Hồi 40: Biết lúc nào bỏ được lòng si?

Cưu Ma Trí thấy gã tiểu hòa thượng đã động thủ, không thể lùi bước được bèn gượng cười rồi phóng chưởng đánh ra. Trong tiếng chưởng phong rít lên lại có pha những tiếng nổ lụp bụp, thủ pháp cùng tư thức chính là công phu thượng thừa của Bát Nhã Chưởng Pháp.

Vi Đà Chưởng là một môn vỡ lòng của phái Thiếu Lâm. Đệ tử Thiếu Lâm mới nhập môn đều phải học đầu tiên là La Hán Quyền, đến Vi Đà Chưởng là môn thứ hai. Bát Nhã Chưởng lại là một chưởng pháp rất tinh diệu, thông thường từ Vi Đà Chưởng tuần tự học đến Bát Nhã Chưởng phải mất ba mươi bốn năm công phu. Bát Nhã Chưởng lại là một trong bảy mươi hai tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm, chưởng lực càng luyện càng mạnh, chiêu thức càng luyện càng tinh, không biết đâu là bờ bến. Từ ngày sáng lập ra chùa Thiếu Lâm đến nay, chưa bao giờ Vi Đà Chưởng đối chọi với Bát Nhã Chưởng, vì trình độ cách nhau vời vợi. Tiền bối cao nhân đã luyện Bát Nhã Chưởng dĩ nhiên không động thủ với đệ tử nhập môn mới biết Vi Đà Chưởng. Ngay cả thầy trò rèn luyện võ công cũng vậy, sư phụ đã sử đến Bát Nhã Chưởng thì đệ tử ít nhất cũng phải đối phó bằng Đạt Ma Chưởng, Phục Hổ Chưởng hay Như Lai Thiên Thủ Chưởng.

Hư Trúc thấy chưởng lực đối phương đánh tới, bèn né người tránh khỏi rồi đưa song chưởng ra, xuất chiêu Sơn Môn Hộ Pháp cũng thuộc Vi Đà Chưởng. Chiêu thức này rất tầm thường nhưng nội lực y cực kỳ hùng hậu. Cưu Ma Trí nhích động thân ảnh, phóng ra hai chiêu Tụ Lý Càn Khôn và Vô Tướng Kiếp Chỉ, Hư Trúc lại nghiêng mình né tránh. Cưu Ma Trí đã tính trước phương hướng, phóng Đại Kim Cương Quyền trúng vào vai y đánh binh một tiếng. Hư Trúc loạng choạng lùi lại hai ba bước. Cưu Ma Trí cười ha hả hỏi: “Tiểu sư phụ đã chịu phục chưa?” Hắn tin chắc thoi quyền tan bia vỡ đá này phải đánh gãy xương vai đối phương, ngờ đâu trong người Hư Trúc đã có Bắc Minh chân khí hộ thế, vai chỉ hơi ê ẩm một chút. Hư Trúc lạng người đi một cái, hai tay song song đưa từ trái sang phải. Chiều thức này gọi là Hồng Thủy Quy Hải, chân khí từ hai bàn tay y tuôn ra cuồn cuộn như sông lớn đổ ra Đông Hải.

Cưu Ma Trí thấy Hư Trúc trúng quyền mà vẫn thản nhiên, không khỏi ngấm ngầm kinh hãi. Hắn phải vận toàn lực phóng chưởng ra đỡ, đồng thời tung người nhảy lên đá liên hoàn cước. Chỉ nháy mắt hắn đã tung ra bảy cước đều trúng ngực Hư Trúc, vang lên những tiếng bốp bốp. Đó cũng là một trong bảy mươi hai tuyệt kỹ Thiếu Lâm, gọi là Như Ảnh Tùy Hình Cước. Cước này vừa tung ra thì cước thứ hai lại phóng tới như bóng theo hình, khi cước thứ hai biến thành hình thì cước thứ ba lại như bóng đuổi theo. Cưu Ma Trí đá xong bảy cước thì Hư Trúc đã phải lùi lại mấy trượng.

Lão không để cho đối phương kịp thở, lại phóng veo véo ra hai chỉ, đó là Đa La Chỉ Pháp. Hư Trúc xuống tấn kiểu cưỡi ngựa bắn cung, xuất chiêu Hắc Hổ Thâu Tâm trong La Hán Quyền đánh trả. Chiều quyền này quá thông thường, nhà sư nào cũng biết, nhưng nó chứa đựng công phu Tiểu Vô Tướng Công, lập tức hóa giải tiêu tan hai phát Đa La Chỉ mãnh liệt thủng vàng vỡ đá của đối phương.

Cưu Ma Trí đã bắt đầu nóng nảy, lập tức thu Đa La Chỉ về rồi biến thế, vung một cánh tay ra, chém xuống thần tốc phi thường theo Nhiên Mộc Đao Pháp. Đao pháp này khi đã luyện thành, chém vào cây khô thì phát ra sức nóng đốt cháy cây. Năm trước sư phụ Tiêu Phong là Huyền Khổ đại sư có luyện tuyệt kỹ này, nhưng từ ngày đại sư viên tịch không còn ai biết nữa. Cưu Ma Trí chém xuống một đao trúng vào tay phải Hư Trúc đánh chát một tiếng. Hư Trúc la lên: “Nhanh quá!” rồi vung tay trái đánh ra, quyền chưa tới đích thì tay trái lại trúng một đao. Cưu Ma Trí dùng chưởng làm đao chẳng kém gì đao thật, có thể cắt đứt đầu chặt lìa tay, thế mà Hư Trúc trúng hai đao vẫn chẳng sao, phản lực lại làm cho cườm tay lão ngấm ngầm đau nhức.

Cưu Ma Trí kinh hãi nghĩ thầm:”Giả tỉ tên tiểu hòa thượng này đã luyện được công phu Kim Chung Trảo Thiết Bố Sam cũng không thể chịu nổi đòn của mình, mà sao hắn lại không việc gì? Hừ, chắc là trong tăng bào hắn còn mặc bảo giáp để hộ thân.” Lão nghĩ vậy, liền liên tiếp xuất chiêu nhắm vào mắt, mũi, cổ họng Hư Trúc, liên tiếp sáu bảy loại thần công phái Thiếu Lâm, nào là Đại Trí Vô Định Chỉ, Khử Phiên Não Chỉ, Tịch Diệt Trảo…

Cưu Ma Trí tấn công khiến cho Hư Trúc chân tay luống cuống phải lùi lại liên tiếp. Lúc này ngay cả Vi Đà Chưởng y cũng không thi triển được được nữa, cứ đánh tới đánh lui toàn là chiêu Hắc Hổ Thâu Tâm trong La Hán Quyền. May mà chiêu quyền nào cũng buộc Cưu Ma Trí lùi  lại nửa thước, vì thế mà những chiêu thức xảo diệu của lão không sao chạm được đến da thịt đối phương.

Chỉ trong khoảnh khắc Cưu Ma Trí đã thi triển đến mười sáu mười báy tuyệt kỹ Thiếu Lâm khác nhau. Quần tăng chỉ đứng xem cũng đủ hoa mắt, ai cũng nghĩ thầm:”Người này tự xưng là kiêm thông hết bảy mươi hai tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm, thật không phải nói khoác.” Còn Hư Trúc chỉ đối phó bằng một môn La Hán Quyền. Từ khi bị đối phương tấn công chớp nhoáng, y lại càng rối trí, không đủ bình tĩnh để biến chiêu, chỉ sử dụng có mỗi chiêu Hắc Hổ Thâu Tâm. Quyền pháp y lại vụng về, e rằng một võ sư tầm thường xem cũng không nín cười được. Một bên tinh xảo, một bên vụng về, thật là hai thái cực, thế mà cái tinh xảo không thắng nổi cái vụng về. Kình lực trong chiêu Hắc Hổ Thâu Tâm của Hư Trúc mỗi lúc một gia tăng, khoảng cách giữa hai người mỗi lúc một xa. Cưu Ma Trí phóng chỉ, phóng trảo đều cách mặt Hư Trúc đến hơn một thước.

Cưu Ma Trí sớm đã phát giác, Hư Trúc phóng quyền đã vận công phu Tiểu Vô Tướng Công, mà còn thâm hậu hơn mình, chỉ vì chiêu thức y vụng về nên không thể phát huy uy lực. Lúc ấy Cưu Ma Trí lại thấy Hư Trúc sử chiêu Hắc Hổ Thâu Tâm đánh tới, đột nhiên lão vung cả hai tay túm được nắm đấm của y. Đó chính là một chiêu Long Trảo Thủ của phái Thiếu Lâm. Tay trái lão nắm được ngón út, còn tay phải nắm được ngón cái của Hư Trúc, liền vận toàn lực vặn mạnh một cái.

