các vị sư, nếu mà bắt được bán vụng thì tất phải phạt, mà tịch ký cả tiền, vậy xin sư phụ tha lỗi cho, không khi nào chúng tôi dám như thế.

Trí Thâm thấy vậy, đành phải ra đi, tìm hàng khác. Ngờ đâu đi đến dăm bảy hàng, mà không hàng nào bán cả, Trí Thâm lấy làm tức giận, lẩm bẩm nói một mình rằng:

– Ta không nghĩ được kế gì mà uống rượu lấy một bữa, thì tức quá.

Chợt đâu trông thấy phía cuối chợ đằng xa, phảng phất có Hạnh Hoa Thôn ở đó, Trí Thâm nghĩ ngay ra một kế, rồi xăm xăm đến hàng rượu vắng vẻ quạnh quẽ bước vào ngồi ở gần cạnh cửa sổ gọi chủ hàng mà bảo rằng:

– Tôi ở đằng xa qua tới chốn này, muốn mua rượu uống chơi, xin chủ nhân bán cho tôi một ít.

Chủ hàng nhìn Trí Thâm một lượt rồi hỏi rằng:

– Hòa thượng ở đâu mới tới đây?

– Tôi là người tăng lữ ở đường xa đi qua đây thôi.

– Nếu có phải người tu hành ở trên chùa Ngũ Đài, thì tôi không bán.

– Không phải, cứ đem rượu ra đây bán cho tôi.

Chủ hàng nhận kỹ Trí Thâm, vừa phần lạ mặt, vừa phần lạ tiếng thổ dân thì cũng tin cho là thực, liền hỏi ngay rằng:

– Người định lấy bao nhiêu rượu?

– Không cần phải hỏi, hãy cứ mang cho tôi mấy be lớn đã.

Chủ hàng đem rượu đến, Trí Thâm uống luôn mấy mươi be một lúc rồi quay ra hỏi chủ hàng rằng:

– Ở đây có thịt thà gì đem bán cho tôi một thể?

Chủ hàng nói:

– Thưa ngài, sáng hôm nay hàng tôi vẫn có thịt bò nhưng bây giờ bán hết cả rồi.

Vừa nói xong thì Lỗ Trí Thâm ngửi thấy mùi thịt thơm xông đặc lên mũi, liền đứng dậy chạy vào sân trong, thấy bên cạnh tường có nồi thịt chó đương nấu bèn bảo với chủ hàng rằng:

– Trong nhà có thịt chó sao bác không bán cho tôi?

– Thưa ngài, tôi sợ những người xuất gia không xơi được thịt chó, cho nên không dám bán cho ngài.

Trí Thâm nói:

– Tôi có tiền đây, sao lại không ăn được?

Nói xong liền lấy tiền đưa cho chủ hàng mà bảo rằng:

– Tiền đây hãy bán cho tôi nửa quầy.

Chủ hàng mãi mốt lấy nửa quầy thịt chó mang ra để trước mặt bàn. Trí Thâm trông thấy cả mừng giơ tay cầm lấy đùi chó vừa xé vừa ăn, lại vừa uống hết mươi be rượu nữa. Khi ấy trong bụng hãy còn thòm thèm liền gọi chủ hàng ra để mua thêm.

Chủ hàng có ý ngần ngại mà từ chối rằng:

– Bạch ngài chỉ còn có ngần ấy mà thôi.

Trí Thâm nghe nói tức giận quắc mắt lên mà hỏi:

– Ta ăn không của ngươi hay sao? Mà ngươi hạn cho ta có bằng ấy?

Chủ hàng nghe giọng hòa thượng đã có hơi rượu thì không dám dùng dằng, liền hỏi ngay rằng:

– Ngài định mua bao nhiêu nữa?

– Ngươi cứ đem một thùng nữa ra đây.

Chủ hàng bất đắc dĩ lại phải mang một thùng rượu nữa ra. Trí Thâm gật gù ngồi uống mãi đến hết cả thùng rượu mới thôi. Bấy giờ còn thừa lại nửa quầy thịt nữa, Trí Thâm lại đút túi để mang về. Khi ra đến cửa còn quay lại mà bảo chủ hàng rằng:

– Ngày mai nếu có tiền, thì tôi lại đến đây nhé?

Nói xong quay gót sồng sộc đi thẳng về lối Ngũ Đài Sơn, chủ hàng trông thấy chỉ lắc đầu le lưỡi mà không dám nói làm sao cả.

Trí Thâm đi về đến mái đình ở lưng chừng núi ngồi đó một hồi, nghe hơi rượu đã bốc lên nồng nực, liền đứng dậy mà nói một mình:

– Ta lâu nay không đi bài côn bài quyền nào, nghe trong mình không được khỏe mạnh, bây giờ tiện đây thử giở vài ngón xem sao?

Nói đoạn đi xuống sân đình, xắn hai tay áo lên, rồi đánh bên nọ đánh bên kia, hắt lên đá xuống, lấy sức lấy gân, múa may một mình, đoạn rồi chạy lên đánh vào các cột ở góc đình một quyền rất mạnh, làm cho các cột gãy hẳn ra đôi đoạn, mà một bên góc mái đình cũng đổ khịu xuống.

Bấy giờ bọn canh cổng ở trên nghe thấy tiếng đánh sầm giữa lưng chừng núi, ngó cổ ra nom thì thấy Lỗ Trí Thâm đương chân thấp chân cao đi sồng sộc lên núi, bèn cùng lắc đầu mà bảo nhau rằng:

– Khổ chưa! Thằng súc sinh hôm nay lại say quá chén nữa rồi, chúng ta phải đóng cổng lại mới được.

Nói đoạn họ khép hai cánh cổng chùa, khóa chặt lại tử tế, rồi cùng đứng vào chỗ khe cửa mà nom ra, thì thấy Lỗ Trí Thâm vừa đi tới nơi giơ tay đập cửa mà gọi ầm ầm lên như hổ thét.

Lũ canh cỗng cứ đứng yên đó, không ai dám mở cổng ra.

Trí Thâm lại đập gõ hồi lâu không ai chịu mở, quay cổ ra phía cổng bên tả, thấy có pho tượng Kim Cương ở đó, liền quát lên rằng:

– Thằng quái này to lớn như thế, mày không mở cử cho ta, lại còn giơ quyền để dọa ta à? Nói thiệt ta đây không sợ mày đâu?

Nói dứt lời rồi nhảy tót lên bệ, vớ thanh củi nhằm cẳng tượng mà vụt lấy vụt để, bao nhiêu những phấn son sơn nhựa, đều long bật ra cả.

Lũ canh cổng nom thấy vậy cả kinh, mải mốt bảo nhau chạy vào báo với sư cụ.

Ngoài kia Trí Thâm đứng đợi hồi lâu, không có ai ra mở cửa, lại quay cổ nom sang bên hữu cũng thấy pho tượng Kim Cương ở đó, rất tức giận quát to lên rằng:

– Lại thằng này cũng há hốc miệng mà cười ta nữa hay sao?

Đoạn rồi cũng nhảy lên bệ, đá luôn vào cẳng pho tượng mấy cái đổ lăn đùng xuống đất, mà đứng cười ha hả một mình.

