Ðêm ấy Văn Vương ra khỏi Triều Ca dục ngựa thẳng tới một nước.
Bấy giờ quân coi trạm thấy Văn Vương đến tối không về liền vào báo tin với Bí Trọng.
Bí Trọng nghĩ thầm:
– Việc này tại mình bảo tấu, nếu xảy ra lôi thôi ắt mắc tội.
Liền vội vã đến nói với Vưu Hồn:
– Tại anh bảo tấu với Văn Vương Tây Bá. Nay Tây Bá mới dạo chợ hai ngày đã trốn mất, việc này là việc lớn chẳng phải chơi, nếu có bề gì hai ta làm sao tránh khỏi tội. Vả lại, phía Ðông, phía Nam đều có giặc, nếu thêm mũi giặc của Cơ Xương nữa binh tướng kéo qua anh em mình chết trước.
Vưu Hồn ngồi thừ ra một lúc rồi nói:
– Anh đừng lo, ngày mai chúng ta sẽ vào triều tâu cho vua hay và sai hai tướng đem binh đến bắt về, trị tội Văn Vương là xong.
Rạng ngày, vua Trụ đang ngự trên lầu, Bí Trọng vào tâu:
– Bệ hạ cho Văn Vương khoe quan hai bữa mới đi dạo có hai ngày, rồi lén trốn về không vào lạy tạ, ấy là thói vô lễ bất trung. Chúng tôi e sau này sanh chuyện nên phải vào tâu cùng bệ hạ.
Vua Trụ nổi giận mắng:
– Hai khanh thật lắm điều hồi trước hai khanh tâu Cơ Xương là trung liệt, trẫm mới tin lời, tha tù phong chức. Nay xảy ra việc này hai khanh còn tâu gì nữa? Có phải hai khanh muốn nói sao thì nói, muốn làm sao thì làm có phải vậy hay không?
Bị vua khiển trách, Vưu Hồn thất kinh quỳ tâu:
– Từ xưa đến nay lòng người khó lường lắm, trước mặt nói vầy sau lưng nói khác. Sanh con há dễ sanh lòng, vẽ cọp không thể vẽ ruột được. Biển khô còn thấy đáy, lòng người đến chết vẫn chưa tường. Vả lại Cơ Xương đi cũng chưa xa, xin bệ hạ sai Ông Phá Ðại và Lôi Khai theo bắt lại, chờ tội Cơ Xương rõ ràng mới giết đi cũng là điều lợi.
Vua Trụ y lời, liền sai hai tướng đem hai ngàn binh đuổi theo bắt Cơ Xương về trị tội.
Ông Phá Ðại và Lôi Khai đồng lãnh binh nơi dinh Võ Thành Vương, người ngựa kéo ra đi. Ðoàn quân đuổi theo như gió, oai phong lẫm liệt.
Ðêm ấy Văn Vương ra khỏi Triều Ca, qua sông Mạch Tân, đến sông Huỳnh Hà, mệt quá nên vừa đi vừa nghỉ lần hồi đến huyện Dao Trì xảy nghe đàng sau có tiếng quân la ó vang vậy, nhìn lại thấy bụi bay mù mịt. Văn Vương biết quân đuổi theo bắt mình, thế nào cũng không thoát tội được. Nếu về triều thì chắc chết mười phần, nên cố sức chạy mau lánh nạn. Khi ấy Văn Vương như chim lạc lối, như cọp sổ lồng giục ngựa chạy như bay, phút chốc đã thấy ải Lâm Ðồng trước mặt.
Bây giờ nói về ông Vân Trung Tử đang ngồi trong động đánh tay biết rõ mọi việc, thầm nhủ:
– Tây Bá đã mãn hạn rồi, còn bị tai ương một chút. Nay đúng kỳ giao ước, ta phải cho con xuống cứu cha.
Liền sai Kim Hà đồng tử gọi Lôi Chấn Tử vào dạy rằng:
– Nay cha ngươi mắc nạn, ngươi phải đi cứu cho mau.
Lôi Chấn Tử thưa:
– Thưa thầy, chẳng hay cha tôi là ai?
Vân Trung Tử thuật hết mọi chuyện cũ rồi nói.
– Cha nuôi ngươi đang mắc nạn tại ải Lâm Ðồng, ngươi ra nơi chân núi Hỗ, kiếm vài binh khí đem đây ta dạy ít miếng võ đặng xuống cứu cha.
Lôi Chấn Tử vâng lời đến núi Hỗ tìm chẳng thấy vật gì có thể làm vũ khí được, lại thường nghe nói đồ binh khí là gươm đao, hương, kích, chùy, gậy, roi, mà trong mấy món đó không biết phải dùng vật nào, tính trở về hỏi lại Vân Trung Tử.
Xảy đâu có một trận gió thơm ngát thổi đến, lại thấy nước suối trong vắt, tiếng reo rất trong lành. Nhìn theo phong cảnh rất đẹp mắt, bên rừng trồng cam mát rượi, tre mọc giáp vòng, chim kêu ríu rít trên cành, trái cây quằng nhánh, bông núi đầy rừng. Lôi Chấn Tử liền leo cành cây gần đó thấy hai trái hạnh đào chính mộng, vì tánh con nít thấy trái cây tươi thì mừng lắm Lôi Chấn Tử vội leo lên hái hai trái. Hơi thơm bát ngát, Lôi Chấn Tử nghĩ thầm:
– Thôi mình ăn một trái còn một trái kia đem về cho thầy.
Ai ngờ Lôi Chấn Tử vừa ăn xong thấy ngon miệng quá không sao để dành được liền cắn thêm một trái ăn nữa.
Nhưng Lôi Chấn Tử lại giật mình thầm nghĩ:
– Mình định trái này để dành đem về cho thầy, nhưng mình lại ăn nữa, hóa ra bất nghĩa. Thôi thì cứ ăn hết đi rồi về im lặng là xong.
Nghĩ như vậy Lôi Chấn Tử liền ăn hết hai trái Mộng đào.
Nhưng ăn vừa rồi Lôi Chấn Tử thấy trong lòng ngứa ngáy khó chịu, rồi bên sườn bên trái mọc ra một cái cánh quá dài. Lấy làm lạ, Lôi Chấn Tử hai tay cầm cái cánh, chắt lưởi than:
– Không xong! Không xong! Có khi mình hóa thiên lôi rồi chăng?
Lôi Chấn Tử muốn nhổ cánh quăng đi nhưng nhổ ra thì đau lắm, thử làm gan bứt được vài sợi lông, phút chốc sườn bên kia cũng mọc ra một cái cánh nữa. Lôi Chấn Tử xem thấy hồn vía rụng rời ngã lăn xuống đất.
Một lúc lâu, Lôi Chấn Tử tỉnh lại rờ sống mũi, thấy sống mũi cao quá, lông lá ra khỏi môi, hai mắt lòi ra khóe, mặt xanh lè, hai mắt đỏ hoe, mình dài hai trượng, lưng lớn mười vần, Lôi Chấn Tử không biết vụ gì mà lại biến hình biến tướng như vậy.
Bỗng thấy Kim Hà đồng tử chạy đến gọi lớn:
– Thầy dạy anh vô biểu.
Lôi Chấn Tử nói:
– Không hiểu gì mà thân thể tôi thế này?
Kim Hà đồng tử vừa cười vừa nói:
– Anh có phép thần thông biến hóa tôi làm sao biết được?
Lôi Chấn Tử than:
– Rồi bây giờ bình thù tợ yêu quái không dám ra mắt thầy.
Kim Hà đồng tử nói:
– Thầy cho đòi anh lập tức. Anh không về không được.
Lôi Chấn Tử không dám cãi lời, đi ít bước lại ngó cặp cánh của mình, trăm bề hổ thẹn. Lúc vào động, Lôi Chấn Tử không dám nhìn thầy.
Vân Trung Tử trông thấy vỗ tay cười lớn, nói:
– Lạ lắm! Lạ lắm!
Cười rồi chỉ mặt Lôi Chấn Tử mà ngâm một bài thơ như vầy:
Ăn hai hạnh đỏ sanh đôi cánh
Cầm một gậy vàng giúp đế vương
Quay khắp đất trời làm sóng gió
Biết nhiều phép tắc định âm dương
Mắt lồi sáng giới đôi tròng bạc
Tóc dựng phất phơ một sắc thường
Tướng tợ Lôi Công oai tợ sắc
Phò vua dụng nước dẹp nhà Thương.
Vân Trung Tử ngâm rồi dắt Lôi Chấn Tử ra vườn đào luyện phép và trao cho Lôi Chấn Tử một cây gậy vàng. Lôi Chấn Tử được truyền thụ, ra sức học hành, múa men như gió bão.
Chẳng bao lâu, các môn võ nghệ đều tinh thông, Vân Trung Tử lấy viết đề vào cặp cánh Lôi Chấn Tử một bên là chữ “phong”, một bên là “lôi”. Ðoạn niệm thần chú, hét lên một tiếng, tức thì Lôi Chấn Tử bay vụt lên nửa lừng trời như một con chim khồng lồ vậy.
Lôi Chấn Tử đảo qua đảo lại một lúc, xem chừng thú vị lắm. Khi đã thỏa mãn, Lôi Chấn Tử mới đáp xuống lạy thầy, thưa:
– Nhờ thầy truyền phép lại thế nào đệ tử cũng cứu được phụ thân.
Vân trung Tử nói:
– Ngươi mau đến ải Lâm Ðồng cứu cha ngươi là Tây Bá, song chẳng nên giết tuớng Trụ, cũng chẳng nên theo cha, hãy trở lại núi Chung Nam này học thêm phép tắc, ngày sau anh em sẽ họp mặt, cả nước phỉ nguyền.
Lôi Chấn Tử tuân lời thầy, cúi đầu tạ ơn, xách cây gậy đồng ra khỏi động, vỗ cánh bay lên không như sấm gió.
Bay một lúc, Lôi Chấn Tử gặp một hòn núi cao đón lại, liền xếp cánh đáp xuống, nhìn quanh quất thấy không có người, chắt lưỡi than:
– Mình vô ý quả không hỏi thăm thầy trước, bây giờ biết hình dạng cha mình thế nào mà tìm?
Vừa dứt lời thấy một người đội mũ mặc áo cỡi ngựa Kim chạy đến rất mau coi bộ hơ hãi lắm. Lôi Chấn Tử tự nhủ:
– Chắc cha mình mắc nạn nên chạy sấn sổ thế kia.
Nghĩ rồi liền lớn tiếng hỏi:
– Ai chạy dưới chân núi đó? Có phải là Tây Bá Hầu Cơ lão gia chăng?
Văn Vương nghe kêu tên liền dừng lại nhìn bốn phía không thấy ai lắc đầu than:
– Chắc mình đã tới số nên ma quỷ diễu cợt chăng tại sao nghe tiếng nói mà chẳng thấy người?
Nguyên Lôi Chấn Tử da mặt đã xanh, lại mặc đồ lục đứng trên hòn núi cao nên lộn với cây lá, phần thì Văn Vương chạy mệt chóa mắt không trông thấy rõ.
Lôi Chấn Tử thấy ông già dừng ngựa lại ngó dáo giác mà không nói gì rồi giục ngựa mà đi, liền kêu lớn:
– Ông có phải là Tây Bá Hầu Cơ Thiên Tuế đó chăng?
Tíếng hỏi vang trời như sấm dậy, bấy giờ Văn Vương mới ngó lên, thấy một người đứng trên chót núi tóc đỏ mặt xanh nanh dài miệng rộng, con mắt như lục lạc sáng tự hào quang, ngỡ là yêu tinh, thất kinh nghĩ thầm:
– Nếu quả là yêu tinh sao lại nói tiếng người? Mình đã đến nước này dầu có sợ cũng không được. Nó đã kêu, mình cứ thử lên núi xem thử thế nào?
Nghĩ rồi giục ngựa đến nửa chừng núi hỏi:
– Tướng quân là ai mà biết tôi vậy?
Lôi Chấn Tử liền bay xuống quỳ lạy và thưa:
– Xin vua cha rộng lượng tha tội bất hiếu cho con. Vì trẻ chậm chân nên cha nhọc sức.
Văn Vương nói:
– Tướng quân là ai đó, ta không biết mặt, sao Tướng quân xưng là con?
Lôi Chấn Tử tâu:
– Vua cha trước kia gặp con đặt tên là Lôi Chấn Tử…
Văn Vương sực nhớ lại, lấy làm lạ hỏi:
– Lúc cha gặp con tại đó thì giao cho Vân Trung Tử đem về núi Chung Nam. Nay mới bảy năm sao hình tướng con cao dường ấy.
Lôi Chấn Tử tâu:
– Bởi thầy con dạy phép lạ nên biến tướng cải hình, lại dạy con phải xuống đuổi tướng Trụ về mà cứu cha qua năm ải.
Văn.Vương nghe nói nghĩ thầm:
– Mình đã trốn chúa tội lỗi cửa triều đình, nay trời khiến con. Nhưng nếu để nó giết tướng thì mình lỗi đạo với vua, chi bằng lấy lời lành đặng khuyên nó đừng làm dữ.
Nghĩ rồi nói với Lôi Chấn Tử:
– Cha bội chúa trốn đi nên sai vua tướng bắt về, nếu con muốn cứu cha thì đừng giết tướng.
Lôi Chấn Tử tâu:
– Thầy con cũng có dặn như vậy, con sẽ khuyên chúng nó lui binh để đưa cha về nước mà thôi.
Xảy nghe tiếng chiêng trống vang trời, tướng binh rần rộ. Lôi Chấn Tử bèn vỗ cánh bay tới trước cầm gậy vàng, bộ tịch như thiên lôi chận đầu binh nạt lớn:
– Chúng bay đừng tới nữa.
Quân binh thấy Lôi Chấn Tử thất kinh chạy lùi lại báo với hai tướng:
– Có một ông thần dữ cản đường nên chúng tôi không dám đi nữa.
Ông Pháo Ðại và Lôi Khai nghe rõ đồng giục ngựa đến xem.
Lôi Khai và Ân phá Bại giục ngựa lướt tới thấy một người hình thù kỳ dị, thất kinh muốn quay ngựa lại, song sợ quân sĩ cười mình nhát gan, nên nhắm mắt hét lớn:
– Nhà ngươi là ai dám cản đuờng chúng ta?
– Ta là Lôi Chấn Tử, đứa con thứ một trăm của Văn Vương. Cha ta là kẻ nhân dức, thờ mẹ chí hiếu, thờ vua tận trung, lấy đạo dạy dân, lấy lễ trị thiên hạ. Trụ Vương ham mê tửu sắc, tàn ác phi thường, bắt cha ta cầm tù nơi Dũ Lý đã bảy năm, nay cho về nước sao còn theo bắt. Ta vâng lệnh thầy ta xuống núi đưa cha ta về Tây Kỳ, không thèm giết các ngươi làm chi, hãy đem quân trở về.
Lôi Khai và Ân Phá Bại đồng làm gan mắng lại:
– A, chúng ta tưởng ngươi là thiên lôi trời sai xuống, ai ngờ cũng chỉ là xác phàm, con của một đứa khi quân bội chúa. Tướng mạo ngươi hung dữ như vậy mặc lòng, song chúng ta có thiên binh ngàn tướng, không đủ trị ngươi sao?
Nói rồi hè nhau xốc tới múa siêu đao chém liền.
Lôi chấn Tử cầm gậy đồng đỡ ra thật mạnh, hét lên:
– Bây muốn thử sức ta à! Ta nghĩ vì có lời thầy dạy và có ý cha răn, nếu không ta giết cả binh tướng chúng bay như trở bàn tay.
Lôi Khai và Ân phá Bại nghe tiếng hét như sấm đã hoảng hồn, còn dám đâu đấu chiến.
Lôi chấn Tử nói:
– Chắc chúng bay chưa thấy tài lực của ta, thôi để ta triển thần uy cho chúng bay thấy.
Nói rồi liền vỗ cánh bay bổng lên cao, đáp xuống một tảng đá kêu Ân Phá Bại và Lôi Khai nói:
– Ta khẽ cục đá này cho chúng bay thấy sức mạnh ta đến bực nào, liệu cái đầu chúng bay có cứng bằng cục đá này chăng?
Lôi chấn Tử đưa gậy lên trời, đập mạnh xuống một cái. Hòn đá vỡ tung lên, lăn xuống đè ngã một vùng cây cối.
Ðập nát hòn đá lớn, Lôi Chấn Tử vỗ cánh bay xuống trước đầu ngựa, nói:
– Bây giờ chúng bay muốn giao tranh với ta thì cứ đánh đi.
Hai tướng thấy Lôi Chấn Tử sức mạnh như thần, nhìn nhau le lưỡi lắc đầu, kéo quân trở về.
Lôi chấn Tử cười lớn, bay đến trước mặt Văn Vương thưa:
– Con đã khuyên hai tướng Trụ trở lại Triều Ca rồi, vậy cha theo con đưa cha về Tây Kỳ cho sớm.
Văn Vương nói:
– Võ Thành Vương Hoàng Phi Hổ đã cho cha cờ lệnh tiễn, qua ải không ai dám ngăn trở, con không cần phải đưa đón làm gì?
Lối chấn Tử nói:
– Nếu trình lịnh tiễn qua ải thì lâu lắm, e vua cho tướng khác theo bắt đàng trước ngăn đón, đàng sau truy binh cha làm cách nào về Tây Kỳ được. Con sẵn có cặp cánh thần xin cõng cha bay qua năm ải.
Văn Vương nói:
– Ðược vậy thì hay lắm, song bỏ con ngựa lại lòng cha không đành.
Lôi Chấn Tử nói:
– Mất ngựa này tìm ngựa khác, cha hãy lo thân cha làm trọng đã.
Văn Vương nói:
– Con ngựa nay theo cha đã bảy năm, chịu không biết bao nhiêu khổ cực, nay về nước bỏ nó đi là bạc nghĩa.
Lôi Chấn Tử thưa:
– Người quân tử cốt giữ đại sự, còn tiểu sự thì không nên câu chấp.
VănVương lưỡng lự một hồi, rồi bước đến vưốt lưng con ngựa than:
– Không phải ta muốn bỏ ngươi, chỉ sợ binh triều đuổi theo mang khốn. Nay từ giã, ngươi tìm nơi khác nương thân.
Dứt lời, Văn Vương buồn bã, rơm rớm nước mắt ngâm bốn câu thơ:
Cùng nhau muôn dặm đến Triều Ca
Dũ Lý giam cầm chịu với ta
Mắc nạn ải Ðồng nay cách biệt
Ngươi tìm chũ khác chớ dần dà.
Thấy Văn Vương triều mến con ngựa mãi, Lôi Chấn Tử giục:
– Xin cha lên lưng con mau kẻo trễ.
Văn Vương nói:
– Con bay cho khéo kẻo cha sợ lắm.
Lôi Chấn Tử quỳ xuống đất đưa lưng cho Văn Vương leo lên, và nói:
– Xin cha an lòng nhắm mắt lại, chỉ chốc lát sẽ đến Tây Kỳ.
Văn Vương vừa nhắm mắt lại đã nghe gió thổi ù ù như giông bão.
Lôi Chấn Tử bay qua năm ải, chỉ trong một tiếng đồng hồ, rồi đáp xuống chân núi Kim Kê.
Văn Vương mở mắt ra, thấy phong cảnh Tây Kỳ ngỡ như trong mộng. Bảy năm bị cầm nơi Dũ Lý giờ đây mới thấy rõ cố hương, lòng như mừng như tủi.
Văn Vương khen:
– Cũng nhờ sức con cha mới về được xứ sở.
Lôi Chấn Tử thưa:
– Nay cha đã về được Tây Kỳ, con xin trở lại núi Chung Nam để hầu hạ thầy con.
Văn Vương ngơ ngác hỏi:
– Sao con lại không về với cha?
Lôi Chấn Tử thưa:
– Lúc ra đi thầy con có dặn, hễ đưa cha khỏi năm ải rồi phải trở về Chung Nam lập tức, đặng học thêm tài phép, ít lâu sẽ ra giúp nước.
Nói rồi lau nước mắt lạy vua cha. Văn Vương cũng khóc từ giã.
Sau khi Lôi Chấn Tử bay đi mất dạng, Văn Vương còn một mình lững thững dưới chân núi Kim Kê. Bởi tuổi già sức yếu nên đi suốt ngày hôm ấy mới tìm đến một thị trấn, vào quán cơm ăn uống rồi ngủ vùi cho đến sáng.
Hôm sau, Văn Vương từ giã dời chân, tên tửu điếm cản lại hỏi:
– Thưa ông, còn tiền rượu tiền phòng ông chưa tính.
Văn Vương nói:
– Ta đi lỡ đường tiền hết, ngươi cứ biên sổ cho nhớ, lúc ta về đến Tây Kỳ sẽ sai người đến trả gấp đôi.
Tên tửu điếm nói:
– Chỗ này không phải như xứ khác, dù cho quan quyền cũng không đặng làm ngang, chúa ta là Tây Bá Hầu lấy nhơn nghĩa trị dân cấm điều gian lận, bởi vậy đồ bỏ giữa đường không mất, ngưòi đi ngoài lộ phải nhường, ban đêm không dứt tiếng đờn, không nghe tiếng chó sủa. Ðây là trời Nghiêu đất Thuấn, vua thánh tôi hiền, chứ không phải xứ loạn đất hoang mà giở trò dối gạt.
Văn Vương nói:
– Ta là người phải không nói quấy đâu.
Người chủ quán từ bên trong bước ra hỏi:
– Chuyện gì cãi lẫy vậy.
Tên tửu điếm thuật lại đầu đuôi câu chuyện vừa rồi. Người chủ quán thấy Văn Vương tướng mạo khác thường, tuổi tác đã già, liền ôn tồn hỏi:
– Ông đi Tây Kỳ có việc gì mà gấp rút đến nỗi quên đem tiền lộ phí. Vả lại tôi với ông không quen mặt nhau, nếu để chịu biết đâu mà đòi.
Văn Vương túng thế phải nói thật:
– Ta là Tây Bá Hầu bị bảy năm giam cầm nơi Dũ Lý nay vua tha về nước, vì đường xa nên lộ phí bị thiếu hụt. Ngươi cứ ghi sổ ít ngày ta sẽ sai người đến trả.
Chủ quán nghe nói thất kinh, vội sụp lạy tâu:
– Tôi lạy mừng đại vương muôn tuổi. Chúng tôi xác phàm mắt tục, nên không thấy mặt rồng, lỗi với đại vương, xin đại vương dung mạng. Tiện đây, xin thỉnh đại vương vào trong đặng tôi dâng tiệc rồi sẽ sắm sửa đưa đại vương về đền.
Văn Vương hỏi.
– Ngươi tên họ là chi?
Chủ quán tâu:
– Tôi họ Thân tên Kiệt, đã năm đời ở tại thôn này.
Văn Vương mừng rỡ hỏi Thân Kiệt:
– Ngươi có ngựa cho ta mượn đỡ, về tới điện ta sẽ đền ơn.
Thân Kiệt tâu:
– Xóm này nghèo khó lắm, không ai nuôi ngựa. Nhà tôi chỉ có môt con lừa để tôi thắng yên rồi đi theo đại vương hầu hạ.
Văn Vương mừng rỡ, đợi thắng yên cho con lừa xong, mới ngồi lên lưng lừa, theo đường về Kinh đô. Thân Kiệt theo sau hộ giá.
Ngày kia, tại Tây Kỳ bà Thái Khương đang nhớ con là Tây Bá, ngồi thẫn thờ trước hiên, bỗng nghe ba trận gió thổi tới dường như tiếng thú kêu. Bà Thái Khương vội thắp hương, lấy tiền gieo quẻ biết Tây Bá đã về gần đến liền gọi các cháu và bá quan văn võ báo tin mừng, phút chốc tiếng đồn khắp dân gian, thiên hạ dắt dê gánh rượu chật đường đi đón.
Bấy giờ Văn Vương cỡi lừa đi lểnh mễnh hằng lâu mới tới Tây Kỳ. Bỗng nghe một tiếng súng lệnh, xa xa nhấp nhô hai cây cờ đỏ, đàng sau một đoàn người đông như kiến cỏ lũ lượt kéo đến.
Văn Vương nhìn thấy đi đầu là Táng Nghi Sanh và Nam Cung Hoát theo sau là triều thần văn võ, rồi đến dân chúng trong thành.
Khi đoàn người gần đến, Cơ Phát bước đến trước lừa, sụp lạy:
– Phụ vương bị cầm chơn nơi đất khách, bảy năm rồi con chẳng viếng thăm, xin phụ vương mở lượng hải hà tha tội bất hiếu. Nay nhờ trời phụ vương được về nước, các tôi con mừng dường nào.
Văn Vương mừng đến ứa lệ nói:
– Ta nay khác nào như không nhà mà có nhà, không nước mà có nước, không tướng mà có tướng, không con mà có con. Bị cầm tù bảy năm, ta ngỡ bỏ xương nơi đất khách rồi.
Táng Nghi Sanh tâu:
– Xưa vua Thành Thang bị vua Kiệt cầm ở thành Hạ Ðài đến sau về nước lấy được thiên hạ. Nay chúa công chẳng khác gì vua Thành Thang, chỉ cần giữ gìn nhơn đức, nuôi dưỡng tôi dân, đợi thời sẽ tính. Hễ lòng người mà thuận, thì máy tạo cũng theo.
Văn Vương nói:
– Quan Ðại Phu nói như vậy không là kẻ trí thương ta, cũng không là tôi ngay thờ chúa. Vả tội ta đáng giết, vua chỉ cầm tù là đã mang ơn rồi. Nay vua lại phong vương, ban cờ mao búa việt dạy ra lo việc chinh phạt, thì ơn ấy ví bằng trời đất, ta phải lo rán sức trả ơn, lẽ nào nghĩ điều bội chúa. Thôi, từ rày về sau quan Ðại Phu chớ nói như vậy nữa mà ta buồn ý.
Bá quan nghe nói đều làm thinh. Cơ Phát thưa:
– Xin phụ vương thay đổi áo xiêm, lên xe về điện.
Văn Vương đổi lấy áo mão, bước lên xe, truyền Thân Kiệt theo hầu, rồi vua tôi đồng về kinh.
Giữa lúc đó dân chúng đều hô lên một câu lớn:
– Bảy năm nay mới thấy mặt trời, nghe chúa trở về, muôn dân điều ngóng cổ ước ao được thấy mặt.
Văn Vương thấy dân chúng nói như vậy liền xuống xe lên ngựa, chân bước đi giữa rừng người, để dân chúng ai nấy đều trông thấy.
Dân chúng mừng rỡ nói lớn:
– Nay Tây Kỳ đã có chúa, dân sự may mắn biết chừng nào.
Văn Vương đi đến núi Tiểu Long ngó ngoái lại thấy chín mươi tám người con đều đủ mặc, duy thiếu một mình Bá Ấp Khảo thì buồn bã vô cùng. Hai dòng lệ nhỏ xuống má, ruột đau như cắt, lấy áo che mặt khóc lớn than:
Trọn đạo tôi nên dâng lệnh chầu Thương
Vì gián chúa cho vẹn đạo can thường
Mà mắc tội cầm nơi Dũ Lý
Biết thời suy không oán trách triều đường
Vì hiếu Bá Ấp Khảo thương cha chuộc tội
Ðắt Kỷ hiềm, banh xương lóc thịt
Làm thịt con, trao bánh cho cha
Ăn thịt trẻ động lòng từ ái
Nhờ ơn vua mới đặng chức Văn Vương
Trốn nữa đường may gặp Lôi Chấn Tử
Bay vài giờ thấy rõ chốn quê hương
Nay đã được sum vầy mẫu tử
Mất một con đau đớn can trường.
Văn Vương dứt lời than, ré lên một tiếng, và nói:
– Ðau đứt ruột đi thôi.
Liền té xuống ngựa mặt trắng bạch như tờ giấy. Các vị công tử xúm nhau đỡ dậy. Văn Vương mửa ra một miếng thịt, cục thịt ấy mọc ra hai tai bốn cẳng, hóa hình con thỏ, chạy về hướng Tây biến mất. Văn Vương mửa ra hai miếng nữa, thịt cũng hóa thỏ chạy như vậy.
Văn Vương lần lần tỉnh lại, các quan đỡ lên xe đưa về đền tìm ngự y thang thuốc hơn mấy ngày mới mạnh.
Vừa khỏi bệnh, Văn Vương đã vào lạy mẹ chúc mừng và ôm chân khóc kể:
– Con bảy năm lỗi đạo thần tôi, xin mẹ tha tội.
Bà Thái Khương cũng vừa khóc vừa khuyên lơn. Văn Vương lại vào nhà tông miếu làm lễ tông đường.
Rồi đó, Văn Vương thuật hết mọi khó nhọc trong bảy năm bị giam cầm cho văn võ bá quan nghe, tặng thưởng bạc vàng cho Thân Kiệt và cho về quê cũ.
Táng Nghi Sanh quỳ tâu:
– Chúa công đức rải thiên hạ, muôn dân kính vì. Nay cọp đã về rừng, rồng thênh thang bên biển cả, đã qua cơn bỉ cực, phải tìm hồi thái lai. Xét như vua Trụ giết vợ hại con, bày Bào Lạc hại trung thần, lập Sái Bồn giết cung nữ, hành động tàn ác ấy khiến nhiều đấng chư hầu làm phản ba phương thiên hạ trở lòng Triều Ca sẽ không thể trị lâu, cơ nghiệp sẽ không tồn tại.
Táng Nghi Sanh vừa nói dứt, bên võ tướng có một người hét lớn lên:
– Nay Ðại vương đã về đến đây, há chúng ta lại quên thù Công tử. Xin đem binh ròng bốn mươi vạn, tướng mạnh sáu mươi viên, kéo tới lấy một lần luôn năm ải, chém đầu Bí Trọng, mổ ruột Vưu Hồn, bằm Ðắt Kỷ thành tương, phế vua Trụ làm dân dã, tôn người hiền lên Thiên Tử, cứu hoạn nạn cho muôn dân. Ðược như vậy chư hầu thảy mang ơn, muôn dân sẽ mến đức.
Văn Vương thấy người vừa nói là Nam Cung Hoát thì buồn bã trách:
– Ta nghĩ hai khanh trung nghĩa, nên giao phó việc triêu đình, ngờ đâu nay hai khanh lại tỏ lời phản chúa xúi việc bất trung. Ví dầu chúa có lỗi thì tôi cũng chớ oán cừu, còn cha có lầm thì con cũng nên giấu giếm. Ðó là đạo trung thần. Con trách cha, tôi oán chúa sao phải. Nay ta nhờ Thiên Tử phong đến chức Văn Vương, cho về nước cầm quyền chinh phạt, đáng lẽ ngày đêm cầu khẩn cho chúa mạnh dân lành, lẽ đâu làm thói lăng loàn, sanh lòng phản nghịch. Từ rày các khanh chớ nên tỏ ý như vậy nữa mà mang tiếng xấu muôn đời.