Hư Trúc bị túm chặt hai ngón tay, không thể ra chiêu Hắc Hổ Thâu Tâm để giải khai nữa. Ngón tay bị đau đớn kịch liệt, y bất giác sử một chiêu Thiên Sơn Chiết Mai Thủ, tay phải xoay một vòng rồi lật ngược lại, nắm được cổ tay trái Cưu Ma Trí.

Cưu Ma Trí túm được ngón tay đối phương còn chưa kịp mừng, ngờ đâu cổ tay mình đột nhiên lại bị đối phương dùng thủ pháp cực kỳ cổ quái nắm lấy. Võ học lão rất uyên thâm, nhưng hoàn toàn không hiểu lai lịch môn Thiên Sơn Chiết Mai Thủ này. Cưu Ma Trí cực kỳ kinh hãi, chỉ cảm thấy cổ tay trái mình như bị khóa trong một chiếc vòng sắt, khó mà thoát ra được. Tiếc là Hư Trúc đang lúc hoang mang chỉ mong tự cứu, không nghĩ đến chuyện phản công. Y chộp lấy cổ tay Cưu Ma Trí chỉ vì muốn lão không bỏ ngón tay mình được, nên quên nắm lấy huyệt mạch môn đối phương cách đó chỉ có ba phân. Vì thế Cưu Ma Trí đề tụ được nội lực, đột nhiên giật mạnh một cái, toan làm cho Hư Trúc phải toạc hổ khẩu.

Hư Trúc thấy tay tê nhức, sợ Cưu Ma Trí gỡ được tay tất sẽ dùng thủ pháp lợi hại để đánh mình, liền vận kinh lực, Bắc Minh Chân Khí cuồn cuộn như nước thủy triều. Cưu Ma Trí vận kinh lực ba lần vẫn không thoát được, không khỏi kinh hãi, liền giơ tay phải lên phóng chưởng đập vào đầu Hư Trúc. Tới lúc cấp bách, lão không kịp thi triển võ công phái Thiếu Lâm, phát chưởng này thi triển đúng công phu bản môn ở Thổ Phồn. Cự ly quá gần, thế đánh cực kỳ mãnh liệt. Hư Trúc thấy nguy hiểm bèn vung tay trái lên, bất giác xuất một chiêu Thiên Sơn Lục Dương Chưởng để giải khai. Cưu Ma Trí liên tiếp phóng chưởng đều bị Hư Trúc thi triển Lục Dương Chưởng hóa giải được hết.

Lúc này hai người đứng sát nhau, nghe rõ cả tiếng thở của đối phương, người này phóng chưởng chỉ cách đỉnh đầu người kia bảy tám tấc. Càng gần thì chưởng lực càng mãnh liệt, chưởng phong của Cưu Ma Trí rít lên veo véo tạt vào mặt quần tăng rát như dao cứa, hơi lạnh căm căm tựa như đỉnh núi cao tuyết phủ, cuồng phong thổi ào ào ra bốn phía chung quanh. Các hòa thượng tầm thường trong chùa Thiếu Lâm không chịu nổi, đều phải lùi ra sau đứng dựa vào tường. Các vị cao tăng hàng chữ Huyền tuy không sợ chưởng phong quạt tới, nhưng cũng phải vận nội lực để kháng cự.

Hư Trúc vì muốn giải trừ Sinh Tử Phù cho quần hùng ba mươi sáu động bảy mươi hai đảo, đã ra công nghiên cứu Thiên Sơn Lục Dương Chưởng, bao nhiêu chỗ biến ảo đều đã thuộc lòng, hiểu thấu chỗ ảo diệu bên trong. Chỉ vì y chưa hề dùng chưởng pháp này để đánh nhau thực sự, nên sử dụng chưa được thuần thục. Bây giờ y phải quyết đấu sinh tử cùng cao thủ hạng nhất là Cưu Ma Trí. Đối thủ chưởng pháp cực cao, nội lực y cực mạnh, nên y chỉ vận dụng Lục Dương Chưởng được hai ba thành mà thôi.

Chưởng lực Cưu Ma Trí mỗi lúc một ghê gớm, Hư Trúc chỉ mong tự vệ được là tốt, chiêu nào cũng giữ thế thủ. Y không hề có ý đả bại Cưu Ma Trí, yên trí rằng võ công của đối phương cao gấp mười mình, chỉ dùng một tay để tấn công mà đã ghê gớm đến thế, giả tỉ lão dùng cả hai tay thì mình mất mạng ngay lập tức. Bởi thế mà y liều chết giữ chặt cổ tay trái đối phương, chỉ để lão không thể tấn công bằng cả hai tay. Ý nghĩ tự ti của Hư Trúc lại rất hữu dụng. Cưu Ma Trí chỉ tự do một tay, nên không thể thi triển những thế chưởng liên hoàn biến hóa tuyệt diệu, còn chưởng pháp Hư Trúc không được thuần thục thì y sử dụng đơn chưởng lại thấy tiện lợi hơn song chưởng. Vì thế mà mười thành chưởng pháp của Cưu Ma Trí chỉ phát huy được bốn năm thành, mà hai ba thành của Hư Trúc lại phát huy được đến bốn năm thành. Thời gian lâu chừng tàn nén hương, hai bên trao đổi đã đến mấy trăm chiêu, cục diện vẫn chưa thay đổi.

Huyền Từ, Huyền Độ, Thần Sơn, Quán Tâm, Triết La Tinh cùng các vị cao tăng đều thấy Cưu Ma Trí bị nắm giữ tay trái không giật ra được, nhưng Hư Trúc phải dùng tay trái nên kém thế, chỉ có sức chống đỡ mà không có sức phản kích, hai bên đều có chỗ được chỗ mất. Các vị cao tăng kiến văn quảng bác bình sinh cũng chưa từng thấy cuộc tỉ đấu nào ly kỳ như thế này. Đa số tăng chúng vừa kinh dị vừa hoài nghi, Hư Trúc ở trong chùa từ nhỏ đến lớn, phen này y mới rời chùa lần đầu tiên, không hiểu sao chỉ trong một năm mà y đã luyện được bản lĩnh ghê gớm đến thế. Họ lại không hiểu vì sao Hư Trúc đã nắm được địch nhân mà không kiềm chế nổi, vẫn để Cưu Ma Trí phóng ra những phát chưởng mãnh liệt có thể dứt gân bẻ xương, dù là nội gia cao thủ mà trúng phải cũng đứt hơi bỏ mạng lập tức.

Lúc này bất cứ nhà sư Thiếu Lâm nào chỉ đánh nhẹ một chiêu là Cưu Ma Trị mất mạng ngay. Nhưng trận đấu này không phải để giết người rửa hận, mà cốt để giữ danh dự cho môn phái, nên không ai can thiệp vào. Quần tăng tuy trong lòng hồi hộp, tay ướt đẫm mồ hôi, mà chỉ đứng nhìn hai người tỉ đấu.

Hơn một trăm chiêu nữa, Hư Trúc đã bớt lo lắng, thi triển Thiên Sơn Lục Dương Chưởng mỗi lúc một thuần thục hơn, trong mười chiêu chỉ còn chín chiêu phòng thủ, phản kích được một chiêu. Cưu Ma Trí buộc phải chống đỡ đòn phản kích này, thế công của lão đã bắt đầu giảm bớt. Lúc này Hư Trúc vẫn yếu thế, nhưng càng về sau càng có lợi. Sau thời gian chừng ăn xong bữa cơm, Hư Trúc đã có thể phản công đến ba trong mười chiêu, quần tăng Thiếu Lâm đã bớt lo lắng, bắt đầu hoan hỉ.