Khi đó lũ canh cổng chạy vào báo với sư cụ, thì sư cụ gạt đi mà bảo rằng:

– Thôi các ngươi cứ ra đi, để đấy mặc hắn.

Vừa nói xong thì lại thấy lũ Giám Tự và Thủ Tự chạy mải mốt vào mà bạch rằng:

– Thằng khốn nạn hôm nay lại say rượu quá, hắn đã đánh đổ cả mái đình, và đương phá hủy hai pho tượng Kim Cương ở ngoài kia.

Sư cụ nghe nói vậy, cũng chỉ ung dung mà đáp lại rằng:

– Xưa nay đến ông Thiên Tử còn sợ thằng say rượu, huống chi chỉ là lũ thầy chùa? Còn như hai pho tượng Kim Cương cùng mái đình kia, nếu hắn có đánh hỏng ở đâu, thì đã có Triệu Viên Ngoại làm đền ở đấy, can chi mà nói cho phiền.

Chư tăng có ý không bằng lòng mà nói:

– Pho tượng Kim Cương là chúa tể ở cửa rừng cửa núi, có lẽ nào mà thay đổi dễ dàng như thế được?

Sư cụ lại cười mà đáp:

– Cứ gì pho tượng Kim Cương, cho đến hắn phá hỏng ngay tòa Phật Tam Thế cũng mặc lòng hắn vậy, chứ còn biết làm sao được? Các ngươi không nhớ chuyện hung tợn bữa trước hay sao?

Lỗ Trí Thâm đứng ở ngoài đợi mãi không có ai mở cửa cho thì nóng tiết mà quát:

– Đồ ăn mày kia, không mở cửa cho ta vào, thì ta cho một mồi lửa đốt tiệt cả chùa chiền bây giờ.

Chúng tăng nghe thấy vậy, thì anh nào anh nấy đều phải kinh sợ gọi người canh cổng bắt mở cửa cho Trí Thâm vào.

Lũ canh cửa cũng rung sợ khiếp kinh, sẽ rón rén đến rút cái then khóa ra, rồi bỏ mặc cửa khép đấy mà chạy trốn mất cả.

Bấy giờ chúng tăng cũng bỏ mà chạy trốn cả, Lỗ Trí Thâm sốt ruột không thể nào đợi được, liền giơ hai tay mà đẩy cửa một cái thật mạnh. Dè đâu then cửa ở trong đã tháo ra rồi, cho nên vừa đẩy tay vào một cái thì cánh cổng mở tung hẳn làm cho Trí Thâm ngã ngay sấp mặt vào trong cổng, đoạn rồi lại mải mốt đứng dậy, mà xoa đầu xoa mặt, chạy sộc vào trong phòng.

Khi ấy có mấy vị sư đương ngồi ở trai đường với nhau, bỗng thấy Trí Thâm ở đâu lập cập bước vào, mặt đỏ bầng bầng như nước tượng sơn son, thì ai nấy kinh ngạc đều cúi đầu xuống, mà không dám ngẩng đầu lên nhìn, đoạn rồi thấy Trí Thâm chạy vào đến giường nằm vật xuống đấy, mà ghé cổ ra đất nôn mửa thốc tháo; làm cho mọi người ngồi đấy, đều bưng mũi lắc đầu không sao nhịn được.

Trí Thâm nôn mửa hồi lâu, rồi lại ngồi chổm lên giường cởi áo bỏ mũ, bứt đứt cả thắt lưng, rồi lại lấy quầy thịt chó giắt ở trong bọc ra, mà nói một mình rằng:

– Tốt lắm! Bây giờ bụng lại đương đói đây, ta đem ra mà nhắm đi thôi.

Nói xong vừa xé thịt chó vừa ăn nhồm nhoàm ở miệng, rồi quay trước quay sau trông thấy mấy vị sư đương lấy vạt áo bịt mũi ngồi gần ở đó, liền giơ miếng thịt chó sang một bên kia mà bảo rằng:

– Các bác có ăn thịt chó không?

Vị sư ấy mải mốt nhảy xuống giường toan chạy, bất đồ bị Trí Thâm nắm tay kéo lại mà nhét cả vào mũi vào mồm không sao cựa được. Các sư kia thấy vậy túm đến để gỡ ra, thì Trí Thâm giơ ngay cẳng tay đánh vung xích chó, làm cho chư tăng và các khách nhà chùa đều chạy tán loạn.

Giám Tự thấy vậy, không đợi nói cho sư cụ biết, liền cho gọi tất cả nhà bếp phu kiệu, cùng các vị chức vụ ở trong chùa, có tới hai trăm người đều cầm côn gậy đi vào tăng đường để chống cự lại.

Trí Thâm trông thấy thế, thì thét lên một tiếng rất to, rồi chạy ngay vào Phật đường, vớ ngay cái án thư ở trước điện, mà bẻ lấy hai cái chân án làm khí giới xông ra để đánh, chư tăng thấy khí lựcTrí Thâm mạnh tợn quá chừng, thì anh nào cũng chùn tay lại, mà không dám địch; Trí Thâm thừa thế đuổi tràn cho đến pháp đường, mà đánh vung cả lên, không còn nể sợ điều chi.

Vừa khi ấy thì thấy sư cụ ở pháp đường quát lên rằng:

– Trí Thâm không được vô lễ thế! Các sư cũng phải im đi.

Chư tăng nghe sư cụ nói, thì tản mát mỗi người đi mỗi nơi, không dám vẫn vơ quanh đấy. Còn Trí Thâm thấy chúng tăng đã tản mát rồi, cũng vất vả hai cái chân án xuống mà nói rằng:

– Xin sư cụ làm chứng cho tôi.

Bấy giờ sư cụ thấy Trí Thâm đã hơi có dáng tỉnh rượu, liền bảo rằng:

– Ngươi là phiền lụy ta quá! Mới hôm nọ say rượu làm ầm cả lên, ta phải gửi giấy cho Triệu Viên Ngoại để viết thư sang tạ lỗi với chúng tăng, thế mà hôm nay lại say sưa làm loạn đến thanh quý đánh gãy cả tượng Kim Cương, đổ cả mái đình ở ngoài núi, rồi lại đánh nhau với chư tăng, như thế thì tội ác biết đâu mà kể! Đạo Tràng Văn Thù Bồ Tát ở núi Ngũ Đài đây, là một nơi hương lửa thanh tĩnh biết mấy ngàn năm trời, nay có thể nào dung một người bậy bạ như thế mãi được! Ngươi hãy theo ta vào đây, rồi ta liệu cho ngươi ở một chỗ khác mới được.

Trí Thâm theo sư cụ vào trong phương trượng, sư cụ liền nhất diện sai gọi khách nhà chùa cho đâu vào đấy, nhất diện sai gọi chư tăng đi yên nghĩ hẳn hoi, rồi giữ Trí Thâm ngủ ở đó một tối.

Sáng hôm sau sư cụ mưu cùng chư tăng, viết thư sang kể hết đầu đuôi cho Triệu Viên Ngoại biết, và hứa xin cho Trí Thâm đi một nơi khác.

Triệu viên Ngoại tiếp được thư của sư cụ, liền viết giấy trả lời, hẹn xin các nơi phá hoại đều sẽ xuất tiền tu bổ đền, còn Trí Thâm thì tùy ý sư cụ xử cho.