Nam Cung Hoát tâu:
– Ngày trước Công tử đi cống sứ, dâng ba vật báu chuộc tội cho cha hành động hiếu đạo như vậy lại bị kẻ tàn ác phân thây! Nếu không báo oán thì làm sao cho nguôi giận?
Văn Vương nói:
– Bá Ấp Khảo bị giết là tại cãi lời cha, nếu không đến viếng thăm làm sao mắc họa. Nay ta phải giữ phép cho vẹn đạo chúa tôi, dầu vua độc ác thế nào cũng còn có chư hầu phán xét, lẽ nào ta đứng đầu gây loạn cho mang tiếng hay sao. Chi bằng lấy việc nuôi dân trị nước làm gốc, miễn tránh cho thiên hạ khỏi lao khổ, chúa tôi được hưởng thanh bình, tai không nghe tiếng giáo gươm, mắt không thấy cảnh giết chóc, lòng khỏi lo thắng bại, mình chẳng sợ đạn tên tướng chẳng giao tranh, dân không nguyền rủa, ấy là vui ấy là phước.
Táng Nghi Sanh và Nam Cung Hoát nghe Văn Vương nói điều nhơn đức, cả hai đều quỳ lạy lui về.
Văn Vương nói:
– Trẫm muốn cất một cái linh đài tại hướng Nam gần thành Tây, để coi sao và xem bói nhưng sợ bày ra thì nhọc sức dân.
Táng Nghi Sanh tâu:
– Chúa công muốn làm đài Thiên văn, coi điềm hung kiết, giữ cho dân được thái bình thịnh trị đó là việc làm có ích lợi. Nhưng muốn cho dân chúng được vui xin chúa công treo bảng mướn nhân công, mỗi người một ngày trả hai chỉ bạc, ai muốn ăn tiền thì làm, không cần bắt ép.
Văn Vương khen:
– Khanh nghĩ vậy rất hay. Vậy hãy treo bảng ngoài thành cho dân biết trước.
Táng Nghi Sanh được lệnh Văn Vương ngày hôm sau treo bảng tuyển lựa nhân công, dân chúng bâu quanh, đọc rằng:
“Tây Bá Văn Vương truyền rao cho dân chúng rõ:
Ta xem thấy khu đất trống dựa thành Tây tốt lắm, muốn lập một cái Linh đài để xem Thiên văn và bói Dịch, biết việc dữ lành trong nước. Người nào muốn đến làm sẽ được trả hai chỉ bạc mỗi ngày, còn ai không muốn làm thì thôi, không bắt buộc.”
Nhân dân bàn luận với nhau:
– Bởi Ðại vương nhân đức nên chúng ta mới được thảnh thơi, mặt trời mọc thì đi chơi, mặt trời lặn thì về ngủ, khỏi lo ly loạn, vui thái bình. Nay Ðại vương muốn cất Linh đài để xem việc dữ lành trong nước, lẽ ra chúng ta phải góp công, góp sức mà làm cần gì phải trả tiền công.
Bàn luận xong, dân chúng cử người thay mặt đến xin yết kiến Táng Nghi Sanh và thưa:
– Chúng tôi xin góp sức làm xong Linh đài, không lấy đồng tiền công nào hết.
Táng Nghi Sanh vào tâu lại, Văn Vuơng không bằng lòng, ép dân chúng phải nhận tiền. Dân chúng mến đức vô cùng, dốc hết sức mình đua nhau làm rất hăng, chỉ trong mười ngày, một cái đài nguy nga đã lập xong.
Văn Vương dẫn bá quan ra xem thấy đài cao hai trượng, chạm trổ đâu đấy rất tinh vi, vẻ huy hoàng tưởng không ngờ được.
Tuy vậy, nét mặt Văn Vương vẫn không vui. Táng nghi Sanh thấy vậy hỏi:
– Linh đài đã lập thành, vì ý gì Chúa công buồn bực?
Văn Vương nói:
– Ta muốn đào thêm trước sân Linh dài một cái ao nữa mới đủ âm dương, song sợ sức dân mệt nhọc.
Táug Nghi Sanh nói:
– Lập cái đài công lao bằng mười lần mà chỉ làm trong mấy bữa, thì đào cái ao phỏng có bao nhiêu công mà Chúa công ngần ngại.
Văn Vương nói:
– Cái ao phải đào bằng Linh đài, thủy hỏa bằng nhau.
Dân chúng nghe Văn Vương có lòng thương dân như vậy xúm nhau đến yết kiến Táng nghi Sanh, nói:
– Việc đào ao công phu có bao nhiêu mà Chúa công lo lắng.
Nói rồi hè nhau chia thành toán, kẻ xúc đất, người hì hục đào.
Niềm vui tớ mở. Khi hầm sâu độ một thước, dân chúng gặp những bộ xương khô trắng hếu, chẳng biết chôn từ đời nào liền móc quăng lên.
Văn Vương trông thây hỏi:
– Vật gì trắng hếu như vậy?
Dân chúng thưa:
– Ðó là những bộ xương người chẳng biết của ai.
Văn Vương nói:
– Phải sắp theo từng bộ, để tẩn liệm, chôn cất hẳn hoi, không nên khinh thường.
Dân chứng tâu:
– Ðó là những nấm mồ hoang vô chủ, không ai thừa nhận còn quý trọng làm gì.
Văn Vương nói:
– Quý trọng cái mà không ai quý trọng là con người có đạo.
Nói rồi truyền mua quan quách, bao nhiêu xương trắng được chôn cất tử tế.
Ðến bộ xương khô mà vua còn thương huống chi người sống. Ai nấy đều cảm kích, nên việc đào ao chỉ vài hôm hoàn thành.
Mấy ngày đêm Văn vương xem đào ao không về điện, truyền quân dọn tiệc trên đài vua tôi ăn uống. Thấy việc đào ao quá mau như vậy Văn Vương đặt tên là Linh chiêu, nghĩa là ao linh.
Yến tiệc xong rồi Văn Vương nằm ngủ trên đài, chiêm bao thấy một ông cọp có cánh, lao mình từ bên Ðông chạy xóc tới nhảy xổ vô màng, Văn Vương thất kinh vừa gọi tả hữu, xảy nghe sau đài nổ một tiếng lớn, lửa cháy rực trời. Văn Vương giật mình thức dậy mồ hôi ướt đẫm như tắm. Bấy giờ trống đã đổ canh ba.
Sáng ngày Văn Vương đòi Nghi Sanh đến hỏi điều lành dữ.
Nghi Sanh tâu:
– Ðó là điều tốt, chúa công sẽ gặp tôi hiền.
Văn Vương hỏi:
– Căn cứ vào đâu mà đoán như vậy?
Táng Nghi Sanh tâu:
– Xưa vua Cao Tông nhà Thương chiêm bao thấy gấu bay mới gặp được Phú Duyệt là tôi tài trí, nay Ðại vương nằm mộng thấy hùm có cánh thì cũng như thấy gấu bay. Còn cõi Tây thì thuộc Kim, mà lại thấy lửa cháy ấy là vàng, nhờ lửa mới nên vật quí trong đời. Quả thật điềm đại lợi cho nước Châu ta vậy.
Các quan nghe nói đều mừng rỡ vô cùng. Văn Vương lui về điện, ngày đêm mong ngóng, mong tìm được người hiền, hiệp với điềm ứng mộng.
Nhắc lại Khương Tử Nha từ khi bỏ xứ Triều Ca cứu dân qua ải rồi ẩn dật nơi Bàn Khê đợi vận, gieo câu sông Vị chờ thời, đói ăn trái cây, khát uống nước suối, vui thì xem kinh luyện phép, buồn thì câu cá giải khuây.
Ngày kia, Tử Nha ngồi trên thạch bàn, cầm cần câu thả xuống nước, ngâm một bài thơ như vầy:
Về thế tám thu chầy
Trần ai chịu đọa đày
Nữa năm nương đất Trụ
Một khắc đến non Tây
Sợi nhợ kinh luân đó
Miếng mồi thao lược đây
Truớc là câu cá nước
Sau đợi hội rồng mây
Tử Nha vừa ngâm xong bài thơ, bước lại cội dương ngồi hứng mát bỗng thấy một ông tiều vai gánh củi, miệng hát lêu nghêu.
Ông tiều thấy Tử Nha liền ghé lại hỏi:
– Tôi thấy ông thường câu cá nơi khúc sông này, muốn nói với ông vài câu chuyện để hưởng thú ngư tiều vấn đáp.
Tử Nha mừng rỡ nói:
– Tốt lắm! Tôi với ông sẽ là bạn với nhau.
Ông Tiều hỏi:
– Ông quê quán ở đâu, tên họ là chi?
Tử Nha nói:
– Tôi ở Hứa Châu, họ Khương tên Thượng, tên chữ là Tử Nha, biệt hiệu là Phi Hùng.
Ông Tiều nghe nói cười ngã nghiêng ngã ngửa. Tử Nha lấy làm lạ hỏi:
– Ông là ai vậy?
Ông tiều đáp:
– Tôi họ Võ tên Kiết ở xứ Tây Kỳ.
Tử Nha hỏi:
– Tại sao ông lại cười như điên vậy?
Võ Kiết đáp:
– Tôi nghe ông xưng hiệu Phi Hùng nên nín cười không được.
Tử Nha hỏi:
– Từ xưa đến nay làm người ai cũng có tên có hiệu, chuyện gì mà cười.
Võ Kiết nói:
– Ðời xưa, những bậc thánh hiền bụng chứa văn chương, lòng đầy thao lược xưng tên xưng hiệu đã đành, còn như ông ngồi câu cá suốt ngày, cái lưng cháy nám mà cũng xưng hiệu Phi Hùng bảo tôi nín cười làm sao. Nếu ông tự xưng là con khỉ ốm thì khỏi ai bắt bẻ.
– Hễ có trí thì tuổi thơ cũng có trí, còn không mưu thì đầu bạc cũng không mưu. Muốn câu cá mà để lưỡi câu ngay thì đời nào bắt được cá. Ðể tôi dạy dùm cho. Ðốt cây kim này cho đỏ, cắt ngạnh, uốn cong cong rồi móc mồi cho thơm, nhợ phải cột phao chính giữa, lúc thả xuống sông mà thấy phao động đậy ấy là cá ăn câu, phải giựt lên cho gấp, lưỡi câu móc vào mép cá, mới bắt được cá mà ăn. Khờ dại như ông mà dám cả gan xưng Phi Hùng.
Tử Nha nói:
– Ngươi biết một chẳng biết hai. Ta không dùng lưỡi câu cong để câu cá câu tôm, chỉ dùng lưỡi câu ngay để câu thời cân vận. Nếu làm cong queo thì được của thà cứ thế ngay mà thanh bạch còn hơn. Như ý ta là:
Ngày chờ thời giờ quý
Vậy được của không cầu
Chẳg kiếm tôm kiếm cá
Mà kiếm công kiếm hầu.
Võ Kiết nhướng mắt nhìn Tử Nha từ đầu đến chân, cười lớn:
– Bộ tịch như con khỉ ốm lại muốn chuyện to tuồng. Tôi nghĩ chắc trong thế gian này hết người, nên thiên hạ mới cần đến loài khỉ.
Tử Nha nổi giận mắng:
– Ngươi chê ta bộ mặt khỉ, vậy mặt ngươi tốt lắm sao?
Võ Kiết nói:
– Bộ mặt ta không tốt nhưng cũng khá hơn một chút. Ta tuy là đốn củi, cũng còn sung sướng hơn ông câu, mùa xuân xem đào tươi, mùa hè coi sen nở, mùa thu hái bông cúc, mùa đông bẻ cành mai, vui thú thanh nhàn, quên đường danh lợi.
Võ Kiết nói xong ngâm một bài thơ:
Củi quế hàng ngày đổi gạo châu
Mẹ con chung uống rượu đầy bầu
Cây rừng trái núi là cơ nghiệp
Chẳng được chức công cũng chức hầu.
Tử Nha nói:
– Không phải ta chê bộ mặt ngươi xấu. Ta chê khí sắc của ngươi kìa.
Võ Kiết hỏi:
– Khí sắc của ta có gì xấu?
Tử Nha đọc bài thơ:
Mặt nọ đỏ bầm bầm
Tròng kia xanh dạng sạng
Ra phố đánh chết người
Chúng bắt thường nhơn mạng.
Võ Kiết nạt lớn:
– Nãy giờ tôi nói giỡn với ông một chút không hại gì, sao ông độc miệng rủa tôi như vậy.
Dứt lời Võ Kiết hậm hực gánh củi lên vai đi thẳng xuống thành Tây Kỳ không thèm ngoái đầu lại.
Bấy giờ Văn Vương ngồi xe qua Linh đài bói quẻ, văn võ theo chầu chực rất đông.
Vừa đến Nam môn, thấy người gánh củi đi tới, quân sĩ nạt lớn:
– Tránh đường cho thánh giá đi.
Võ Kiết nghe nạt thất kinh vội day gánh củi lại định nép sang một bên đường. Chẳng ngờ gánh củi kình càng, đụng phải vào mang tai tên lính chết tươi. Quân lính hai bên ó lên:
– Lão tiều này dám đánh chết lính.
Liền bắt Võ Kiết đem nạp cho Văn Vương.
Văn Vương phán:
– Người nào đâu vậy?
Quân lính thưa:
– Người này vô cớ đánh chết tên quân hầu là Vương Tướng.
Văn Vương hỏi:
– Nhà ngươi tên họ là chi? Vì sao lại đánh chết quân lính?
Võ Kiết tâu:
– Tôi là Võ Kiết dân ở Tây Kỳ bởi tránh xe đại vương, đường hẹp khó trở vai nên day gánh củi đụng nhằm chú lính.
Văn Vương phán:
– Võ Kiết đụng chết người phải thường mạng.
Nói rồi truyền vẽ một vòng dưới dất làm trại giam, dựng một cái cây trước cửa Nam làm quân canh, bắt Võ Kiết đứng trong vòng. Bấy giờ ở đất Tây Kỳ luật pháp rất nghiêm minh, trừng phạt rất nhẹ mà không ai dám trốn tránh.
Võ Kiết bị ngồi trong vòng ba bữa, nhớ mẹ than thầm:
– Chắc là mẹ ở nhà dựa cửa trông con, lòng già mòn mỏi.
Than rồi mủi lòng khóc lớn. Mọi người nghe tiếng khóc xúm lại xem.
Táng Nghi Sanh vừa đi đến, thấy vậy hỏi:
– Hôm trước nhà ngươi đụng chết lính, mạng thế mạng lẽ thường, oan ức gì mà khóc?
Võ Kiết thưa:
– Thời vận tôi rủi ro lắm, tránh đường hẹp mà làm chết người, thường mạng đã đành tôi đâu dám than thở, ngặt vì tôi không có vợ con anh em chi hết, còn lại mẹ già tuổi đã bảy mươi, nếu không có tôi lấy ai nuôi dưỡng. Mẹ tôi chắc phải nhào xuống sông mà chết, hoặc nhịn đói nên bỏ mình. Tôi nghĩ tôi bất hiếu với mẹ, nên tủi phận khóc than.
Táng Nghi Sanh nghĩ thầm:
– Võ Kiết là con chí hiếu, còn việc giết người là rủi ro không cố ý, nếu cứ theo luật pháp mà không nghĩ đến hoàn cảnh riêng sao gọi là công bằng.
Liền nói với Võ Kiết:
– Thôi, ngươi đừng khóc nữa, để ta tâu với vua tha cho ngươi về xứ, đặng sắm đủ gạo, mắm, áo quần, tiền bạc hòm rương cho sẵn chu cấp cho mẹ ngươi, rồi đến mùa thu năm tới ngươi sẽ đem mình đến đây mà nạp mạng.
Võ Kiết thưa:
– Nếu được như vậy tôi sẽ làm tròn chữ hiếu và rất đội ơn quan lớn.
Táng Nghi Sanh đến yết kiến Văn Vương, tâu rõ mọi điều. Văn Vương y tấu cho Võ Kiết về xứ.
Võ Kiết ra khỏi ngục thất, vì nhớ mẹ nên không kể trời đất gì nữa, ôm đầu chạy một mạch về đến nhà, mồ hôi thấm rách áo mình mẩy đầy cát bụi.
Bà mẹ Võ Kiết đứng dựa lưng trước ngõ trông con, thấy Võ Kiết chạy về liền hỏi:
– Con đi đâu bỏ mẹ mấy ngày rày? Mẹ tưởng con bị cướp, hùm xé xác trong rừng sâu rồi, đau buồn quá sức.
Võ Kiết thưa:
– Con rủi ro lắm mẹ ơi!
Vừa nói vừa ôm chân mẹ khóc sướt mướt.
Bà Mẹ vuốt tóc con hỏi:
– Chuyện gì nói cho mẹ hay?
Võ Kiết nói:
– Hôm kia con gánh củi xuống thành Tây bán, chẳng ngờ gặp lúc vua ngự ra Linh đài. Bọn quân canh dẹp đường cho Thánh giá đi, đang lúc lúng túng, con trở vai quay gánh củi để tránh đường, chẳng ngờ đụng nhằm mang tai một tên lính chết tươi. Vua bắt con cầm ngục…
Bà mẹ nghe nói đến đây thất kinh hỏi:
– Theo luật pháp, giết người phải thường mạng. Con làm sao trở về đây với mẹ được?
Võ Kiết thưa:
– Lúc con đang bị cầm ngục, con nhớ mẹ quá sức, sợ mẹ trông chờ, sợ không người nuôi dưỡng, nên khóc mãi. May nhờ có quan Ðại Phu thương tình tâu với vua cho phép con về nhà một năm để lo gạo, sắm áo quần, quan quách cho mẹ đủ dùng, mùa thu sang năm con sẽ đến nạp mình chịu tội.
Nói đến đây Võ Kiết khóc òa. Bà mẹ ôm con than:
– Suốt đời con chưa làm việc hung dữ, thờ mẹ rất có hiếu, sao lại xui khiến gặp chuyện tai ương như vậy!
Võ Kiết nói:
– Chắc con bị lão già câu cá ở Bàn Khê độc miệng rủa con nên con mới bị rủi ro như vậy?
Bà lão nói:
– Ông già câu cá rủa thế nào?
Võ Kiết liền kễ lại câu chuyện gặp gỡ Tử Nha, và nói:
– Lão nói mặt con đỏ bầm, hai con mắt tròng xanh tròng đỏ, thế nào cũng đụng chết người, bị bắt thường nhân mạng. Lão độc miệng rủa con như vậy nên con mới bị như vầy, để con tìm lão đánh một trận cho bõ ghét, để lão rủa thiên hạ chết hết.
Bà lão nói:
– Con đừng trách người ta như vậy, theo lời con nói, mẹ đoán chắc ông già ấy có tài xem tướng rất hay, con nên đến đó cầu khẩn ông ta may ra có cách cứu được.
Võ Kiết đến mé Bàn Khê thấy Khương Thượng đang ngồi câu trên bàn thạch, ở chạy đến kêu lớn:
– Khương lão gia ơi.
Tử Nha nghe kêu ngoảnh lại thấy Võ Kiết liền hỏi:
– Ngươi phải gã tiều phu hôm trước chăng?
– Ðúng rồi Khương lão gia còn nhớ tôi sao?
Võ Kiết nói:
– Hôm trước ngươi có đụng người ta chết hay không?
Võ Kiết nói:
– Lão gia quả thật thánh thần, có con mắt nhìn thấu đáo.
Tử Nha hỏi:
– Ngươi làm chết người sao về được nơi đây?
– Chẳng giấu gì lão gia, hôm đó tôi xuống Tây Kỳ bán củi, gặp lúc quân lính dọn đường cho xa giá vua đi, tôi lính quýnh quay gánh củi, rủi trúng nhằm một tên lính chết tươi. Vua bắt tôi đền mạng, tôi than khóc vì còn chút mẹ già không ai nuôi dưỡng. Lúc ấy có quan Ðại Phu là Nghi Sanh thấy thương tình tâu với vua cho tôi trở về lo tiền bạc, gạo thóc để dành cho mẹ tôi sinh sống rồi sẽ đến nạp mình. Tôi thiết tưởng mẹ tôi đã già, không làm gì được chỉ nhờ tôi nuôi dưỡng, nếu tôi chết đi, mẹ tôi cũng chẳng sống được bao lâu nữa, lòng tôi đau xót quá. Xin lão gia ra ân cứu mạng tôi với, ơn ấy mẹ con tôi ngàn thuở không quên.
Tử Nha nói:
– Người có số mạng. Ngươi làm chết người phải đền tội. Ta làm sao cải số trời cho được?
Võ Kiết khóc lóc, năn nỉ mãi:
– Lão gia đã có lòng nhân xin tìm cách cứu mẹ con tôi trong cơn tai nạn, dẫu đến đầu bạc răng long tôi vẫn không quên được.
Tử Nha thấy Võ Kiết lắm lời năn nỉ, lại thương người có hiếu nên bảo:
– Nếu muốn ta cứu mạng, ngươi phải gọi ta bằng sư phụ mới được.
Võ Kiết mừng rỡ lật đật sụp lạy thưa:
– Xin sư phụ ra ơn làm phước, đệ tử không bao giờ đổi lòng.
Tử Nha nói:
– Ngươi đã dốc lòng làm đệ tử tất nhiên ta phải ra sức cứu ngươi. Vậy ngươi về nhà đào một cái hầm dưới gầm giường, bề sâu bốn thước, tối đến ngươi nằm dưới hầm ấy ngủ, dặn bà lão thắp một ngọn đèn chong dưới chân, một ngọn chong trên đầu, hốt ba nắm gạo trắng rắc lên mình, ủ một mớ cỏ xanh trên miệng huyệt. Ta ở nơi đây sẽ làm phép để ngươi nằm dưới huyệt mà ngủ. Sáng ngày ngươi leo lên, cứ việc vác rìu vào núi đốn củi như thường, và ngươi sẽ bình yên vô sự, không cần phải nạp mạng.
Võ Kiết tạ ơn chạy về nhà lập tức.
Có bài thơ khen Tử Nha rằng:
Tây Bá bói tuy thiệt
Tử Nha ếm cũng mầu.
Nếu không bày phép nhiệm
Sao đặng đến sân chầu?
Cứu một người tên Kiết
Yên trăm họ nước Châu
Chẳng ra tài vương Bá
Sao rõ mặt công hầu.
Võ Kiết về đến nhà mặt mày tươi như hoa mới nở, bà mẹ thấy Võ Kiết như vậy biết việc đã xong, liền hỏi:
– Con đi cầu Khương lão gia, người dạy làm sao?
Võ Kiết thuật lại cách dạy bảo của Tử Nha rồi lo đi cắt cỏ thấp đèn, đào huyệt.
Còn Tử Nha đêm ấy cũng thức đợi đến canh ba, xõa tóc cầm gươm đốt bùa niệm chú, làm phép ếm đối xong xuôi.
Sáng ngày Võ Kiết đến tạ ơn Tử Nha thưa:
– Ðệ tử vâng theo lời thầy làm đủ phép.
Tử Nha nói:
– Việc ấy như vậy là xong, không còn lo sợ gì nữa. Nay ngươi đã làm đệ tử thì phải nghe lời ta, cứ buổi sáng vào núi đốn củi kiếm ăn, còn buổi chiều phải đến đây tập luyện võ nghệ để chờ ngày giúp nước. Vì nay Trụ Vương lỗi đạo, bốn Trấn chư hầu đều nổi lên diệt bạo cứu nguy.
Võ Kiết hỏi:
– Thưa sư phụ, bốn trấn trấn chư hầu nào vậv?
Tử Nha nói:
– Ðông Bá Hầu Khương Văn Hoán cầm đầu hai trăm trấn chư hầu đánh ải Du Hồn, Nam Bá Hầu Ngạt Thuận cầm đầu hai trăm trấn chư hầu đánh ải Tam Sơn. Ta xem thiên văn thấy chẳng bao lâu nữa thiên hạ sẽ loạn. Vậy thì ngươi cũng nên tập luyện võ nghệ cho thông, đặng mai sau kiếm cơ lập nghiệp, nếu cứ đốn củi mãi thì già đời cũng chỉ làm một gã tiều phu mà thôi.
Võ Kiết theo lời Tử Nha dạy bảo, buổi mai vào núi đốn củi, buổi chiều đến Bàn Khê học nghệ.
Bấy giờ Táng Nghi Sanh tính lại đã nửa năm rồi mà không thấy Võ Kiết đến nạp mình. liền vào tâu với Văn Vương:
– Tôi thấy Võ Kiết còn mẹ già nên tâu xin cho nó về lo việc cấp duỡng một thời gian. Nay đã nửa năm, đúng hẹn mà không thấy nó đến trình diện, khi luật triều đình, xin Chúa công liệu cách trị tội.
Văn Vương liền lấy tiền ra gieo một quẻ để đoán việc ngay gian, chẳng ngờ vì có phép yếm của Tử Nha, khiến quẻ ứng rằng Võ Kiết đã gieo mình xuống sông tự vận rồi.
Văn Vương thương hại nói:
– Võ Kiết không phải trốn đâu. Bởi nó sợ hành hình nên trầm mình xuống sông tự vận. Nghĩ lại nó rủi ro phạm tội, không có ý giết người, nay nó đã tự tử thì bỏ qua cũng được.
Văn Vương than thở một hồi rồi vào trướng nghỉ ngơi.
Ngày tháng cứ thoi đưa, thu đông qua rất chóng, mới đó mà đã vào tiết xuân rồi, đào lý đã nở hoa bướm ong tấp nập.
Văn Vương thấy muôn hoa rực rỡ, trăm họ vui vầy, truyền hết thảy triều thần cho phép được vui xuân mở hội.
Táng Nghi Sanh tâu:
– Ngày trước Chúa công ngự thấy điềm lành, nay nhân tiết xuân mát mẻ. Chúa công cũng nên thả gót nhàn du may ra gặp được hiền thần trong mộng.
Văn Vương khen phải, liền truyền Nam Cung Hoát và Tân Giáp dẫn binh rồng theo hộ giá.
Nam Cung Hoát và Tân Giáp tuân lệnh dẫn năm trăm quân, tôi chúa đồng kéo nhau đến Gò Nam xem hoa thưởng ngoạn.
Có bài thơ vịnh mùa xuân:
Vàng tía chen nhau ngập thế gian
Ong qua bướm lại nhộn bên đàng
Khuyên ai chớ phụ thời xuân sắc
Một tấc ngày xuân một tấc vàng.
Văn Vương và các quan vừa đến Gò Nam đã thấy dân chúng bao quanh, kẻ vác giáo, người cầm cung tên, dắt muông, bủa lưới dường như họ đang bày cuộc săn bắn vậy.
Văn Vương lấy làm lạ hỏi Táng Nghi Sanh:
– Dân chúng làm gì vậy?
Táng Nghi Sanh tâu:
– Ngày nay Chúa công muốn vui chung với bá tánh nên họ bày cuộc săn bắn để Chúa công giải khuây.
Văn Vương không bằng lòng, nói:
– Xưa quan đại thần là Phong Hậu đem dâng thịt sống cho vua Phục Hy, vua Phục Hy nói: Trời sanh loài cầm thú cũng biết đau đớn, sống chết như loài người, tại sao loài người lại giết chúng mà ăn thịt. Lòng ta chỉ muốn sống mà thôi, không đành làm chết một sinh vật nào cả. Như loài thảo mộc, không biết đau đớn, không có tri giác, ta có thể dùng nó nuôi sống loài người được, ấy là vua Phục Hy sanh nhằm thời thượng cổ, không có lúa gạo như bây giờ mà không đành ăn thịt cầm thú thay, cho nên đời sau mới gọi là Thánh đế. Chúng ta ngày nay lúa gạo đầy đủ, ngũ cốc ê hề, đã no lòng còn đòi hỏi việc ngon miệng. Ðang lúc mùa xuân ấm áp, mọi sinh vật phơi phới như vầy, chúng ta nỡ nào phá phách cho muôn thú vỡ ổ lạc bầy, bất nhân thất đức.
Bấy giờ khắp chốn Tây Kỳ trai gái đều điểm trang rực rỡ, kẻ ngâm thơ, người uống rượu, già đi trước trẽ theo sau, muôn vật như tăng phần linh động.
Văn Vương lấy làm đẹp dạ, khen:
– Như thế này mới gọi là thái bình thịnh trị.
Táng Nghi Sanh tâu:
– Cõi Tây Kỳ thái bình lắm chẳng khác trời Nghiêu, đá Thuấn thuở xưa.
Ðoàn triều thần hộ giá Văn Vương đi từ chỗ này sang chỗ kia đến đâu cũng thấy dân chúng như vậy.
Xảy thấy có mấy người câu cá, vác cần câu trên vai nghêu ngao hát:
Vua Thành Thang đánh Hạ Kiệt
Y Doãn cầm binh xong các việc
Dựnq cờ phạt tội kéo xông qua
Ðuổi kẻ bạo tàn đi mất biệt
Hưỡng sáu tăm năm bên mối nước
Việc chánh ngày nay coi khác trước
Ðào ao được rượu, thit làm rừng
Lộc đài xương máu cao ngàn thước
Ðã mê tửu lại tham dâm
Ðao binh bốn biển dậy ầm ầm
Chúng ta ẩn mặt ngoài sông biển
Rữa tai chẳng chịu tiếng thâm trầm
Ngày thời theo sóng ca óng óng
Ðêm lại xem sao, trời lồng lộng
Sỗg dài biển rộng cứ gieo câu
Ðất trời che chở không cần lộng.
Văn Vương nghe ca nói với Táng Nghi Sanh:
– Người hiền ca lời lẽ uyên thâm lắm, chắc trong đám người đó có người hiền.
Nói rồi truyền Tân Giáp đến hỏi đoàn người câu cá xem ai đã đặt ra bài ca ấy?
Tân Giáp tuân lệnh giục ngựa đến đón đoàn người câu cá lại hỏi:
– Chúa công có lệnh cho đòi người hiền sĩ nào đã đặt ra bài ca ấy.
Mấy người câu cá thất kinh quỳ xuống thưa:
– Chúng tôi tất cả đều là người hiền.
– Người hiền gì mà đông dữ vậy!