Từ lúc Cưu Ma Trí xuất hiện, trong lòng Thần Sơn Thượng Nhân nảy ra những ý nghĩ mâu thuẫn nhau. Lão vừa mong Cưu Ma Trí hủy diệt được oai danh phái Thiếu Lâm, vừa lại không muốn thấy một nhà sư dị tộc vào Trung Thổ hoành hành chẳng sợ gì ai, nhưng lại không đủ sức để đả bại Cưu Ma Trí. Bây giờ lão thấy Hư Trúc cùng Cưu Ma Trí ở thế giằng co thì lại muốn hai bên chết hết, mình làm ngư ông thủ lợi. Giả tỉ Ba La Tinh không truyền cho lão các tuyệt kỹ khác của phái Thiếu Lâm, thì lão cũng đã thuộc lòng kinh điển ba môn Ban Nhược Chưởng, Ma Ha Chỉ, Đại Kim Cương Quyền, sau này nghiên cứu kỹ càng, luyện tập đúng phép, cũng đủ xưng bá võ lâm. Lão còn tự tin mình có thể xào nấu ba môn võ công này cho khác biệt đi, coi như sáng chế được ba tuyệt kỹ riêng biệt cho chùa Thanh Lương, trở thành một bậc tôn sư võ học danh lưu hậu thế. Ba La Tinh lại suy nghĩ theo một hướng khác. Hắn đã lén vào Tàng Kinh Các để nghiên cứu những môn võ công các vị cao tăng Thiếu Lâm đời trước truyền lại, càng nghiên cứu càng thấy tinh thâm ảo diệu vô cùng, rồi đi đến chỗ say mê. Hôm nay sư huynh Triết La Tinh đến đón, được trở về cố hương Thiên Trúc dĩ nhiên là mừng, nhưng hắn nghĩ tới chỗ võ học Thiếu Lâm bao la bát ngát, mình chỉ nhớ được một phần nhỏ xíu, một khi đã ra khỏi sơn môn thì chẳng bao giờ còn được nghiên cứu nữa, lại thấy luyến tiếc vô cùng. Lúc này xem Hư Trúc tỉ đấu cùng Cưu Ma Trí, hắn thấy hai bên đều nội lực cao cường, chiêu thức kỳ tuyệt, tự biết mình chẳng bằng ai. Ba La Tinh không biết rằng võ công mà Hư Trúc đang sử dụng không phải của phái Thiếu Lâm, chỉ thấy nhà sư mới hai mươi tuổi mà đã ghê gớm đến thế thì lại buồn rầu. Hắn nghĩ rằng mình vào được Tàng Kinh Các không phải dễ dàng, tuy thuộc được mấy pho bí lục võ học, không đến nỗi tay trắng về làng, nhưng chắc rằng mình chưa học được những môn quý giá nhất, e rằng phải hối hận suốt đời.

Đạo lý bên trong võ học cũng mênh mông như cầm kỳ thi họa hay Phật học, không có bờ bến, càng nghiên cứu thì càng say mê, dù người học đến cảnh giới nào vẫn cảm thấy có thể cao thâm hơn nữa. Ba La Tinh cũng là cao tăng đại tài đại trí, từ Thiên Trúc đến chùa Thiếu Lâm ban đầu chỉ có ý định tìm thiên phương bách kế ăn cắp bí lục võ công đem về mở mang võ học nước Thiên Trúc. Đến lúc hắn thấy võ học chùa Thiếu Lâm sâu rộng như biển thì đem lòng quyến luyến, không muốn bỏ đi nữa.

Lúc này Hư Trúc đã có thế phản kích bốn trong mười chiêu, tuy vẫn công ít thủ nhiều, nhưng nội lực đã phát sinh, bất giác sử dụng một chiêu cực kỳ hiểm độc trong võ học phái Tiêu Dao. Mọi người đứng xem đều giật mình kinh hãi, nghĩ thầm: “Ta mà gặp phải chiêu này thì không khỏi mất mạng một cách thảm khốc.” Mấy trăm năm nay, đệ tử phái Thiếu Lâm không có nữ nhân, truyền xuống bao nhiêu đời đều theo đường lối dương cương. Võ công cửa Phật vốn hòa bình, cốt để kiềm chế đối phương chứ không phải để giết người, ngược hẳn với những chiêu thức của Đồng Mỗ và Lý Thu Thủy. Các cao tăng Thiếu Lâm thấy Hư Trúc sử những chiêu thức âm hiểm độc địa, đều bất giác chau mày.

Cưu Ma Trí đã ba lần vận kình toan giật tay trái ra để tiện thi triển tuyệt kỹ Hỏa Diệm Đao. Nhưng lão càng gia tăng kình lực thì chỉ lực của Hư Trúc càng mạnh thêm, thật không biết nội lực của đối phương cao thâm đến mức độ nào. Tình hình nguy cấp, sát khí nổi lên, lão bèn phóng veo véo luôn ba chưởng, Hư Trúc vung tay lên hóa giải. Cưu Ma Trí rụt tay về, rút thanh trủy thủ trong giày ra, đâm vào vai Hư Trúc.

Hư Trúc chỉ học những chiêu thức tay không, đột nhiên thấy bạch quang lấp loáng, truy thủ trong tay địch nhân đâm tới. Y không biết chống đỡ cách nào, liền vung tay chụp xuống cổ tay trái Cưu Ma Trí, đây là một chiêu cầm nã trong Thiên Sơn Chiết Mai Thủ, vừa mau lẹ lại vừa chuẩn xác. Ba ngón tay Hư Trúc chạm vào cổ tay đối phương, ngón cái và ngón út liền rít chặt lại. Lúc ấy kình lực trong bàn tay Cưu Ma Trí xô ra, trủy thủ bay khỏi tay lão, mà cả hai tay Hư Trúc đều bận giữ lấy cổ tay đối phương, không né gạt gì được. Nghe sột một tiếng, lưỡi dao đã cắm phập vào vai Hư Trúc ngập đến chuôi.

Quần tăng đứng xem la ó om sòm. Các vị Quán Tâm… đều bất giác lắc đầu, nghĩ thầm: “Thân phận của Cưu Ma Trí mà không thắng nổi một tiểu hòa thượng Thiếu Lâm thì đã ê mặt lắm rồi, lại còn sử dụng binh khí đánh lén thì thật không còn chút thể diện nào.”

Đột nhiên thanh quang lấp loáng, trong đám đông có bốn nhà sư vung trường kiếm lên, đều nhằm đâm vào cổ họng Cưu Ma Trí. Bốn nhà sư đồng thời vọt ra động thủ, bốn thanh trường kiếm cùng nhằm một chỗ, kiếm pháp cực kỳ mau lẹ, lại hiểm độc vô cùng. Cưu Ma Trí vận sức vào hai chân toan nhảy ra sau, nhưng vẫn bị Hư Trúc giữ chặt nên không tránh né được. Cổ họng lão đau nhói, bốn mũi kiếm đâm thủng da y. Bốn nhà sư đồng thanh quát lên: “Đồ không biết liêm sỉ, nộp mạng đi!” Kỳ lạ thay, thanh âm bốn nhà sư này trong trẻo tựa như thiếu nữ.

Hư Trúc nhìn lại, thì ra là tứ kiếm Mai Lan Trúc Cúc giả trang, trên đầu đội tăng mạo để che kín mái tóc, mình khoác tăng bào của chùa Thiếu Lâm. Y kinh hãi vô kể, la lên: “Không được giết y!” Tứ Kiếm đồng thanh đáp: “Vâng!”, nhưng mũi kiếm vẫn kề vào cổ Cưu Ma Trí.

Cưu Ma Trí cười ha hả nói: “Thiếu Lâm Tự chẳng những lấy số đông để thủ thắng, lại còn lén chứa nữ nhân. Bây giờ ta mới biết mấy trăm năm danh dự là thế này đây!”

Hư Trúc hoang mang không biết làm sao, bất giác buông cổ tay Cưu Ma Trí ra. Cúc Kiếm rút thanh thủy thủ trên vai y ra, máu tươi phun lên như suối, cô lại thò tay vào bọc lấy ra một tấm khăn, buộc vết thương cho y. Còn ba cô Mai Lan Trúc vẫn chĩa mũi kiếm vào cổ Cưu Ma Trí. Hư Trúc hỏi: “Các… các ngươi đến đây làm chi?”

Cưu Ma Trí vung tay phải lên, thần công Hỏa Diệm Đao phát xuất. Choang choang ba tiếng, ba thanh trường kiếm gãy đôi, ba cô gái giật mình nhảy lùi hơn trượng, nhìn lại trường kiếm thì chỉ còn một khúc. Cưu Ma Trí ngửa mặt cười dài, rồi quay sang hỏi Huyền Từ: “Phương trượng sư huynh, nói gì đi chứ?”