Sư cụ xem thư của Triệu Viên Ngoại, liền sai đồ đệ lấy ra mấy bộ mũ áo của nhà sư, và 10 lạng bạc, rồi gọi Lỗ Trí Thâm đến mà bảo rằng:

– Ngươi ở đây đã mấy phen say sưa chè rượu, lỗi đạo tu hành như thế, ta không thể nào dung túng được nữa, song ta cũng nể chút lòng Triệu Viên Ngoại bên kia, vậy ta cho ngươi một bức thư này, để đi tìm một chỗ mà yên thân, từ sau phải tỉnh hối dần đi mới được. Đây ta có câu đoán trước để về sau ngươi sẽ nghiệm dần.

Cho hay:

Cửa thiền vừa thuở vui chơi,

Cũng toan chợp mắt sự đời bỏ qua,

Hay đâu trần hải phong ba,

Lửa lòng hồ dễ ai mà tưới tan?

Một bầu nhiệt huyết chan chan,

Thân này nợ với giang san còn nhiều,

Sá chi mặt nước cánh bèo,

Nam nhi hồ thỉ biết liều mới gan…

Lời bàn của Thánh Thán:

Xem sách cần phải tinh ý, không thể đọc qua văn rồi chẳng nghĩ đến. Như hồi này tả Lỗ Đạt gặp Kim Lão, rồi xoay đến vào chùa Ngũ Đài Sơn. Xét Kim Lão làm gì đưa nổi Lỗ Đạt đến Ngũ Đài Sơn? Đấy là sự bất đắc dĩ, chỉ cậy vào thân phận của Thúy Liên, mà nảy ra một Triệu viên Ngoại. Sở dĩ có Triệu Viên Ngoại, cốt làm cho Lỗ Đạt đi Ngũ Đài Sơn, chứ phải đâu ở huyện Nhạn Môn Đại châu, lại có một Viên Ngoại tốt đến như thế? Cho nên trong văn tự phải quay lại phía Lỗ Đạt mà xuất hiện ra, tả chỗ Viên Ngoại rất yêu chuộng những tay côn quyền mà nghĩa khí mới được. Phải xét đến đoạn văn Kim Lão cho biết, cháu gái thường thường nói với Viên Ngoại, về ân nhân là người như thế nào, khiến Triệu Viên Ngoại kính mến. Đó chỉ là dụng tình một ái thiếp, mà nên như vậy. Đoạn văn sau Lỗ Đạt làm loạn Ngũ Đài Sơn, Viên Ngoại không nói câu gì phàn nàn thấy tấm lòng Viên Ngoại đã hết sức. Độc giả nếu không xét tới, thì chả còn biết ngựa trâu, cái đực thế nào?

Tả nhà Kim Lão chỉ là phụ, tả Ngũ Đài Sơn lại là chính, thực là bút Sử mã phục sinh.

Tả Lỗ Đạt hai lần dùng rượu, cho rõ ra bản ngã con người, viết làm sao chương cú không ai ngờ tới? Thực khó lắm thay? Thế mà tác giả tả nổi, việc rất khó ở trong rất khó kia, khéo tả hai lần dùng rượu tiếp liên, phải làm cho cách quãng, nếu không tả cách quãng, thì Lỗ Đạt chỉ ngày ngày dùng được rượu hay sao? Nay làm cho độc giả đã thấy một lần bị cấm, lại thấy một lần sau nữa hiện ra, khiến cho tai mắt không tưởng tượng nổi, vậy phải tả cách quãng, liệu bút chép ra, vì Chân Trí Trưởng Lão thường khuyên Lỗ Đạt theo cấm giới của kẻ tu hành, nay đột nhiên trật ra ngoài đề, tưởng không còn uống được nữa, thế mà xuống núi Ngũ Đài Sơn, lại sinh ra chuyện uống rượu, mới hay tác giả bút lực tài tình.

Hồi 4: Chàng bé gan kinh hồn nơi ngọc trướng – Chàng to bụng ra sức xóm đào hoa

Bấy giờ Trí Thâm đang đứng trước mặt sư cụ mà nói rằng:

– Sư phụ dạy sao, cũng xin theo mệnh, nhưng không biết rằng sư phụ cho ở nơi đâu?

Sư cụ nói:

– Ta có một người anh em, gọi là Trí Thanh thiền sư, hiện đương trụ trì ở chùa Đại Tướng Quốc bên Đông Kinh, vậy ta cho ngươi cầm một phong thư này, sang đó rồi ở đấy mà tu hành mới được. Còn bốn câu kệ ta đọc ra đây, ngươi nên nhớ lấy, mà suy nghiệm về sau.

Nói xong liền đọc bốn câu kệ rằng:

“Gặp rừng thì dấy,

Thấy núi thì giầu,

Qua non thì mau,

Đến sông thì khá.”

Trí Thâm nghe bốn câu kệ, nhận thuộc lòng tử tế, rồi lạy từ tạ sư cụ thu thập khăn gói hành lý, và từ giã chúng tăng mà đi xuống núi Ngũ đài.

Bâng khuâng giã cảnh, giã thầy,

Trời cao đất rộng thân này bốn phương

Các sư ở chùa thấy Trí Thâm đi rồi, thì ai nấy cũng có vẻ mừng. Cách đấy vài hôm Triệu Viên Ngoại đem tiền nong thợ thuyền đến núi Ngũ Đài để sửa chữa lại mái đình, và sửa sang hai pho tượng Kim Cương cho được hoàn nguyên như cũ.

Còn về phần Trí Thâm sau khi đã từ biệt, giã cảnh, giã chùa, liền xăm xăm đi xuống nhà thợ rèn ở dưới chân chùa, để lấy giới đao cùng thuyền trượng. Khi thợ rèn đã đánh xong rồi, Trí Thâm mua một cái bao dao để bỏ giới đao vào đó, và lại mua sơn để sơn thuyền trượng cho cẩn thận, đoạn rồi thưởng tiền cho thợ rèn, và khoác khăn gói, vác đao trượng đi sang Đông Kinh.

Trong nửa tháng trời Trí Thâm đi đường không hề vào một nhà nào để trọ, chỉ đến bữa ăn thì tìm vào hàng rượu hàng thịt, mà chén no say rồi lại một mình thui thủi ra đi. Một khẩu giới đao, một thanh thuyền trượng, bốn phương non nước như đón khách tang bồng, cái cảnh nhà sư bây giờ thật là thỏa chí, không bó buộc như lúc ở chùa.

Một hôm Trí Thâm đi lững thững trên đường, trông ra bốn bên một mầu nước biếc non xanh rất nên ngoạn mục, bèn vừa đi vừa ngắm một mình, mà mặt trời sắp lặn non tây không biết. Bấy giờ mới hoảng hốt đi tìm chỗ trọ, nhưng đường xa quãng vắng, chung quanh lạnh ngắt hơi người, không biết vào đâu cho được, bất đắc dĩ lại phải cố đi để tìm nơi khác. Chàng đi tới hai ba mươi dặm đường, qua một cái cầu, rồi đến một nơi trang viện, xung quanh cây cối um tùm, mà đằng sau toàn là non núi.

Trí Thâm đi đến trước cửa trang viện, thấy những người ở trong đó đang rộn rịp tưng bừng, như là nhà đám, liền vào tận cổng, gọi trang khách ra để hỏi.