Mấy người câu cá thưa:
– Chúng tôi sớm mai đi câu cá, buổi chiều lại nấu cơm thật là không hung dữ.
Văn Vương giục ngựa đến. Tân Giáp tâu:
– Ấy là mấy người đi câu cá, không phải bậc hiền sĩ.
Văn Vương nói:
– Nếu không phải bậc hiền sĩ sao lại có lời ca như vậy?
Mấy người câu cá tâu:
– Bài ca ấy không phải do chúng tôi đặt. Cách đây ba mươi dặm tại đất Bàn Khê, có một ông già ngồi câu cá thường ca bài ấy, chúng tôi thường nghe nên thuộc lòng ca nghêu ngao lúc hứng chí.
Văn Vương phán:
– Thôi các ngươi lui về nghỉ.
Mấy người câu cá lạy tạ vua, dời gót. Văn Vương ngồi trên ngựa ngẫm nghĩ:
– Kẻ sĩ nào lại dùng tiếng rửa tai, chắc là người khí phách lắm.
Táng Nghi Sanh thấy Văn Vương trầm tư, liền hỏi:
– Chúa Công nghĩ gì vậy?
Văn Vương nói:
– Trong bài ca vừa rồi có hai tiếng rửa tai, đó là tích của người xưa hay lắm.
Táng Nghi Sanh hỏi:
– Tâu chúa công, tích ấy thế nào hạ thần chưa rõ?
Văn Vương nói:
– Nay Thiên tử ưa nghe tiếng dấm là tiếng nhạc mất nước, nên người đặt bài ca đó là tích Hứa Do rửa tai đời trước mà sánh mình.
Táng Nghi Sanh hỏi:
– Tích Hứa Do rửa tai thế nào?
Văn Vương giảng giải:
Ngày xưa vua Nghiêu có chín người con trai, nhưng xét tánh tình không người nào hiền đức, vua Nghiêu sợ nếu để con mình nối ngôi trị Thiên hạ sẽ ly loạn, vì vậy vua Nghiêu đi khắp thiên hạ tìm người hiền để nhường ngôi. Ngày kia, vua Nghiêu đi đến chân núi thấy một người cầm chiếc bầu nhỏ đang múc nước dưới khe.
Vua Nghiêu liền hỏi: – Ngươi làm gì vậy?
Hứa Do nói:
– Tôi ngán cuộc nơi ô trọc nên lánh mình một cõi, tìm thú thanh nhàn, không màng lợi danh, đói ăn trái cây, khát uống nước suối giữ mình trong sạch cho mãn kiếp thời thôi.
Vua Nghiêu nghe mừng thầm nghĩ rằng người không ham phú quí, không ưa lợi danh chính thật người hiền, nếu truyền ngôi cho thế nào thiên hạ cũng được thái bình, Nghĩ như vậy vua Nghiêu nói:
– Trẫm thật là vua Nghiêu, giả thường dân đi tìm người hiền đức để nhường ngôi. Vậy ngươi là bậc hiền đức, hãy theo trẫm về triều thay Trẫm trị thiên hạ.
Hứa Do vốn không màng danh lợi, lại không thích công danh, nghe vua Nghiêu nói như vậy tuy làm thinh không đám cãi, nhưng lòng giận lắm, đập nát cái bầu, rồi bịt chặt hai tai, cong lưng chạy riết đến bến sông, vốc nước rửa tai mãi. Giữa lúc đó có Sào Phủ cho trâu đến bến sông cho uống nước, thấy Hứa Do rửa tai mãi, không hiểu vì cớ gì, hỏi:
– Tai anh dính vật gì dơ lắm sao mà rửa mãi vậy?
Hứa Do đáp:
– Vừa rồi tôi gặp vua Nghiêu bảo tôi về triều để truyền ngôi. Tôi nghe tiếng danh lợi dơ tai quá nên chạy đến đây mà rửa. Nhưng rửa đã lâu mà tiếng ấy vẫn còn văng vẳng, chưa hết.
Sào Phủ nghe nói liền dắt trâu lên trên dòng nước cho uống.
Hứa Do hỏi:
– Sao anh không cho trâu uống nước tại bến như thường lệ.
Sào Phủ nói: – Tai anh dơ lắm sợ trâu tôi uống dơ miệng.
Ấy là tích Hứa Do, Sào Phủ thời xưa. Nay người này lấy tích ấy ví mình là kẻ thanh bạch.
Vua tôi vừa đi vừa nói chuyện với nhau. Bỗng thấy mấy người gánh củi đi tới, cao giọng hát:
Phụng chẳng thiếu mà lân cũng có
Chẳng phải thời nên không chịu tỏ
Rồng bay mây kéo gió theo hùm
Trách đời sao chẳng tìm trăng tỏ
Há chẳng thấy người cày ruộng Hứa Sàng
Noi nghề vua Thuấn giữ lòng hằng
Chẳng gặp Thành Thang ba bận rước
Cũng đành trọn kiếp giấu tài năng
Lại chẳng thấy như ông Phú Duyệt
Lạnh lẽo dầm mưa lại dầm tuyết
Nếu chẳng Cao Tông thấy gấu bay
Mang tơi dựa vách không ai biết
Người hiền hết nhục tới khi vinh
Không lẽ anh hùng can phận thiệt.
Văn Vương nói với các quan ngồi trên ngựa nghe ca đều lấy làm lạ. Trong đoàn người này chắc có hiền sĩ. Liền bảo Tân Giáp đi mời nữa.
Tân Giáp tuân lệnh giục ngựa đến hỏi:
– Trong đám người ấy có ai là hiền tài xin mời ra đây cho Ðại vương dạy việc.
Mấy người gánh củi liền để gánh xuống chắp tay thưa:
– Chúng tôi chỉ có tài đốn củi chớ không có tài gì khác cả.
Văn Vương vừa đến nơi, Tân Giáp tâu:
– Họ cũng không phải, là hiền tài đâu, xin Chúa Công chớ nhọc lòng nghĩ đến họ.
Văn Vương nói:
– Nếu không phải hiền tài sao lại đặt được bài hát có ý nghĩa sâu xa như vậy?
Một người trong đám tiều phụ tâu:
– Chúng tôi đốn củi thường đi ngang qua chốn Bàn Khê nghe ông già câu cá hát bài này, chúng tôi thuộc lòng và ca hát làm vui lúc mệt nhọc.
Văn Vương nói:
– Nếu không phải các ngươi đặt ra bài hát ấy thì hãy lui về mà nghỉ.
Mấy gã tiều phu lạy tạ rồi gánh củi lên đường.
Văn Vương ngồi trên ngựa ngẫm nghĩ mãi hai bài ca vừa rồi.
Trong lúc đó triều thần ai nấy uống rượu thưởng hoa. Bỗng có một người gánh củi đến, miệng hát nghêu ngao mấy câu:
Nước dợn trong veo cảnh thật thanh,
Hùm thiêng chưa gặp ẩn non xanh
Người đời chẳng biết trang hiền sĩ
Cứ nói ông câu ở mé gành.
Văn Vương nghe tiếng ca, khen:
– Người này chắc là hiền sĩ đấy.
Táng Nghi Sanh vào tâu:
– Người ấy sao giống Võ Kiết, kẻ tội nhơn giết người ngày trước vậy.
Văn Vương nói:
– Quan Ðại Phu nhìn lầm rồi. Võ Kiết đã sợ tội nhảy xuống sông trầm mình, lẽ nào còn sống trên thế gian!
Táng Nghi Sanh ngồi trên ngựa ngắm kỹ một hồi, thấy quả là Võ Kiết, không còn nghi ngờ gì nữa, liền sai Tân Giáp đến bắt.
Tân Giáp vâng lời giục ngựa đến trước. Võ Kiết trông thấy xe giá không biết trốn vào đâu, phải để gánh củi xuống bên đường quì mọp xuống đất. Tân Giáp thấy quả Võ Kiết, liền đến trước ngựa Văn Vương tâu:
– Người ấy quả là Võ Kiết, tên giết người ngày trước.
Văn Vương nổi giận hét lớn:
– Ðứa thất phu, dám khi dễ ta như vậy.
Rồi quay lại nói với Táng Nghi Sanh:
– Người đâu xảo trá như vậy phải làm tội bằng hai, xử theo án sát nhân để răn chúng.
Nói rồi lại than:
– Nếu quẻ Tiên thiên ta bói không thiệt thì còn truyền lại cho dân chúng làm gì!
Táng Nghi Sanh nói:
– Thần tử Tây Kỳ này thuở nay chưa hề có ai ngang ngạnh như vậy, chẳng biết Võ Kiết có điều gì uẩn khúc không, xin Chúa công để tôi hỏi lại nó thử.
Liền giục ngựa tới hỏi:
– Ngươi hứa với Chúa công trở về lo việc cấp dưỡng mẹ già xong trở lại đền tội, tại sao lỗi hẹn?
Võ Kiết nói:
– Tôi không dám bỏ phép. Bởi có một ông già câu cá tại Bàn Khê họ Khương tên Thượng, tên chữ là Tử Nha, biệt hiệu Phi Hùng, bảo tôi làm học trò thì cứu toàn tánh mạng. Người ấy dạy tôi về đào huyệt, chong đèn trên đầu một ngọn, dưới chân một ngọn, hốt gạo vãi lên mình, lấy cỏ ủ lại, qua một đêm thì khỏi chết luôn. Tôi còn mẹ già không nỡ chết bỏ mẹ tôi nên nghe lời trốn pháp luật xin quan trên nghĩ lại.
Táng Nghi Sanh nghe nói mừng rỡ, quỳ tâu với Văn Vương:
– Võ Kiết nói có ông già câu cá hiệu Phi Hùng thì quả là người Chúa công ứng mộng. Xưa vua Thương Cao thấy gấu bay mà được ông Phú Duyệt ra phò, nay Ðại Vương thấy cọp có cánh chắc là Khương Tử Nha, người câu cá nơi Bàn Khê đấy. Xin Chúa công tha tội cho Võ Kiết, khiến nó dẫn đến Bàn Khê tìm Khương Tử Nha về dùng.
Văn Vương y tấu, truyền bá quan văn võ theo Võ Kiết đến Bàn Khê.
Võ Kiết được tha tội chết mừng rỡ bỏ gánh củi, dẫn Văn Vương và đoàn tùy tùng trở lại rừng xanh.
Bấy giờ Văn Vương và các quan không dám cỡi ngựa, sợ người hiền giật mình ẩn mặt, nên xuống yên dắt ngựa theo sau Võ Kiết.
Còn Võ Kiết trở về đến Bàn Khê không thấy Khương Thượng đâu mất, lòng thất kinh dáo dác tìm kiếm quanh.
Táng Nghi Sanh hỏi:
– Người hiền đi vắng rồi sao?
Võ Kiết nói:
– Sư phụ tôi mới vừa ngồi đây, không biết vì sao vắng mặt.
Văn Vương hỏi:
– Nhà của người hiền ở chỗ nào?
Võ Kiết chỉ tay về phía trước tâu:
– Túp lều tranh nhỏ trước mặt kia là chỗ sư phụ tôi nương náu..
Võ Kiết dắt Văn Vương đến đó, thấy túp lều xiêu vẹo, xung quanh che màn trúc đan.
Văn Vương gõ nhẹ vào tấm phên lẫm cửa thì thấy một thằng bé nhắc tấm phên bước ra, Văn Vương hỏi:
– Có thầy ngươi ỏ nhà không?
Thằng bé nói:
– Sư phụ tôi đi chơi với bạn hữu.
Văn Vương hỏi:
– Chừng nào về?
Thằng bé nói:
– Không biết chừng. Có khi một ngày có khi đôi ba bữa. Có lúc gặp bè gặp bạn dạo nước dạo non nên không biết chừng nào mà dám chắc.
Táng Nghi Sanh tâu với Văn Vương:
– Phép cầu người hiền phải có lòng thành. Hôm nay chúa công đi dạo xuân tình cờ đến đây nên người hiền không ra mặt. Xưa vua Thần Nông tìm Trường Tang vua Thành Thang tìm Y Doãn đều phải ăn chay tắm gội, coi ngày lành đem lễ vật đến rước, như thế mới tỏ ra kính hiền đãi sĩ. Xin Chúa công noi gương ấy, trở về sắm sửa vài ngày nữa sẽ đến rước.
Văn Vương khen:
– Quan Ðại Phu nói phải lắm.
Liền truyền Võ Kiết theo xa giá về trào. Chúa tôi trở lại trông thấy bên khe cảnh vật tốt tươi, Văn Vương đẹp ý ngâm lên:
Phong cảnh xuân thời đẹp đẽ thay
Người hiền ẩn mặt nấy lâu nay
Tới nơi không thấy người đâu cả
Thiên hạ sầu riêng biết mấy ngày.
Văn Vuơng bịn rịn mãi nơi Bàn Khê đi không dứt. Táng Nghi Sanh năn nỉ khuyên lơn, vua tôi về thành thì trời đã tối mịt. Văn Vương cầm bá quan ở lại trong điện ăn chay ba bữa, ngủ trong đền lớn, ai nấy tắm gội sạch sẽ, đợi ngày đi rước người hiền.
Nam Cung Hoát thấy vậy tâu với Văn Vương:
– Ông già câu cá nơi Bàn Khê chưa chắc đã thực tài, Chúa công ăn chay tắm gội, đem lễ vật đến cầu, nếu lầm người vô dụng có phải thất công, nhẹ thì đi không. Vậy để ngày mai tôi vâng lệnh Chúa công đến đó thỉnh lão về triều như quả thật hiền sĩ thì phong chức lớn, dùng vào việc nước, còn nếu lão chỉ là một gã ngư phủ già cả thì đuổi về câu cá cho xong!
Táng Nghi Sanh nói lớn:
– Tướng quân không nên có ý nghĩ như vậy. Nay thiên hạ loạn ly nhân tài ẩn mặt trong núi non, nếu không biết trọng họ thì làm sao họ chịu đem tim óc ra giúp đời. Chúa công phải noi theo dấu xưa, trọng hiền mến sĩ mới được.
Nam Cung Hoát nói:
– Người hiền không phải dễ kiếm, không phải nghe người ta có tài liền tin theo, ít ra cũng phải thử thách tài năng trước khi trọng dụng. Nay Chúa Công ăn chay tắm gội, đem trọng lễ đến rước ông già câu cá, nếu ông ấy không phải người tài thì sao?
Táng Nghi Sanh nói:
– Không hại gì cả. Chúa công sẽ được tiếng trọng hiền. Kẻ bất tài mà Chúa công còn trọng như vậy thì kẻ có tài sẽ ao ước được ra phò Chúa công. Vả lại, người này biệt hiệu Phi Hùng thì đúng với điều mộng của Chúa công rồi, không còn nghi ngờ gì nữa
Văn Vương nói:
– Quan Ðại Phu nói phải lắm, Nam Tướng quân chớ tị hiềm mà hỏng việc lớn.
Bấy giờ cả triều thần đều theo lệnh Văn Vương, ăn chay tắm gội ba ngày, để đến Bàn Khê rước Tử Nha.
Người sau có thơ rằng:
Kìa là chuông trống nọ đờn ca
Ấy lễ Văn Vương rước Tủ Nha
Cơ nghiệp nhà Châu gần sửa trị
Tám trăm năm lẻ thảy âu ca.
Văn Vương theo lời Táng Nghi Sanh đến ngày thứ tư sắm sửa lễ vật, chỉnh đốn áo mão, truyền quân khiêng đến Bàn Khê, vua tôi cùng đi đông nức. Văn Vương lại phong Vỗ Kiết làm Võ Ðức Tướng quân, truyền dẫn đường. Thiên hạ nghe đồn việc ấy đều rủ nhau đi xem.
Văn Vương dẫn các quan đến gần Bàn Khê đều xuống ngựa đi bộ xa thấy dạng Khương tử Nha đang ngồi câu trên thạch bàn.
Văn Vương liền rón rén bước đến sau lưng, không dám động.
Còn Tử Nha đã đoán trước, biết có vua nước Châu đến rước liền ngồi làm tĩnh, vừa câu cá, vừa ca lên mấy câu:
Gió Tây dậy thì mây trắng bay
Năm đã tàn rồi tuổi lớn thay
Chim phụng gáy thì vua trổ mặt
Thả nhợ câu này ai có hay.
Tử Nha ca xong, Văn Vương mới cất tiếng hỏi:
– Người hiền có vui không?
Tử Nha ngó ngoái lại thấy Văn Vương liền bỏ cần câu cúi đầu thi lễ, tâu:
– Tôi không biết Ðại vương đến nên trễ việc tiếp nghinh xin Ðại vương tha tội.
Văn Vương vội vàng đỡ dậy bái và nói:
– Trẫm ái mộ tiên sinh đã lâu, đến đây một lần không gặp mặt. Trẫm xét mình có lỗi không biết người hiền, nên ăn chay ba bữa, tắm gội sạch sẽ đến đây cầu ra mắt.
Tử Nha lật đật quỳ mọp dưới đất tạ tội và đắt Văn Vương về nơi túp lều tranh.
Ðến nơi Tử Nha sụp lạy một lần nữa.
Văn vương đáp lễ và nói:
– Trẫm nghe tiếng cao minh, nhưng chưa gặp mặt hôm nay hân hạnh được tương phùng, xin tiên sanh làm ơn chỉ giáo Trẫm đôi điều về dân nước.
Tử Nha khiêm nhượng nói:
– Tôi ngư phủ già cả, không tài trí gì hết, võ không đủ dẹp loạn, văn không đủ trị dân, nhờ ơn Ðại vương đoái thương sợ đền ơn không đặng.
Táng Nghi Sanh nói:
– Chúa công tôi đã hết lòng chiếu cố tiên sinh chớ khiêm nhượng làm gì. Nay thiên hạ loạn ly, Trụ Vương lỗi đạo, đam mê tửu sắc, giết hại trung thần, gần nịnh xa trung khiến chư hầu làm phản. Chúa công tôi ngày đêm lo lắng không an, nghĩ đến trăm họ khổ sở, trông người hiền như khát nước, tiên sinh là bậc nhân tài, lẽ nào ẩn dật mãi không ra cứu dân độ thế.
Nói rồi dâng lễ vật lên. Tử Nha thấy vua tôi Văn Vương trọng mình như vậy không còn lời lẽ nào từ chối nữa liền nhận lễ vật, đồng tử đem cất vào nhà trong.
Văn Vương mời Tử Nha lên xe rồng rước về triều. Tử Nha lật đật quì thưa:
– Phận tôi tài hèn sức yếu, được Ðại vương thương tưởng đến, nguyện đem tim óc đền ơn lẽ đâu dám ngồi xe Ðại vương mà lỗi đạo tôi chúa.
Văn Vương nói:
– Ấy là lòng trẫm kính người hiền, xin tiên sinh chớ ngại.
Tử Nha một mực chối từ, nhất thiết không chịu ngồi chung xe với Văn Vương.
Táng Nghi Sanh nói:
– Hiền sĩ đã giữ lễ như vậy thì xin mời hiền sĩ lên ngựa vậy.
Tử Nha thuận lòng lên ngựa theo hầu, cùng đi về triều với các quan văn võ. Lúc bấy giờ Tử Nha đã tám mươi tuổi.
Có bài thơ khen rằng:
Thả mồi câu cá đă hằng lâu
Chờ vận râu mày bạc trắng phau
Phải dọa hết trông câu quả vị
Lội sông còn nhớ ấn công hầu
Kinh luân trong túi tươi như gấm
Thao lược bên lòng sáng tợ châu
Mới biết hùm già sanh cặp cánh
Ba ngàn bờ cõi một tay thâu.
Văn Vương rước Tử Nha về đến Tây Kỳ, trăm họ ai thấy cũng mến đức.
Vào đền, Văn Vương phong Tử Nha làm Thừa Tướng. Tử Nha lạy tạ ơn, Văn Vương truyền mở tiệc đãi đằng vua tôi hoan hỉ.
Từ đấy, Tử Nha lãnh chức trị nước rất yên, trị dân phải phép thiên hạ đều tùng phục, quân tướng kính vì.
Ít ngày sau Văn Vương truyền lập dinh cho Tử Nha ở.
Khi ấy tướng trấn ải Tị Thủy là Hàng Vinh hay tin Văn vương dùng Tử Nha làm tướng, coi lo việc nước Châu, vội làm sớ về triều báo với Trụ vương.
Thừa Tướng Tỉ Can ngày kia tiếp được thơ của Hàng Vinh thất kinh nghĩ thầm:
– Tử Nha là bậc anh hùng thời nay. Bởi Thiên tử không biết dùng người nên Tử Nha mới bỏ Trụ trốn sang Châu phò Văn Vương. Văn Vương mà được Tử Nha chẳng khác rồng mây gặp hội e sau này nhà Thương mang khốn.
Nghĩ như vậy nên không dám bỏ qua liền đem tờ sớ ấy đến lầu Trích Tinh trình với vua Trụ.
Trụ Vương thấy Tỉ Can cúm núm dâng sớ, vội hỏi:
– Hoàng thúc định dâng sớ khuyên can trẫm việc gì đó?
Ti Can tâu:
– Không phải sớ của hạ thần, mà là của quan Tổng Trấn ải Tị Thủy là Hàng Vinh vừa gởi về triều.
Vua Trụ hỏi:
– Trong sớ nói việc gì?
Tỉ Can tâu:
– Cơ Xương sau khi về Tây Kỳ lại thỉnh Khương Tử Nha về làm Tướng. Tử Nha là bậc anh tài, lại phò Cơ Xương khác gì cá gặp nước, rồng gặp mây. Vả trong lúc Nam Bá Hầu đang dấy binh đánh ải Tam sơn, Ðông Bá Hầu đang dấy binh đánh Du Hồn, còn Thái Sư Văn Trọng cầm quân dẹp phương Bắc cũng chưa yên, nếu Văn Vương dấy binh Tây Châu nữa thì bốn phương thiên hạ đều ly loạn, việc này rất quan trọng, xin bệ hạ suy tính để có kế hoạch đối phó.
Vua Trụ ngồi trầm ngâm một lúc rồi phán:
– Thôi được, Hoàng thúc về dinh an nghỉ, để sáng mai trẫm lâm triều cùng với vãn võ bá quan bàn tính mới được.
Giữa lúc đó quan Thái giám vào tâu:
– Bắc Bá Hầu Sùng Hầu Hổ xin vào yết kiến bệ hạ, còn đợi lệnh ngoài cung môn.
Vua Trụ liên đòi Sùng Hầu Hổ lên Trích Tinh lầu hỏi:
– Khanh muốn tâu việc chi?
Sùng Hầu Hổ nói:
– Tôi vâng lệnh Bệ hạ cất Lộc đài đúng hai năm lẻ bốn tháng, nay đã hoàn thành nên phải vào tâu cho Bệ hạ rõ.
Trụ Vương mừng rỡ, khen ngợi chẳng cùng.
Sùng Hầu Hổ nói:
– Tôi quên ăn quên ngủ, đốc thúc ngày đêm, công việc nay mới hoàn thành, lòng mừng chẳng xiết.
Tru Vương phán:
– Công ơn của khanh trẫm sẽ đền đáp xứng đáng. Nay lòng Trẫm đang có việc lo, chẳng biết khanh có mưu nào giúp trẫm chăng?
Sững Hầu Hổ hỏi:
– Bệ hạ đang lo việc gì xin cho hạ thần biết.
Trụ Vương nói:
– Cơ Xương trốn về nước, lại thỉnh Tử Nha làm tướng có ý phản Thương. Hàng Vinh vừa dâng sở về triều, Tỉ Can Thừa Tướng cũng đang sốt ruột về việc ấy.
Sùng Hầu Hổ ngạo nghể cười lớn:
– Cơ Xương tuổi đã già, Khương Tử Nha tuổi đã tám mươi, hai người ấy chẳng khác như hai chiếc ve nằm ôm nhánh dương khô, còn làm gì được nữa mà sợ. Bệ hạ không cần đem binh chinh phạt, cũng không cần bàn luận đến cho hao tổn tinh thần.
Vua Trụ khen phải, bỏ qua việc Văn Vương, không luận đến nữa, và nói với Sùng Hầu Hổ:
– Nay Lộc đài đã làm xong, trẫm và Hoàng hậu sẽ ngự đến đó xem chơi cho biết, vậy hai khanh đến trước dưới đài cho trẫm.
Ðoạn truyền chỉ đem xe rồng đi đến Lộc đài.
Có bài thơ nói về Lộc đài:
Lộc đài vòi vọi thấu mây xanh
Cơ nghiệp nhà Thương sợi chỉ mành
Thuế nặng sưu cao dân khổ cực
Cầu vui, chuốc oán chúa công lành
A dua Bí trọng bày mưu độc
Tham nhũng Sùng Hầu móc túi dân
Bao quản tốn công hao của nước
Rủ ren hồ mị đến đêm thanh.
Vua Trụ và Ðắt Ký cùng lên xe Thất Hương, thị nữ đập dìu, cung nga chen chúc, xúm nhau hầu hạ đi đến Lộc đài.
Vua Trụ dắt tay Ðắt Kỷ xuống long xa, lên đài xem thử; cảnh vật chẳng khác lầu các cảnh tiên, đền đài cõi Phật. Ngà ngọc sa cừ chen sắc, bạc vàng, mã não thêu hình. Trên lầu làm nhiều thứ phi cầm, ngoài các chạm những con tẩu thú, trái châu gắn chói lòa, hột ngọc đủ màu nhấp nhánh.
Tỉ Can và Sùng Hầu Hổ cũng đi theo. Tỉ Can thấy Lộc đài rực rỡ, nghĩ đến việc hao của hại dân thì buồn bực, mặt ủ mày châu còn Sùng Hầu Hổ thì hiu hiu tự đắc công trạng của mình đã hoàn thành được Trụ Vương cho phép dự.
Trong tiệc, Trụ Vương hỏi Ðắt Kỷ:
– Ái khanh có nói hễ Lộc đài lập xong thì có thần tiên giáng hạ, nay Lộc đài hoàn thành rồi, chẳng biết trẫm có duyên phúc gặp quần tiên chăng?
Nguyên trước đây Ðắt Kỷ bày ra Lộc đài là có ý hại Tử Nha nên mới vẽ họa đồ và nói gạt vua Trụ như vậy. Nay vua Trụ nhắc đến. Ðắt Kỷ không biết làm sao, liền trả lời mập mờ rằng:
– Thần tiên ưa cảnh thanh thanh phong lưu, nếu gặp đêm rằm trăng thanh gió mát, thế nào cũng đến.
Vua Trụ nói:
– Bữa nay là mồng mười rồi, chỉ còn năm hôm nữa đến ngày rằm, nếu gặp đêm trăng sáng sủa, ái khanh gắng sức làm thế nào để trẫm thấy mặt các vị tiên.
Ðắt Kỷ không biết làm sao từ chối, phải chịu đỡ:
– Xin Bệ hạ an lòng, thần thiếp đoán chắc bệ hạ sẽ được toại nguyện.
Hôm đó, Trụ Vương ở trên đài uống rượu quá nhiều, nên say mèm, lại đắm nguyệt hoa quá sớm, đêm đến ngủ vùi không còn biết gì nữa. Ðắt Kỷ thấy vua Trụ muốn gặp thần tiên, lo lắng không sao ngủ được, nhân lúc canh ba, Ðắt Kỷ liền xuất hình hồ ly, nổi trận gió bay về mả Huỳnh Ðế.
Lũ cáo trong hang thấy Hồ ly tinh trở về, vội rước vào mừng rỡ.
Cửu đầu Trĩ kê ra mắt Hồ ly tinh, hỏi:
– Chị về đây có việc gì lạ chăng?
Hồ ly tinh nói:
– Em ơi, tuy chị được ngày ngày gần Thiên tử, đêm đêm được kề quân vương, song vẫn không quên chị em và con cháu. Nay Thiên tử lập xong Lộc đài, muốn được tận mắt trông thấy tiên nữ giáng lâm, chị nghĩ ra một kế, muốn đưa các chị em và con cháu mình đến đấy, giả làm tiên để gạt Trụ vương vui say một bửa cho thỏa tình hoài vọng của chị.
Trĩ kê đáp:
– Muốn giả làm tiên phải biến hóa tinh thông, nhưng trong động chúng ta có một số con cháu tu luyện còn non nớt, chưa thể biến hóa nổi.
Hồ ly tinh nói:
– Việc đó chị biết rồi. Ai biến hóa được thì đi, ai biến hóa chưa được phải ở nhà giữ gìn thạch động.
Trĩ kê nói:
– Tính ra động ta hiện nay có thể biến hóa độ ba mươi chín người.
Hồ ly tinh nói:
– Như thế thì tốt lắm. Cứ con trai thì biến làm tiên ông, con gái thì biến thành tiên nữ, trẻ nhỏ thì biến thành đồng tử, đúng đêm rằm đến Lộc đài dự yến thưởng thức món ngon vật lạ.
Hồ ly tinh căn dặn hết các việc rồi từ giã trở về Lộc đài thấy vua Trụ vẫn còn ngủ say, chẳng hề hay biết việc gì cả!
Rạng ngày Trụ Vương tỉnh rượu, hỏi Ðắt Kỷ:
– Ái khanh liệu đêm rằm sắp đến có thần tiên giáng hạ không?
Ðắt Kỷ tâu:
– Xin bệ hạ truyền chỉ dọn một đại yến nơi Lộc đài gồm ba mươi chín cỗ. Ðợi đêm thanh trăng tỏ, thế nào thần tiên cũng hiện xuống, bệ hạ mà thấy được thì tuổi thọ càng lâu lại thêm sức.
Trụ Vương mừng rỡ nói:
– Nếu thần tiên đến Lộc đài, khanh nhắm ai có thể hầu rượu được
Ðất Kỷ nói:
– Phải chọn một vị quan lớn trong triều tửu lượng cho cứng mới được.
Vua Trụ phán:
– Chỉ có Thừa Tướng là mạnh rượu hơn cả.
Liền truyền Ti Can đến hầu lập tức. Tỉ Can được chiếu triệu vội vào ra mắt. Trụ Vương nói:
– Ðêm rằm, lúc trăng mọc có thần tiên đến Lộc đài dự yến, phần Hoàng thúc lo việc đãi rượu thay mặt trẫm.
Tỉ Can vâng lệnh trở về dinh nghĩ không ra lẽ, than thầm:
– Nước nhà gần ly loạn, thiên tử đắm mê tửu sắc lại mơ tưởng chuyện hão huyền. Làm gì có thần tiên giáng hạ ăn tiệc nơi Lộc đài?
Tuy vậy, Tỉ Can vẫn không dám trái lệnh, chuẩn bị ứng hầu.