Huyền Từ sắc mặt xám xanh đáp: “Việc này lão tăng chưa hiểu, phải điều tra cho rõ rỗi xử trí theo giới luật bản tự. Quốc sư cùng các vị sư huynh đường xa mệt nhọc, xin mời quý vị ra nhà khách dùng bữa cơm chay đā.”

Cưu Ma Trí nói: “Quả thật đã làm phiền!”. Lão nói xong chắp tay thi lễ, Huyền Từ cũng đáp lễ. Hai tay Cưu Ma Trí đang chắp bỗng phóng ra hai bên, ngầm vận thần công Hỏa Diệm Đao. Nghe mấy tiếng xoẹt xoẹt, rồi bốn cô Mai Lan Cúc Trúc la hoảng, bốn chiếc tăng mạo không gió mà rớt xuống để lộ bốn mái tóc mây đen nhánh, lại cả hàng trăm mớ tóc rơi xuống lả tả.

Cưu Ma Trí thi triển thần công hất mũ cắt tóc mà không giết người, chẳng những để khoe bản lĩnh mà còn ngụ ý hạ thủ lưu tình, đồng thời làm rõ chân tướng bốn thiếu nữ ra khiến cho quần tăng Thiếu Lâm hết cãi.

Huyền Từ gắng gượng cất tiếng: “Xin mời các vị sư huynh.” Các cao tăng Thần Sơn, Quán Tâm, Dung Trí thấy trong chùa Thiếu Lâm lại xuất hiện mấy cô thiếu nữ thì ai cũng kinh dị. Đừng nói Thiếu Lâm là danh sơn cổ tự, ngay cả những chùa thông thường cũng không thể chấp nhận những vụ vi phạm giới luật thế này. Nhưng khi nghe Huyền Từ phương trượng lên tiếng mời khách thì ai cũng đứng dậy, rồi được tri khách tăng mời ra khách sảnh dùng chay.

Mấy vị khách tăng vừa quay đi, còn chưa ra khỏi đại điện thì Mai Kiếm đã lên tiếng: “Chủ nhân! Bọn thuộc hạ tự tiện xuống núi, đến đây phục vụ chủ nhân, xin chủ nhân miễn trách cho.” Lan Kiếm tiếp: “Nhà sư Duyên Căn kia dám vô lễ với chủ nhân, bọn thuộc hạ đã đánh y một trận nhừ tử cho biết thân. Ôi chao! Không ngờ lão hòa thượng Tây Vực này lại đả thương chủ nhân.”

Hư Trúc “Ồ” một tiếng rồi hiểu ra Duyên Căn kính cẩn với mình là do mấy cô này uy hiếp, thế thì họ giả làm sư nấp trong chùa đã lâu. Y bất giác giậm chân nói: “Rắc rối quá!”, rồi đến quì trước tượng Phật Như Lai, khấn vái: “Đệ tử kiếp trước tội nghiệt thâm trọng, kiếp này lại không giữ giới luật thanh quy, gây ra họa lớn cho bản tự. Kính xin phương trượng phạt thật nặng.”

Cúc Kiếm nói: “Chủ nhân đừng làm hòa thượng cho mệt, chúng ta về núi Phiêu Diểu là hơn. Nơi đây ăn uống nhạt nhẽo lại bị người ta quản thúc, có gì là tốt đâu?” Trúc Kiếm trỏ vào mặt Huyền Từ nói: “Lão hòa thượng! Lão mà mạo phạm đến chủ nhân thì bốn tỉ muội chúng ta không nể mặt đâu. Lão cố mà đối xử cho cẩn thận!” Hư Trúc giậm chân lia lịa: “Các ngươi không được vô lễ, sao lại gây chuyện rắc rối trong chùa? Trời ơi, đừng nói nữa!”

Nhưng bốn cô cứ thi nhau nói, giọng điệu coi Huyền Từ chẳng vào đâu. Tăng chúng chùa Thiếu Lâm nhìn nhau kinh hãi, rồi lại liếc nhìn thử mấy cô gái thì thấy y hệt nhau: mày thanh mắt sáng, xinh đẹp hoạt bát, đều chẳng biết sợ trời sợ đất là gì. Chẳng ai biết bốn cô từ đâu đến chùa.

Bốn cô này vốn là con một nhà nghèo ở chân Đại Tuyết Sơn, mẫu thân đã sinh tới bảy con gái, rồi lại sinh thêm một lượt bốn chị em này. Nhà nghèo không nuôi nổi, bà mẹ liền đem bỏ vào rừng tuyết. Lúc đó Đồng Mỗ đang lên Đại Tuyết Sơn hái thuốc, nghe tiếng con nít khóc bèn lại xem thử, thấy bốn đứa bé sơ sinh tướng mạo giống hệt nhau thì lấy làm thú vị. Mụ liền đem về cung Linh Thứu, nuôi cho khôn lớn rồi truyền thụ võ công. Bốn cô này tuy gọi là thị tỳ của Đồng Mỗ, nhưng thực ra được mụ thương yêu như con đẻ. Bốn cô chưa xuống núi Phiêu Diểu bao giờ, làm sao hiểu được nhân tình thế thái cùng thứ bậc cao thấp? Các cô chỉ biết nghe lệnh Đồng Mỗ, đến khi Hư Trúc làm chủ nhân cung Linh Thứu thì lại hết mình phụng sự Hư Trúc. Nhưng Hư Trúc hiền hậu khiêm tốn, thiếu vẻ oai nghiêm nên các cô không sợ y mấy.

Huyền Từ nói: “Trừ các vị sư huynh sư đệ hàng chữ Huyền, còn tăng chúng từ hàng chữ Tuệ trở xuống ai về phòng nấy. Tuệ Luân quỳ xuống đây.” Chúng tăng đều vâng lời lục tục đi ra, trong khoảnh khắc trên Đại Hùng Bảo Điện chỉ còn lại khoảng ba mươi vị lão tăng hàng chữ Huyền, Hư Trúc cùng sư phụ là Tuệ Luân, và bốn thiếu nữ cung Linh Thứu.

Tuệ Luân hòa thượng quì trước tượng Phật, cất tiếng: “Đệ tử không biết cách dạy dỗ, để nảy ra tên nghiệt đồ này. Xin phương trượng trọng phạt.”

Trúc Kiếm cười hăng hắc nói: “Ngươi công phu thấp kém thế này mà đòi làm sư phụ của chủ nhân ta ư? Đêm hôm kia, người che mặt đã trói ngươi trên cây tùng là nhị tỉ ta đó. Ta nói thật, võ công người còn tầm thường lắm!” Hư Trúc sợ hãi kêu thầm: “Hỏng bét, hỏng bét! Mấy cô này dám trêu cả đến sư phụ ta!” Lại nghe Lan Kiếm cười nói: “Duyên Căn nói ngươi là sư phụ của chủ nhân ta, nên ta đến xem thử. Hôm nay mà tam muội không nói ra, e rằng ngươi vĩnh viễn không biết ai đã trêu ghẹo ngươi. Ha ha! Thú quá, thật là thú quá!”

Huyền Từ nói: “Huyền Tâm, Huyền Quý, Huyền Niệm, Huyền Tĩnh! Bốn vị sư đệ lại xin bốn vị nữ thí chủ đừng nói năng hành động bừa bãi.” Bốn lão tăng khom người đáp: “Vâng!”, rồi quay lại nói với bốn cô: “Phương trượng có pháp chỉ, xin bốn vị đừng nói năng hành động bừa bãi.”

Mai Kiếm cười đáp: “Chúng ta lại thích nói năng hành động bừa bãi, ngươi làm gì được nào?” Bốn nhà sư đồng thanh đáp: “Vậy thì xin đắc tội!” Dứt lời, bốn vị phất áo tăng bào phủ lên bàn tay, đưa tay ra nắm lấy tay bốn cô. Huyền Tâm sử Long Trảo Thủ, Huyền Quý sử Hổ Trảo Công, Huyền Niệm sử Ưng Trảo Công, Huyền Tĩnh sử Thiếu Lâm Cầm Nã Thập Bát Đả, đều là những môn võ tinh diệu phái Thiếu Lâm. Trong bốn cô thì trừ Cúc Kiếm ra, ba cô đã bị Cưu Ma Trí chặt gãy mất trường kiếm. Cúc Kiếm liền vung trường kiếm lên để hộ vệ cho ba tỉ tỉ. Ba cô Mai Lan Trúc cũng vung kiếm gãy, phối hợp với Cúc Kiến đánh ra. Hư Trúc vội la lên: “Bỏ kiếm! Bỏ kiếm! Không được động thủ!”