Vừa khi cất mồm toan hỏi, thì đã thấy trang khách nói trước lên rằng:

– Nhà sư đi đâu mà tối tăm lần mò đến đây?

Trí Thâm chống cây trượng xuống đất mà đáp rằng:

– Tôi đi đến đây lỡ độ đường, xin vào ngủ trọ một tối.

– Trong trang tôi có việc, không thể vào trọ được.

– Tôi chỉ trọ một tối, rồi sáng mai lại đi, sao mà không được?

– Thôi nhà sư đi tìm chỗ khác, chứ ở đây không trọ được đâu, trọ để mà chết hay sao?

– Nói lạ? Trọ một đêm mà chết cái gì?

Trang khách gắt lên rằng:

– Có đi thì đi đi, không thì trói vào kia bây giờ.

Trí Thâm nghe nói tức mình sấn cổ lên mà mắng rằng:

– Thằng nhà quê này vô lý quá, ta làm gì mà mi bảo trói ta?

Lũ trang khách thấy vậy, thì đổ xô đến, đứa thì mắng đứa thì đuổi, đứa thì khuyên bảo nên đi. Bấy giờ Trí Thâm đã cáu tiết, toan giơ thuyền trượng để đánh, chợt có ông lão trạc ngoài 60 tuổi, chống một cái gậy rất dài, ở trong nhà đi ra hỏi lũ trang khách rằng:

– Chúng bây làm gì ầm ầm lên thế?

Trang khách đáp rằng:

– Bẩm có lão sư nào toan đến đánh chúng tôi ở đây.

Trí Thâm không đợi dứt lời, liền nói ngay rằng:

– Tôi là sư ở Ngũ Đài Sơn đi sang Đông Kinh có việc, nhân trời tối qua đây ngủ nhờ quý trang một tối, ai ngờ đám người nhà vô lễ, cứ toan những trói với đánh là nghĩa lý làm sao?

Ông lão nghe vậy bèn bảo Trí Thâm rằng:

– Nếu người có phải là ở bên Ngũ Đài Sơn, thì xin mời vào trong này.

Nói xong dẫn Trí Thâm vào trong nhà mời ngồi rồi nói rằng:

– Xin sư phụ tha lỗi cho, lũ người nhà chúng nó ngu si, không biết cho nên xấc láo như vậy, chứ chúng tôi đây xưa nay vẫn kính phật thờ trời, có đâu dám thế. Ngày nay dẫu trong nhà tôi đây có việc, song để sư phụ nghỉ chơi một tối cũng chẳng hại gì.

– Chẳng hay quý trang đây là nơi nào?

– Thưa người, tôi đây là người họ Lưu, đây gọi xóm Đào Hoa, cho nên người ta thường gọi tôi là Đào Hoa Trang Lưu Thái Công. Vậy dám hỏi sư phụ pháp hiệu là gì?

– Tôi nguyên người họ Lỗ, sau theo sư cụ Trí Chân tôi ở chùa Ngũ Đài, cho nên người đặt pháp hiệu là Lỗ Trí Thâm.

– Bây giờ đã tối, xin sư phụ ngồi nghỉ, rồi xơi cơm, nhưng chẳng hay sư phụ có dùng được đồ mặn hay không?

– Tôi đây bất cứ là chay hay mặn, hễ có rượu thì thịt trâu bò tôi ăn cũng được.

– Nếu vậy thì tôi xin bảo người nhà, dọn rượu sư phụ xơi.

Nói đoạn gọi trang khách lấy rượu thịt và các thứ rau quả cơm nước lên, để thiết đãi nhà sư.

Trí Thâm bỏ tay nải, cổi bao đao ra để một bên, rồi gắp thịt ăn uống tự do một lúc, hết sạch cả cơm rượu và một mâm thịt, làm cho Lưu Thái Công trông thấy phải kinh sợ.

Được một lát Lưu Thái Công bảo trang khách, dọn một trang phòng ở bên ngoài, để cho Trí Thâm nghỉ mà dặn rằng:

– Sư phụ cứ đi nghỉ nếu đêm nay ở đây có xẩy ra huyên náo, thì sư phụ cũng mặc đấy mới được.

Lỗ Trí Thâm liền hỏi:

– Vậy thì ở quý trang có việc chi làm vậy?

– Việc đó các ngài đã tu hành, thì không nên hỏi đến làm chi?

Trí Thâm lại hỏi:

– Tôi trông Thái Công làm sao mà không được vui vẻ như thế? Chẳng hay vì tôi đến đây phiền nhiễu đến Thái Công, thì sáng mai tôi sẽ tính tiền trả lại Thái Công.

– Sư phụ nói làm gì vậy? Nhà tôi đây thiết đãi chư tăng cũng nhiều, có đâu một mình ngài lại không chu tất nổi hay sao? Tôi đây sở dĩ phiền muộn là chỉ vì hôm nay gả chồng cho đứa con gái đó thôi.

Trí Thâm cười mà đáp rằng:

– Lạ chưa? Con trai lớn thì lấy vợ, con gái lớn thì lấy chồng, đó là lẽ thường trong trời đất, can chi mà cụ phải lo?

– Đành vậy, nhưng việc hôn nhân này, có phải là tôi ưng thuận ở đâu?

Trí Thâm lại cười mà nói rằng:

– Ông cụ này mới lạ chứ! Đã không bằng lòng, thì sao lại gả chồng cho nó?

– Tôi xin kể nguyên ủy, để sư phụ nghe:

Nguyên tôi chỉ có một đứa con gái, năm nay 19 tuổi, chưa dám gả chồng. Nhân gần đây ở trên núi Đào Hoa Sơn, có hai ông Đại Vương đến đóng trại ở đó, tụ đến năm bảy trăm người để cướp bóc dân gian, mà quan quân trị mãi không nổi. Sau có một người biết nhà tôi có đứa con gái, liền đưa sang đây 20 lạng vàng, và mấy tấm lụa, mà bắt ép phải gả, đã hẹn đến hôm nay là làm lễ thành hôn. Tôi đã định từ chối, song thế mình yếu đuối không làm gì được, đành phải chịu vậy, vì thế cho nên tôi phiền não thế thôi.

Trí Thâm nghe dứt lời liền nói:

– À! Té ra câu chuyện như thế đấy, nếu vậy thì tôi có cách để khuyên giải, cho người ấy hồi tâm hướng đạo được. Cụ ơi! Cụ đừng lo nghĩ thêm phiền!

– Chết nỗi! Khuyên giải chi? Hạng ấy họ ăn thịt người không tanh, làm thế nào làm cho họ hồi tâm hướng đạo được?

– Tôi ở Ngũ Đài Sơn, nhờ sư phụ tôi dạy được một phép mầu, dẫu đến sắt đá cũng có thể chuyển được chẳng lo là người. Bây giờ cụ cứ bảo cho cô dâu ẩn đi một chỗ khác, còn trong phòng cứ mặc cho tôi vào đây, rồi tôi sẽ có cách khuyên giải người kia.

Lưu Thái Công hơi có vẻ mừng mà rằng:

– Nếu vậy thì hay lắm! Nhưng chỉ sợ chạm phải râu hùm, thì hơi nguy hiểm mà thôi.

– Không hề chi! Cụ cứ để mặc tôi, tôi sẽ xử được.