Ðến ngày rằm, vua Trụ truyền dọn đủ ba mươi chín cỗ trên lầu chia ra ba từng, mỗi từng mười ba ghế. Trông cho trăng mọc để được thấy mặt thần tiên.
Ðắt kỷ dắt Trụ Vương lên lầu ngồi uống rượu, và tâu:
– Nếu thần tiên hiện đến, bệ hạ chẳng nên ra, vì thần tiên ưa tự do và thanh tịnh không thích lễ nghi, bệ hạ chỉ cần trông thấy họ cũng đủ hưởng phước rồi.
Vua Tru khen:
– Ái khanh nói phải lắm.
Một trăng vừa lố dạng, ánh vàng lả lướt gieo khắp trần gian, trên Lộc đài đèn đuốc rực rỡ, yến tiệc sẵn sàng, đủ cả các món cao lương mỷ vị. Bỗng có một trận gió thổi tới vù vù làm cho ánh đèn xao động.
Có bài thơ rằng:
Yêu tinh giáng hạ gió tơi bời
Mù mịt mây che tối đất trời
Tin mị Trụ Vương ngồi mọc óc
Bằng lòng Ðắt Kỷ dựa hà hơi
Ngỡ là đẹp miệng lòng vui vẻ,
Hay nỗi mang tai phải rả rời
Vương khí gần miền yêu khi dứt
Ðể sau thiên ha biếm muôn đời.
Mấy con Hồ ly ở mả Huỳnh Ðế nhờ hơi nhật nguyệt, tụ khí càn khôn, những con nào từ một trăm năm sắp lên đều hiện được hình người hết thảy lớp hóa tiên nữ, lớp hóa tiên ông, đồng giá vũ đằng vân đến Lộc đài dự yến.
Lúc các yêu vào trong đền rồi thì mặt trăng tỏ rạng như thường. Ðắt Kỹ nói nhỏ với vua Trụ:
– Thần tiên đã giáng hạ.
Vua Trụ lòng phơi phới, ngồi trong rèm nhìn ra thấy nhiều người mặc áo rộng, kẽ màu này, người màu khác: xanh, trắng, vàng, đen. Người đội mão đuôi cá, kẽ đội mão đạo sĩ, người dùng giắt, ao đảnh khác nhau, Tiên đồng chừa hai vá, tiên nữ trâm cài lược giắt.
Trụ Vương sung sướng đến ngây người.
Bỗng nghe có một tiên ông nói:
– Nay nhờ Trụ Vương thết đãi, dọn Lộc đài xứng đáng bầy ngự tửu ê hề, chúng ta cầu chúc cơ đồ Trụ Vương bền vững muôn năm, Trụ Vương sống lâu muôn tuổi.
Ðắt Kỷ vội truyền chỉ:
– Quan bồi yến đâu? Mau lên đài đãi rượu.
Tỉ Can lật đật bước lên lầu, thấy người nào khí thượng cũng siêu phàm, có vẻ tiên phong đạo cốt, lấy làm lạ, vội bước đến lạy mừng.
Có một ông tiên hỏi:
– Thày là ai vậy?
Tỉ Can đáp:
– Tôi là Á Tướng Tỉ Can đến đây hầu yến.
Tiên ông nói:
– Có duyên trong tiệc, cho sống được ngàn năm.
Tỉ can nghe nói sanh nghi:
– Không lẻ thần tiên lại ăn nói như vậy?
Có tiếng Ðắt Kỷ ở sau màn truyền rằng:
– Quan bồi yến hãy rót rượu cho đủ.
Tỉ Can tuân lệnh rót đủ ba mươi chín bàn, đến bàn nào Tỉ Can cũng nghe mùi chồn nồng nực, liền nghĩ thầm:
– Thần tiên là bậc thanh khiết sao lại hôi chồn? Ðây chắc Thiên tử hết thời nên khiến yêu quái lộng hành như vậy.
Còn đang ngẫm nghĩ, đã nghe tiếng Ðắt Kỷ truyền:
– Quan bồi yến hãy dâng rượu cho khắp các chỗ.
Tỉ Can vội rót rượu đi dâng. Hễ dâng qua một bàn Tỉ Can phải uống một chén. Vì vậy khi dâng đũ các cỗ, Tỉ Can phải uống đến ba mươi chín chun. Tuy vậy Tỉ Can mạnh rượu lắm, không hề say.
Qua một lúc Ðắt Kỷ lại truyền:
– Quan bồi yến hãy dâng một tiệc rượu nữa.
Tỉ Can tuân lệnh rót rượu đi khuyên mời giáp vòng, không sót chổ nào. Bồi ngự tửu ngon lắm, Tỉ Can lại dùng chén lớn, nên các hồ ly ở động yêu chưa từng dùng, nhiều con uống say mặt đỏ gay không còn giữ mình được, yêu khí hiện ra, đuôi chồn lài ra đặm đuộc. Ánh trăng rằm sáng tõ, Tỉ Can trông thấy rất rõ ràng, lòng hằn học, nghĩ thầm:
– Mình là Thừa Tướng đương trào lại phải lạy loài yên quỉ.
Càng nghĩ Tĩ Can càng đau lòng khó chịu, nghiến răng trợn mắt làm thinh. Song mỗi lúc mùi chồn càng thêm hôi hám không thể chịu nổi nữa.
Bấy giờ, Ðắt Kỷ muốn dâng một tuần rượu nữa, nhưng sợ bạn bè và con cháu mình quá say hiện nguyên hình thì khốn, nên vội truyền lệnh Tỉ Can:
– Thôi, quan bổi yến xuống đài, để cho các tiên về động.
Tỉ Can vâng lệnh, che mặt xuống lầu, vừa tức cười, vừa tức giận. Ði khỏi lầu Phấn Cung, Tỉ Can đã thấy bọn quân hầu mình thắng sẵn yên cương dắt ngựa đến chờ.
Tỉ Can liền lên yên, khiến quân xách cặp đèn lồng đi trước, định trở về dinh an nghĩ. Nhưng vừa đi được vài dặm, xảy gặp Hoàng Phi Hổ dẫn quân đi tuần hành, đèn đuốc sáng ngời.
Hoàng Phi Hổ thấy Tỉ Can liền xuống ngựa hỏi:
– Thừa Tướng có việc gì gấp mà đi về nữa đêm?
Tỉ Can cũng xuống ngựa, giậm chân nói:
– Võ Thành Vương ơi! Nước nhà ly loạn, nên yêu quái lộng hành. Hồi hôm, tôi vâng lệnh Hoàng thượng đến hầu tiệc thần tiên, bữa tiệc ước chừng bốn mươi người, ăn mặc đủ năm sắc áo. Ai ai đều là tiên nữ, nhưng tôi xem lại quả là giống chồn hôi…
Hoàng Phi Hổ kinh ngạc, hỏi:
– Sao Thừa Tướng biết được là hồ ly?
Tỉ Can nói:
– Thần tiên gì mà uống rượu say lại ló đuôi ra dài thược, mà mùi chồn nồng nực, không thể nào chịu nổi.
Hoàng Phi Hổ ngẩn người:
– Có việc lạ lùng như thế sao?
Tỉ Can đau lòng nói:
– Bệ hạ mê muội, không phân biệt được chính tà. Yêu tinh vào triều làm lộng như vậy, chúng ta biết liệu làm sao?
Hoàng Phi Hổ nói:
– Xin Thừa Tướng trở về an nghĩ, để tôi dò xét thử sự tình ra sao ngày mai sẽ liệu định.
Tỉ Can từ giả lên ngựa về dinh. Còn Hoàng Phi Hổ lập tức đòi Hoàng Minh, Châu Kỷ, Long Hoàng, Ngô Khiêm đến dạy rằng:
– Các ngươi mỗi người đem hai mươi tên lính tuần, chia làm bốn hướng mà thám thính, xem các tiên ăn tiệc trên Lộc đài đi về đâu báo cho ta biết.
Bốn tướng vâng lệnh kéo quân ra đi, còn Hoàng Phi Hổ trở về dinh đợi tin tức.
Bấy giờ, bọn hồ ly quá chén nên say mèm, đằng vân không lên nữa, ráng bay ra khỏi Ngọ môn thì kiệt sức, sa xuống cả bầy. Chúng dắt dìu nhau đi ngã xiên ngã xỏ cho đến trống canh đã điểm năm lần, mà mới ra khỏi cửa Nam môn. Châu Kỷ trông thấy vội nom theo. Ði ước ba mươi dặm, thấy có một cái hang đá nơi mả Hiên Viên rất lớn, bao nhiêu tiên say đều chun xuống đó.
Rạng ngày, Hoàng Phi Hổ ra khách, ba tướng vào bẩm:
– Chúng tôi đi tuần hướng Bắc, Ðông và Tây, không thấy thần tiên gì hết.
Kế Châu Kỷ bước vào thưa:
– Hồi hôm tôi vâng lệnh thám thính phía Nam tính, thấy độ bốn mươi tiên say ra khỏi thành ước ba mươi dặm, đến một cái hang tại mả Huỳnh Ðế đều chun xuống hết. Ta xem thấy tường tận, xin Ðại vương dạy lẽ nào.
Hoàng Phi Hổ liền sai Châu Kỷ dẫn ba ngàn quân đem bồi khô, chà gai đến lấp hang mà đốt lại dặn rằng:
– Ngươi cớ việc đốt đến quá giờ ngọ mới dẫn quân về phục lệnh.
Châu Kỷ tuân lệnh, lãnh quân đi lập tức. Kế đó có quan vào thưa:
– Thừa tướng đến phủ xin vào ra mắt.
Hoàng Phi Hổ vội vã ra rước vào. Tỉ Can cùng Hoàng Phi Hổ chuyện trò một lúc lâu.
Hoàng Phi Hổ kể lại câu chuyện mình vừa khám phá ở mả Huỳnh Ðế cho Tỉ Can nghe.
Tỉ Can đắc ý vỗ tay cười ngất, và nói:
– Tôi nhận xét không lầm. Chúng chỉ là loại hồ ma quỉ mị, chớ đâu phải thần tiên gì. Mình làm Thừa Tướng đương triều mà phải hầu rượu cho giống yêu quái thật nhục nhã.
Hoàng Phi Hổ truyền dọn tiệc đãi đằng để cùng Tỉ Can tâm tình cho đến xế. Xảy thấy Châu Kỷ trở về bẩm:
– Tôi đốt hang ấy rồi. Bên trong bay ra mùi khét lẹt. Chắc là lũ tiên say cháy queo hết.
Hoàng Phi Hổ nói với Tỉ Can:
– Xin Thừa Tướng cùng tôi đến đó xem chơi cho biết.
Hai người dẫn bọn gia tướng đến nơi thấy ngọn lửa chưa tàn, cây cối chung quanh bị hơi nóng cháy rụi.
Hoàng Phi Hổ truyền quân tưới cho tắt lửa, rồi bỏ câu móc xuống hang mà kéo lên.
Những con hồ ly uống rượu say chết đã đành, những con vô cớ ở dưới hang cũng bị chết liên can.
Người sau có bài thơ như vầy:
Không phải là tiên khéo giả đò
Lộc đài rượu thịt đã say no
Nực nồng hơi xạ đuôi không dấu
Ngọn lửa vô tình hại chết co.
Gia tướng tuân lệnh bỏ câu móc kéo lên, thấy xác chồn chết quay bay mùi tanh ói. Còn những con nằm xa hơn, tuy chết mà không chẳng cháy da.
Tỉ Can thấy mấy con chồn lông lá rất đẹp, còn y nguyên, liền bàn với Hoàng Phi Hổ:
– Mấy con cáo này da còn đùng được, chúng ta khiến thợ lột da thật cho kỹ, may thành áo hồ cừu đặng cho vua mặc. Làm như vậy chúng ta sẽ chọc tức Ðắt Kỷ, khiến cho nó đau buồn mà chết mới mong đem lại thái bình cho nước nhà.
Hoàng Phi Hổ khen phải. Hai người cùng trở về dinh uống rượu cho đến sáng mới chịu chia tay.
Cách ít lâu, Tỉ Can truyền may áo hồ cừu xong, chờ mùa đông lạnh lẽo đem dâng cho Trụ Vương.
Ngày tháng như thoi đưa, trời đông lạnh lẽo âm thầm đến. Vua Trụ cùng Ðắt Kỷ âu yếm trên Lộc đài, bên ngoài gió lạnh từng hồi, mưa bay mù mịt, tuyết rơi lộp độp đọng vào những cành cây, kẽ lá mọi vật như chìm đắm trong u huyền.
Bỗng có quan thái giám vào báo:
– Thừa Tướng Tỉ Can xin vào yết kiến.
Trụ Vương truyền lệnh đòi Tỉ Can lên lầu hỏi:
– Trời đông lạnh lẽo, khanh có việc gì cầu bảo tấu?
Tỉ Can tâu:
– Lộc đài cao vút nửa lừng trời, gió tuyết mùa đông lạnh như cắt ruột, hạ thần sợ bệ hạ se mình nên đem dâng áo hồ cừu này để bệ hạ dùng tạm.
Trụ Vương nói.
– Hoàng thúc lớn tuổi, lẽ phải để áo mà dùng cho đỡ rét. Nay Hoàng thúc đã tưởng tình trẫm, trẫm không nhận e phụ lòng.
Tỉ can thấy vua Trụ bằng lòng, lật đật xuống Lộc đài bảo tên tùy tùng bưng mâm áo lên. Vua Trụ thấy bên ngoài sắc đỏ, bên trong lông cáo rái mịn màng. Tỉ Can mở áo ra, mặc cho Trụ Vương.
Trụ Vương thấy áo đẹp cười khoái chí, nói:
– Trẫm gồm thu thiên hạ, giàu có bốn biển. nhưng vẫn chưa có được áo đẹp như vầy, nay Hoàng thúc tưởng tình dâng áo cho trẫm đỡ lạnh, ơn ấy chẳng biết bao giờ phai trong lòng trẫm được.
Dứt lời, Trụ Vương truyền dọn tiệc rượu đãi Tỉ Can để tỏ tình tri ân.
Ðắt Kỷ ở trong màn dòm ra, thấy chiếc áo hồ cừu làm bằng da con cháu mình lòng đau như cắt, ruột nóng như dầu sôi, nhưng không biết nói lẽ nào được, nghiến răng nhủ thầm:
– Lão Tỉ Can! Ngươi ở chi ác quá vậy? Dù con cháu ta có đến đây ăn tiệc cũng không can cớ gì đến ngươi. Ngươi đã giết lấy da lại còn may áo đem đến đây trêu tức ta nữa, nếu ta chẳng móc tim ngươi ra thì không đáng mặt Chánh cung.
Ðắt Kỷ miệng nói lâm râm mà hai hàng nước mắt trào ra lại láng.
Còn vua Trụ uống rượu với Tỉ Can, chuyện vãn một hồi, Tỉ Can tạ từ lui về dinh, vua Trụ mặc ao hồ cừu bước vào phòng hoa nói với Ðắt Kỷ:
– Lộc đài cao vòi vọi gió đông tuyết lạnh, Hoàng thúc tưởng tình vua tôi, đem dâng áo đẹp, trẫm rất hài lòng.
Ðắt Kỷ nói:
– Theo ý thần thiếp thì bệ hạ không nên mặc áo ấy. Bệ bạ là mình vàng vóc ngọc lẽ nào lại mặc áo da cáo thì có tốt lành chi.
Trụ Vương nói:
– Ái Khanh nói phải lắm. nhưng đây là cảm tình của Hoàng thúc đối với trẫm, không lẽ trẫm trả lại. Ðể trẫm cất vào kho làm vật kỷ niệm.
Nói rồi liền cởi áo hồ cừu, trao cho quan Thái giám đem cất vào kho.
Từ ấy Ðắt Kỷ chất chứa cừu hận trong lòng, cố hại cho được Tỉ Can, nhưng tháng lại ngày qua, vẫn chưa tìm ra được mưu kế.
Ngày kia, Ðắt Kỷ ngồi dự yến với Trụ Vương trên Lộc đài, bỗng nảy sanh một kế độc, lòng hớn hở mặt tươi như hoa, khác với những ngày u buồn, tủi nhục. Vua Trụ thấy mặt Ðắt Kỷ phút chốc trở nên xinh đẹp lạ thường, ngồi nhìn trân trân không nháy.
Ðắt Kỳ hỏi:
– Vì cớ gì bệ hạ nhìn chăm chăm thần thiếp như vậy?
Trụ vương không nói. Ðắt Kỷ hỏi nữa:
– Thần thiếp có điều gì làm Bệ bạ kinh ngạc?
Trụ Vương nói:
– Hôm nay trẫm thấy ái khanh đẹp hơn mọi ngày. Sắc đep như đóa hoa xuân nở trong mùa đông vậy.
Ðắt Kỷ làm màu mè, nói:
– Bệ hạ quá khen, thần thiếp hầu bệ hạ lâu nay đã sắc kém hương phai, hoa tàn nhụy rữa, nhờ bệ hạ thương nên mới được nồng thắm như vầy. Thần thiếp hiện có một người em bạn họ Hồ tên là Hỉ Mị, nay đang tu luyện tại cung Tử Tiên, nhan sắc nàng ấy trăm phần, thần thiếp chưa bì được một.
Trụ vương là một người háo sắc nghe Ðắt Kỷ tán tỉnh như vậy tính dục nổi lên, mặt ửng hồng, nói:
– Ái khanh có bạn quí hóa như vậy sao không cho trẫm thấy mặt?
Ðất Kỷ làm ra vẻ quan trọng:
– Hỉ Mị là con gái đồng trinh, xuất gia từ thuở nhỏ, lòng ưa thanh tịnh đâu muốn đến chốn này.
Trụ Vương nói:
– Ðã là tình bạn lẽ nào tị hiềm. Nếu ái khanh lập mưu thế nào cho Hỉ Mị đến đây cho trẫm được thấy một lần thì công ơn của ái khanh chẳng bao giờ trẫm dám quên.
Ðắt Kỷ tâu:
– Lúc thần thiếp còn nhỏ, ở tại Ký Châu, Hỉ Mị có đến chơi mấy lần, và trao cho thần thiếp một loại hương trầm gọi là tín hương, dặn lúc nào nhớ nhau thì thắp hương ấy Hỉ Mi sẽ đến thăm. Nhưng từ lúc thần thiếp về hầu Bệ hạ đến nay, nghĩ mình ở trong cung cấm, không còn cảnh tự do, thanh tịnh nữa, nên không đám dùng đến tín hương mời bạn.
Trụ Vương nghe nói mừng rỡ, bảo:
– Sao ái khanh không đốt tín hương mời Hỉ Mị đến đây chơi cho biết cảnh giàu sang của trẫm?
Ðất Kỷ nói:
– Cảnh giàu sang của bệ hạ mà thần thiếp phải xa rời Hỉ Mị. Vì Hỉ Mị là người tu hành, không thích cảnh giàu sang nhung gấm, nhất là việc lễ nghi.
Trụ Vương nói:
– Ái khanh đừng lo. Trẫm chỉ muốn thấy mặt người đẹp thôi, trẫm sẽ không bắt Hỉ Mị phải hầu trẫm đúng theo nghi lễ đâu.
Ðắt Kỷ nói:
– Nếu được Bệ hạ rộng lượng như vậy thần thiếp mới dám đốt hương mời bạn.
Trụ Vương giục:
– Mọi việc trẫm đều chiều ý ái khanh, ái khanh mau đốt tín hương đi.
Ðắt Kỷ nói:
– Bây giờ còn sớm lắm, vả lại Hỉ Mị là người tiên, không phải kẻ phàm tục muốn thỉnh lúc nào cũng được. Ðợi rạng ngày thần thiếp tắm gội sạch sẽ, tối mai mới đặt bàn hương án mà vái nàng.
Trụ Vương nói:
– Trẫm đang nóng lòng muốn trông thấy người đẹp, ái khanh chớ diên trì.
Ðêm ấy Ðắt Kỷ dùng thuật riêng, làm cho vua Trụ mê man ngủ vùi, không còn biết trời trăng gì nữa. Ðợi đến canh ba, Ðắt Kỷ hóa hồ ly tinh, nổi gió bay về mả Huỳnh Ðế.
Cửu Ðầu Trĩ Kê biết được vội ra ngoài nghênh đón, khóc lóc than:
– Chị ơi! Chỉ vì một tiệc no say mà cả con cháu chúng ta đều chết hết. Em đây nhờ tu luyện lâu năm, lửa thường không cháy nên mới sống sót một mình. Em nghĩ, chúng đã giết hết con cháu còn lột da làm áo hồ cừu, thảm họa như vậy lẽ nào chị không hay?
Ðắt Kỷ cũng lau nước mắt nói:
– Chị không ngờ tai nạn xảy đến cho gia đình chúng ta như vậy, nếu không trả được thù này chị em ta không thể sống được.
Nay chi tính một kế như vầy nên về đây bàn luận với em.
Cửu Ðầu Trĩ Kê hỏi:
– Chị tính lẽ nào xin cho em biết.
Ðắt Kỷ nói:
– Trước đây con cháu sum vầy, gia đình êm ấm, em phải thay chị ở đây dạy dỗ chúng nó. Nay chúng nó chết hết rồi, còn lại một mình em, thôi thì em đến ở với chị cho có chị có em đồng hưởng lộc triều đình, sớm khuya bầu bạn.
Cửu Ðầu Trĩ Kê nói:
– Ý chị muốn cả hai chị em mình hiến thân cho vua Trụ.
Ðắt Kỷ nói:
– Phải! Chị muốn như vậy. Nhưng chuyện đó chỉ mới một việc, còn một việc quan trọng nữa.
Cửu đầu Trĩ Kê hỏi:
– Việc gì quan trọng hơn?
Ðắt Kỷ nói:
– Chị nghĩ ra một kế trả thù lão Tỉ Can, nếu có em bên chị thì chị có thể móc tim lão già này dễ như lấy đồ trong túi.
Nói xong, Ðắt Kỷ bầy tỏ âm mưu của mình, và dặn dò Trĩ kê mọi việc.
Trĩ Kê tạ ơn, và nói:
– Nếu chị đoái tưởng đến em thì để tối mai em sẽ đằng vân đến Lộc đài.
Ðắt Kỷ liền đằng vân trở về triều, hiện hồn nhập xác. Vua Trụ vẫn còn đang ngủ mê, không hay biết gì cả.
Sáng ngày vua Trụ thức dậy, trông cho mau tối đặng thấy mặt tiên nga. Phút chốc bóng ác đã xuống non Ðài, cung thiềm lên khỏi núi.
– Thần thiếp đốt hương thỉnh Hỉ Mị đến đây xin Bệ hạ chịu khó lánh mặt, chừng nào thần thiếp thông cảm được với Hỉ Mị sẽ mời Bệ hạ ra mắt.
Tra Vương nói:
– Ái khanh tính lẽ nào trẫm cũng chiều theo hết.
Ðắt Kỷ liền rửa tay chân sạch sẽ, lấy mảnh hương đốt, cố ý làm màu với vua Trụ. Thực ra khói hương ấy không có tác dụng gì cả.
Vừa hết canh một, bỗng nghe gió thổi rạt rào, một vừng mây che khuất mặt trăng âm u cả trời đất. Tiếp đó một trận gió thổi đến, hơi âm khí nghe rợn người.
Trụ Vương thất kinh hỏi:
– Trăng đang tỏ ra như ban ngày vì sao lại có mây che gió lạnh?
Ðắt Kỷ tâu:
– Chắc là Hồ Hỉ Mị nương nương cỡi mây gió mà đến. Nói chưa dứt lời, nghe tiếng ngọc khua rổn rảng, dường như có tiếng chân người bước trên thảm gỗ.
Ðắt Kỷ hối vua Trụ:
– Hỉ Mị đã xuống đài, xin Bệ hạ vào phòng ẩn mặt. Chừng nào tôi nói được với nàng, sẽ mời Bệ hạ diện kiến.
Vua Trụ vội vã vào phòng đứng sau bức rèm, trố mắt nhìn ra xem lén.
Ðắt Kỷ biết Trụ Vương thế nào cũng theo dõi cuộc nói chuyện của mình, nên đóng vai trò rất khéo.
Xảy nghe trời lắng gió, có một nàng đeo bội ngọc, mặc áo bát quái, buộc đai ngũ vân, chân mang giày gai, đầu cài tóc phụng, lững thững bước tới trước mặt Ðắt Kỷ. Bấy giờ trăng đã sáng tỏ, nên Trụ Vương trông thấy tường tận.
Nàng Hỉ Mị má đỏ như mặt trời, da mặt trắng như hoa tuyết, miệng nhỏ mà cười có duyên, cốt cách thanh tao, nhã nhặn, mười vẻ phong lưu không thiếu một.
Ðắt Kỷ bước đến gần chào hỏi:
– Chào hiền muội.
Hỉ Mị nói:
– Em xin ra mắt chị.
Hai người dắt tay nhau vào điện, trà nước đãi đằng. Ðắt Kỷ nói:
– Năm xưa hiền muội có dặn, muốn mời nhau thì đốt tín hương. Thật quả như lời, không hề thất tín. Ðôi bạn chúng ta xa cách lâu ngày được gặp, còn gì vui thích hơn.
Hỉ Mị nói:
– Em vừa nghe mùi tín hương vội vã theo hơi gió tìm đến. Em với chị tình nghĩa đậm đà, lẽ nào thất ước.
Vua Trụ nhìn Hỉ Mị rồi ngắm Ðắt Kỷ thì thấy Ðắt Kỷ nhan sắc tàn phai hơn năm phần. Lòng vua ước ao:
– Nếu được chung gối cùng Hỉ Mị một đêm dù ngai vàng xiêu vẹo cũng không tiếc.
Ðắt Kỷ hỏi hỉ Mị:
– Em ăn chay hay ăn mặn?
Hỉ Mị nói:
– Em là người tu hành từ thuở bé, đâu dám bỏ phép.
Ðắt Kỷ liền truyền cung nga dọn một tiệc chay, để cùng Hỉ Mị vừa ăn uống vừa tâm tình.
Vua Trụ ngồi trong màn nhìn Hỉ Mi không nháy mắt, xem Hỉ Mị như Hằng Nga trong cung Nguyệt, như tiên tử xuống trần, mấy lần muốn vén màn bước ra để được hầu tiếp người ngọc, nhưng không dám, vì đã có lời Ðắt Kỷ dặn đò, cứ ngồi cào tai, gãi má, lâu lâu lại điểm mấy tiếng đằng hắng, ý muốn hối Ðắt Kỷ nói chuyện mình cho mau.
Ðắt Kỷ ngồi bên ngoài đã hiểu ý Trụ Vương, nhìn Hỉ Mị cười chúm chím và nói:
– Chị muốn nói với em một việc, chứng biết em có bằng lòng không?
Hỉ Mị nói:
– Tình bạn hữu, chị sai khiến việc gì em lại dám cải?
Ðắt Kỷ nói:
– Chị khoe với Thiên tử em là một tiên nữ tài sắc vẹn toàn. Thiên tử ước ao mặt rồng được trông thấy tiên nga, vậy xin hiền muội chớ tị hiềm, cho Thiên tử được hội kiến.
Hỉ Mi nói:
– Em là phận gái, lại là kẻ tu hành, người tiên kẻ lục không lẽ chung chạ được sao? Còn nếu lấy đạo vua tôi thì càng trái lễ nghi, xin đừng ra mặt.
Ðắt Kỷ nói:
– Hiền muội đừng cố chấp như vậy. Hỉ muội là người tu hành, đã ra ngoài tam giới, không còn ràng buộc nghĩa vua tôi, cũng không ở trong chỗ thường trai gái. Còn bệ hạ là bậc Thiên tử bốn biển đều tôi coi, dẫu hiền muội có hội kiến với Thiên tử cũng chẳng có gì trái đạo.
Hỉ Mị ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
– Chị đã dạy như vậy em đâu dám chối từ. Vậy xin mời Thiên tử ra đây để em tiếp kiến.
Vua Trụ nghe có tiếng mời liền bước ra lập ước. Hỉ Mị chắp tay thi lễ, và nói:
– Xin mời Bệ hạ an vị.
Vua Trụ ngồi ghé lại, nghe hai nàng tâm sự với nhau. Vua Trụ thấy Hỉ Mị ăn nói rất có duyên, nhan sắc lại đậm đà, mỗi cử chỉ đều làm xiêu lòng Trụ Vương không ít. Trụ Vương mắt nhìn Hỉ Mi không nháy, mồ hôi ra ướt mình.
Ðắt Kỷ liếc thấy vua Trụ đã si tình, lửa dục đã đến lúc bừng cháy, liền đứng dậy giả vờ đi thay áo, nói với Trụ Vương:
– Xin Bệ hạ thay mặt thần thiếp rót rượu mời Hỉ nương nương, thần thiếp thay áo xong sẽ trở ra lập tức.
Hỉ Mị làm thinh không nói. Trụ vương liền bấm Hỉ Mị, bảo:
– Trẫm xin dắt tiên cô ra ngoài đài ngoạn nguyệt.
Hỉ Mị gật đầu. Trụ Vương nắm tay Hỉ Mi đồng ra trước hiên đến chỗ vắng vẻ. Trụ vương ôm choàng lấy Hỉ Mị, đồng đứng xem trăng. Vua Trụ hỏi Hỉ Mị:
– Sao tiên cô không dứt việc tu hành mà ở trong cung với Hoàng hậu, bỏ điều lạt lẽo hưởng thú mặn nồng, vui với giàu sang gan nơi khoái lạc. Người không trăm tuổi lẽ nào ép xác làm chi. Tiên cô bằng lòng thì trẫm sẽ làm theo ước nguyện…
Hỉ Mi làm thinh không nói lại. Trụ Vương biết ý ngựa đã chịu cương, nếu không lên yên thì bỏ lỡ dịp tốt liền lập trận mê hồn, đem hết tài năng của một tướng lãnh đã từng xông pha nơi chiến trận. Hỉ Mị ban đầu cũng làm màu, nửa xô nửa chịu. Trụ Vương thấy vậy lại càng thích thú hơn, xua binh vào trận.
Một hồi mưa tạnh gió tay, Ðắt Kỷ mới ra mặt. Thấy Hỉ Mị hơi thở như gió vút, tóc rối như tơ vò, liền làm bộ hỏi:
– Hiền muội vì sao bơ phờ như vậy?
Vua Trụ không đợi Hi Mị, trả lời thay.
– Trẫm chẳng dám giấu, lá lay tại ông bà nguyệt, buộc chân cả chị lẩn em. Ơn ái khanh tiến cử mỹ nhân, trẫm nhớ hoài cho đến thác. Nay hai chị em đồng hầu một chỗ, hưởng lộc lâu dài.