Tứ Kiếm nghe chủ nhân hô hoán đều sửng sốt, binh khí trong tay không phát huy được toàn lực. Võ công bốn cô vốn đã kém xa bốn vị cao tăng hàng chữ Huyền, lại để mất tiên cơ nên bị bắt ngay. Mai Kiếm cố sức giãy giụa mà không thoát nổi, liền tức giận nói: “Bọn ta tuân lệnh chủ nhân nên mới nể mặt các người. Ôi chao, đau đến chết người! Sao ngươi nặng tay thế?” Lan Kiếm cũng la lên: “Tên tiểu tặc! Mau buông ta ra!” Huyền Quý đại sư đầu tóc bạc phơ, tuổi đã ngoại thất tuần mà nàng dám gọi là tên tiểu tặc. Trúc Kiếm mắng: “Ngươi mà không chịu buông tay thì ta phải thóa mạ đến tam đại ngươi.” Cúc Kiếm thét lên: “Ta phải nhổ nước bọt vào mặt ngươi!” Rồi cô nhổ thật, Huyền Tĩnh né đầu tránh khỏi, lại xiết tay mạnh hơn. Cúc Kiếm đau quá, “Ôi chao! Trời ơi!” luôn miệng. Đại Hùng Bảo Điện vốn là nơi thánh địa trang nghiêm, bỗng đầy tiếng nữ nhân kêu la thóa mạ thánh thót như chim hót.

Huyền Từ nói: “Bốn vị nữ thí chủ hãy bình tĩnh lại, nếu còn la ó thì các sư đệ sẽ điểm vào á huyệt.” Bốn cô nghe nói đến điểm á huyệt liền bĩu môi ra, lườm nguýt nhưng không dám nói gì nữa. Bốn vị đại sư liền buông tay bốn cô ra, đứng một bên để canh giữ.

Huyền Từ nói: “Hư Trúc! Ngươi kể hết những việc đã qua, không được giấu giếm chút nào.” Hư Trúc đáp: “Vâng! Đệ tử xin thành tâm bẩm báo.” Rồi y kể từ chuyện vâng lệnh phương trượng xuống núi đưa thư, giữa đường gặp bọn Huyền Nạn, Tuệ Phương, rồi đi bừa một nước cờ mà phá được thế Trân Lung bí hiểm, trở nên chưởng môn nhân phái Tiêu Dao. Y kể tiếp vụ Huyền Nạn chết về kịch độc của Đinh Xuân Thu, bị A Tử gạt ăn mặn phá giới, gặp Thiên Sơn Đồng Mỗ, chui vào hẩm nước đá trong hoàng cung Tây Hạ, rồi làm chủ nhân cung Linh Thứu. Sự tình vô cùng phức tạp mà Hư Trúc ăn nói vụng về, ấp úng mãi, mất rất nhiều thì giờ. Y nói dài dòng lê thê, nhưng được cái không bỏ sót chỗ nào. Đặc biệt là đoạn phạm sắc giới với Mộng Cô trong hầm nước đá, y lại càng lắp bắp, vừa nói vừa thở hổn hển.

Chúng tăng càng nghe càng thích thú ngạc nhiên, rõ ràng tên tiểu hòa thượng này đã gặp những chuyện kỳ ngộ tới mức võ lâm trước nay chưa từng nghe thấy. Mọi người đã thấy bản lĩnh Hư Trúc lúc tỉ đấu với Cưu Ma Trí, bây giờ nghe y thuật chuyện thì không nghi ngờ gì nữa. Ai cũng nghĩ thầm: “Nếu y không tiếp thu được thần công của ba cao thủ phái Tiêu Dao, lại không có cơ duyên nghiên cứu những tuyệt kỹ võ công trên vách của thạch thất cung Linh Thứu, thì làm sao chống nổi với một tay tuyệt thế thần thông là quốc sư nước Thổ Phồn?”

Hư Trúc kể xong xuôi, quì trước tượng Phật dập đầu lia lịa nói: “Đệ tử ngu muội lại không trì giới, vừa gặp phải ngoại ma tâm thần liền bất định, phạm vào tửu giới, sát giới, sắc giới, tập luyện võ công bàng môn tà đạo, lại gây ra vụ bốn vị cô nương vào chùa gây rối làm thương tổn đến thanh danh bản môn. Đệ tử thấy mình tội ác ngập đầu, trừng phạt thế nào cũng chưa đáng tội, chỉ cầu xin Phật tử từ bi, phương trượng từ bi.” Y càng nói càng thấy đau khổ, rồi khóc rống lên.

Mai Kiếm và Cúc Kiếm đằng hắng một tiếng, toan khuyên y đừng làm hòa thượng nữa. Hai vị lão tăng Huyền Tâm, Huyền Tĩnh bèn đưa ngón tay ra, cách áo nắm lấy mạch môn. Hai cô không làm gì được, đành im lặng, nhưng cũng đảo mắt sắc như dao cạo liếc ngang liếc dọc hai lão tăng, vừa lườm nguýt vừa rủa thầm: “Thằng trọc chết đâm này! Tên giặc thối tha kia!”

Huyền Từ trầm ngâm hồi lâu mới nói: “Các vị sư huynh sư đệ! Câu chuyện của Hư Trúc quá khác thường. Vụ này có quan hệ đến thanh danh ngàn đời của bản tự, bản tòa không dám chuyên quyền tác chủ. Xin các vị cho ý kiến trước đã.”

Huyền Sinh lớn tiếng nói: “Bẩm phương trượng! Hư Trúc tuy có tội nặng, nhưng cũng có công không nhỏ. Nếu trong lúc nguy cấp mà y không ra tay ngăn chặn lão Phiên tăng, bản tự còn đứng được trong võ lâm không? Phiên tăng đã bảo chúng ta phải giải tán để xin vào những chùa Thanh Lương, Phổ Tĩnh nương thân, thật là vô cùng nhục nhã, nhờ một mình Hư Trúc mà cứu vãn được. Theo ý tiểu đệ thì phải bắt y vào Đạt Ma Viện để hối cải mà nghiên cứu võ nghệ, từ đây không cho ra khỏi chùa, không được hỏi đến việc ngoài.” Thật ra chỉ có hàng tăng lữ đáng kính nhất, võ công tuyệt cao mới đủ tư cách vào Đạt Ma Viện nghiên cứu võ công. Hiện giờ trong số hơn ba mươi vị cao tăng hàng chữ Huyền, chỉ có tám vị được vào Đạt Ma Viện. Huyền Sinh cũng nằm trong số này, lão đề nghị cho Hư Trúc vào Viện Đạt Ma không phải là phạt mà lại là thưởng rất hậu.

Thủ tòa Giới Luật Viện là Huyền Tịch lên tiếng: “Nếu chỉ xét về bản lĩnh thì y đủ tư cách vào Đạt Ma Viện. Nhưng võ công của y chỉ toàn là của bàng môn thì Đạt Ma Viện chùa Thiếu Lâm có thể dung nạp được hay không? Huyền Sinh sư đệ đã nghĩ tới chỗ này chưa?”.

Quần tăng nghe vậy đều nhận ra đề nghị của Huyền Sinh chưa được thỏa đáng. Huyền Sinh hỏi: “Theo ý sư huynh thì nên thế nào?”

Huyền Tịch đáp: “Ôi! Việc này thật khó mà quyết định. Hư Trúc vừa có công vừa có tội, có công thì khen thưởng, có tội thì trừng phạt. Bốn vị cô nương này cải trang thành sư để xâm nhập vào bản tự, không phải là bản ý của Hư Trúc. Chuyện này chúng ta chỉ cần thuyết minh với các vị Cưu Ma Trí, Thần Sơn là đủ, họ tin thì tốt mà không tin thì cũng không sao. Chúng ta không tự hổ thẹn với lòng là được, không cần kể đến những lời dị nghị sai lầm của người ngoài. Nhưng Hư Trúc đã bội phản bản môn, học võ công phái khác, e rằng chùa Thiếu Lâm không thể dung tha y được.” Rõ ràng Huyền Tịch tỏ ý muốn đuổi Hư Trúc khỏi chùa, đó là một cách trừng phạt thuộc loại nặng nhất trong Phật giáo. Quần tăng nghe vậy đều kinh hãi.