Bây giờ trang khách đứng đấy, đều lấy làm kinh lạ. Đoạn rồi Lưu Thái Công lại nói với Trí Thâm rằng:

– Nếu vậy thì nhà tôi thực có phúc, mới gặp được đức Phật giáng thế mà cứu độ cho; Nhưng chẳng hay sư phụ có xơi cơm nữa hay không?

– Cơm thì không cần nữa, nhưng có rượu cho tôi một ít cũng hay.

Lưu Thái Công vâng dạ luôn mồm, rồi sai trang khách lấy một con thịt quay và một bình rượu lớn lên cho Trí Thâm uống.

Trí Thâm ngồi xuống hai ba mươi bình rượu, lại ăn hết cả con vịt quay, rồi đứng dậy hỏi Thái Công rằng:

– Cụ đã cho cô con gái đi trốn chưa?

– Bẩm đã.

– Nếu vậy thì cụ cho dẫn tôi vào phòng đợi tân lang đến.Nói đoạn sai người nhà vác khăn gói và tự cầm đao trượng đi theo Thái Công vào trong phòng. Khi tới nơi Lỗ Trí Thâm bảo cho Thái Công trở ra; để một mình ở trong phòng, đoạn rồi đem các bàn ghế về một bên để đao với trượng lên giường, rồi cổi quần áo nhảy lên giường để ngồi chồm chổm ở đó.

Ngoài kia Lưu Thái Công, vừa mới bày biện bàn tiệc xong thì đã xa trong thấy đèn đuốc sáng trưng, người ngựa tấp nập, ở đằng xa kéo đến, liền mải mải mốt mốt chạy ra cổng để đón. Khi toán ấy gần tới nơi thì thấy cờ quạt phất phới, sáng choang, một lũ tiểu lâu la đầu đội khăn đỏ lưng thắt dây đỏ, cầm hai hàng đèn lồng đi trước, rồi đến vị Đại Vương cưỡi con ngựa trắng lông quăn đi giữa.

Lưu Thái Công thấy Đại Vương xuống ngựa, thì vội vàng quỳ ngay xuống đất, rồi rót rượu để dâng.

Đại Vương thấy vậy chạy đến nắm tay Thái Công dắt dậy mà rằng:

– Bây giờ cụ là nhạc phụ tôi, sao lại quỳ như thế?

Lưu Thái Công nói:

– Thưa ngài tôi là thuộc hạ của ngài, có đâu dám vô lễ được?

Bấy giờ Đại Vương hơi có dáng say, liền bảo Thái Công rằng:

– Cụ được người con rể như tôi, tưởng không còn gì hơn nữa?

Nói xong uống luôn ba chén rượu, rồi đi thẳng vào trong nhà ngồi nghỉ, và gọi lũ lâu la đến trước thềm, để hòa nhạc khua trống làm vui. Đại Vương hỏi Lưu Thái Công rằng:

– Dám thưa trượng nhân, phu nhân nhà tôi đâu?

– Thưa ngài, cháu nó còn thẹn, chưa dám ra đây nghinh tiếp.

Đại Vương cười nói rằng:

– Đem rượu đây, để ta mời trượng nhân đã.

Nói đoạn tay cầm chén rượu đưa mời Thái Công mà nói:

– Xin phép trượng nhân, để tôi vào chào phu nhân, rồi sẽ ra đây uống rượu.

Bấy giờ trong bụng Thái Công đương chăm chăm mong cho Đại Vương đến mau, để nhà sư khuyên giải hộ, liền tay cầm lấy cây nến, rồi đưa Đại Vương đi qua bức bình phong, thẳng tới phòng cô dâu mới.

Khi tới nơi Thái Công trỏ lối cho Đại Vương vào trong phòng rồi cầm cây nến chạy ngoắt ra ngoài để trốn, chưa biết hay, dở, dữ, lành ra sao?

Đại Vương đẩy cửa phòng đi vào, thì thấy tối mịt như bưng không có đèn đuốc chi cả, liền nói:

– Quái lạ! Sao ông cụ lại không cho thắp đèn đóm, mà để cho phu nhân ta phải ngồi chỗ tối tăm như vậy? Ngày mai ta bảo lâu la mang sang một thùng dầu để thắp mới được.

Khi ấy Lỗ Trí Thâm ngồi yên ở trong màn, nghe nói thì cố bấm bụng nhịn cười mà không dám nói.

Đại Vương sờ lần tới màn rồi hỏi:

– Phu nhân ở đâu, sao không ra đón tiếp ta? Có việc gì mà thẹn, ngày mai đã là một bà phu nhân áp trại rồi.

Đại Vương vừa nói vừa giơ tay vén màn lên, rồi lần mò sờ soạng vào trong giường. Vừa hay cái tay vô tình kia, sờ ngay vào bụng Trí Thâm, Trí Thâm liền nắm lấy khăn và đai, mà giật ngã xuống bên giường, đánh cho một đấm mà mắng rằng:

– Quân ăn cướp này!

Nói xong lại đấm luôn cho mấy đấm nữa vào giữa mang tai, Đại Vương kinh hoảng mà kêu lên rằng:

– Sao lại đánh ông như thế?

Trí Thâm cũng đáp lại rằng:

– Bà làm cho biết tay bà đấy.

Đoạn rồi vật ngã Đại Vương ra bên giường, đánh đã luôn mấy cái nữa, làm cho Đại Vương phải gào to lên, kêu người cầu cứu!

Lưu Thái Công ở ngoài nghe thấy vậy, thì rụng rời sợ hãi, không hiểu nhà sư giảng thuyết ra sao, mà lại có tiếng người kêu cứu như vậy liền hất hơ hất hải đưa đám lâu la cầm đèn đuốc vào xem. Khi vào tới nơi thấy một ông sư phệ bụng cổi trần truồng, đương cưỡi trên bụng Đại Vương, thì ai nấy kinh sợ tức giận mà thét nhau vào cứu Đại Vương.

Trí Thâm thấy bọn lâu la đều vác gậy vác giáo xông vào, thì bỏ Đại Vương đấy, mà vớ lấy thuyền trượng bổ ra để đánh.

Lũ lâu la thấy thế lực nhà sư hung tợn như thế, thì đổ xô nhau chạy không anh nào dám sấn vào nữa. Đại Vương thừa thế được chạy thoát ra ngoài, liền vội vàng ra cổng bẻ một cành liễu, nhảy tót lên mình ngựa toan chạy, ngờ đâu khi đã bước lên mình ngựa, đánh lấy đánh để mấy chục roi, mà ngựa cứ quanh co không chạy được, Đại Vương lấy làm kinh sợ chắc rằng:

– Vận mệnh đến nơi, cho nên ngựa cũng khinh người mà mà không chạy nữa!

Than ôi!

Ví không vướng chút nợ tình

Thời chi đến nỗi dẫn mình chông gai?

Sau Đại Vương xem rõ mới biết là tại cái dây buộc ngựa vẫn chưa cởi ra, cho nên người ngựa không sao chạy được. Đại Vương thấy vậy, mải mốt bứt đứt cả dây ra, mà quất roi cho ngựa chạy tế về sơn trại. Khi đi đường, trong bụng vẫn oán thầm Lưu Thái Công là người phản trắc, nhất định có phen báo lại mới nghe.