Nói rồi truyền dọn tiệc ăn mừng, cho đến canh khuya mới đi nghỉ.
Người sau có thơ như vầy:
Nước mất vì vua ám,
Thời hư rước quỉ về
Thấy lời trung lại ghét
Nghe tiếng nịnh thì mê
Hoàng hậu là Hồ mi
Mỹ nhân thiệt Trĩ Kê
Tỉ Can đà tới số
Gặp yêu động ra nghề.
Vua Trụ cùng nàng Hỉ Mị ở trong cung cấm để vui thú nguyệt hoa, bá quan trong triều không một ai hay biết. Còn Trụ Vương mê Hỉ Mị bây giờ còn quá hơn Ðắt Kỷ lúc trước, chúa tôi không thấy mặt, việc triều đình bỏ hết chẳng màng. Nhờ có Võ Thành Vương cầm quyền Nguyên soái, cai trị bốn mươi tám vạn nhân mã gìn giữ Kinh đô nên nhân dân mới yên ổn. Tuy vậy Võ Thành Vương cũng như các quan Giám Nghị chẳng bao giờ được thấy mặt Trụ Vương nữa.
Bữa nọ, Hoàng Phi Hổ hay tin Ðông Bá Hầu Khương Văn Hoán chia binh đánh núi Gia Mã, muốn chiếm ải Trần Ðường, vội vã làm sớ định dâng lên vua, nhưng chờ mãi, không làm sao gặp mặt được Trụ Vương, đành phải trở về dinh. Hôm sau, Hoàng Phi Hổ lại cầm sớ thẳng đến Lộc đài, nhưng Trụ Vương từ chối không cho yết kiến.
Hoàng Phi Hổ cực chẳng đã phải tùy tiện sai Lỗ Hùng đem mười vạn binh ra ngoài chống cự.
Còn vua Trụ được Hỉ Mị, mây mưa bất kể ngày đêm, múa hát tưng bừng chẳng cần khuya sớm, xem tửu sắc là trọng, coi xã tắc như không.
Một hôm, Ðắt Kỷ vừa ăn xong, bỗng ré lên một tràng, nhào lăn xuống đất Trụ vương thất kinh mồ hôi đầm đìa trên áo vì thấy Ðắt Kỷ máu tươi tuôn ra nói năng chẳng nên lời thì kêu lên:
– Ðã mấy năm nay Ngự thê ở với trẫm nay xảy ra bệnh lạ trẫm biết chạy chữa thế nào.
Hỉ Mị thấy thế chặt lưỡi nói rằng:
– Bệnh cũ của chị tôi trở lại.
Vua Trụ day nhìn Hỉ Mị lật đật hỏi:
– Mỹ nhơn cũng biết chứng bệnh cửa Ngự thê nữa à?
Hỉ Mị cúi đầu thi lễ:
– Thưa bệ hạ, tiện nữ cùng Hoàng hậu là chị em bạn gái ở Ký Châu.
Vưa Trụ liền hỏi:
– Người đẹp đã biết chứng bệnh của Ngự thê?
Hỉ Mị đáp:
– Muôn tâu, chứng bệnh của Hoàng hậu là chứng bệnh đau bụng có lần đã chết giấc như vậy.
Trụ vương thoáng nhìn Ðắt Kỷ vụt hỏi:
– Lần chết giấc ấy có thuốc gì trị liệu?
– Tại Ký Châu có một vị thầy thưốc hay lắm họ Trương tên Nhuận sắc trái tim tím phỏng của người ta đổ vào miệng chị tôi một hớp, chị tôi sống lại.
Nghe qua Trụ vương tươi ngay nét mặt nói:
– Trẫm sẽ đòi Trương Nhuận trị bịnh cho Ngự thê.
Người đẹp Hỉ Mị cúi mặt giả vờ lau nước mắt nói:
– Từ đây qua đến Ký Châu đi và về có hơn một tháng, để rước Trương quân thủ thì thây chị tôi đã rã rồi. Họa là chọn người trong triều ca tìm cho được trái tim tầm phỏng sắc đỡ thì may ra còn cứu được bằng để lâu e chị tôi khó sống!
Vua Trụ ra chiều suy nghĩ rồi hỏi Hỉ Mị:
– Trẫm có biết ai có tim tầm phỏng để làm thuốc trị bệnh cho Ngự thê?
– Bệ hạ không chê tiện thiếp là quê mùa thì tiện thiếp có thể đánh tay xem quẻ vì ngày trước thần thiếp có học phép tiên.
Trụ vương nghe nói lấy làm ngạc thiên nhưng không che giấu được nỗi vui mừng nên truyền Hỉ Mi đánh tay cho mau.
Hi Mị ngồi đánh tay mãi hết ngược rồi đến xuôi, một chập sau chắt lưỡi than rằng:
– Trong triều có quan Ðại Thần đến chức cực phẩm, thần thiếp e bất tiện, khó nỗi cứu nương nương.
Tra Vương nóng nảy hỏi:
– Người ấy là ai nói mau nghe thử, ta không thể chờ lâu hơn nữa được.
Hỉ Mi cố kéo lâu để đốt lòng nóng giận của Trụ Vương nên khẽ đáp:
– Thưa bệ hạ chỉ có trái tim của Tỉ Can là bảy lỗ, ngoài ra người khác thì không có.
Vua Trụ vẻ mặt kém vui ôn tồn nói:
– Tỉ Can là Hoàng Thúc một họ với vua, nhưng Hoàng Thúc biết được chuyện này lẽ nào lại làm ngơ tiếc rẻ trái tim mà không cứu được bệnh cho Ngự Thê đang lâm cơn bệnh ngặt.
Nói, đoạn nhà vua truyền Ngự trát đòi Hoàng Thúc Tỉ Can vào chầu lập tức.
Lúc ấy nơi tư gia Tỉ Can nhàn rỗi chẳng biết tính mưu gì cho việc nước, xảy nghe Khắc Vân bảo có ngự trát đến đòi. Tỉ Can tiếp ngự trát rồi căn dặn ngự trát về trước.
Hoàng thúc Tỉ Can ngồi bóp trán suy nghĩ trong triều không có việc gì cho lắm cớ sao nhà vua đòi gấp thế này. Nghĩ mãi chưa tìm ra câu trả lời thì ngự trát đến thúc. Trong khoảnh khắc có hơn năm tên ngự trát đến đòi. Tỉ Can đâm nghi nhưng chẳng biết lành dữ ra sao. Ðang phân vân thì quan Phụng Ngự Trần Thanh mang ngự trát đòi nữa.
Tỉ Can cúi đầu nhận trát rồi hỏi Trần Thanh:
– Trong triều có việc gì khẩn lắm sao mà trát đòi sáu bảy lần như vậy?
Trần Thanh vòng tay cúi mặt giọng buồn rầu nói:
– Vận nước đến hồi suy sụp Bệ bạ mới dùng đạo cô là Hồ Mị, hồi sớm mai nương nương đau bụng ngã xuống tắt hơi.
Hồ Mị nói rằng:
– Nếu trái tim ai tầm phỏng như cọng sen, sắc lấy nước đem đổ thì nương nương sống lại.
Nghe như vậy Bệ hạ mới hỏi:
– Ai có trái tim tầm phỏng?
Hồ Mị nói:
– Chỉ có trái tim Thừa Tướng là bảy lổ nên Thiên tử quyết mượn trái tim của Hoàng Thúc mà cứu Hoàng hậu.
Thoáng nghe tin sét đánh bên tai Tỉ Can rụng rời tay chân, nói:
– Ngươi đến Ngọ môn quan chờ, ta sẽ đến ngay.
Tỉ can đi vào trong nói với vợ là Mận thị rằng:
– Phu nhơn ôi! Trong triều đã hết người rồi vì hôm nay ta phải thác, Phu nhơn hãy nuôi dưỡng con khờ Vi Tử Ðức và cố giữ phép nhà.
Dứt lời khóc to hơn. Mạnh phu nhân nghe rõ câu chuyện biến sắc hỏi:
– Tướng công nói chi lời thống thiết ấy đau lòng thiếp.
Tỉ Can ngẫn nhìn vợ phân giải:
– Ðắt Kỷ có bệnh, hôn quân nghe lời yêu mị đòi lấy trái tim ta mà làm thuốc, thì bảo sao ta không thác cho được.
Mạnh Phu nhơn ôm mặt kể lể:
– Ông làm quan đến chức Thừa Tướng trên không phạm phép vua, không quấy rầy quan dưới, ái quốc trung quân thiên hạ đều nghe đều thấy, tội tình chi mà mổ bụng lấy tim cho đành.
Vi Tử Ðức đứng bên mẹ lăn lộn khóc và nói rằng:
– Xin cha đừng lo cho mệt, con nhớ lại năm trước Khương Tử Nha coi tướng cho cha, đoán không bao lâu cha sẽ bị tai nạn nên người có để lại một miếng giấy cất trong thư phòng, người căn dặn đến cơn hoạn nạn coi tấm giấy ấy thoát nạn.
Tỉ Can như người tỉnh mộng gật đầu nói:
– Nếu con không nhắc thì cha quên rồi.
Ðoạn đi vào thư phòng thấy dưới nghiêng mực còn dằn một trương giấy coi chữ dặn dò kỹ lưỡng, lại có một đạo phù. Tỉ Can truyền thắp đèn và múc chậu nước lạnh. Tỉ Can đốt bùa uống rồi lên ngựa vào chầu.
Trần Thanh để lậu sự nên quan dân đều biết rõ ràng: vua muốn lấy tim Tỉ Can làm thuốc trị bệnh cho Ðắt Kỷ.
Hoàng Phi Hổ cùng các quan đại thần đều kinh hãi không hẹn mà đồng đến Ngọ môn quan.
Lúc đó Tỉ Can cỡi ngựa đến, bá quan vây quanh hỏi:
– Vì cớ nào vậy?
Tỉ can bài giải:
– Theo lời Trần Thanh bệ hạ đòi lấy tim tôi làm thuốc trị bệnh, chẳng biết có đúng như vậy không?
Bá quan đưa đón một hồi Tỉ Can đến Lộc đài yết kiến nhà vua.
Vua Trụ đang sốt ruột đợi, thấy Tỉ Can đến truyền vời lên Lộc đài.
Tỉ Can lên rồi Vua Trụ mời ngồi phán rằng:
– Ngự thê phát chứng đau bụng gần nín thở, có trái tim tầm phỏng thì trị được. Duy chỉ có Hoàng thúc có Linh lung tim, xin cho một miếng để cứu bịnh hiểm nghèo, thiệt là ơn tái tạo.
Tỉ Can cung kính thưa:
– Trái tim là chủ cái thân, ẩn trong hai lá phổi, trăm vật động không phạm đến, hễ phạm đến thì chẳng còn, trái tim thẳng thì tay chân thẳng, trái tim chẳng ngay thì tay chân chẳng ngay, cội báo của tử nhi mộng linh của vạn vật. Như trái tim bị cắt thì còn sống làm sao được? Lão thần thác cũng không phiền hà gì, tiếc gì xã tắc tan tành, hiền lương vắng vẻ. Nay hôn quân nghe lời yêu muội, muốn lấy tim ta, Tỉ Can còn thì giang san còn nếu Tỉ Can mất thì giang san mất.
Vua Trụ khoát tay tỏ dấu không bằng lòng, nói:
– Hoàng Thúc nói đúng lắm. Trẫm xin cắt trái tim một chút cũng không đến đỗi gì phải nói chi cho dài dòng lắm chuyện.
Tỉ Can giận đỏ mặt thét lớn:
– Hôn quân đắm mê tửu sắc, ăn nói chẳng nên điều. Nếu cắt một miếng trong tim thì ta phải chết. Tỉ Can không phạm tội móc tim mổ bụng sao hành hình cho đến thế này.
Vua Trụ vỗ bàn nạt lớn:
– Vua khiến tôi thác, tôi không chịu thác thì bất trung. Dám mắng vua trên đời có bầy tôi nào như vậy chăng? Nếu không vâng lệnh trẫm, trẫm sai võ sĩ mổ bụng lấy tim.
Tỉ Can đã đến nước liều nên không dằn nổi được phải nói:
– Ðắt Kỷ là con tinh. Ta dẫu có thác xuống suối vàng cũng không hổ với tiên đế.
Vụt ông day qua đám võ sĩ nói:
– Võ sĩ mau đem gươm cho ta…
Quan phụng ngự dâng gươm. Tỉ Can nhắm ngay nhà Thái Miếu làm lễ tám lạy và vái rằng:
– Thánh Thần tiên vương linh chứng. Nay Ân Thọ làm hư sự nghiệp 28 đời chẳng phải tại tôi không trung nghĩa.
Lạy tạ xong cởi đai trật áo mổ bụng mà không chảy máu tí nào và rứt phăng trái tim quăng trước mặt vua Trụ, mặt mày tái ngắt, gài nút áo phăng phăng xuống đài.
Các quan đại thần đưa Tỉ can khi nãy, nhóm trong đền lớn có ý đợi tin tức của Thừa Tướng. Ðương bàn luận với nhau bỗng nghe tiếng giày đi tới. Hoàng Phi Hổ chạy ra xem gặp Tỉ Can mừng rỡ hỏi:
– Chẳng hay công việc Thừa Tướng ra sao?
Tỉ Can không trả lời, bá quan ra nghinh tiếp. Tỉ Can cúi mặt đi mau, khỏi cầu Cửu Long ra đến cửa ngõ thấy có gia tướng đem ngựa mà ngừa.
Hoàng Phi Hổ thấy cử chỉ của Tỉ Can làm thinh lăm lăm đi thẳng ra ngọ môn, liền sai Hoàng Minh, Châu Kỷ lên ngựa theo sau coi Thừa Tướng đi đâu cho biết. Hai tướng ấy vâng lệnh ra đi.
Lên lưng ngựa Tỉ Can ra roi đánh ngựa như bay, ước chừng 6, 7 dặm đường thì trước ngựa có một người đàn bà tay xách giỏ miệng rao rằng:
– Ai mua rau vô tâm không?
Tỉ Can lấy làm lạ hỏi:
– Rau vô tâm là giống gì?
Người đàn bà ấy vòng tay đáp rằng:
– Tôi là đàn bà nghèo khó, đi bán rau vô tâm.
– Nếu người ta vô tâm thì sao?
Người đàn bà trả lời:
– Nếu trống ruột thì sống, người vô tâm thì chết tức thời.
Tỉ Can la lớn lên một tràng té xuống ngựa, máu ra thấm áo tắt thở.
Có thơ thương tiếc Tỉ Can đề:
Cúi dâng ngự trát nghĩ mà thương
Ðắt Kỷ bày mưu hại đống lương
Bởi phép linh không ngậm miệng
Khiến nên bỏ mạng tại bên đường.
Người đàn bà thấy Tỉ Can té xuống ngựa, không hiểu nguyên do vì đâu thất kinh bỏ chạy.
Hoàng Minh và Châu Kỷ thúc ngựa chạy theo thấy Tỉ Can té dựa mé đường máu ra lai láng, nằm ngửa dưới đất hơi đã dứt rồi.
(Nguyên khi trước Tử Nha để lại một điệu phù, và viết một lời trong ấy dặn Tỉ Can uống bùa thì mổ bụng không chảy máu và phải làm thinh về phủ thì còn. Bởi Tỉ Can tới số nên khiến hỏi người đàn bà mà chết. Có kẻ bàn rằng: phải chi người đàn bà ấy nói: người vô tâm cũng sống thì Tỉ Can chắc bình an. Nhưng nghĩ sống thác tại mạng, nào phải nơi miệng đàn bà đã hỏi Tỉ Can).
Hoàng Minh, Châu Kỷ thấy công việc xảy ra như vậy không có cớ gì, liền giục ngựa trở về đền thưa sự tình cùng Hoàng Phi Hổ.
Hoàng Phi Hổ, Vi Tử nghe tin ấy thì thảm thiết vô cùng. Có quan Ðại phu là Hạ Chiêu hét lớn lên rằng:
– Hôn quân giết chú ruột, trái lẽ quá chừng, để tôi vào ra mắt.
Nói rồi đi thẳng lên Lộc đài.
Trong lúc ấy vua Trụ đang cầm quả tim của Tỉ Can hối quản gia đi nấu thì thấy Hạ Chiêu lên đài, trợn mắt tròn vo, nhướng mày đựng ngược đặng ngó vua, chẳng chịu thi lễ mặt đỏ phừng phừng.
Vua Trụ thấy thế phán hỏi:
– Trẫm không cho chỉ đòi, khanh có chuyện chi vào ra mắt?
Hạ Chiêu tức căm gan nói:
– Tôi đến giết vua đây.
Trụ Vương cười nói:
– Từ xưa đến nay lẽ nào tôi thí chúa?
Hạ Chiêu sỉ nhục:
– Hôn quân đã giết đằng tôi không lẽ thì cháu sao cháu lại đi thí chú ruột của mình, khác nào con đẻ giết cha mình. Vả lại, Tỉ Can là em ruột của Ðế Ất, chú ruột hôn quân nỡ nào nghe lời Hồ Ly Ðắt Kỷ nấu tim chú cho nó ăn? Vì lẽ đó mà xét cháu giết chú được thì sau tôi giết vua là vậy.
Nói rồi rút Phi Vân Kiếm treo trên đài chém Trụ Vương. Tuy nhiên Trụ Vương là một người văn hay giỏi võ nên tránh khỏi ngọn đao. Hạ Chiêu là quan văn nên chém hụt Trụ Vương mất đà té nhào xuống. Vua Trụ đùng đùng nổi giận gọi võ sĩ bắt liền. Bọn võ sĩ dâng lời áp lại, Hạ Chiêu nói lớn lên:
– Ngừng tay lại, đừng bắt hôn quân đã giết chú thì Hạ Chiêu phải giết vua, ấy là lẽ công bình, không lỗi chi cả.
Hạ Chiêu sợ ở lâu chúng bắt, nói rồi nhảy xuống đài tự vận, thương ôi nát thịt tan xương chết vô cớ.
Có thơ đề rằng:
Hạ Chiêu nóng giận cũng không hờn
Bởi tại hôn quân ở bất nhơn
Dạn bá tiếng tâm phân chẳng vị
Khá thương xương thịt nát chi sờn
Lòng vàng một tấm nên khen nữa
Mật đỏ ngàn cân muốn nặng hơn
Mình vóc tuy là gieo xuống đất
Oai linh còn để trước sân đơn.
Bá quan văn võ nghe tin Hạ Chiêu gieo mình xuống đất tự tử liền kéo nhau ra ngoại Bắc môn thăm thấy Hoàng Thúc, Vi Tử Ðức có tang thọ chế, lạy tạ bá quan.
Hoàng Phi Hổ, Vi Tử, Cơ Tử và Vi Tử Ðức khóc than nước mắt vắn dài rồi tẩn liệm thân xác Tỉ Can vào quan quách để ngoài Bắc môn cắt nạp cúng tế.
Xảy nghe quân báo:
– Văn Thái Sư thắng trận trở về. Bá quan đồng lên ngựa ra ngoài mười dặm trước viên môn nghinh tiếp.
Vãn Thái Sư nghe tin, liền truyền cho văn võ trở về đợi tại Ngọ môn.
Từ đàng xa người ta đã thấy Thái Sư Văn Trọng cỡi hắc Kỳ Lân đi ngang qua cửa Bắc, nhìn thấy có rạp tang, quàn linh cửu bên đường thì lấy làm ngạc nhiên liền hỏi:
– Linh cửu của ai đó.
Quân thưa rằng:
– Linh cửu của ông Á Tướng.
Văn Thái Sư thoáng nghe thất kinh trong lòng vội tiếp tục nhắm Lộc đài trực chỉ.
Ðến ngọ môn thì gặp các quan đón tiếp.
Văn Thái Sư xuống ngựa cười bảo:
– Các ông vẫn mạnh? Ðã mười mấy năm nay tôi đi dẹp giặc Bắc, về xem phong cảnh khắc xưa khá nhiều.
Hoàng Phi Hổ đáp lời:
– Thái Sư ở Bắc Hải có lẽ cũng hay tin, thiên hạ ly loạn, triều chính đảo điên, lê thứ phân tán, chư hầu phản bội rồi chớ?
Văn Thái Sư tỏ vẻ suy nghĩ cất tiếng trả lời:
– Năm nào cũng nghe tin như vậy, song lẽ mắc bận việc binh gia buộc ràng nên không về được. Nay nhờ ơn trời và hồng phúc Thiên tử dẹp xong Bắc Hải chỉ muốn bay đến tận Triều Ca ngay.
Văn Thái Sư ngước nhìn văn võ bá quan rồi vội vã vào triều, thấy ngự ấn trước ngai đóng bụi biết là vua vắng lâm triều.
Văn Thái Sư ngó phía Ðông hỏi rằng:
– Mấy cột đồng dựng chi đó?
Quan chấp điện quì thưa:
– Thiên Tử mới chế vật để hành hình gọi là Bào Lạc.
– Bào Lạc ra làm sao?
Võ Thành Vương bước tới thưa:
– Thái Sư ôi! Những quan Giám Nghị nào lòng ngay vì nước thì ba từng Bào Lạc cháy đỏ rồi xiềng tỏa trói người can ấy bó ốp vào cột đồng nổi lửa đốt bay hôi tanh khắp cả đền, một phút đã ra tro mạt. Từ khi chế ra Bào Lạc quan trung nạp chức, kẻ trí ẩn mình, tôi ngay liều tấm thân.
Nghe những lời phân giải, Văn Thái Sư giậm chân tức tối, trợn ba con mắt gần tóe lửa, con mắt giữa là mắt thần nên hào quang chiếu sáng. Ông truyền quan Chấp điện nổi trống giống chuông, mời Thiên tử lâm triều.
Tất cả bá quan văn võ thấy thế lấy làm đẹp dạ hài lòng.
Trụ vương sau khi sắc tim Tỉ Can lấy nước trị bịnh cho Ðắt Kỷ phục hồi trở lại, người đang yêu mơn trớn cùng người đẹp, bỗng quan Ðương giá vào tâu:
– Văn Thái Sư từ Bắc Hải mới về, nổi trống đền để mời bệ hạ lâm triều yết kiến.
Trụ vương cúi đầu ngẫm nghĩ, rồi truyền cho đẩy xe rồng, ngự đền lớn.
Bá quan văn võ bái lạy Thánh hoàng đã trở về an vị.
Văn Thái Sư cũng làm lễ ra mắt. Trên bệ rồng Trụ Vương nghiêm nét mặt giả ơn:
– Thái Sư đánh Bắc Hải người ngựa đều mệt mỏi, nay đắc thắng trở về thì công trạng ấy sẽ được hậu tạ xứng đáng.
Văn Thái Sư quì tâu:
– Ðó cũng nhờ ơn trời và phước chúa, trải qua mười lăm năm chinh phạt, trăm trận đều bình an, nguyện với lòng đem hết sức bình sinh đền nợ nước. Dù ngoài xa ngàn dặm thần vẫn nghe rằng thiên tử lỗi nghi cũng lắm, các nước chư hầu bội phản, triều chính rồi ren, dân tình đồ thán. Những chuyện ấy có thật như vậy chăng? Xin bệ hạ phân giải tận tường.
Vua Trụ nhíu mày suy nghĩ trịnh trọng phán rằng:
– Khương Hoàng Sở dùng mưu thí trẫm, Ngạc Sùng Võ lòng nghịch mắng vua, lỗi lầm ấy không thể nào tha thứ được nên trẫm hạ lệnh bêu đầu, riêng về hai người con chư hầu lập mưu báo cừu trẫm lấy làm giận lắm.
Văn Thái Sư thấy nhà vua ngụy biện, lòng giận hỏi:
– Khương Hoàng Sở thí chúa, Ngạc Sùng Võ mắng vua ai sẽ đứng ra làm chứng cho bệ hạ?
Vua Trụ lặng người không nói, Văn Thái Sư thấy thế nói:
– Tôi đánh Bắc Hải những mười lăm năm, chốn triều nội bệ hạ chẳng tu nhơn tích đức, chỉ biết đắm say tửu sắc, giết chết tôi trung, làm một lòng chư hầu sanh tâm phản bội.
Ngừng lại Văn Thái Sư chờ xem phản ứng nhà vua rồi tiếp:
– Thần lấy làm thắc mắc về mấy trụ cột đồng dựng ở hướng Ðông để làm gì?
Vua Trụ phán:
– Quan Giám Nghị mắng vua, nên trẫm chế Bào Lạc mà trị tội loạn thần.
Văn Thái Sư lại hỏi:
– Còn đài chi xây cao choán chỗ, cả công trình vĩ đại?
Vua Trụ giả vờ ngạc nhiên.
– À! Vì trời hè nóng bức trẫm xây cất Lộc đài để hóng gió, tuy nhiên nó còn có công ích, cho nên từ trên cao ngó xuống thấy đủ mọi điều.
Văn Thái Sư nghe lấy làm bất mãn lớn tiếng nói:
– Nay bốn bể chẳng an, giặc giã khuấy phá, chư hầu trở mặt, bởi bệ hạ vô ơn bạc nghĩa, cứ miệt mài trong tửu sắc, vậy còn chế ra Bào Lạc giết tôi can, xây Lộc đài cho dân khổ, tiền bạc tiêu xài thỏa thích để cho lương thực cạn dần, quân đói khổ phải bỏ chúa, dân vì sưu cao thuế nặng oán vua.
Văn Thái Sư ngừng lấy giọng rồi nói tiếp:
– Tâu bệ hạ, quan quân, dân đều là tứ chi của bệ hạ nếu tứ chỉ lành lẽ thì thân thể mạnh, tứ chi nghịch thì thân thể ngữa nghiêng. Vậy Chúa lấy lễ đãi bầy tôi, tôi lấy ngay thờ chúa. Tiên Vương ngày trước tứ phương tám hướng dâng lễ, vòng tay, cơ nghiệp vững vàng, nhân dân vui vẻ. Nhưng từ lúc bệ hạ lên ngôi Bắc Hải dấy loạn, tôi phải chinh phạt hèn lâu mới yên một cõi, thế mà bệ hạ không biết lo cho vận nước đảo diên còn chọc giận chư hầu, lê thứ lầm than, gây điều tác tệ, luật lệ chẳng ngó ngàn. Hôm nay tôi trở về đây tu chính lại, bệ bạ vào cung an nghỉ đợi tôi viết sớ dâng.
Vua Trụ rời long sàn trở về Lộc đài một nước.
Vua Trụ đi xong Thái Sư Văn Trọng quay sang bá quan nói:
– Xin các ông khoan về dinh! Thẳng đến phủ tôi thương nghiệp. Bá quan văn võ đồng theo Văn Thái Sư hầu việc, Văn Thái Sư mời bá quan an tọa đâu đó, rồi mới nói:
– Lão phu chinh phạt miền Bắc lâu năm, chẳng dám phụ lời tiên vương gởi gắm, nên thường hỏi thăm tin tức tại triều, tôi được nghe bệ hạ bấy lâu nay bỏ phép làm nhiều chuyện phi nhân. nhưng chỉ nghe thế thôi không làm sao hiểu tường tận được, xin các quan thuật lại rõ ràng rồi chúng ta cùng nghị luận, tìm cách khuyên vua sửa mình trị nước.
Quan Ðại Phu Tôn Dung đứng dậy bày tỏ:
– Lâu nay Thiên tử xa hiền, nghe nịnh, đắm mê tửu sắc, bỏ đạo vua tôi, làm lắm điều tội ác, kể sao cho xiết. Nếu Thái Sư muốn rõ đầu đuôi, chúng tôi xin tiến cử Võ Thành Vương Hoàng Phi Hổ thay mặt chúng tôi kể lại.
Bá quan đồng thanh nói:
– Như vậy rất phải.
Hoàng Phi Hổ liền đứng dậy thưa:
– Tôi xin vâng lệnh Vãn Thái Sư kể rõ đầu đuôi, không việc gì dám dấu.
Kế đó, Hoàng Phi Hổ đem các việc của Trụ Vương từ chân tóc kẽ răng thuật lại một hồi, và kết luận:
– Nước thịnh thì hiện điềm lành, nước gần mất sanh điều yêu mị. Thiên tử lỗi đạo như vậy mà chúng tôi dâng sớ can ngăn, thiên tử xem như mớ giấy lộn không hề để ý tới cứ xem việc tửu sắc là hơn, xem lũ nịnh là trọng. Sau này thiên tử không lâm triều nữa, vua tôi cách mặt dù có chuyện gì muốn nói cũng không biết đâu mà mở lời. Nay Văn Thái Sư về đây xin lấy uy thế của ngài chấn hưng xã tắc đưa vua trở lại con đường chính cho bốn bể được yên vui, được như thế chúng tôi cảm đức Thái Sư không cùng.
Văn Thái Sư nghe rõ mọi việc, giận quá không dằn được, hét lên một tiếng thấu trời, và nói:
– Cơ nghiệp Thành Thang không ngờ ngày nay đổ nát như vậy. Bởi tôi lo đi dẹp giặc Bắc Hải, nên Thiên tử mới hư hèn, sa đọa thế này. Tôi xét thấy, tôi có tội lớn với tiên vương, phụ lời gởi gắm! Thôi, các ông ai về dinh nấy an nghỉ, đợi ba ngày nữa tôi làm sớ xong sẽ mời vua ra để dâng sớ can qua.
Thái Sư Văn Trọng tiễn bá quan ra cửa xong rồi dặn Kiết Lập và Dư Khánh đóng cửa ba ngày, không cho ai đến hỏi han gì cả, để có đủ thời giờ thanh tịnh làm sớ can vua, rồi sẽ mở cửa tiếp kiến dân chúng.
Người sau có thơ khen Thái Sư Văn Trọng:
Dẹp loạn mấy năm cõi Bắc an
Nào hay triều chính đã tan hoang
Ðắm mê, Thiên tử buồn can kỷ
Làm phản chư hầu phá ải quan
Mười khoản khuyên vua không vị kỷ
Chín trùng kiêng nể, khó than van
Quyết lòng sửa chữa, khuyên vua dữ
Tiết giải trung trinh tựa đá vàng.
Nội trong ba ngày đêm, Thái Sư Văn Trọng làm sớ khuyên vua, bên trong hội đủ mười điều buộc vua Trụ phải từ bỏ.
Ngày thứ tư, Thái Sư Văn Trọng vào đền hai bên văn võ bá quan ứng hầu đủ mặt.