Huyền Tịch lại tiếp: “Hư Trúc dựa vào võ công để phạm nhiều giới luật, lẽ ra phải phế bỏ võ công rồi mới đuổi khỏi sơn môn. Nhưng võ công bản phái của y đã bị người ngoài hóa giải, công phu trong người y hiện nay không phải là của bản môn, dĩ nhiên chúng ta không được quyền tước bỏ.”

Hư Trúc rơi lệ nói: “Phương trượng! Các vị sư bá tổ, sư thúc tổ! Trước tượng Phật tổ, xin các vị từ bi mở cho đệ tử một con đường để hối lỗi quay về chính đạo. Bất luận hình phạt nặng đến đâu đệ tử cũng cam tâm nhận lấy, miễn là không bị trục xuất khỏi sư môn.”

Các vị lão tăng nhìn nhau không biết quyết định thế nào, đều biết Hư Trúc thành khẩn hối lỗi. Đã có câu “Buông đao đồ tể, lập tức thành Phật”, “Bể khổ mênh mông, quay lại thấy bờ”. Cửa Phật luôn mở rộng để từ bi phổ độ cho chúng sinh, đối với những kẻ cùng hung cực ác, chấp mê không tỉnh cũng phải tìm trăm phương ngàn kế để cảm hóa mà cứu vớt. Huống chi Hư Trúc đã thoát khỏi đường mê trở lại chính đạo, lại là đệ tử xuất gia từ nhỏ, sao lại nỡ tuyệt đường không cho y quay về nẻo thiện? Chùa Thiếu Lâm vốn thuộc Thiền tông, trọng về giác ngộ. Giả tỉ không có người ngoài thì chúng tăng thấy y thành khẩn, chắc chắn không trục xuất. Nhưng sự việc trước mắt liên quan đến bọn Hồ tăng Cưu Ma Trí, Triết La Tinh, lại còn dính líu đến chùa Thanh Lương, Phổ Độ ở Trung Nguyên. Có một người ngoài mà trách phạt Hư Trúc không nghiêm thì tất nhiên họ sẽ coi phái Thiếu Lâm không còn uy tín, sẽ cho rằng chùa Thiếu Lâm bao che đệ tử bất chấp thị phi, chỉ trọng võ công mà không quan tâm đến giới luật. Câu chuyện này đồn đại ra ngoài thì thanh danh pháp Thiếu Lâm sẽ bị hủy diệt.

Ngay lúc ấy, một vị lão tăng được hai đệ tử nâng đỡ từ hậu viện đi ra, chính là Huyền Độ. Lão bị Cưu Ma Trí đả thương, phải về tăng phòng điều dưỡng, nhưng vẫn quan tâm đến cuộc tỉ đấu ngoài đại điện, phái đệ tử liên tục báo rõ tình hình chiến sự. Lúc này Huyền Độ nghe tin Cưu Ma Trí tạm thời rút lui, quần tăng đang chất vấn Hư Trúc, lại toan trách phạt nặng nề. Thế là lão tăng ôm vết thương ra Đại Hùng Bảo Điện, lên tiếng: “Phương trượng! Cái mạng già này đã được Hư Trúc cứu cho. Ta có một câu, chẳng biết nên nói hay không.”

Huyền Độ đã cao niên lại rất đức độ, được cả chùa cung kính. Huyền Từ phương trượng vội nói: “Sư huynh hãy ngồi xuống rồi từ từ nói, cẩn thận kẻo đụng đến vết thương.”

Huyền Độ nói: “Cái mạng già này có cứu hay không thì chẳng kể làm chi, nhưng hãy còn sáu việc lớn chưa giải quyết ổn thỏa. Nếu giữ Hư Trúc lại chùa thì rất có ích, còn đuổi y đi thì… thì khó lắm!” Huyền Tịch hỏi: “Sáu việc lớn mà sư huynh nhắc đến, chắc việc thứ nhất là Cưu Ma Trí chưa rút lui, hai là Ba La Tinh trộm võ kinh của bản tự, ba là Trang Tụ Hiền tân bang chủ Cái Bang muốn làm minh chủ võ lâm. Còn ba việc nữa là gì?”

Huyền Độ thở dài đáp: “Đó là tính mạng của bốn vị sư đệ Huyền Bi, Huyền Khổ, Huyền Thống, Huyền Nạn.” Lão vừa nhắc đến bốn nhà sư này, quần tăng đều chấp tay niệm: “A di đà Phật!”

Quần tăng đã biết Huyền Khổ chết về tay Kiều Phong, còn Huyền Thống, Huyền Nạn bị Đinh Xuân Thu ám hại, chỉ vì đối thủ quá mạnh mà chưa trả đại thù được. Còn hung thủ sát hại Huyền Bi đại sư thì chưa rõ là ai, chỉ biết lão trúng một đòn Vi Đà Chử trước ngực mà chết. Vi Đà Chử chính là một trong bảy mươi hai tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm, Huyền Bi đã khổ luyện bốn mươi năm mới thành tựu. Trước kia ai nấy đều nghĩ đó là công phu Gậy ông đập lưng ông của nhà Cô Tô Mộ Dung, nhưng bọn Tuệ Phương, Tuệ Kính đã hỏi Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn thì họ dứt khoát không thừa nhận. Dù sao thì nhà Mộ Dung cũng là thế gia trong võ lâm Trung Nguyên, mà từ Mộ Dung Phục đến bọn thủ hạ đều có vẻ nghĩa hiệp quang minh, không phải là kẻ tiểu nhân hiểm độc ám toán người. Lúc này mọi sự nghi ngờ lại đổ dồn sang con người đã tự xưng am hiểu hết bảy mươi hai tuyệt kỹ Thiếu Lâm chính là Cưu Ma Trí, mà nếu không phải y thì cũng là người khác. Như vậy bốn cao tăng Thiếu Lâm do ba người hạ thủ, đó chính là ba việc lớn mà Huyền Độ nhắc đến.

Huyền Từ nói: “Lão nạp ở ngôi phương trượng bản tự, không giải quyết được sáu việc lớn này thật lấy làm xấu hổ, nhưng bản lĩnh của Hư Trúc đều là võ công phái Tiêu Dao, chẳng lẽ… chẳng lẽ việc lớn của chùa Thiếu Lâm…”

Huyền Từ nói đến đây rồi ngừng lại, nhưng quần tăng cũng đã hiểu ý. Võ công Hư Trúc cao cường, nhưng toàn là công phu phái khác. Giả tỉ y đứng ra giải quyết những việc lớn này, thì những người hiểu biết đều cho rằng phái Thiếu Lâm phải mượn sức người, không khỏi sứt mẻ oai danh bản phái. Dù có thể giấu nhẹm cho người ngoài không biết, nhưng các bậc cao tăng đắc đạo sao lại có thể dối mình dối người?

Quần tăng yên lặng mất một lúc, rồi Huyền Độ hỏi: “Theo ý phương trượng thì nên làm thế nào?” Huyền Từ đáp: “A di đà Phật! Theo ý kiến lão nạp thì chúng ta đã thừa hưởng y bát của tổ tiên, hôm nay đã gặp đại nạn thì phải theo chính đạo mà hành sự, ngọc nát còn hơn giữ ngói lành. May ra nhờ phúc đức của liệt tổ mà tất cả sư huynh đệ chúng ta có thể hết sức hết lòng bảo toàn danh dự cho chùa Thiếu Lâm. Mấy trăm năm nay bản tự đã tạo phúc cho thiên hạ không phải là ít, thiện duyên đã thâm hậu thì dù có nhất thời gãy vỡ, nhưng nhất định không đến nỗi tan tành, sau này vẫn có hy vọng phục hưng.” Thanh âm của Huyền Từ đầy vẻ hòa bình chính khí.

Quần tăng nghe xong đều nghiêng người đáp: “Phương trượng cao kiến, xin tuân pháp chỉ.”

Huyền Từ quay lại bảo Huyền Tịch: “Sư đệ! Hãy thi hành giới luật cho bản tự” Huyền Tịch đáp: “Vâng!”, rồi quay lại bảo bọn tri khách tăng: “Mời quốc sư Thổ Phồn cùng các vị cao tăng vào.” Bọn tri khách tăng kính cẩn vâng lời.

Huyền Độ, Huyền Sinh âm thầm thở dài. Hai vị cao tăng này có ý che chở Hư Trúc, nhưng phương trượng đã lấy lại nghĩa làm trọng, nên hai vị không dám vì ý kiến nhất thời mà năn nỉ giúp y nữa, sợ làm tổn thương đến oai danh bản tự. Mọi người ai cũng biết rõ ràng, nếu tha tội cho Hư Trúc thì thắng mà hóa bại, còn giữ đúng công đạo thì dù bại vẫn giữ được thanh danh, hôm nay chùa Thiếu Lâm có tan tành thì cũng còn ngày trùng hưng lại.