Về phần Lưu Thái Công thấy Đại Vương đi rồi, liền bảo Lỗ Trí Thâm rằng:

– Sư phụ làm như thế thì khổ cho nhà tôi lắm!

Trí Thâm cười mà nói rằng:

– Xin cụ tha lỗi cho tôi, để tôi mặc quần rồi xin thưa chuyện.

Thái Công để Lỗ Trí Thâm mặ quần áo xong rồi, kéo đi ra ngoài mà bảo rằng:

– Trước tôi vẫn tưởng rằng: Sư phụ khuyên bảo thế nào, ai ngờ sư phụ lại đánh hắn như thế, tất nhiên hắn về sơn trại mang thêm quân ngựa đến đây, giết hết nhà tôi mất.

Trí Thâm ung dung đáp:

– Cụ ơi! Cụ chớ có ngại, tôi đây chính là Lỗ Đề Hạt ở dinh quan Kinh Lược đất Vị Châu, vì đánh chết người mới phải xuất gia đầu Phật đây. Lũ nó dẫu có tới một hai nghìn binh mã tới đây, tôi cũng không coi vào đâu cả, nếu không tin thì xin nhắc thử cây thuyền trượng kia sẽ biết.

Lũ trang khách nghe nói, anh nào anh ấy, cũng chạy lại nhắc thử cây trượng xem sao, nhưng không ai nhắc nổi, đến lúc Trí Thâm cầm lên tay, thì nhẹ nhõm tựa hồ một cây bấc vậy. Thái Công thấy thế, lấy làm mừng rỡ mà nói rằng:

– Nếu thế thì sư phụ hãy ở đây cứu giúp tôi mới được.

– Cái đó chắc hẳn rồi, khi nào dám bỏ cụ mà đi ngay.

Lưu Thái Công hớn hở vui cười mà rằng:

– Bây giờ tôi xin bảo lấy rượu để sư phụ xơi, nhưng ngài chớ uống say quá chén mà nguy mất.

Trí Thâm nói:

– Cụ không biết tính tôi, tôi uống một phần rượu thì khỏe một phần, chứ uống mười phần rượu lại khỏe thêm lên mười phần, có say bao giờ mà sợ.

– Thế thì còn gì hơn nữa, nhà tôi đây còn rượu thịt, xin sư phụ cứ xơi cho.

Lưu Thái Công nói xong, liền sai người dọn thêm rượu thịt ra, để Trí Thâm đánh chén.

Bên kia Đại Vương phóng ngựa chạy về đến sơn trại, trông thấy Đại Đầu Lĩnh, liền xuống ngựa mà kêu lên rằng:

– Đại Ca ơi! Đại Ca có cứu tôi không?

– Người Đầu Lĩnh trông ra thấy Đại Vương, đầu không khăn, lưng không giải, bơ phờ hoảng hốt như người mất vía liền hỏi:

– Làm sao mà như thế?

Anh kia đem đầu đuôi thuật lại cho nghe, rồi bảo với Đại Đầu Lĩnh rằng:

– Anh phải nghĩ cách làm sao mà cứu cho tôi mới được.

Đại Đầu Lĩnh nghe nói nổi giận mà rằng:

– Nếu vậy anh em cứ nghỉ ở nhà, để tôi đi bắt thằng ấy đến đây mới được.

Nói xong quay ra gọi lâu la, đóng ngựa sắp thương để đi, Đại Đầu Lĩnh nhảy lên mình ngựa, tay cầm ngọn thương thét lâu la trong trại, phải nhất tề đi xuống trang viện, uy thế ầm ầm như bể sôi núi chuyển, ai cũng phải kinh. Bấy giờ Lỗ Trí Thâm đương ngồi đánh chén một mình, bỗng thấy trang khách vào báo rằng:

– Đại Đầu Lĩnh ở núi Hoa Đào hiện đã dẫn các lâu la đến kia.

Trí Thâm nghe báo thì bảo với trang khách rằng:

– Các ngươi cứ im lặng để ta đánh ngã được đứa nào, thì các ngươi trói lại để giải quan lấy tiền thưởng. Các ngươi mang giới đao đây cho ta.

Nói đoạn đứng dậy chống thuyền trượng cắp giới đao ra đi, khi gần tới cổng đã thấy đóm đuốc sáng trưng, một tên Đại Đầu Lĩnh cưỡi ngựa cầm thương ở ngoài quát rằng:

– Đứa nào giỏi nấp ở trong ấy, ra đây quyết trận với ta xem sao?

Trí Thâm cũng hầm hầm giận dữ quát lên rằng:

– Bay chửa biết ta sao? Để ta đánh cho một trận mà xem.

Đoạn rồi múa thuyền trượng xông ra toan đánh. Bỗng Đại Đầu Lĩnh bên kia dừng thương lại mà bảo rằng:

– Hòa thượng hãy khoan tay, nói tên họ cho tôi biết, tôi nghe thấy tiếng hòa thượng quen lắm.

– Ta đây chính là Đề Hạt Lỗ Đạt ở dinh quan Kinh Lược ngày trước đây.

Người kia nghe nói liền cười to lên mà rằng:

– Tưởng là ai té ra Lỗ Đại Ca đó.

Nói xong xuống ngựa vất thương ra, rồi chấp tay lạy chào mà hỏi rằng:

– Chẳng hay lâu nay đại các có khỏe không? Ai ngờ nhị đệ nhà tôi lại chạm phải tay ngài, thực là nực cười quá.

Trí Thâm nghe nói vẫn còn ngờ ngợ chưa tin, liền đứng lui vào mấy bước, rồi nhìn kỹ ra mới biết là tên Đả Hổ Tướng Lý Trung, gặp ở Vị Châu khi trước.

Lý Trung chào Lỗ Trí Thâm xong rồi, liền đến gần mà hỏi rằng:

– Sao quan bác lại xuất gia ăn mặc như thế? Làm cho tôi khó lòng mà nhận được.

Trí Thâm đáp rằng:

– Chuyện tôi còn dài, hãy vào trong này ngồi chơi, rồi tôi sẽ nói.

Nói xong dắt tay Lý Trung vào nhà.

Bấy giờ Lưu Thái Công thấy Lỗ Trí Thâm lại cùng vào một bọn như thế thì trong lòng rất là sợ hãi, không dám thò mặt ra để ứng tiếp. Trí Thâm đưa Lý Trung vào nhà mời ngồi, và gọi Thái Công ra để nói chuyện.

Thái Công sợ hãi lúng túng không dám bước ra, Trí Thâm liền nói:

– Chúng tôi cũng là anh em cả, xin cụ cứ ra chơi, đừng ngại.

Thái Công thấy nói là anh em, thì lại càng sợ hãi, nhưng không ra tiếp đãi thì không được, đành phải rón rén bước ra, mà ngồi hầu tiếp chuyện. Lỗ Trí Thâm ngồi ung dung đem chuyện mình từ khi từ giã Lý Trung, cho tới cái mục đích ngày nay, kể cho hai người nghe, rồi lại hỏi Lý Trung rằng:

– Chẳng hay anh chàng đã gặp tôi lúc nãy là ai, mà sao anh lại ở đây với hắn?