Trụ Vương thấy mặt Thái Sư, cũng phải lâm triều. Ðã mấy năm, người ta mới thấy một cảnh triều kiến huy hoàng như vậy.
Văn Thái Sư quì dưới bệ dâng sớ tâu:
– Kẻ hạ thần có mấy lời ngay, xin bệ hạ soi xét.
Nói rồi trải tờ sớ trên Long án, trước mặt Trụ vương.
Vua Trụ xem sớ, thấy viết như sau:
– Tôi dâng sớ là Thái Sư Văn Trọng, vì thấy quốc biến gia vong, phong hóa suy đồi, muôn dân muốn loạn, nên không ngại búa riều đem lời ngay can gián.
Tôi ghi: Trước kia vua Nghiêu tước vị, lo việc thiên hạ không dám vui riêng, giết kẻ nịnh tìm người hiền, nên mới có vua Thuấn, Vua Vỏ, Ông Tắc, Ông Khiết đồng ra giúp sức. Ðó là bực vua thánh tôi hiền, lấy đức dạy dỗ muôn dân, lấy nhơn nghĩa mà trị nước, lấy lễ nghi mà sửa mình. Nay bệ hạ nối ngôi nhà Thương, muốn cho xã tắc được yên, trăm họ kính vì, không phải lấy uy quyền mà làm oai, lấy vui riêng làm trọng, mà phải thương dân, yêu quân, kính văn trọng võ, xem công đức của các bậc tiên vương để lại làm một sự nghiệp lâu dài. Cái gì thuận thì còn, cái gì nghịch thì mất. Ðó là luật vũ trụ thế mà bệ hạ xa trung gần nịnh đắm rượu mê hoa, bỏ dở can thường khoét mắt, đốt tay Hoàng hậu, dứt tình phụ tử, hại mạng đông cung, làm Bào Lạc đốt tôi thần, chế Sái bồn diệt Cung nữ. Hành động như vậy đâu phải hành động của một chân chúa.
Xin bệ hạ từ nay bỏ lỗi trước, lấy gương xưa sửa mình, may ra xã tắc được yên trăm họ chầu về, cơ nghiệp Thành Thang mới duy trì được.
Tội can tội, dâng mười điều răn, kể sau:
Ðiều thứ nhất: Xin phá Lộc đài cho yên lòng thiên hạ.
Ðiều thứ hai: Xin bỏ Bào Lạc cho đẹp dạ trung thần.
Ðiều thứ ba: Xin lấp Sái Bồn cho cung nga khỏi hại.
Ðiều thứ tư: Xin hủy Tửu Trì, phá Nhục Lâm cho các trấn khỏi chê.
Ðiều thứ năm: Xin đày Ðắt Kỷ, lập chánh cung, cho mỹ nhân khỏi lợi dụng sắc đẹp bày điều hại nước.
Ðiều thứ sáu: Xin chém Vưu Hồn, Bí Trọng cho tôi nịnh giật mình.
Ðiều thứ bảy: Xin phát lúa gạo trong kho chẩn thí cho dân đói.
Ðiều thứ tám: Xin sai sứ chiêu an Ðông và Nam Bá Hầu.
Ðiều thứ chín: Xin tìm người hiền lương ở non cao rừng rậm đem về dùng.
Ðiều thứ mười: Xin phong thêm quan Giám Nghị để sửa lỗi vua.
Dâng sớ xong, Văn Thái Sư đứng dựa một bên ngai, mài mực, chấm viết đưa cho Vua Trụ, buộc vua Trụ phải phê vào lập tức để triều đình theo đó mà thi hành.
Nhưng vua Trụ xem xong lại lưỡng lự, nói với Thái Sư:
– Trẫm cất Lộc đài hao tốn công của nhiều lắm, để trẫm nghĩ lại phá vội không đành. Còn Ðắt Kỷ phạm tội gì mà đày đọa. Ðến như Bí Trọng, Vưu Hồn là hai kẻ có công lao với trẫm, không làm lỗi điều gì, sao gọi là nịnh thần, bảo trẫm giết đi sao cho được. Trong mười điều, trẫm chỉ bỏ điều thứ nhứt, điều thứ năm, và điều thứ sáu mà thôi.
Văn Thái Sư tâu:
– Lộc đài càng tốn của tốn công càng làm cho dân chúng điêu linh khổ sở, phá đi là trấn an lòng giận dữ của dân. Ðắt Kỷ xúi giục bệ hạ làm Bào Lạc, chế Sái Bồn, hại nhiều người thác oan. Vậy phải đày Ðắt kỷ tôi trung mới theo về người hầu mới thỏa mản. Còn Vưu Hồn, Bí Trọng chém đi là để trong triều khỏi còn nịnh thần xúi vua làm bậy. Ðược như vậy nước mới trị dân mới yên. Xin bệ bạ đừng dụ dự. Chúng tôi đang mong mỏi được hầu gần một minh quân.
Bị Thái Sư ép buộc, vua Trụ túng thế vừa đứng dậy vừa quát:
– Thái Sư tâu mười khoản trẫm chỉ bằng lòng bảy khoản mà thôi. Còn ba khoản kia đình lại, để trẫm xét đã.
Văn Thái Sư tâu:
– Bệ hạ chớ xem ba khoản ấy là việc nhỏ, chính khoản ấy là căn bản cho việc trị loạn trong triều đình đó.
Xảy có quan Trung Ðại Phu là Bí Trọng bước lên thềm ý muốn tâu trình việc gì.
Văn Thái Sư không biết mặt, nên hỏi:
– Ông là ai?
Bí Trọng thưa:
– Tôi là Bí Trọng, làm chức trung Ðại Phu.
Văn Thái Sư cười gằn, nói:
– Quan Trung Ðại phu định lên đây có việc gì!
Bí Trọng nói:
– Thái Sư ngồi cao cực phẩm, lẽ ra phải trọng đạo tôi thần lại còn viết ép vua phê là trái lẽ vua tôi, đòi đày Hoàng hậu là lỗi đạo, đề nghị giết tôi thần vô cớ là trái phép. Thái Sư cậy mình hiếp chúa, thật khi dễ bá quan.
Văn Thái Sư nổi giận, trợn mắt dựng râu thét:
– Bí Trọng bình nhật uốn lưỡi mà cám dỗ vua, nay lại dám chọc gan ta nữa!
Nói đoạn đấm cho một đấm Bí Trọng té xấp xuống đơn trì, xiêm y tơi tả, mặt mày bầm tím.
Vưu Hồn thấy thế bước ra nói:
– Thái Sư đánh Ðại thần trước mặt vua, phải là đánh Bí Trọng đâu mà là đánh bệ bạ đó.
Thấy người ăn nói càn gở Văn Thái Sư hỏi:
– Còn người là ai?
Vưu Hồn nói:
– Ta là Vưu Hồn.
Văn Thái Sư nhìn thẳng vào mặt Vưu Hồn cười nói:
– Nếu vậy hai đứa bây là cặp giặc, thao túng triều nội, và che chở cho nhau.
Thái Sư cũng không quên tặng cho Vưu Hồn một quả đấm.
Vưu Hồn văng ra mười mấy thước. Ðoạn Văn Thái Sư truyền kẻ tả hữu dẫn Vưu Hồn, Bí Trọng ra ngõ bêu đầu.
Văn võ bá quan trong triều ai cũng đều ghét Vưu Hồn, Bí Trọng nên nghe lệnh truyền đã nắm cổ lôi đi.
Văn Thái Sư mặt giận phừng phừng, Trụ Vương làm thinh không dám nói gì hết, thầm nghĩ:
– Tại Bí Trọng, Vưu Hồn không biết tránh mặt, nữa mới mang họa vào thân.
Vãn Thái Sư quỳ tâu:
– Xin Bệ hạ chớ nghi ngại, hãy cương quyết xuống chỉ thi hành để cứu nguy xã tắc kẻo muộn.
Trụ Vương nói:
– Thái Sư tâu rất phải. Ba điều ấy trẫm cũng phục tòng, nhưng để cho trẫm ba ngày có thì giờ nghĩ lại. Còn Vưu Hồn, Bi Trọng chọc giận Thái Sư, tội ấy cũng nhẹ hay giao cho tòa Pháp Ti tra vấn và xử phạt cũng được.
Văn Thái sư thấy vua Trụ có vẻ sợ sệt, nghĩ thầm:
– Ta vì nước mà can vua, muốn khôi phục lại cơ nghiệp Thành Thang, nay nếu làm cho lòng vua kinh động thì mang tiếng khi quân, lỗi đạo với các tiên vương không ít.
Liền quỳ tâu:
– Xin Bệ hạ đừng cho việc làm của hạ thần là có ý ép vua. Hạ thần chỉ mong sao bốn phương được thái bình cơ nghiệp Thành Thang vững mạnh, tôi chúa sum vầy. Ðó là nguyện vọng của hạ thần, ngoài ra hạ thần không mong muốn điều chi cả.
Trụ Vương bèn truyền chỉ:
– Bí Trọng, Vưu Hồn nghịch mạng Thái Sư giao cho Pháp Ti trị tội. Còn mười điều của Thái Sư dâng sớ thì bảy điều kia cho phép thi hành ngay, chừa lại ba điều sẽ xét nghị lại.
Phán rồi Trụ Vương vào cung. Bá quan ai về dinh nấy.
Hoàng Phi Hổ vừa rời khỏi điện, xảy có sớ ngoài ải về đến nơi báo tin:
– Nơi Ðông Hải Bình Linh vương làm phản không phục lệnh triều đình, muốn tấn binh chiếm đất.
Hoàng Phi Hổ than:
– Binh dậy bốn phương giặc sanh tám hướng, nay Bình Linh vương lại trở lòng nữa, chẳng biết rồi đây xã tắc ly loạn đến bực nào.
Than rồi Hoàng Phi Hổ vội đến phủ Thái Sư yết kiến Văn Trọng tỏ bầy mọi việc.
Thái Sư Văn Trọng thở dài nói:
– Bắc hải vừa bình xong, Ðông hải đã dấy loạn. Nếu bệ hạ không chừa nết cũ, không sớm đổi việc nước, chẳng biết rồi đây còn phát sinh bao nhiêu mũi giặc nữa?
Hoàng Phi Hổ cũng buồn rầu thở ra mãi.
Thái Sư Văn Trọng hỏi:
– Mũi giặc Ðông Hải nếu không dẹp cho sớm, đến Bình Linh Vương tạo được vây cánh thì sau này khó trừ. Vậy Nguyên Soái hay lão phu cử binh?
Hoàng Phi Hổ thưa:
– Trước kia không có Thái Sư tại triều thì tôi lo thu xếp mọi việc, nay Thái sư đã về, quyền sai bắt xin nhường lại cho Thái Sư định liệu.
Văn Trọng suy nghĩ một hồi rồi nói:
– Bình Linh Vương làm đến tước vương, nếu không có tôi đến khuyển dụ e việc không thành. Còn công việc triều đình hiện nay cũng cần có mặt tôi mới mong cải thiện được. Xét hai mặt đều quan hệ cả. Những thôi, để tôi cử binh dẹp yên Ðông Hải rồi sẽ trở về thu xếp việc triều chính cũng được. Tôi nhắm thời gian bình Ðông Hải cũng chẳng bao lâu.
Hoàng Phi Hổ nói:
– Xin tùy Thái Sư định liệu sao cho lưỡng toàn.
Văn Trọng nói:
– Nguyên Soái ở lại giữ gìn trật tự an ninh, lão phu nguyện đem hết trí lực đáp đền lời phó thác của tiên chúa.
Hoàng Phi Hổ tuân lệnh ra về. Rạng ngày thiên tử lâm triều, bá quan làm lễ tung hô xong, Văn Thái Sư vội dâng biểu tâu việc Bình Linh vương làm phản ở Ðông Hải.
Trụ Vương xem sớ thất kinh nói:
– Bình Linh vương chịu ơn trẫm lâu nay, cớ nào lại làm phản? Lòng người thật khó lường.
Văn Thái Sư tâu:
– Việc ấy không có gì lạ cả. Hễ bên trong không sáng thì bên ngoài phải loạn. Hạ thần mang ơn tiên vương phó thác, dẫu thịt nát xương tan cũng không từ chối việc lửa binh. Xin bệ hạ tự sửa lấy mình, coi việc xả tắc là trọng thì dù đất ngửa trời nghiêng cũng có thể cứu vãn được. Ðó là lời tâm huyết. Xin Bệ hạ chớ chấp.
Trụ Vương nói:
– Việc Bình Linh vương làm phản, Thái Sư có ý kiến thế nào?
Thái Sư Văn Trọng tâu:
– Xin để Võ Thành Vương ở lại triều chầu Bệ hạ, tôi xin đem hai mươi vạn binh đi đánh Ðông Hải cho. Còn ba điều tôi vừa dâng sớ mà Bệ hạ chưa phê chuẩn, xin đợi tôi về sẽ hay.
Trụ Vương nghe nói có ý mừng rỡ vì từ ngày Thái Sư Văn Trọng trở về triều, ngày đêm Trụ Vương lo nơm nớp, không gần Bí Trọng, Vưu Hồn, không dám cùng Ðất Kỷ và Hồ Hỉ Mị đờn ca yến tiệc thâu đêm như lúc trước.
Ðược dịp Trụ Vương truyền dọn tiệt thết đãi Thái Sư Văn Trọng để tiễn chân.
Lúc Văn Trọng kéo quân ra đến Ðông môn. Trụ Vương cùng bá quan theo ra đưa đón.
Trụ Vương rót một chén rượu trao cho Vãn Trọng và nói:
– Xin chúc Thái Sư sớm ca khúc khải hoàn.
Văn Thái sư tiếp lấy chén rượu trao cho Hoàng Phi Hổ và nói:
– Xin Võ Thành Vương uống trước.
Hoàng Phi Hổ khép nép thưa:
– Thái Sư xuất quân đi đánh giặc xa, Bệ hạ đãi ngự tửu lẽ lào tôi dám uống.
Thái Sư Văn Trọng nói:
– Không hề chi. Xin Nguyên Soái chấp thuận ly rượu này để lão phu có một điều xin thưa.
Hoàng Phi Hổ tuân lệnh tiếp lấy ly rưọu.
Văn Thái Sư nói:
– Trong triều không còn ai có đủ mưu lược thay mặt tôi trong lúc này. Vậy nếu có điều gì trái lẽ, Nguyên Soái phải can gián chớ nên làm thinh.
Ðoạn Văn Thái Sư quay sang tâu với Trụ Vương:
– Tôi vì xã tắc không tiếc thân trước làn gươm mũi giáo, xin bệ hạ ở nhà nhớ lấy kỷ cang noi gương các vị tiên vương mà trị nước, chở khá bỏ lệ xưa. Tôi đi lâu lắm là một năm, sớm lắm là sáu tháng sẽ trở về giúp việc triều đình.
Nói rồi uống một chung ngự tửu từ giã các quan, thẳng hướng Ðông Hải tiến binh.
Văn Trọng dẫn binh đi rồi Trụ Vương cùng bá quan văn võ trở lại đền rồng.
Tâm hồn Trụ Vương lúc này có vẻ thư thái không khó chịu như lúc có mặt Văn Trọng nữa.
Việc đầu tiên sau khi ngự triều là Trụ vương truyền tha tội cho Vưu Hồn, Bí Trọng.
Vi Tử thấy vậy quì tâu:
– Vưu Hồn, Bí Trọng có lỗi, bệ hạ hứa với Thái Sư cầm ngục hai người ấy để đưa ra tòa Pháp Ti xử tội. Nay Thái Sư vừa mới ra đi bệ hạ đã tha ngay, làm như vậy phụ lòng Thái Sư chăng?
Trụ Vương nói:
– Hai người ấy không có tội gì, bởi Thái Sư bức hiếp nên ta phải nể mặt truyền xử phạt thế thôi. Hoàng bá chớ theo lời nghị đó mà hại kẻ trung lương.
Vi Tử làm thinh không dám nói nữa.
Bí Trọng, Vưu Hồn được phục chức, theo hầu xa giá như cũ.
Vua Trụ bãi chầu, bá quan trở về phủ.
Từ ấy Trụ vương trở lại con đường cũ, muốn làm gì thì làm không ai dám can ngăn nữa.
Ngày kia, nhằm tiết Xuân, gió hòa nắng ấm, hoa nở ngát hương nhất là giống hoa mẫu đơn ngoài ngự viên, mùi thơm nồng nặc.
Vua Trụ truyền bá quan vua võ đi theo ra vườn Ngự uyển hưởng hoa.
Bá quan tuân lệnh, ai nấy theo hầu.
Có thơ rằng:
Nắng ấm người vui hứng gió hòa
Muôn hồng ngàn hạ đượm trăm hoa
Vương hương gió lộng trờí xanh ngắt
Nhuộm biếc cành đưa lóng lại qua
Các phụng lầu hồng xem rất lịch
Cửa vàng then ngọc ngắm không nhòa
Sương rơi mất giọt đeo cành gió
Nồng nực mùi hương mấy dặm xa.
Sau khi thưởng hoa, Trụ Vương còn truyền dọn tiệc thết đãi các quan văn võ tại nhà mát, còn vua và Hoàng hậu cùng với Hỉ Mị uống rượu ngự Thi các.
Trong tiệc, Võ Thành Vương than với Cơ Tử và Vi Tử:
– Chơi chẳng phải thời, tiệc không nhằm cách. Ðang lúc bốn phương giặc giã, trăm họ loạn ly, vui gì mà xem hoa, rảnh gì mà ăn tiệc? Phải chi Thiên tử chừa lỗi cũ, bỏ dữ làm lành, họa may trời cho thái bình đổi họa làm phước.
Cơ Tử nói:
– Tôi xét thấy bệ hạ đã không sửa đổi lỗi còn tệ hại hơn. Chúng ta không biết rồi đây sẽ thế nào trước cơn quốc biến?
Vi Tử nói:
– Chúng ta nên rút ngắn bữa tiệc này về phủ ngồi cho yên ổn tinh thần, chớ kéo dài mãi bữa tiệc nhạt phèo này có ích chi?
Các quan đều đến trước mặt Trụ Vương lạy tạ xin về.
Trụ Vương phán:
– Ngày xuân đầm ấm, cảnh vật tốt tươi, hãy uống rượu xem hoa cho thỏa thích, sao lại từ tạ vội vàng thế?
Hoàng Phi Hổ nói:
– Dù cuộc vui có kéo dài đến đâu cũng có lúc phải mãn. Chúng tôi để dành cái vui ấy cho dịp khác khi thấy nước nhà được thịnh trị xã tắc được an vui.
Trụ Vương nói:
– Trẫm còn chưa thỏa nguyện vậy để trẫm ngự ra nhà mát cùng bá quan văn võ vui chung.
Các quan thấy Trụ Vương xuống lầu ai nấy buộc lòng ngồi nán lại hầu tiệc.
Trụ vương đến Mẫu Ðơn đình truyền dọn thêm tiệc rượu, vua tôi ăn uống cho đến tối.
Trụ Vương lại truyền thắp đèn lên tổ chức đờn ca múa hát để cho bá quan đồng thưởng thức.
Trong khi ấy Ðắt Kỷ và Hỉ Mị khỏi phải hầu Trụ vương liền xuất hồn yêu tinh, nổi trận gió bay bay ra khỏi lầu tìm người mà ăn thịt.
Khi đó gió thổi mạnh, trời đất âm u, âm khí bốc ra rờn rợn, các cành mẫu đơn tươi đẹp đều khép mình run rẩy.
Bá quan thấy trận gió lạ đều kinh hãi. Bỗng có quan Thị tửu vùng la lớn:
– Có yêu tới.
Hoàng Phi Hổ lúc ấy rượu đã xoàng xoàng, nghe nói có yêu vội vàng bước ra xem thử thì thấy con thú:
Mặt tợ song đăng chiếu sáng lòa
Chờn vờn làm dữ giữa vườn hoa.
Nhăn nanh không khác hùm thèm thịt
Giơ vút dường như thú bắt gà
Mình vắn lẹ làng coi vẩn vẩn
Ðuôi dài lược thưọc kéo sà sà
Mập mờ đêm tối xem cho kỷ
Rỏ thiệt trên non một cáo già.
Hoàng Phi Hổ thấy hồ ly làm dữ, nhưng trong tay không có khí giới, nên lấy làm bối rối, nghĩ mãi mới bẻ lan can đánh nó.
Hồ ly nhanh nhẹn tránh khỏi và trở đòn chụp lại, Hoàng Phi Hổ tràn ngang gọi quân thả con Kim nhãn thần oanh (nguyên con chim Kim nhãn từ ngoài Bắc dâng vào, có tài săn chồn rất hay).
Nghe lệnh khẩn cấp tả hữu vâng lệnh, mở lồng đỏ thả thần oanh ra. Chim ấy bay lên, mắt mở rực sáng, vồ lấy hồ ly một cái. Hồ ly hoảng sợ bỏ chạy vào hang đá bên Thái Hồ.
Trên cao Vua Trụ thấy rõ ràng sai quân lấy cuốc đào xuống tìm bắt loài chồn.
Vâng lệnh nhà vua quân đào hơn ba thước thì ngạc nhiên vô cùng vì nơi ấy xương người chồng chất đầy hang.
Vua Trụ cả kinh nghĩ đến lời nói của quan Gián nghị:
– Trong cung có yêu, thật đúng chẳng sai.
Rồi lầm lủi trở về Ngự Thơ Các để ba quân lạy tạ lui về.
Hồ Ly bị thần oanh vồ xể mặt, bay nhanh về nhập xác, giựt mình tỉnh đậy, biết việc chẳng lành, nhưng ăn năn đã muộn, vua Trụ vén màn lên giường rồng ngủ với hai nàng.
Lúc bừng tĩnh mặt ra Vua Trụ thay mặt Ðắt Kỷ có dấu trầy trụa nên hỏi:
– Ngự thê làm sao mà bị thương trên mặt?
Ðắt Kỷ day nắm cánh tay nhà vua nũng nịu:
– Ðêm rồi bệ hạ cùng bá quan yến tiệc, để thiếp thui thủi một mình, thiếp buồn ra ngự viên dạo kiễng bị nhánh hải đường gie xuống, thiếp tuông phải nên mặt mảy trầy xể thế này.
Nghe Ðắt Kỷ nói vẻ thương tâm vua Trụ an ủi can dặn:
– Từ nay về sau, ngự thê đừng dạo ngự viên nữa, vì nơi ấy có yêu khí, hồi khuya này trẫm và văn võ bá quan có thấy xuất hiện một con hồ ly tinh chụp người, Hoàng Phi Hổ nhanh tay bẻ lan can đánh, nhưng nhờ thả Kim nhãn thần oanh ra chụp nó, vì thế mà vuốt chim thần còn máu và lông của nó.
Ðắt Kỷ nghe rõ giận thầm Hoàng Phi Hổ nên hăm:
– Ta chẳng chọc mi, sao mi lại hại ta thì chỉ e cho mi khó tránh khỏi họa.
Thơ đề:
Vua Trụ vầy vui tiệc thưởng hoa
Chúa tôi uống rượu tới canh ba
Khí yêu mù mịt nơi vườn ngự
Hình quái đua tranh với vô già
Kim nhãn ra oai quào sạt sạt
Hồ ly xể mặt chạy xa xa
Trả thù sao hại người trinh tiết
Khiến Võ Thành Vương học Tử Nha?
Khương Tử Nha nghe tin Vua Trụ say mê tửu sắc, dùng gian nịnh, Bình Liêu vương ở Ðông Hải trở lòng, Văn Thái Sư kéo quân dẹp loạn, Sùng Hầu Hổ a dua theo Trụ bày làm đài cao khắc khổ lê dân, nhập bọn Vưu Hồn, Bí Trọng hăm he đũ điều không ai dám mở miệng can gián vua. Tin ấy làm cho Khương Tử Nha nổi giận lôi đình:
– Nếu không trừ Sùng Hầu Hổ thế nào tên giặc ấy cũng làm náo loạn hoàng cung.
Hôm sau Tử Nha vào chầu thiên tử.
Văn vương hỏi:
– Thừa tướng có nghe điều chi lạ trong triều hay không?
Tử Nha tâu:
– Tôi nghe Trụ vương lấy tim Tỉ Can làm thuốc trị bệnh cho Ðắt Kỷ. Sùng Hầu Hổ xu nịnh, hiếp dân dọa chúa. Quan quân thấy mà chẳng dám ngửa mặt than, thấy máu đổ xương tan mà không dám giận. Hồ Mị mượn thế vua lộng hành, tôi cậy chúa gây điều tội lỗi. Xin Ðại vương cử hùng binh đánh Sùng Hầu Hổ trừ con giặc tôi loàn. May ra nhà vua còn biết hối lỗi sửa mình mà vì trăm họ.
Văn vương đắc ý cho là việc phải nên nói:
– Thừa Tướng nói đúng! Nhưng ta cũng là người đồng liêu với Sùng Hầu Hổ, thì sự chinh phạt sẽ bị miệng đời chỉ trích chăng?
Tử Nha tâu:
– Trong đời mọi việc phải hay quấy xét ngay thì rõ. Nay lòng Sùng Hầu Hổ đã thay trắng đổi đen, hại tôi trung, gây náo loạn trong quần chúng thì tội ấy đâu được dung tha. Ngoài ra nếu Chúa công lấy lòng hà hải bố thí cho dân no cơm ấm áo, dạy dân theo lễ nghĩa, sửa mình theo Nghiêu Thuấn thì nhà vua sẽ được đời ca tụng vị minh quân.
Văn vương nghe những lời nói chí phái của Tử Nha mừng rỡ hỏi:
Văn vương truyền lấy cờ, gươm đao giáo mác và chọn mười ngàn quân và ngựa xem ngày tốt tế cờ. Phong Nam Cung Hoắt làm tiên phuông, Tân Giáp làm Phó tướng, bốn hiền tám giỏi theo hộ giá thân chinh.
Tử Nha nổ súng kéo binh, mấy ông già nghinh tiếp, gà chó chẳng sợ, chợ búa không tan. Dân chúng nghe nói đại binh đi đánh Bắc Hà ai ai cũng vui mừng.
Thật là:
Ra khỏi Bàn Khê công thứ nhứt
Dẹp yên Hầu Hổ tiếng sanh đôi.
Tử Nha kéo binh ngang các huyện, các phủ chẳng hề phạm của dân. Ngày đi đêm nghỉ, thắm thoắt đã đến Sùng thành. Tử Nha dừng binh cắm trại, sai tướng tuần dinh.
Lúc đó Sùng Hầu Hổ còn bận việc Triều Ca, để con là Sùng Ứng Bưu giữ nước.
Sùng Ứng Bưu nghe quân báo nổi giận truyền nổi trống đền, các tướng đã có mặt hầu hạ.
Sùng Ứng Bưu nói:
– Cơ Xương lung lạc, không biết giữ mình, năm trước trốn về xứ, binh vua đã đuổi theo, chẳng biết hổ, nay đem binh làm dữ, vô cơ muốn lấy thành ta. Từ lâu hai nước thuận hòa cõi ai nấy giữ. Nay dấy binh sanh sự thì đừng trách ta sự sanh. Truyền Ðại tướng quân Huỳnh Nguyên Tế, Trần Kế Trinh, Mai Ðức và Kim Thành, hãy điểm binh đánh bắt giải về triều trị tội.
Hôm sau Tử Nha sai tiên phong Nam Cung Hoắt đem quân khiêu chiến.
Nam Cung Hoắt kéo binh trước thành hét lớn:
– Nghịch tặc Sùng Hầu Hổ hãy ra đây chịu chết cho mau.
Nam Cung Hoắt nói vừa dứt đã thấy trong thành có một tướng kéo quân ra ứng chiến. Tướng này xưng là Phi Hổ Ðại tướng Huỳnh Nguyên Tế, một tướng dõng mãnh nhất của Sùng thành.
– Huỳnh Nguyên Tế, ngươi vào gọi Sùng Hầu Hổ ra đây để ta cắt đầu trừ đứa dữ, chớ chúng ta không có ý định đoạt thành lấy sĩ của các ngươi.
Huỳnh Nguyên Tế nghe Nam Cung Hoắt xúc phạm đến Chúa mình thì giận lắm, múa gươm tới chém liền. Hai tướng đánh nhau hơn hai mươi hiệp, tiếng vũ khí chạm nhau chan chác. Ðánh thêm mười hiệp nữa, Nam Cung Hoắt múa siêu đao vun vút làm cho Huỳnh Nguyên Tế đuối sức, nhắm cự không lại, liền quay ngựa bỏ chạy.
Nam Cung Hoắt là một võ tướng khét tiếng của Tây Kỳ, đao pháp rất lợi hại, nên biết trước giục ngựa đuổi theo, vớt một đao, chém đầu Huỳnh Nguyên Tế đem về nạp cho Khương Thượng.
Bên Sùng thành, quân thua chạy về báo với Sùng Ứng Bưu:
– Nam Cung Hoắt chém đầu chủ tướng Huỳnh Nguyên Tế rồi!
Sùng Ứng Bưu vỗ án hét:
– Cơ Xương thật ngoan cố, đã làm phản còn dám chém tướng của triều đình, nếu phen này không bắt nó đem về Triều Ca xử tội thì còn gì uy danh ta nữa?
Nói rồi truyền các tướng điểm binh, đợi ngày mai ra trận bắt Văn Vương, báo thù cho Huỳnh Nguyên Tế.
Rạng ngày Sùng Ứng Bưu nổi ba tiếng súng lệnh, kéo đại binh đến Châu ải, gọi lớn:
– Cơ Xương và Tử Nha hai đứa già ấy mau ra đây ta bảo.
Tử Nha nghe tin liền mời Văn Vương đi trước, Tứ hiền và Bát tuấn theo sau bộ giá, còn mình và các tướng đi hai bên.
Sùng Ứng Bưu thấy Châu binh phất cờ nổ súng, binh mã kéo ra như nước, có một Ðạo sĩ cỡi ngựa trung quân hai bên có tướng tùy tùng thì biết Ðạo sĩ đó là Tử Nha rồi.
Có thơ rằng:
Tóc râu như bạc, kiếm như vàng
Bát quái liên y mặc rỡ ràng
Mão đội dường như xuôi cá lý
Khác nào Giáo chủ xuống trần gian.
Tử Nha giục ngựa đến trước trận hỏi lớn:
– Tướng Sùng thành ở đâu, hãy ra đây chịu chết.
Tức thì, có một người phi ngựa đến, đầu đội mão vàng, mình mặc áo đỏ, treo roi buộc giản, mang cung giắt tên, tay cầm xà mâu mười tám thước giục ngựa tới hỏi:
– Ngươi là đồ cẩu đạo ở đâu đám đến đây hung hăng như vậy?