Hư Trúc cũng tự biết việc này khó nỗi vãn hồi, dù khóc lóc năn nỉ cũng vô ích. Y nghĩ thầm: “Mọi người đều phải lấy danh dự bản tự làm trọng. Mình đã gây nên tội nghiệt thì phải cắn răng mà chịu, không nên tỏ vẻ khiếp nhược rụt rè trước mặt người ngoài, nếu không họ sẽ coi thường hòa thượng Thiếu Lâm”

Chỉ một lúc sau bọn Cưu Ma Trí, Thần Sơn, Triết La Tinh… đã tiến vào đại điện. Một hồi chuông nổi lên, các nhà sư hàng chữ Tuệ, chữ Hư, chữ Không xếp thành đội ngũ theo thứ tự, kéo vào đứng hai bên.

Huyền Từ chắp tay lên tiếng: “Thổ Phồn quốc sư sư huynh cùng các vị sư huynh! Trong phái Thiếu Lâm có một tên đệ tử hàng chữ Hư là Hư Trúc đã phạm vào huân giới, tửu giới, sát giới, sắc giới là bốn điều giới luật. Y lại còn học võ công ngoài phái, tự tiện nhận chức chưởng môn một phái khác. Thủ tòa Giới Luật Viện là Huyền Tịch phải chiếu luật trừng trị, không được khoan dung!”

Cưu Ma Trí và bọn Thần Sơn nghe vậy đều rất ngạc nhiên. Họ chỉ thấy bốn cô Mai Lan Trúc Cúc giả trang làm hòa thượng, cho rằng Hư Trúc lén giấu nữ nhân trong chùa, phạm vào sắc giới. Không ngờ Huyền Từ phương trượng lại tuyên bố những tội trạng còn nặng hơn nhiều.

Đạo Thanh đại sư ở chùa Phổ Độ đến tuổi trung niên mới xuất gia làm sư, rất thông hiểu nhân tình thế sự, tính nết lại khoan dung hiền hậu, thích làm chuyện phúc đức, bèn cất tiếng nói: “Phương trượng sư huynh! Bốn vị cô nương kia mày rủ lưng ngay, cổ thon mũi thẳng, hiển nhiên còn giữ mình như ngọc trắng. Vừa rồi bốn cô động thủ với quốc sư đã dùng kiếm công của xử nữ, người học võ như chúng ta chỉ nhìn qua là biết. Hư Trúc tiểu huynh chắc hẳn chưa có hành vi quá đáng, dùng hai chữ Sắc Giới mà khép tội tưởng cũng hơi nặng!”

Huyền Từ đáp: “Đa tạ sư huynh chỉ điểm. Hư Trúc phạm sắc giới không phải là nói về bốn vị cô nương này. Y đã qui đầu phái khác, làm chủ nhân cung Linh Thứu trên Đại Tuyết Sơn. Bốn cô này là thị tỳ của chủ cũ cung Linh Thứu, lẻn vào bản tự là có ý phụng thị chủ nhân mới, Hư Trúc tuyệt nhiên không biết. Chùa Thiếu Lâm phòng vệ sơ hở, tự thấy xấu hổ, không bắt tội Hư Trúc về việc này.”

Đồng Mỗ tuy bản lĩnh cao cường nhưng mụ chưa hề vào Trung Nguyên, chỉ giao thiệp với bọn đảo chúa động chúa ở hải ngoại. Vì thế nên quần tăng không hiểu gì về cung Linh Thứu, chỉ có Cưu Ma Trí ở nước Thổ Phồn đã nghe nói tới, nhưng cũng không biết rõ lắm.

Đạo Thanh đại sư nói: “Nếu đã như thế, người ngoài chẳng nên can dự nhiều làm gì.” Cưu Ma Trí, Triết La Tinh và bọn Thần Sơn Thượng Nhân tuy chẳng ưa gì chùa Thiếu Lâm, nhưng cũng thấy Huyền Từ chí công vô tư, không bao che tội lỗi. Người ngoài chẳng biết Hư Trúc phạm phải những giới luật gì, mà đại sư cũng tuyên bố công khai, họ bất giác kính phục phần nào.

Huyền Tịch tiến ra một bước, dõng dạc nói: “Hư Trúc! Phương trượng đã luận tội, ngươi có công nhận không? Có muốn giải thích gì nữa không?” Hư Trúc đáp: “Đệ tử thừa nhận đã phạm trong tội, mong sư thúc tổ chiếu luật mà trừng trị. Đệ tử không giải thích được gì nữa.”

Quần tăng nghe vậy đều xao xuyến trong lòng, đưa mắt nhìn Huyền Tịch chờ xem lão xử trí thế nào. Huyền Tịch dõng dạc tuyên bố: “Hư Trúc phạm vào bốn giới luật: Huân Tửu Sắc Sát, xử phạt một trăm côn. Ngươi có tâm phục không?” Hư Trúc biết đánh đòn một trăm côn không phải là nhẹ, nhưng y cũng chịu nổi, vội đáp: “Sư thúc tổ từ bi, Hư Trúc tâm phục.” Huyền Tịch lại tiếp: “Ngươi không được chưởng môn phương trượng và sư phụ cho phép mà dám đi học võ nghệ phái khác. Ta xử phạt ngươi phải phế bỏ toàn thể võ công phái Thiếu Lâm, từ hôm nay không kể là đệ tử bản phái nữa. Ngươi có tâm phục không?”

Hư Trúc đau xót vô cùng, nhưng biết rằng chuyện này không thể vãn hồi được nữa, liền đáp: “Đệ tử phạm tội đáng chết. Sư thúc tổ phán xử rất công bằng.”

Những cao tăng phái khác vừa xem Hư Trúc tỉ đấu cùng Cưu Ma Trí, thấy y chỉ dùng Vi Đà Chưởng và La Hán Quyền là hai môn võ công nhập môn của phái Thiếu Lâm đã trổ thần oai, nhưng họ chưa biết võ công Hư Trúc thực ra không phải của phái Thiếu Lâm. Cưu Ma Trí tự xưng thông suốt hết bảy mươi hai tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm, nhưng lão chỉ hiểu về chiêu thức bên ngoài, còn nội công Thiếu Lâm thì lão biết rất ít. Vừa rồi Hư Trúc cùng lão tỉ đấu đã thi triển nhiều loại công phu, Tiểu Vô Tướng Công thì dĩ nhiên lão biết, nhưng mấy môn Bắc Minh chân khí, Thiên Sơn Lục Dương Chưởng, Thiên Sơn Chiết Mai Thủ hết sức cao thâm, lão vẫn tưởng là võ công của phái Thiếu Lâm. Bây giờ lão nghe Huyền Tịch tuyên bố phế võ công Thiếu Lâm của Hư Trúc thì cả mừng nghĩ thầm: “Các ngươi có trường thành mà tự phá đi, ta thật là bỏ được mối lo trong gan ruột, chẳng còn gì hay hơn nữa.” Mấy vị cao tăng Giác Hiền, Đạo Thanh thì âm thầm than thở: “Đáng tiếc, đáng tiếc!”

Huyền Tịch lại tiếp: “Hư Trúc! Ngươi đã là chưởng môn phái Tiêu Dao, chủ nhân cung Linh Thứu, bắt buộc phải hoàn tục, không được làm Phật môn đệ tử. Bắt đầu từ hôm nay ngươi không phải là tăng lữ chùa Thiếu Lâm nữa. Ngươi có tâm phục không?”

Hư Trúc không cha không mẹ, vào chùa từ lúc mới sinh, được chùa nuôi dưỡng đến khôn lớn nên người. Phật pháp thì y chưa lĩnh hội được nhiều, nhưng chùa Thiếu Lâm là nơi thân thiết nhất trên đời của y. Y nghe tuyên bố mình bị trục xuất thì trong lòng vô cùng thê thảm, nước mắt chảy xuống như mưa, phục xuống đất khóc nức nở một hồi rồi nghẹn ngào đáp: “Tại chùa Thiếu Lâm, từ phương trượng đại sư cho đến các vị sư bá tổ, sư thúc tổ, sư phụ, sư bá, sư thúc, ai đối với đệ tử cũng đều ân thâm nghĩa trọng. Đệ tử bất hiếu, thật đã phụ công dạy dỗ của các vị.”