Lý Trung nói:

– Từ ngày tiểu đệ từ biệt Ca ca ở tửu điếm Vị Châu, rồi lại cùng Sử Tiến chia tay mỗi người một nơi; Sau nghe tin Đại Ca đánh chết Trịnh Đồ, tiểu đệ muốn tìm Sử Tiến để bàn kế cứu nhau, song không biết hắn đâu mà tìm được nữa. Kế đến lúc nghe tin quan quân truy nã lạ thường, đệ lại bỏ Vị Châu đi nơi khác. Khi tới qua núi Đào Hoa đây, bị Tiểu Bá Vương Chu Thông, chính là anh chàng lúc nãy, đem người xuống đón đường đánh cướp, đệ liền ra oai đánh cho hắn ta thua một trận; Hắn thấy vậy bèn mời đệ lên sơn trại, mà nhường quyền coi giữ quân lương, bởi thế mà tiểu đệ mới làm chủ trại ở đó.

Trí Thâm cười mà bảo rằng:

– Nếu có phải là anh em ta ở đấy, thì cái việc hôn nhân đây tất phải thôi đi. Ôâng cụ đây chỉ có một người con gái để dưỡng lão về sau, nếu ta ép uổng lứa đôi, thì thân già ấy còn trông cậy vào đâu được?

Lưu Thái Công nghe nói cả mừng, liền sai dọn rượu thiết đãi hai người, và thưởng cho bọn lâu la ăn uống.

Khi ăn uống xong Thái Công mang số tiền ra, để gửi nộp Chu Thông, Trí Thâm bảo với Lý Trung rằng:

– Số tiền bác hãy nhận lấy mà mang về, còn việc hôn nhân là ở tay bác đấy.

Lý Trung nhận món tiền rồi nói:

– Vâng việc ấy không ngại gì, bây giờ hãy đón Đại Ca lên chơi qua trại tôi, và Lưu Thái Công cũng nên lên chơi một thể.

Thái Công vâng lời, sai người mang đao trượng và hành lý cho Lỗ Trí Thâm, rồi hai người đi hai cỗ kiệu, mà theo Lý Trung lên núi. Bấy giờ trời mới sáng, thì ba người đã cùng đến sơn trại, Lý Trung xuống ngựa đón Trí Thâm và Thái Công vào chơi trong dinh, rồi gọi Chu Thông lên nói chuyện.

Chu Thông chạy đến trông thấy nhà sư ở đấy, thì cả giận mà bảo Lý Trung rằng:

– Sao bác không báo thù cho tôi, mà lại mời người ta đến đó?

Lý Trung cười mà hỏi rằng:

– Chú không biết vị hòa thượng này hay sao?

– Nếu tôi có biết, thì không đến nỗi bị đánh.

– Thôi, phàn nàn làm chi. Vị hòa thượng này tức là người đánh ba cẳng tay chết anh Trần Quan Tây Trịnh Đồ mà tôi vẫn nói với chú đấy.

Chu Thông nghe nói xoa đầu xoa óc thở dài một tiếng, chấp tay cúi chào Trí Thâm.

Trí Thâm cũng đáp lễ lại rồi nói rằng:

– Tôi trót lỡ xin ngài thứ tội cho.

Bấy giờ ba bốn người cùng ngồi, rồi Lỗ Trí Thâm bảo với Chu Thông rằng:

– Bác Chu ơi! Việc hôn nhân ở nhà Lưu Thái Công, không nên ép nữa, vì ông ta chỉ có một người con gái dưỡng lão, mà nếu mình ức hiếp lấy ngay thì thực là bất tiện, vậy bất nhược ta lấy lại tiền, mà tìm đám khác thì hơn, bác nghĩ sao?

Chu Thông nói:

– Ngài đã dạy thế, thì tôi xin vâng lời, không dám nghĩ đến nữa.

Trí Thâm nói:

– Đại trượng phu ở đời, đã làm việc gì không nên nói đi nói lại, thế mới hay.

Chu Thông liền bẻ mũi tên để thề, đoạn rồi Lưu Thái Công nộp lại số tiền cưới, mà bái tạ ra về. Lý Trung, Chu Thông sai giết trâu dê làm tiệc, rồi đưa Trí Thâm đi xem phong cảnh trong trại. Non cao cây rậm, hình thế cheo leo, bốn chung quanh toàn là hiểm tuấn, Trí Thâm xem xong lấy làm khen ngợi vô cùng.

Được năm ba hôm, Lỗ Trí Thâm xem chừng bọn Lý Trung, cũng không phải là người khẳng khái, mà tính khí nhiều điều biển lận khó chịu, liền từ giã xin đi. Lý Trung, Chu Thông lưu lại không được liền nói:

– Nếu quan bác không chịu ở đây, thì xin cố lưu đến mai, để chúng tôi đi xoay xem có được chút gì sẽ đưa lại lộ phí.

Sáng hôm sau Lý Trung, Chu Thông đặt rượu tiễn hành, đem các đồ chén ngọc đĩa vàng ra để bày tiệc.Đương khi chén tạc chén thù, thì bỗng có lâu la vào báo:

– Có mấy mươi người đương áp hộ hai cổ xe, đương đi dưới chân núi.

Hai người nghe báo, vội vàng cắt một tên lâu la ở lại để hầu Lỗ Trí Thâm và nói rằng:

– Xin quan bác hãy cứ ngồi uống rượu, để cho chúng tôi đi xuống núi tảo ít lộ phí, để tặng quan bác đã.

Nói xong hò lũ lâu la cùng đi, Lỗ Trí Thâm thấy hai người đi rồi, thì tự nghĩ rằng:

– Hai thằng này láo thực, chúng nó có biết bao nhiêu đồ ngọc ở đây, thế mà còn phải đợi kiếm được của đâu, rồi mới tặng mình, thành ra của thế gian đãi người ngoan thiên hạ, chẳng qua chỉ khổ sở kẻ khác mà thôi. Vậy bất nhược tiện đây, ta hãy làm cho nó một mẻ xem sao?

Nghĩ đoạn gọi tên lâu la đứng hầu, đến gần trước mặt, mà đánh cho một cái ngã lăn queo xuống, rồi lấy giẻ nhét vào mồm, mà trói lại để đó. Đoạn rồi mở khăn gói hành lý ra, bọc các đồ vàng đồ bạc vào gói, đeo thẳng lên vai, rồi lấy đao lấy trượng lẻn ra đi trốn. Khi ra đến sau trại trông thấy thế núi tuy hiểm hóc, nhưng cũng có thể mà nhảy ra được, Trí Thâm liền tháo khăn gói, và đao trượng mà vất xuống trước, rồi cất mình nhảy một cái thật mạnh xuống sau. Nhờ được bãi cỏ ở chân núi cho nên Trí Thâm nhảy xuống không bị đau đớn chi cả, chàng liền mải mốt lại khoác khăn gói cầm đao trượng, mà cút đi cho chóng.

Bấy giờ Lý Trung, Chu Thông dẫn lâu la, xuống đến chân núi thì vừa gặp bọn người áp tải đi đến, anh nào cũng có khí giới trong tay, hai chàng liền múa thương xông tới, bọn kia cũng giơ khí giới lên đỡ, rồi cùng Lý Trung đánh nhau có tới mười mấy hiệp không chịu thua. Chu Thông thấy vậy sốt ruột, thét bọn lâu la hò reo ầm lên, rồi kéo sang để đánh. Bên kia biết thế không địch nổi, bèn bỏ các đồ đạc xe cộ mà chạy tháo lấy thân, song cũng mất đến 7, 8 người thiệt mạng.