Tử Nha biết tướng ấy là Sùng Ứng Bưu, liền nói:
– Ta là Khương Thượng, hiện làm chức Thừa Tướng nước Tây Kỳ. Cha con ngươi là một lũ nịnh thần dối vua phản nước, làm lắm điều độc hại, tham nhũng của dân giết hại trung lương gây nhiều tội lỗi, đứa con nít năm tưổi cũng muốn banh gan xẻ thịt cha con ngươi để trả thù cho dân chúng. Chúng ta lãnh búa Việt, cờ Mao, vâng lệnh Thiên Tử trừ ác đảng, dẹp tôi loàn, cứu nạn muôn dân, nay ta đã đến đây sao cha con ngươi không lại mà ăn năn sám hối?
Sùng Ứng Bưu nghe Khương Thượng mắng mình như tát nước vào mặt nổi giận hét lớn:
– Tử Nha, ngươi chỉ là một lão già câu cá ở Bàn Khê, tài cán bao nhiêu dám lãnh chức Thừa Tướng, đem quân gây rối chư hầu? Nếu không biết phận mình ta e hối hận thì muộn lắm.
Dứt lời quay lại hỏi các tướng:
– Ai dám bắt tên cẩu đạo thay cho ta?
Trong đám tướng lãnh Sùng thành có một người toan giục ngựa tới, thì lúc ấy Văn Vương cũng đến nơi, gọi Sùng Ứng Bưu nói:
– Sừng Ứng Bưu, chớ làm dữ, có ta đến đây.
Sùng Ứng Bưu quay lại thấy Văn Vương, giận quá chỉ mặt nói lớn:
– Cơ Xương, ngươi là đứa phạm tội triều đình, lẽ ra phải ăn năn hối lỗi, sửa đổi tính tình, sao lại cố gây điều ác, bội phản thiên triều đem quân phá rối chư hầu. gây nên việc dữ?
Văn Vương nói:
– Cha con ngươi tham nhũng, khi dễ chư hầu, kết liên với bọn nịnh xúi vua làm điều quấy, để oán lại cho dân, nếu ta không trừ cha con ngươi trăm họ lầm than, muôn dân khôn đốn. Nếu biết điều cha con ngươi mau theo ta về Tây Kỳ, ta chặt đầu tạ tội với trăm họ.
Sùng Ứng Bưu hét lớn:
– Tặc tử, nói nhiều lời nghịch thiên bội chúa. Các tướng hãy bắt nó cho ta.
Tức thì, Trần Kế Trình, một viên tướng Sùng thành vỗ ngựa tới.
Bên Tây Kỳ, Tân Giáp cũng vỗ ngựa xông ra, vung búa nói lớn:
– Chớ quen thói hung hăng, có ta đối địch đây.
Hai tướng kẻ thương người búa hỗn chiến với nhau một hồi.
Sùng Ứng Bưu thấy Trần Kế Trình đánh không lại Tân Giáp liền khiến Kim Thành và Mai Ðức ra trợ lực.
Tử Nha thấy vậy liền sai Mao Công Toại và Châu Công Ðáng ứng chiến. Bốn tướng đánh vùi một hồi, phía Tây Kỳ Nam Cung Hoắt không chịu được, liền cùng với Thiệu Công Thích, Doãn Công, Tân Miếng áp vào một lượt.
Sùng Ứng Bưu thấy tướng Châu đông quá cũng xông vào trận.
Hai bên đánh nhau không còn phân biệt được nữa, cát bụi bay ngất trời, tiếng quân reo tán loạn.
Chẳng mấy chốc, Doãn Công đâm Mai Ðức một thương nhào xuống ngựa chết tươi. Tân Giáp bửa xuống một búa trúng đầu Kim Thành chẻ làm đôi. Quân Bắc Hà thấy chủ tướng bị hại thất kinh bỏ chạy.
Tử Nha không muốn sát hại sinh linh, liền thâu quân trở về.
Sùng Ứng Bưu thất trận lập tức bế thành, thương nghị với các tướng. Bàn định suốt buổi vẫn không ai có mưu kế gì hay làm lui binh Tây Kỳ được.
– Cha con Sùng Hầu Hổ bất nhân, ác đức, ta đến đây cốt để trừ đứa ác mà thôi, nếu Thừa Tướng phá thành trăm dân lâm nạn, làm như vậy ta mang tiếng với thiên hạ!
Tử Nha thấy Văn Vương nói phải không đám trái ý, song lại nghĩ thầm:
– Bởi tánh vua Văn Vương nhân đức, không nỡ làm khổ muôn dân, nhưng nếu đánh giặc mà dụ dự như vậy biết bao giờ mới thắng.
Nghĩ rồi viết một phong thơ sai Nam Cung Hoắt qua Tào Châu trao cho Sùng Hắc Hổ, còn mình đóng quân chờ tin Sùng Hắc Hổ trả lời, không khiêu chiến nữa.
“Thừa Tướng Ký Châu là Khương Thượng, kính dâng thơ đến Ðại Quân Hầu Sùng tướng quân.
Tôi từng Nghe: Ðạo làm tôi, vua có lổi phải can, để cho yên xã tắc. Cho nên, không có vị Ðại thần nào làm vừa lòng chúa bao giờ, nếu một khi xã tắc điêu linh vì chúa bất minh.
Nay Bắc Bá Hầu thấy chúa làm điều tà lại chẳng can ngăn, còn cậy oai mà nhũng lạm, mượn lịnh mà hút máu dân. Dân sợ như cọp mà không dám nói, oán hận tày trời mà chẳng dám than. Nay chúa công tôi lãnh búa Việt cờ Mao, có bổn phận trừ diệt tôi loàn, song nghĩ lại mía sâu có đốt, nhà dột có nơi, chẳng lẽ tội của một người mà làm cho dân chúng hai Châu phải khổ. Nên tôi sai sứ đem thơ này, xin ngài suy xét, hợp lực với chúng tôi bắt tên quốc tặc nộp đến Châu dinh, trước là thiên hạ bằng lòng, sau cứu nền xã tắc.
Tuy cây một cội nhưng có trái ngọt trái chua, Quân Hầu và Sùng Hầu Hổ tuy là anh em, song chánh tà khác biệt. Nếu Quân Hầu không làm như vậy sao tỏ được đạo đức của mình, thiên hạ không thể phân biệt.
Thấy Quân Hầu là người cơ trí, có đức, tôi không nỡ nghoảnh mặt khoanh tay, phải viết mấy dòng tâm tư trình với hiền hầu trước. Nếu Quân Hầu hành động theo chúng tôi, thì chẳng những trăm họ mang ơn mà riêng Khương Thượng này cũng cảm nghĩa. Tôi đang đợi hồi âm.”
Sùng Hắc Hổ xem thơ xong làm thinh không nói, đọc đi đọc lại năm ba lượt và nghĩ thầm:
– Lời Tử Nha luận rất phải. Ta thà chịu tội với ông bà, chẳng lẽ để mang tiếng xấu với thiên hạ. Nếu để giòng họ Sùng bị nhơ danh, thì sau này con cháu ta dẫu hiền lương đến đâu cũng khó rửa được tiếng nhục.
Nam Cung Hoát ngồi một bên thấy Sùng Hắc Hổ gật đầu nghĩ mãi nên không dám hỏi.
Qua một lúc Sùng Hắc Hổ nói với Nam Cung Hoát:
– Tôi xin dâng lời chỉ dạy, nhưng chẳng có lời hồi âm. Ông về thưa lại với Tử Nha tôi sẽ tìm cách bắt anh tôi chịu tội.
Nói rồi dọn tiệc đãi đằng. Nam Cung Hoát lưu lại một đêm sáng hôm sau dời gót.
Nam Cung Hoát đi rồi, Sùng Hắc Hổ bảo con mình là Sùng Yến Loan coi giữ Tào Châu, lại sai Phó tướng là Cao Ðịnh, Thẩm Cang điểm ba ngàn binh đồng kéo đến Sùng thành.
Quân thám thính hay được chạy về báo tin với Sùng Ứng Bưu.
Sùng Ứng Bưu liền dẫn tướng ra thành, đón rước chú mình và nói:
– Thúc thúc đến đây, cháu mang giáp nơi mình làm lễ không trọn, xin chú miễn chấp.
Sùng Hắc Hổ nói:
– Chú nghe Cơ Xương đem binh đến đánh Sùng thành, nên đến trợ chiến.
Sùng Ứng Bưu mừng rỡ rước vào phủ.
Sùng Hắc Hổ hỏi:
– Vì cớ gì Cơ Xương lại đem binh đến đánh?
Sùng Ứng Bưu thưa:
– Cháu không rõ nguyên do làm sao cả. Binh Tây Bá kéo đến đây vừa giao chiến với binh ta một lần, cháu thất cơ nên bị bại trận phải cố thủ thành trì để ngụy kế. Nay có chú đến đây thì Sùng thành may mắn đến chừng nào.
– Vô cớ đem quân xâm chiếm nước người, kẻ đạo đức không hành động như vậy.
Nam cung Hoát nói:
– Bởi anh ngươi thông đồng với bọn nịnh hà khắc nhân dân, tham ô nhũng lạm, nên chúa ta mới đến đây trừ loạn, chớ không phải lấy thành chiếm đất của ai. Ðã là giặc thì ai giết cũng được.
Dứt lời, Nam Cung Hoắt múa đao chém tới. Sùng Hắc Hổ đưa búa ra đỡ, cả hai đều có sức mạnh như thần.
Ðánh được vài mươi hiệp Sùng Hắc Hổ nói nhỏ với Nam cung Hoạt:
– Tôi sẽ lập kế bắt anh tôi dâng nạp. Ðánh trận này chỉ để thực hiện âm mưu của tôi mà thôi, xin tướng quân giả vờ trá bại.
Nam Cung Hoát cũng nói nhỏ:
– Tôi xin vưng lệnh.
Nói rồi chém bậy một đao, quẫy ngựa bỏ chạy và nói lớn:
– Hắc Hổ ngươi có sức mạnh như thần ta chịu thua đấy, ngươi chẳng nên đuổi theo.
Sùng Hắc Hỗ cười ngất, thâu binh vào thành lập tức.
Sùng Ứng Bưu đứng trên thành trông thấy Nam Cung Hoát bại tẩu mà Sùng Hắc Hổ không đuổi theo, lại thâu binh về, thì lấy làm lạ, khai thành nghênh tiếp và hỏi:
– Sao chú không thả thần ưng bắt Nam Cung Hoắt?
Sùng Hắc Hổ nói:
– Cháu còn nhỏ tuổi không biết việc lợi hại đâu. Khương Tử Nha có học phép tiên, nếu chú thả thần ưng ra, Tử Nha đùng phép trừ ngay, như vậy chú sẽ mất phép mầu thì uổng lắm. Chúng ta thắng một trận có cơ hội toan tính mưu kế khác.
Sùng Ứng Bưu nghe nói không vui. Hai chú cháu đồng vào phủ.
Sùng Hắc Hổ nói với Sùng Ứng Bưu:
– Cháu nên viết sớ gởi về Triều Ca thân phụ cháu rõ, còn phần chú, chú cũng viết thư mời thân phụ cháu về đây, cùng nhau tính kế mới mong thắng được Cơ Xương.
Sùng Ứng Bưu tuân lệnh viết sớ sai tướng là Tôn Vinh đem về Triều Ca.
Sùng Hắc Hổ cũng viết thư kèm theo.
Tôn Vinh lãnh mạng đem thư đến nơi, tìm Sùng Hầu Hổ dâng trình, Sùng Hầu Hổ khai thư thấy viết như sau:
“Em là Hắc Hổ cúi lạy dâng thư cho huynh hầu rõ. Cơ Xương và huynh hầu chức vụ ngang nhau, đều cầm đầu một trấn, thế mà Cơ Xương ỷ mình có búa Việt cờ Mao, kéo binh đến bắt tội huynh hầu là kẻ tham nhủng, sâu dân mọt nước. Bởi Cơ Xương nghe lời Khương Thượng nên mới làm điều quấy như vậy. Tiểu đệ hay tin đem binh đến giúp, nhưng đã mấy lần ra binh vẫn chưa bắt được tướng địch. Vậy huynh hầu nên làm sớ dâng với Thiên tử xin phát binh phạt Châu, rồi trở về nước anh em ta đồng thương nghị.”
Sùng Hầu Hổ xem thư xong vổ án hét:
– Lão Cơ Xương là đứa tôi loàn phản chúa, trốn đi không đợi mệnh vua, vua sai theo bắt nhờ ta tâu mới về nước được, thế mà không biết ơn ta lại cử binh làm loạn. Lần này nếu không bắt được Cơ Xương để hài tội, ta nguyện không sống trên đời.
Mắng xong Sùng Hầu Hổ cầm sớ đi thẳng đến trước mặt vua Trụ quỳ tâu:
– Cơ Xương không giử bổn phận, đem quân đến đánh Sùng thành, bắt tội hạ thần xây cất Lộc đài hao tổn của dân. Xét như thế Cơ Xương là đứa khi quân, tội rất nặng, xin bệ hạ xét định.
Trụ vương đọc sớ xong, mắng lớn:
– Cơ Xương phạm tội trốn, trẫm chưa vấn tội nay lại đem binh gây chiến với Ðại thần. Vậy thì khanh về trước lo việc giữ nước, trẫm sẽ sai quân đến ứng chiến.
Sùng Hầu Hổ lạy tạ dẫn ba ngàn binh mã cấp tốc trở về Sùng thành.
Bấy giờ Sùng Hắc Hổ ngày đêm sai người tâm phúc dò thám, nay nghe tin Sùng Hầu Hổ sắp kéo binh về, liền ra mật lệnh bảo Cao Ðịnh là tướng tâm phúc của mình rằng:
– Ngươi hãy mai phục hai mươi tên đao phủ áp lại bắt anh ta đem nạp nơi Châu dinh.
Cao Ðịnh tuân lệnh ra đi.
Sùng Hắc Hổ lại gọi Thẩm Cang đến dặn:
– Ngươi ở trong phủ, hễ thấy ta ra nghênh tiếp anh ta thì phải bắt hết cả vợ con anh ta đem nạp.
Thẩm Cang vâng lệnh bố trí kế hoạch đâu đó sẵn sàng.
Qua một lúc có quân vào báo:
– Bắc Bá Hầu đã về đến nơi.
Sùng Hắc Hổ cùng đi với Sùng Ứng Bưu ra ngoài thành tiếp đón.
Sùng Hầu Hổ vừa thấy mặt Hắc Hổ đã mừng rỡ, nói lớn:
– Có hiền đệ đến đây thì lo gì khai trừ được Cơ Xương!
Sùng Hắc Hổ liền rút gươm ra khỏi vỏ, tức thì Cao Ðịnh dẫn hai mươi tên đao phủ áp lại bắt Sùng Hầu Hổ và Sùng Ứng Bưu trói liền.
Sùng Hầu Hổ nạt lớn:
– Chú bắt tôi làm gì vậy?
Sùng Hắc Hổ nói:
– Anh làm quan đến cực phẩm mà không lo tu nhân tích đức, cậy lệnh vua làm Lộc đài hà khắc dân gian, thâu của hối lộ, để tiếng xấu cho họ Sùng ta. Anh nghĩ coi ông bà cha mẹ ta trước kia nhân đức yêu lành lánh dữ, mới tạo được tiếng thơm, để lại chúng ta sự nghiệp ngày hôm nay. Nay anh làm như vậy vong hồn ông bà cha mẹ chúng ta ở suối vàng không thể yên được. Tôi thà lỗi tình huynh đệ giữ lại danh tiết cho giòng họ Sùng, quyết bắt anh nạp cho Văn Vương để sau này họ Sùng ta khỏi mang tội với chư hầu.
Sùng Hầu Hổ nghe nói làm thinh không biết lời nào cãi lại.
Bấy giờ, Thẩm Cang đã bắt vợ Sùng hầu Hổ là Lý thị và con gái giải đến trước trại Châu rồi.
Khi cha con Sùng Hầu Hổ đến nơi đã thấy hai mẹ con Lý Thị bị trói tại biên môn, Sùng Hầu Hổ khóc òa than:
– Không dè em lại hại anh, bắt cả nhà ta đem nạp cho địch.
Sùng Hắc Hổ được Tử Nha nghênh tiếp mời vào trong, dùng trọng lễ khoản đãi, và nói:
– Quân Hầu là đấng trượng phu, dám hy sinh tình anh em để cứu vãn danh tiết cho giòng giống làm thỏa mãn nguyện vọng của nhân dân, đáng là bậc kỳ nhân trong thiên hạ.
Sùng Hắc Hổ buồn bã nói:
– Tôi được thư Thừa Tướng không đám cãi lời, nếu giữ tình anh em thì cả giòng họ tôi mang tiếng thất đức.
Tử Nha mời Văn vương ra đãi khách.
Sùng Hắc Hổ thấy Văn vương liền xá dài và nói:
– Tôi xin yết kiến Ðại vương
Văn vương sửng sốt hỏi:
– Sùng Nhị hiền hầu đến đây có chuyện chi?
Sùng Hắc Hổ nói:
– Anh tôi làm nhiều chuyện bất nhân thất đức, để tiếng xấu cho giòng họ Sùng, tôi phải bắt đem đến đây để Ðại vương xét trị.
Văn vương chưa biết việc Tử Nha gửi thư cho Sùng Hắc Hổ, nên nghe Sùng Hắc Hổ nói như vậy lòng không vui nghĩ thầm:
– Bắt anh ruột đem dâng ấy là hành động bất nghĩa.
Tử Nha hiểu ý nói với Văn vương:
– Việc này do tôi viết thư cậy Sùng Hắc Hổ. Sùng Hắc Hổ là một đấng trượng phu ưa lành ghét dữ, chẳng lẽ vì tình anh em mà để dòng họ chịu tiếng xấu? Ðó là việc làm cực chẳng đã, xin Chúa công phải thấy cái đau lòng của Sùng Hắc Hổ trong lúc này.
Tử Nha nói dứt lời truyền dẫn cha con Sùng Hầu Hổ tới.
Cha con Sùng Hầu Hổ vừa bước vào đã quỳ mọp dưới đất, thấy Văn vương ngồi chính giữa, Hắc Hỗ ngồi bên trái, Tử Nha ngồi bên phải, toan cất giọng phân trần.
Tử Nha đã nói trước:
– Sùng Hầu Hổ lâu nay làm nhiều việc bất nhân, buôn dân bán nước, nay đã đến ngày diệt vong, không còn nói gì nữa.
Văn vương thấy tội nghiệp không nỡ gia hình. Nhưng Tử Nha sợ để lâu e Văn vương cản trở, liền truyền võ sĩ dẫn hai cha con Sùng Hầu Hổ ra chém. Võ sĩ tuân lệnh kéo hai cha con Sùng Hầu Hổ ra ngoài chém đầu đem vào nộp tức khắc.
Văn vương thuở nay chưa từng thấy thủ cấp, nay thấy hai cái đầu trùi trũi, máu me nhầy nhụa, vội lấy áo che mặt than:
– Ôi! Ðời sống con người tàn nhẫn đến thế sao!
Tử Nha vội truyền đem hai cái đầu bêu ngoài cửa trại.
Sùng Hắc Hổ nói:
– Anh tôi đã đền tội, còn chị tôi và cháu gái chẳng liên can gì, tôi xin phép được cất nhà riêng nuôi dưỡng để trọn niềm huynh đệ.
Tử Nha nói:
– Xin chiều ý Quân Hầu. Nay chúng tôi đem quân đến đây cốt trừ kẻ bạo tàn mà thôi, vậy Quân Hầu nên sai một tướng tâm phúc coi giữ Tào Châu, còn Quân Hầu nên ở lại đây, thay mặt anh nhận chức Bắc Bá Hầu coi giữ Sùng thành.
Sùng Hắc Hổ nói:
– Tôi đã mang tiếng phụ tình huynh đệ, nay lại đoạt chức, đoạt thành sẽ bị thiên hạ hiểu lầm.
Văn Vương nói:
– Sự nghiệp của anh thì em giữ, nếu bỏ cho người khác chẳng hóa ra thất hiếu với tiền nhân. Quân Hầu là kẻ trọng nghĩa, thiên hạ ai không biết? Xin Quân Hầu chớ tị hiềm.
Sùng Hắc Hổ từ chối mãi không được phải nhận chức, sai quân mở trói chị dâu và cháu gái rồi rước về thành, còn Văn vương và Tử Nha cũng từ giã Hắc Hổ đem binh về Tây Kỳ.
Tuy nhiên, Văn vương từ khi thấy thủ cấp giật mình phát bệnh, ăn ngủ không yên, lúc nào cũng thấy như có cái đầu của Sùng Hầu Hổ trước mắt.
Bấy giờ tại phương Bắc có kẻ không phục Sùng Hắc Hổ, dâng sớ đến Triều Ca hài tội giết anh.
Vi Tử xem sớ vừa mừng vừa lo. Mừng là mừng Sùng Hầu Hổ đã chết, bớt được một kẻ xúi giục vua, lo là lo Sùng Hắc Hổ đông binh đông tướng, lại chiếm cả hai châu, nếu làm loạn thì triều đình khó dẹp. Sợ nhất là Văn Vương nếu liên kết với Sùng Hắc Hổ thì cơ nghiệp Thành Thang không thể giữ được.
Vì lo lắng như vậy nên Vi Tử vào đền tâu với vua Trụ.
Vua Trụ nghe giận lắm, nói:
– Sùng Hầu Hổ công lao rất lớn nay bị phản tặc giết đi, vậy thì trẫm phải xuống chiếu truyền binh tướng đến phạt Cơ Xương, phá Tào Châu, bắt Sùng Hắc Hổ trị tội.
Quan Thượng Ðại phu Lý Nhơn quỳ tâu:
– Hầu Hổ tuy có công lao với bệ hạ, song là người tham nhũng, hà khắc lê dân, ai ai cũng đều nghiến răng oán hận. Nay Văn vương trị tội, các chư hầu đều hài lòng, nếu bệ hạ cử binh phạt Văn vương, trừ Hắc Hổ e chư hầu không phục. Vả lại Sùng Hầu Hổ chết đi cũng chẳng là điều hại cho nước nhà, xin bệ hạ bỏ qua, lo việc dẹp giặc phía Ðông và phía Nam là hơn.
Trụ vương nghe vậy ngẫm nghĩ một lúc, rồi đình việc chinh Tây.
Trong lúc đó, Văn vương bệnh càng ngày càng nặng, các quan đến thărn viếng chật đền.
Văn vương truyền đòi Thừa Tướng Tử Nha vào dạy việc.
Tử Nha vào quỳ trước giường bệnh tâu:
– Tôi là Khương Thượng vào thăm bệnh chúa công.
Văn Vương nói:
– Ta mời khanh vào mục đích tỏ vài lời tâm huyết. Vả ta cầm quyền cõi Tây, trị hai trăm trấn chư hầu, nhờ ơn Thiên Tử. Dẫu bề nào cũng là phận tôi con. Ta chưa tâu với vua mà giết Sùng Hầu Hổ ấy là lỗi đạo. Bởi vậy lòng ta không yên, đêm nằm nghe tiếng khóc, ngày mơ thấy đầu người. Nếu ta có chết, Thừa Tướng đừng nghe lời chư hầu mà đánh Thiên Tử, nếu trái ý ta, hồn ta dưới suối vàng không yên được.
Nói rồi nước mắt chảy dầm dề, Tử Nha tâu:
– Tôi mang ơn Ðại vương phong đến chức Thừa Tướng, nếu quên lời Ðại vương đâu phải tôi trung.
Giữa lúc đó có Cơ Phát bước tới, Văn vương mừng rỡ nắm tay con nói:
– Con đến đây cha mừng lắm.
Cơ Phát cúi đầu.
Văn vương lại nói:
– Nếu một mai cha chết rồi, con tuổi còn thơ ấu, thế nào cũng nghe người ngoài xúi giục. Vậy cha dặn con dầu Thiên tử có thất đức đến đâu, phận mình làm tôi cũng không nên đánh chúa. Cũng như cha mẹ dù lỗi đạo, con cũng không thể thí cha.Con hãy lạy Tử Nha, kêu bằng Thượng Phụ, mỗi mỗi đều phải nghe lời, vì Thừa Tướng là người thay mặt cha.
Nói rồi bảo Tử Nha ngồi lên trên, dạy Cơ Phát làm lễ kêu bằng Thượng Phụ.
Tử Nha cảm đức, rơm rớm nước mắt, hàm râu bạc rung rinh, quỳ mọp xuống đất nói:
– Tôi nhớ ơn Chúa công đoái tưởng, mới được ấm no, dù thịt nát xướng tan tôi cũng chưa đền được nghĩa nặng. Xin Ðại vương đừng ngại, lo than thuốc cho mau lành.
Văn Vương lại dặn Cơ Phát:
– Làm người chỉ có đạo là lớn, mà lỗi đạo là không nên người, hễ thấy việc lành thì làm ngay, thấy việc quấy thì xa tránh, nghe việc phải chớ nên chần chờ. Ðó là ba điều để trau mình, trị dân, cứu nước. Con nhớ lời cha dạy, dầu thác cha cũng vui.
Cơ Phát cúi lạy tuân lời.
Văn vương than:
– Ta đội ơn Thiên tử rất nhiều tiếc rằng ta không diễn được quẻ tiên thiên để dạy dân thành Dũ Lý nữa.
Qua một lúc Văn vương từ trần, hưởng thọ chín mươi bảy tuổi.
Bấy giờ nhằm niên hiệu Trụ vương năm thứ hai mươi, tháng mười một.
Người sau có bài thơ tặng Văn vương:
Nhân đức rải mười phương
Chư hầu đều kính nhường
Cam chúa liều ba bận
Dũ Lý bảy năm trường
Một lòng trung với chúa
Quyết không chịu đánh Thương
Nhà Châu truyền mấy lớp
Ai sánh kịp Văn vương?
Văn Vương chết rồi, bá quan khâm liệm quan tài tại đền Bạch Hổ, rồi đồng tôn Cơ Phát lên làm chúa nước Châu.
Cơ Phát xưng hiệu là Võ vương, phong Tử Nha làm Thượng Phụ. Còn bá quan đều thăng một cấp. Võ Vương noi theo nhân đức của Văn vương trị an một cõi.
Mấy quận phụ cận là quận nhỏ đều cống sớ cho Tây Kỳ. Hai trăm chư hầu cũng đều tùng phục như trước.
Bấy giờ quan Tổng binh Hàn Vinh đang trấn ải Tri Thủy nghe tin Văn Vương đã qua đời. Khương Thượng tôn Cơ Phát lên làm Võ Vương, thì thất kinh, vội viết sớ dâng về triều báo tin cho Trụ Vương biết.
Quan Thượng Ðại phu Dao Trung xem sớ bàn với Vi Tử:
– Cơ Phát không đợi mệnh vua, tự ý xưng Vương là muốn mưu việc lớn.
Vi Tử nói:
– Chúng ta chớ trách người, trong lúc thiên tử lỗi đạo, không lo việc triều chính, các chư hầu dù có làm sớ chất tày núi cũng không nhìn đến. Như vậy nếu Cơ Phát không xưng Võ Vương đợi dâng sớ thì biết đến bao giờ thiên tử mới xét đến.
Dao Trung nói:
– Kể ra cũng phải. Nếu chúng ta đứng vào địa vị các trấn chư hầu thì cũng không biết xử trí lẽ nào cho hợp tình hợp lý.
Hai người nói chuyện một hồi rồi cầm sớ đến lầu Trích Tinh tâu trình với Trụ Vương.
Quan Ðại phu Dao Trung vào đến lầu Trích Tinh quỳ lạy ra mắt Trụ vương dâng sớ về tâu:
– Nay Văn Vương đã qua đời, con là Cơ Phát lên nối ngôi, không đợi lệnh Thiên tử, tự mình xưng Võ Vương, chư hầu đều tùng phục, thiên hạ thảy kính vì. Nếu Bệ hạ không lo trừ trước e sanh mầm đại họa, vậy xin hưng binh phạt Châu để răn chư hầu.
Trụ Vương nói:
– Cơ Phát là thằng con nít làm được việc gì mà lo.
Giao Trung tâu:
– Cơ Phát tuy trẻ tuổi, song có Khương Thượng trí giả, Nam Cung Hoắt võ nghệ siêu quần, Táng Nghi Sanh văn hay xuất chúng. Ðó là mối họa cho triều đình. Nếu bệ hạ không lo trước sau này khó.
Trụ Vương nói:
– Khanh cho việc ấy là trọng, nhưng trẫm nhắm Khương Tử Nha chỉ là một gã thầy bói có tài, dùng vào việc trị nước thì làm gì được mà sợ.
Dao Trung biết Trụ Vương chỉ muốn ngồi hưởng lạc, không có ý chinh Tây, nên vội cúi lạy xuống lầu, than thầm:
– Chắc là cơ Nghiệp nhà Thương về tay Cơ Phát rồi.
Ngày tháng thoi đưa, chẳng bao lâu Tết xuân lại đến. Năm ấy vào năm thứ hai mươi mốt của niên hiệu Trụ Vương, bá quan đợi đến ngày mồng một là ngày nguyên đán đồng vào lạy mừng. Theo thường lệ, ngày ấy vợ các vị quan lớn đều vào cung chúc mừng Chánh hậu.
Bấy giờ vợ Võ Thành vương tính vào chầu trước để có thì giờ sang Tây cung viếng thăm Hoàng Quí Phi là em ruột của mình. Bởi một năm chị em xa cách, chỉ có ngày ấy mới được gặp nhau, và có dịp tâm tình lâu hơn.
Vợ Võ thành Vương là Giả thị khi đến nơi thì cung nhân vào báo với Ðắt Kỷ.
Ðắt Kỷ vốn có tư thù với Võ Thành Vương Hoàng Phi Hổ, nên nghe Giả thị đến, nhớ thù xưa, nhủ thầm:
– Hoàng Phi Hổ trước đây hung hăng thả Thần oanh quào mặt ta, bận ấy chưa trả. Nay sẵn dịp cũng nên hành hạ vợ nó một phen.
Ngồi rồi truyền cung nữ đòi Giả thị vào.
Giả phu nhân vào làm lễ xong, Ðắt Kỷ hỏi:
– Phu nhân năm nay được mấy xuân xanh?
Giả thị đáp:
– Tôi năm nay đã ba mươi sáu tuổi.
Ðắt Kỷ thấy Giả phu nhân lớn tuổi mà nhan sắc mặn mà, nghĩ ra một kế nói:
– Phu nhân lớn hơn ta tám tuổi vậy ta cùng phu nhân kết làm chị em, có được không?