Lý Trung, Chu Thông đắc thắng cả mừng, sai các lâu la khuân đem đồ đạc về trại. Hay đâu về đến trại, thì chỉ thấy tên lâu la bị trói nằm cò quăm ở đất, trông trên bàn thì chén ngọc đĩa vàng đều biến đi đâu mất hết, mà Lỗ Trí Thâm cũng chẳng thấy đâu; Hai người đều lấy làm kinh ngạc, cổi trói cho tên lâu la, mà hỏi hết đầu đuôi. Sau biết rõ Trí Thâm đã thâu các đồ bảo vật, mà nhảy đi lối sau trốn đi mất rồi thì Chu Thông lấy làm căm tức, mà bảo với Lý Trung rằng:

– Sơn trại của ta kín đáo như thế, mà lão ta còn nhảy ra được thì gớm thật, bây giờ ta biết làm sao?

Lý Trung nói:

– Chúng ta phải đi đuổi hắn, mà làm cho hắn xấu hổ một phen mới được.

– Thôi không ăn thua, mình đuổi thế nào được nó, mà nếu có đuổi được nó, nhưng nó không trả thì làm sao? Như thế có phải sinh câu chuyện lôi thôi mà khổ đến mình, vậy bất nhược đề cho hắn, dễ làm một chút về sau mà lại hóa hay.

Nói xong đem các đồ vật cướp được, chia ra làm ba phần, Lý Trung, Chu Thông mỗi người một phần, còn một phần thì chia thưởng cho các lâu la. Lý Trung từ chối rằng:

– Vì tôi dắt lão sư lên đây, để đến nỗi thiệt hại mất nhiều, thì cái phần này của tôi, tôi xin nhường bác cả.

Chu Thông nói:

– Tôi với bác đã thề với nhau rằng, cùng sống cùng chết, có khi nào tôi lại nhận phần như thế?

Nói xong chia làm ba phần tử tế, mà cùng nhận bằng nhau.

Mới hay:

Đã thề cốt nhục tử sinh.

Tấm xương tuy trắng chút tình dám sai;

Thế gian mấy mặt làng chơi,

Xưa nay trọng nghĩa khinh tài được bao?

Hỏi ai chung đỉnh ra vào,

Trông gương thiên cổ nghĩ sao bây giờ?

Lời bàn của Thánh Thán:

Trí Thâm nhận thư của Trí Chân Trưởng Lão, nếu cứ đi đường một tháng, sớm tới chùa Đại Tướng Quốc ở Đông Kinh thì ở luôn trong chùa làm một ông hòa thượng, còn chỗ nào thấy cái tài rồng hổ nhảy và nằm? Câu chuyện có gì làm thú; Hồi này chép xẩy chuyện giữa đường, vì sự vào ngủ trọ, chợt vào buồng của tân hôn, không thành một ông thầy chùa nữa, nếu không chuyện vào buồng của một cô dâu, thì tác giả tả làm sao ra tài rồng hổ nhảy và nằm, có đâu những chuyện lý thú? Hỡi ôi! Thi Nại Am một bậc người tài tử chân chính vậy. Trong lòng chân chính tài tử kia, há phải thường tình mà dòm thấy được đâu? Mà hồi này gặp Lý Trung, hồi sau gặp Sử Tiến, đều dùng một lối bút pháp, chia ra chương pháp hai thiên, khiến độc giả thấy hai lối sự tình, hai phần cục diện, bút lực đến thế, không thể nào nói ra cho hết.

Làm một cô gái, là một sự đùa, đã làm đùa hòa thượng tự Ngũ Đài Sơn mà dẫn tới đây, khi đã thành hòa thượng xuống núi, lại làm một cô gái, lại từng phen đóng vai đùa chơi, hỡi ôi! Con gái chẳng phải con gái, Lỗ Đạt không ngờ; đùa với chẳng đùa, Lỗ Đạt đâu ngờ trước được? Hòa thượng chẳng ra hòa thượng, Lỗ Đạt cũng không ngờ, cho đến lên non với xuống non, Lỗ Đạt đều không biết nữa? Chỉ biết rằng: Gặp rượu thì uống, thấy việc thì làm, gặp yếu thì bênh, gặp mạnh (dữ) thì đả, như thế mà thôi, chứ có biết đâu bỗng nhiên làm hòa thượng, bỗng nhiên làm cô dâu, ngày trước bỡn mà lên núi, ngày nay xuống núi, cũng bỡn mà ra.

Lỗ Đạt với Võ Tòng hai chuyện, trong ý tác giả, viết cách nhau để đối với nhau, cho nên chép chuyện, cũng nhiều chỗ giống nhau mục đích, như Lỗ Đạt cứu nhiều cô gái, Võ Tòng giết nhiều cô gái? Lỗ Đạt say rượu phá Kim Cương, Võ Tòng say rượu đánh mãnh hổ; Lỗ Đạt đánh chết Trấn Quan Tây, Võ Tòng đánh chết Tây Môn Khánh; Lỗ Đạt ở chùa Ngõa Quan thử thiền trượng, Võ Tòng ở núi Ngô Công thử giới đao; Lỗ Đạt đánh Chu Thông, vừa say vừa có bổ phận, Võ Tòng đả Tưởng Môn Thần, cũng vừa say vừa có bổn phận; Lỗ Đạt lên núi Đào Hoa, lấy lén tửu khí, nhảy xuống núi đi, Võ Tòng lên lầu Uyên Ương, lấy lén tửu khí nhảy xuống thành đi… đều một mục đích mà làm ra độc giả chẳng phải chẳng biết.

Còn có chi tiêu, phải lấy lén đồ dùng, cần phải trốn đi, phải nhảy liều xuống núi, người đời cho rằng: Đường đường một đấng trượng phu, sao đến nỗi lấy lén của dùng nhảy xuống núi trốn? Xét ra một xử sự này, thì đường đường trượng phu, có ngại gì lấy lén của dùng, và nhảy xuống núi trốn, càng thấy Lỗ Đạt đạt lý khác thường, xem một hồi này, thấy Lỗ Đạt làm hòa thượng, nên rằng từng chỗ nhận ra, như ngồi ở trong trướng cô dâu, và nhảy xuống bãi cỏ ở núi, sáng suốt nhận ra làm một người như thế, thực là kỳ diệu không thể nói hết được ra.

Lỗ Đạt lấy lén tửu khí, rồi trốn luôn đi, tiếp tả luôn những lời của hai người Lý, Chu chia của, đại nhân với tiểu nhân thế nào, dù đàn bà con trẻ xem tới, cũng thấy rõ ra, tác giả tả ra thấy hết thần diệu.

Ở đời đại nhân làm việc đại nhân, tự biết rằng thiên hạ đời sau xét tới; tiểu nhân làm việc tiểu nhân, chỉ cần tự trong mồm khôn khéo nói ra, dù chơi với đồng bói, cũng thò tay mặt đặt tay trái, để giữ lấy phần, xem ở việc Lỗ Đạt lấy lén của, và Lý, Chu chia của, chẳng thấy thú ư?