Giả phu nhân nói:
– Chánh hậu quyền trọng muôn xe, bậc mẫu nghi thiên hạ, còn tôi là vợ của một vị vương có đâu dám lỗi nghi.
Ðắt Kỷ nói:
– Phu nhân nói khiêm nhượng đấy. Ta tuy hưởng phòng tiêu chớ trước kia cũng chỉ là con gái của một chư hầu; còn phu nhân là nguyên phối của Võ Thành Vương, lại thêm quốc thích. Xét như vậy thì thấp cao không phân biệt, nặng nhẹ cũng bằng nhau.
Nói rồi truyền dọn yến tiệc thết đãi. Giả phu nhân giữ lễ ngồi dưới Ðắt Kỷ ngồi trên cùng nhau uống rượu.
Nhưng rượu mới chỉ được vài tuần, thì bên ngoài có quan hoạn vào thưa:
– Thánh giá ngự đến.
Giả phu nhân vội vã hỏi:
– Xin Chánh hậu cho phép tôi lánh mặt chổ nào cho tiện.
Ðắt Kỷ nói:
– Không hề chi đâu! Chị cứ vào cung phòng của tôi tránh đỡ.
Giả phu nhân tuân lệnh, ẩn mặt phía sau, còn Ðắt Kỷ ra ngoài tiếp giá.
Trụ Vương bước vào thấy yến tiệc còn bỏ dở, liền hỏi:
– Ái khanh uống rượu với ai vậy?
Ðắt Kỷ nói:.
– Thần thiếp đang khoản đãi vợ Võ thành Vương là Giả phu nhân.
Trụ Vương nói:
– Ngày nguyên đán, các vị phu nhân đến chúc mừng cũng nên bày tiệc vui vầy cho thỏa tình thần tử.
Nói rồi truyền dọn thêm tiệc để cùng với Ðắt Kỷ giao bôi.
Qua một lúc, Ðắt Kỷ hỏi Trụ Vương:
– Bệ hạ đã thấy nhan sắc của Giả phu nhân chưa?
Trụ Vương nói:
– Sao ái khanh nói trái lẽ như vậy? Vua có bao giờ được quyền thấy mặt vợ bề tôi?
Ðắt Kỷ ngồi mỉm cười, tìm lời đánh vào nhược điểm của Trụ Vương:
– Rất tiếc! Trong đời có một sắc đẹp tuyệt trần như vậy mà bậc chí tôn không có quyền nhìn đến.
Vua Trụ hỏi:
– Giả phu nhân đẹp lắm sao?
Ðắt Kỷ nói:
– Tuy đã có tuổi, nhưng nét mặt thật ít có trong đời. Khi thần thiếp đã khen thì không phải không đặc biệt.
Trụ Vương nói:
– Dù sao trẫm là vua không thể lỗi đạo với quần thần.
Ðắt Kỷ cười:
– Bệ hạ quá câu chấp Giả thị là vợ Võ Thành Vương, mà Võ Thành Vương là anh của Hoàng Quí Phi thì cũng xem như quốc thích rồi. Dù Bệ hạ có gặp mặt cũng vô can. Vả lại ngoài dân giả vợ cậu chồng cô còn được phép ngồi chung ăn tiệc có gì trái lẽ đâu.
Trụ Vương nghe nói Giả phu nhân có sắc đẹp, cũng muốn nhìn tận mặt cho biết, liền hỏi Ðắt Kỷ:
– Trẫm với Hoàng Phi Hổ coi như tình gia đình thì dù gặp mặt Giả phu nhân cũng được. Nhưng phải làm cách nào để cho tiện.
Ðắt Kỷ nói:
– Không khó gì, xin bệ hạ lánh mặt vào nơi nào đó một lát chờ thần thiếp rủ Giả phu nhân lên chơi trên lầu Trích Tinh. Chừng ấy thì bệ hạ giá đến thì Giả phu nhân không còn chỗ ẩn mình.
Trụ vương liền bước ra khỏi cung.
Ðắt Kỷ cho mời Giả phu nhân trở ra tiếp tục tiệc rượu. Uống thêm vài tuần, Ðắt Kỷ nói với Giả phu nhân:
– Một năm mới gặp nhau một lần, chị em ta đến lầu Trích Tinh xem chơi phong cảnh một chút.
Giả phu nhân không dám trái mệnh, liền theo Ðắt Kỷ lên lầu.
Trích Tinh là một cái lầu cao chót vót, phong cảnh rất đẹp, vàng ngọc, gấm vóc nguy nga.
Giả phu nhân chưa từng đến một nơi vàng son như vậy nên chói mắt. Giả phu nhân trông thấy không biết bao nhiêu cái đẹp, nhưng khi trông xuống lầu thấy Sái Bồn rắn bò lúc nhúc, và xương người chất đống, trông rất ghê rợn. Còn bên tả rừng thịt gió thổi phất phơ, lại bên hữu ao rượu hơi bốc lên nồng nực.
Giả phu nhân hỏi Ðắt Kỷ:
– Tâu chánh cung, chẳng hay hầm ấy là hầm gì, chứa đầy rắn độc như vậy?
Ðắt Kỷ nói:
– Các cung nhân phạm tội dùng luật thường xử phạt chúng dễ ngươi, nên phải lập ra Sái Bồn để cho chúng sợ. Kẻ nào phạm tội thì lột hết quần áo, ném thây xuống đó làm mồi cho rắn kia.
Giả phu nhân nghe nói rụng rời tay chân. Ðắt kỷ lại truyền bày tiệc rượu để khuyên mời. Giả phu nhân từ chối vì đã quá chén.
Ðắt Kỷ nói:
– Tôi biết chị đang nóng lòng sang Tây cung, nhưng đã đến đây cũng nên vị tình tôi uống thêm vài chén.
Giả phu nhân không dám cãi lệnh vì Chánh cung là Chúa các vợ quan.
Bấy giờ Hoàng Quí Phi đang ở Tây Cung trông ngóng Giả phu nhân nhưng không thấy, bởi chị em thương yêu nhau lắm mà một năm chỉ được quyền họp mặt một lần, mong có nhiều thì giờ để nói chuyện.
Xảy thấy hoạn quan về báo:
– Giả phu nhân lên chơi lầu Trích Tinh với Hoàng hậu.
Hoàng Quí Phi thất kinh, nhủ thầm:
– Ðắt Kỷ là đứa xảo quyệt lại hay ghen, sao tẩu tẩu lên lầu Trích Tinh với nó làm gì? Lầu Trích Tinh là chỗ vua ngự mà!
Nghĩ rồi liền truyền hoạn quan đến dưới lầu thám thính tin tức Giả phu nhân.
Ðắt Kỷ và Giả phu nhân đang uống rượu trên lầu, bỗng có Thái giám vào tâu:
– Thánh giá đến.
Giả thị kinh hải, không biết đường nào lánh mặt.
Ðắt Kỷ nói:
– Không hề chi. Chị cứ ra ngoài lan can, đợi tôi tiếp bệ hạ rồi chị đến ra mắt, xong xuống lầu cũng chẳng sao.
Giả phu nhân cực chẳng đã phải vâng lời.
Ðắt Kỷ đứng dậy bước ra tiếp kiến vua Trụ.
Trụ Vương vào trong, cố ý hỏi:
– Người nào đứng ngoài lan can vậy?
Ðắt Kỷ tâu:
– Nàng ấy là Giả thị, vợ của Võ Thành Vương.
Giả thị lúng túng đưa cái hốt bằng ngà che mặt thi lễ.
Ðắt Kỷ thấy thế nói:
– Thôi, khanh đứng dậy.
Giả thị vâng lệnh đứng đậy nép qua một bên, Vua Trụ trộm thìn Giả thị để chiêm ngưỡng cái nhan sắc lộng lẫy, hình dung đoan chính. Nhà vua lấy làm hài lòng chỉ ghế mời ngồi.
Giả thị tâu:
– Bệ hạ và Chánh cung là chúa trong trời đất, tôi đứng hầu còn sợ không xứng đáng, dám đâu đến ngồi.
Ðắt Kỷ nói:
– Chị hãy ngồi xuống đi, không có chi phải sợ.
Vựa Trụ thoáng vẻ ngạc nhiên hỏi Ðắt Kỷ:
– Sao ngự thê gọi Giả phu nhơn bằng chị?
Ðắt Kỷ che miệng cười nửa nụ nói với Trụ Vương:
– Tôi mới kết nghĩa cùng Giả phu nhơn, và kiến người làm chị.
Giả phu nhơn nghe qua những lời đáp của Ðắt Kỷ biết mình đã mắc mưu lật đật quỳ xuống tâu:
– Thần thiếp đến đây lạy mừng bệ hạ, cứ lấy lễ vua tôi để kẻ dưới an lòng. Xưa nay vua không thể thấy mặt vợ tôi, xin bệ hạ an nghỉ cho thần thiếp cáo lui, ơn thánh thượng sánh bằng trời biển.
Vua Trụ nói:
– Hoàng di khiêm nhượng đấy thôi, chẳng ngồi thì đứng, để trẫm lấy chung rượu này giả ơn.
Vua Trụ rót rượu đem xuống.
Giả thị giận đứng dậy mặt đỏ tía tai, nghĩ mình là vương phi, không lẽ chịu nhục, lấy cái chết cho trọn nghĩa với chồng.
Trụ Vương bưng chén rượu làm mặt vui đưa cho Giả phu nhơn.
Giả thị thối thác, cớ lui mãi đến khi lưng đụng tường, không còn đường để tránh nữa, giận quá hất chén rượu rớt xuống, thuận tay tát vào mặt vua Trụ nguyền rủa:
– Chồng tôi không nệ gian nguy ngày đêm gìn giữ giang san, lập nhiều chiến công hiển hách, nay hôn quân nghe lời Ðắt Kỷ, điếm nhục vợ công thần. Rồi đây hôn quân và con Ðắt Kỷ dâm loàn sẽ phải chết thảm khốc.
Vua Trụ xấu hổ nổi giận truyền quân sĩ bắt trói, nhưng Giả thị hét lên:
– Dừng lại, đừng ai bắt ta cả.
Ðoạn chạy ra lan can than:
– Hoàng tướng quân ôi! Thiếp thề trọn trinh tiết với chàng, nhưng ba đứa con thơ từ đây lấy ai săn sóc.
Ðoạn nhảy xuống lầu. Thương cho tấm thân bồ liễu phải chết thảm thiết nát thịt, giập xương.
Có thơ đề:
Vào cung chầu chực họa vì đâu
Giả thị kiên trinh nhảy xuống lầu
Lỗi đạo hôn quân bày chén rượu
gieo mình. tiết phụ hận thâm bâu
Lỗi lầm làm mất giang san Trụ
Ðêm ấy gây nên sự nghiệp Cllâu?
Phi Hổ đau lòng mang tiếng phản
Sấp sau loàn hết tám trăm hầu.
Vua Trụ thấy Giả phu nhơn liều mình chết, thì nghĩ:
– Ðất bằng vì đâu bỗng dâng sóng gió, lòng hối hận khôn cùng.
Khi ấy bọn hoạn quan giục ngựa như bay về báo tin với Hoàng Quí Phi:
– Không rõ vì đâu mà Giả phu nhơn đã té lầu chết.
Nghe tin thảm khổ như vậy Hoàng Quí Phi khóc lớn:
– Ðắt Kỷ là con khốn nạn, thù anh ta lập kế báo thù, hại chị dâu ta chết ức oan.
Thương anh thương chị Hoàng Quí Phi không dằn được cơn lửa giận phi ngựa đến lầu Trích Tinh, điểm mặt Trụ Vương mắng:
– Hôn quân có biết cơ nghiệp Thành Thang còn tồn tại nhờ ai đó không? Có phải anh ta ngày đêm băng rừng lội suối dẹp loàn, Ðông đánh Hải khấu, Nam dẹp Man di? Há ngại gian lao giữ ngôi vua vững như bàn thạch. Hoàng Cổn cha ta, trấn ải Giới Bài, nằm gai nếm mật để giúp chúa. Cả nhà xả thân vì nước. Ngày nay Tết nguyên đán, chị ta vào chầu, để tỏ lòng kính chúa, lẽ nào hôn quân nghe lời Ðắt Kỷ gạt chị ta lên lầu, giục lòng háo sắc, chẳng kể thế nào là tôi chúa, gây tiếng xấu cho tiên vương, bêu danh nhơ cho sử sách.
Vua Trụ làm thinh chẳng đáp.
Hoàng Quí Phi day nhìn thấy Ðắt Kỷ ngồi đó đùng đùng nổi giận mắng luôn:
– Còn con Hồ mi lăng loàn này nữa, bày đều cho chúa làm sằng bậy, chị dâu ta chết cũng tội mi.
Như để trút cơn giận dữ Hoàng Quí Phi lôi lệch Ðắt Kỷ đấm hơn ba mươi đấm.
Hoàng Quí Phi là con nhà võ nên sức mạnh có thừa, đối với Ðắt Kỷ, tuy là yêu quái song thấy vua Trụ ngồi đó nên chẳng dám trổ tài thú vật để phản đòn chỉ giả vờ kêu la van vua Trụ:
– Xin bệ hạ cứu thần thiếp với…
Vưa Trụ nghe tiếng van nài cứu tử của Ðắt Kỷ thì đau khổ nên bước tới khuyên:
– Tại chị dâu của Quí Phi xúc phạm trẫm, rồi liều mình chết như vậy, chớ Ðắt Kỷ có tội gì đâu mà đánh đập như thế.
Hoàng Quí Phi trong cơn nóng giận đưa cao tay đánh Ðắt Kỷ nhưng không ngờ nhầm mặt Trụ vương mà còn lớn tiếng nói:
– Hôn quân còn bênh vực cho con dâm loạn, quyết đánh cho chết đứa bất nhơn, mà thế mạng người thác vô tội.
Vua Trụ giận quá vỗ bàn thét:
– Con khốn nạn này dám cả gan đánh trẫm.
Như muốn ăn tươi nuốt sống, vua Trụ tay trái nắm tóc Hoàng Quí phi tay phải nắm áo, bởi vua Trụ là người giỏi võ và có sức mạnh hơn người, nhắc bổng Hoàng Quí Phi, quăng xuống lầu Trích Tinh.
Hương tiêu ngọc nát hồn theo gió
Lá rụng hoa rơi máu ướt mình.
Nhìn lại hành động vừa rồi của mình, vua Trụ lấy làm khổ sở chẳng buồn ngó đến Chánh cung.
Mấy con thế nữ đi với Giả phu nhơn, chẳng hề hay biết việc gì xảy ra đứng ngoài đợi mãi, đến tối nội thị bước ra hỏi:
– Chúng bây đi đâu đây?
Các thế nữ thưa:
– Chúng tôi đi với Giả phu nhơn, đợi chủ ra để hầu về phủ.
Nội thị thương hại nói:
– Giả phu nhơn té lầu Trích tinh chết rồi! Hoàng Quí Phi lên mắng vua, vua giận quăng xuồng lầu cũng không còn. Thôi chúng bây về cho xong việc.
Bọn thế nữ nghe hung tin đồng chạy về Vương phủ báo tin.
Hoàng Phi Hổ đang ngồi uống rượu với hai em ruột của mình là: Hoàng Phi Bưu, Hoàng Phi Báo với bốn người em bạn: Hoàng Minh, Châu Kỷ, Long Hoàn, Ngô Khiêm, và ba con trai: Hoàng Thiên Lộc, Hoàng Thiên Tước, Hoàng Thiên Tường.
Ðoàn thế nữ hơ hải chạy vào tâu:
– Thiên tuế ôi! Tai họa lớn lắm!
Hoàng Phi Hổ kinh ngạc hỏi:
– Tai họa gì?
Thế nữ quì thưa:
– Phu nhơn vào chầu thiên tử không rõ vì đâu đã té lầu Trích Tinh chết, Hoàng nương nương cũng bị vua ném xuống lầu chết rồi.
Lúc ấy Hoàng Thiên Lộc mới mười bốn tuổi, Hoàng Thiên Tước mười hai tuổi, Hoàng Thiên Tường bảy tuổi nghe tin mẹ té xuống lầu chết. Ba anh em khóc than thảm thiết.
Có bài thơ:
Xảy nghe tin dữ cả nhà kinh
Con khóc vang tai cũng động tình
Ngơ mặt vì vua sanh mặt bạc
Hết tình vì vợ giữ lòng trinh
Xem qua bốn bạn đều câm tức
Ngó lại ba con rất bực mình
Hổ nghẹn trân trân khôn mở miệng
Vì chưng tai họa đến thình lình!
Hoàng Phi Hổ ủ mặt suy nghĩ, tiếng khóc của ba con thêm bởi đoạn.
Hoàng Minh nói:
– Anh còn ngờ vực gì nữa chớ! Trụ Vương đã nhúng tay vào việc này còn ai khác hơn. Trước sắc đẹp của chị, vua Trụ động tình, buông lời chọc ghẹo. Tẩu tẩu là người đàn bà trọng trinh tiết với chồng, nên liều chết để bảo tồn tiếng sạch giá trong. Riêng về Quí phi nóng ruột xúc phạm đến Ðắt Kỷ, Trụ Vương mới ra tay rửa hờn. Anh hãy bình tĩnh suy xét lại coi. Theo ý em khi vua bất minh thì tôi đầu ngoại quốc, cạn lẽ mà suy, chúng ta định Ðông dẹp Bắc ngựa chẳng rời yên, phá Ðông, phạt Tây người không lìa giáp. Công ơn ấy hôn quân đãi ngộ như thế sao. Còn mặt mũi nào nhìn anh hùng bốn bể. Vì thế tiễu đệ, Châu Kỷ, Long Hoàn, và Ngô Khiêm đồng lòng phản chúa.
Bấy giờ tâm sự xong, bốn tướng cầm thương lên ngựa đi ngay.
Hoàng Phi Hổ thấy bốn người đã khuất dạng, lòng bàng hoàng đắn đo suy tính, mới nói một mình nghe:
– Không lẽ vì một con ác phụ, mà mình sanh lòng bội phản. Người đời sẽ nghĩ sao về hành động của Hoàng Phi Hổ này.
Nghĩ thế, Phi Hổ vội vàng chạy theo gọi bốn tướng:
– Các em hãy trở về về suy nghĩ cho chín chắn đã. Chớ bốc đồng đi như thế, vậy thì mình phải phò vua nào, ở nơi đâu, còn lương thực đem theo dùng trong lúc đi đường.
Bốn người cho là phải nên quày ngựa trở về dinh.
Bất giác Hoàng Phi Hổ rút gươm khỏi vỏ hét lớn:
– Bốn tên giặc, các ngươi muốn hại cả nhà ta hay sao? Vợ ta té lầu chết oan can chi đến các ngươi. Lũ ngươi có biết dòng họ Hoàng có hơn hai trăm năm lẻ giúp vua đã bảy đời, bây giờ các người lấy cớ vợ ta chết mà xúi ta phản chúa ư! Các ngươi lợi dụng đục nước béo cò làm chuyện bất lương sao. Các người không nhìn lại lưng vàng buộc bụng đọc chữ trung vương.
Bốn người cúi đầu nghe Hoàng Phi Hổ mắng nhiếc chẳng nói lấy một câu.
Hoàng Minh cười nói:
– Anh mắng đúng lắm, chuyện ấy không phải của bọn này.
Nói đoạn bốn người cười cởi mở và tiếp tục uống rượu như xưa.
Ðàng kia Hoàng Phi Hổ bừng bừng lửa giận bên này bốn tướng cười, bên kia ba con ôm mặt khóc thảm thiết.
Lửa giận cứ trào dâng, Hoàng Phi Hổ nói lớn:
– Chúng bây vui lắm sao, cười như vậy?
Hoàng Minh nói:
– Anh có chuyện nhà buồn bực, bọn nay vô sự, nhân ngày tiết uống rượu vui cười anh cấm nữa sao, mà anh lại tra vấn?
Hoàng Phi Hổ nói:
– Ðược nhà ta nay gặp chuyện ma chay khổ sở. các ngươi lại cười.
Châu Kỷ nghiêm ngay nét mặt nói:
– Thật tình chúng tôi cười anh đó
Hoàng Phi Hổ hỏi lại:
– Ta có gì mà các ngươi lại cười?
Châu Kỷ phân:
– Anh là người đứng đầu trên các tướng trong triều. Kẻ hiểu biết thì anh nhờ công lớn làm nên sự nghiệp, nhưng kẻ khác lại nghĩ phần lớn sự nghiệp này là do sắc đẹp của chị mà nên.
– Ta không còn chịu nổi các ngươi được nữa? Ta chết mất đi thôi.
Truyền gia tướng gấp rút cuốn đồ tế nhuyển và ra roi giục ngựa khỏi Triều Ca.
Hoàng Phi Bưu thấy anh mình thật sự phản chúa liền sắm sửa bốn trăm cỗ xe, ngàn gia tướng, dọn cả bạc vàng, lương thảo đâu đó xong xuôi.
Hoàng Phi Hổ quay đầu hỏi:
– Bây giờ ta đầu nước nào?
Hoàng Minh nói:
– Hễ tôi hiền phải phò chúa thánh, trong thiên hạ nay đã chia ba, Châu Võ vương chiếm được hai phần, ta đầu Tây Kỳ thì không mất phần vinh hiển.
Ðứng ngoài Châu Kỷ nghĩ thầm:
– Mình nói khích, nếu anh tự ái làm phản, biết đâu chốc nữa đây cơn giận tiêu tan anh sẽ hồi tâm quay về. Hay ta làm một kế mọn để gài anh mình không còn dịp nào trở lại nữa.
Trong bụng nghĩ vậy, Châu Kỷ lấy làm thích thú tươi nét mặt nói:
– Muốn qua Tây Kỳ phải vượt qua năm ải, và đem quân về phục thù cho tẩu tẩu thì phải trễ lắm. Chi bằng sẵn đây ta kéo nhau qua hỏi tội Trụ, dò phản ứng y như thế nào?
Hoàng Phi Hổ lên ngựa giục gió theo Châu Kỷ.
Hoàng Minh vào ngọ môn tìm Trụ, Phi Bưu, Phi Báo dắt ba cháu và Long Hoàn, Ngô Khiêm tất cả bảy người truyền gia tướng đẩy xe về phía Tây môn đi trước.
Trời vừa rựng sáng, Châu Kỷ đã đến Ngọ môn gọi lớn:
– Quan đương giá! Gọi Trụ vương ra đây nói chuyện cho mau, như cãi lời ta đừng trách ta sao vô lễ.
Trong khi đó Trụ vương trong cơn bối rối, liền nghĩ đến hành động vừa qua, làm cho Giả thị nhào xuống lầu chết, ném Hoàng Quý Phi tan xương nát thịt, lòng buồn lo, bỗng từ ngoài quan đương giá vào tâu:
– Hoàng Phi Hổ đã phản bệ hạ, đang chờ ngoài, gọi bệ hạ khiêu chiến.
Nghe qua Vua Trụ nổi cơn thịnh nộ, mắng lớn:
– Ðồ thất phu, dám cả gan khi trẫm.
Truyền quân lấy giáp gọn gàng, cầm siêu lên yên ngựa ra ngõ.
Khi ấy Hoàng Phi Hổ đứng ngoài nhận thấy mặt Trụ vương cũng thẹn.
Châu Kỳ hiễu ý liền lớn tiếng hỏi Trụ:
– Trụ vương là hôn quân vô đạo, làm chúa hiếp vợ tôi là Vua vô liêm sỉ, thì còn để làm gì cho bẩn mắt.
Nói rồi thúc ngựa tới đưa búa ra chém Trụ Vương, vua Trụ cũng nổi xung đưa đao ra đỡ. Hoàng Minh thấy vua Trụ mạnh quá cũng sảy ngựa tiếp ứng. Nhìn cảnh hỗn loạn Hoàng Phi Hổ thấy tức quá, không để cho mình hỏi phân minh. Nhưng tới nước liều cũng phải ra tay, một rồng ba cọp quấn lấy nhau trước ngọ môn.
Có thơ đề:
Trụ vương chẳng giữ đạo bề trên
Rồng cọp đua tranh trước cửa đền
Khiến nỗi trung lương tìm một cõi
Làm cho hào kiệt tránh hai bên
Muôn dân khó chịu vua sâu độc
Năm ải không ngăn tướng dạn tên
Nguồn nước không trong dòng phải độc
Sử xanh ghi chép việc hư nên.
Trận đấu tranh nhau có trên ba mươi hiệp. Trụ vương đánh siêu đao hay lắm, biến hóa như rồng. Nhưng làm sao cự lại ba con hùm từng vẫy vùng trong bốn bể. Lượng sức mình không cự nổi nên Trụ vương phải nhịn thua bỏ chạy.
Hoàng Minh thừa thắng thúc ngựa đuổi theo.
Hoàng Phi Hổ can lại nói:
– Không nên rượt theo vua, chúng ta hãy trở ra cho kịp.
Ba người ra roi giục ngựa bay biến theo gia quyến ở Tây môn.
Ðoàn người gặp nhau tiến về một nước.
Trụ vương vào đền nghỉ mệt, lòng căm tức vô cùng. Tất cả nhà trong Triều Ca đều đóng cửa, ai ai cũng sợ tai bay họa gởi.
Tin Trụ Vương đánh với Võ Thành vương tới tai các quan trong triều, họ đều vào thăm và hỏi:
– Hoàng Phi Hổ vì sao lại phản chúa?
Vua Trụ kiếm thế chạy chối.
– Nhân ngày tết Giả thị đến chầu long thể, nhưng lại xúc phạm Chính cung, phải tội chết, nên đã gieo mình xuống lầu chết chớ nào phải tại ai giết. Trẫm chẳng rõ nguyên do nào khiến cho Hoàng Phi Hổ làm phản, để đến ngọ môn khiêu chiến. Chuyện trái lẽ như vậy bá quan nghĩ thế nào?
Trong lúc bá quan còn đang luận bàn, thì thấy quân thám thính vào báo:
– Văn Thái Sư dẹp Ðông Hải xong rồi, dẫn binh về gần đến.
Bá quan nghe báo mừng rỡ khôn cùng, đồng leo lưng ngựa tiếp nghinh.
Thái Sư cỡi Hắc kỳ lân đi đến cửa cùng nhau chào hỏi. Rồi đồng vào chào thiên tử.
Khi làm lễ xong Văn Thái Sư không thấy Hoàng Phi Hổ đâu sanh nghi tâu:
– Chẳng hay Võ Thành Vương đi đâu vắng mặt?
Vua Trụ nói:
– Hoàng Phi Hổ phản trẫm rồi.
Văn Thái Sư kinh khiếp hỏi:
– Vì cớ nào vậy bệ hạ?
Vua Trụ phán:
– Ngày nguyên đán, Giả thị vào chầu đã cố ý xúc phạm Chính cung, nên sợ tội đã nhào xuống lầu chết, Hoàng Quí Phi hay tin đến hành hung đả thương Hoàng hậu, còn sỉ nhục quả nhân, trẫm vô tình nắm tay đẩy ra nhưng rủi thay té lầu theo chị dâu một thể. Hoàng Phi Hổ không hiểu căn cội ỷ mạnh đến đây khiêu chiến, ba anh em đánh trẫm chẳng chút nương tay, trẫm cố hết sức mới tránh được. Bây giờ thì Hoàng Phi Hổ đã ra khỏi Tây môn, trẫm bối rối chưa biết phải làm sao trừ con giặc ấy. Bất ngờ Thái Sư về đến, vậy Thái Sư theo đuổi bắt trị tội phản thần.
Nghe rõ câu chuyện Thái Sư tâu lớn:
– Tôi đã nghĩ chuyện này, chắc tại vua phụ phàng thần tử, chớ lâu nay Hoàng Phi Hổ đã nêu gương ái quốc trung quân. Xét Giả thị vào chầu thiên tử cũng không tội gì, có đâu chết vô cớ. Vả lại lầu Trích Tinh là chốn bệ hạ ngự cách cung cấm xa lắm lẽ nào Giả thị tự ý lên. Chắc có kẻ dỗ dành nên vua mang tiếng bất nghĩa. Bệ hạ không cân phân khiến cho người tiết liệt liều mình, Hoàng nương nương thương chị chết oan uổng. Bệ bạ vì tư vị Hoàng hậu mà ra nông nỗi này. Bệ hạ có nhớ câu: “Vua chẳng minh thì tôi đầu nước ngoài. Nghĩ lại Hoàng Phi Hổ là vị tướng có công lớn với nước, trọn lòng thờ kính quân vương, cơ nghiệp ấy vợ không được hưởng, con chẳng nhờ ơn, lại chết thê thảm. Xin bệ hạ tha tội cho Hoàng Phi Hổ, xuống lá chỉ chiêu an đại thần để cho cơ nghiệp yên bền, quốc gia mới vững.
Bá quan nghe nói đồng tâu:
– Văn Thái Sư xử như vậy rất công bình, xin Bệ bạ truyền chỉ xá tội cho Hoàng Phi Hổ, để Hoàng Phi Hổ trở về đoái công chuộc tội.
Văn Thái Sư quay qua nói với triều thần:
– Tôi tâu với Thiên tử xá tội cho Hoàng Phi Hổ chỉ vì tôi cho rằng Thiên tử đã phụ kẻ bề tôi. Còn như ai thấy Hoàng Phi Hổ có lỗi gì với vua cũng nói ra đây cho minh bạch.
Quan Hạ đại phu Từ Vinh thưa:
– Vua tuy phụ Hoàng Phi Hổ mà Hoàng Phi Hổ cũng phụ vua.
Văn Thái sư hỏi:
– Hoàng Phi Hổ phụ vua chỗ nào?
Từ Vinh thưa:
– Vua hiếp vợ tôi là lỗi đạo, xô Tây cung xuống lầu là bất nghĩa. Nhưng Hoàng Phi Hổ đến ngọ môn đánh vua là phản phúc. Ðạo làm tôi, dù vua có lỗi cũng không nên đối xử như vậy.
Văn Thái Sư nghe nói, liền dặn các quan:
– Xin các ông nói vua có lỗi mà thôi, đừng nói Hoàng Phi Hổ có lỗi.
Văn Thái Sư dặn rồi liền gọi Kiết Cập và Dư Khánh dạy rằng:
– Hai ngươi mau đem trát văn ra hai ải Minh Tân và Ðồng Quan truyền các quan trấn ải giữ gìn đừng cho Hoàng Phi Hổ qua ải. Ðợi ta đuổi theo bắt rồi sẽ lấy công bình mà xét xử.