Đạo Thanh đại sư không nhịn được nữa, lại lên tiếng năn nỉ: “Phương trượng sư huynh! Huyền Tịch sư huynh! Như lão tăng thấy thì rõ ràng vị tiểu huynh đây đã rời khỏi bến mê, quay về chính đạo, thực tâm hối cải. Sao các vị không mở cho y một con đường sám hối?”

Huyền Từ đáp: “Sư huynh chỉ điểm rất chí lý, nhưng cửa Phật mênh mông, chỗ nào y cũng có thể dung thân. Hư Trúc! Chúng ta phạt ngươi phải rời bản tự, không phải là do ác tâm. Những tự viện trang nghiêm trong thiên hạ có đến hàng ngàn hàng vạn. Nếu ngươi còn có ý niệm qui y tam bảo, thì sau khi hoàn tục vẫn có thể xin vào chùa khác để thí phát quy y, bái cao tăng khác làm thầy, thanh tĩnh thân tâm, đến bờ giác ngộ. Nếu ngươi không muốn xuất gia thì vẫn có thể làm một vị cư sĩ tại gia, chuyên làm điều thiện, một lòng theo chính đạo, vẫn có thể đại giác đại ngộ thành Phật.” Thanh âm của Huyền Tịch càng về sau càng hiền từ, khuyên răn đầy vẻ ân cần. Hư Trúc ngậm ngùi thi lễ rồi đáp: “Lời của phương trượng sư bá tổ đã dạy, đệ tử không dám quên.”

Huyền Tịch lại nói: “Tuệ Luân nghe đây!” Tuệ Luân tiến ra mấy bước rồi chắp tay quì xuống. Huyền Tịch nói: “Tuệ Luân! Ngươi là sư phụ của Hư Trúc mà không chăm lo giáo huấn, để đồ đệ chưa sạch tam nghiệp lục căn, đến nỗi gây ra tai vạ ngày nay. Phạt đòn ngươi ba mươi côn lớn, rồi vào Giới Luật Viện diện bích ba năm để sám hối, ngươi có tâm phục không?” Tuệ Luân run giọng đáp: “Đệ tử tâm phục.”

Hư Trúc cất tiếng: “Sư bá tổ! Đệ tử xin chịu thay ba mươi côn cho sư phụ.” Huyền Tịch gật gật đầu nói: “Như thế cũng được, vậy Hư Trúc phải chịu một trăm ba mươi côn. Chưởng hình đệ tử, chuẩn bị thi hành. Lúc này Hư Trúc còn là hòa thượng Thiếu Lâm, chúng ta phải xử phạt nghiêm minh, không được khinh suất chút nào. Sau khi Hư Trúc ra khỏi chùa thì y là chưởng môn phái khác, không can dự gì đến bản tự nữa, đệ tử bản phái từ trên xuống dưới đều phải kính nể y.”

Bốn tên chưởng hình đệ tử lãnh mạng đi ra, chỉ chốc lát đã trở lại đại điện, mỗi tên xách một cây côn lớn. Huyền Tịch toan hạ lệnh thi hành án, đột nhiên một nhà sư hốt hoảng chạy vào giữa điện, hai tay cầm một tập danh thiếp, kính cẩn trao cho Huyền Từ rồi nói: “Bẩm phương trượng, quần hào ở Hà Sóc đến bái sơn.”

Huyền Từ liếc mắt xem qua tập danh thiếp, thấy có hơn ba chục tấm, toàn là của những anh hùng hào kiệt nổi tiếng ở phương Bắc, chưa nghĩ ra họ đến đột ngột về chuyện gì. Ngoài kia có tiếng người xôn xao, quần hào đã đến cổng chùa. Huyền Từ liền bảo: “Huyền Sinh sư đệ, mau ra cửa đón khách!” Đại sư lại nói: “Các vị sư huynh! Bản tự có khách đến thăm, việc thanh lý môn hộ phải tạm hoãn lại một chút để tỏ lòng kính khách phương xa”. Huyền Từ nói xong liền đứng dậy, ra trước thềm đại điện đứng chờ.

Chỉ một lúc đã thấy mấy chục người được Huyền Sinh cùng tri khách tăng đưa đến trước đại điện.

Các vị Huyền Từ, Huyền Tịch, Huyền Sinh… là những cao tăng Phật pháp uyên thâm, nhưng cũng là hảo thủ võ học, mỗi khi gặp võ lâm đồng đạo đều đối xử thân thiện. Lúc này đột nhiên có nhiều vị anh hùng tới thăm, tuy giữa lúc thanh lý môn hộ, đầu óc hết sức nặng nề, nhưng mấy vị cao tăng cũng bất giác phấn khởi trong lòng. Quần tăng chùa Thiếu Lâm xuống núi hành đạo cũng kết giao bạn hữu rất nhiều, trong quần hào đến đây có nhiều người là bằng hữu chi giao với các vị sư hàng chữ Huyền, chữ Tuệ. Mọi người gặp nhau tay bắt mặt mừng, ôn lại chuyện xưa, rồi chủ đón khách vào đại điện, dẫn đến chỗ Cưu Ma Trí, Triết La Tinh… giới thiệu. Thần Sơn, Quán Tâm… đều uy danh lừng lẫy, quần hào ai chưa gặp mặt thì cũng đã ngưỡng mộ từ lâu.

Huyền Từ đang muốn hỏi quần hào đến có việc gì, thì tri khách tăng lại vào báo có mấy chục nhân vật võ lâm ở vùng Sơn Đông và Hoài Nam đến bái sơn. Huyền Tâm liền bước ra nghênh tiếp. Một hán tử mặt đen lớn tiếng nói: “Trang bang chủ ở Cái Bang mời bọn ta đi coi vụ náo nhiệt, mà chính y lại chưa đến là sao?” Một giọng nói đầy âm khí trả lời: “Lão huynh làm sao vậy? Chúng ta đến đây coi vụ náo nhiệt thì cứ từ từ mà đợi, vội gì? Dĩ nhiên chúng ta là những vai làm rộn sân khấu thì phải đến trước, còn những vai chính thì phải từ từ xuất hiện.”

Huyền Từ niềm nở nói: “Chư vị không hẹn mà giá lâm, tệ tự thật là vinh hạnh. Nếu tiếp đãi có chỗ nào khiếm khuyết thì xin chư vị miễn thứ.” Quần hào cùng đáp: “Không dám, không dám! Phương trượng bất tất phải khách khí.”

Lúc ấy những tay hào kiệt có kết giao với chư tăng chùa Thiếu Lâm đã nói lý do đến chùa lần này. Thì ra quần hào đều nhận được anh hùng thiếp của bang chủ Cái Bang là Trang Tụ Hiền. Trong thiếp nói Thiếu Lâm và Cái Bang là hai phái ngang hàng Trung Nguyên, chưa có phái nào phụ thuộc phái nào. Trang Tụ Hiền mới nhậm chức bang chủ Cái Bang, có ý muốn lập một vị minh chủ của võ lâm Trung Nguyên, để ra hiệu lệnh cho võ lâm đồng đạo. Trang Tụ Hiền hẹn ngày rằm tháng sáu sẽ thân hành đến chùa Thiếu Lâm để thương thuyết cùng Huyền Từ phương trượng về việc này. Quần hào kể xong lại lấy anh hùng thiếp đưa cho xem. Lời lẽ trong thiếp tuy rất khiêm tốn nhưng rõ ràng có ngụ ý, minh chủ võ lâm ngoài hắn thì còn ai nữa? Vậy thì Trang Tụ Hiền đến chùa Thiếu Lâm là có ý định dùng võ công để đánh bại quần tăng chùa Thiếu Lâm, áp đảo oai phong lừng lẫy mấy trăm năm của phái này.

Trong thiếp không nói gì đến chuyện mời quần hùng tới chùa Thiếu Lâm để xem tỉ đấu, nhưng phần lớn nhân vật võ lâm đều hiếu động chứ không hiếu tĩnh. Lần này hai phái lớn là Cái Bang và Thiếu Lâm long tranh hổ đấu, ai mà không muốn đi xem tận mắt? Vì thế, quần hào chẳng ai bảo ai đều lục tục kéo đến. Câu cửa miệng của mọi người lúc này là: “Trang Tụ Hiền là ai?” Ai cũng hỏi mà chẳng ai trả lời.

Phương trượng Huyền Từ cùng các sư huynh đệ đã bàn luận mấy ngày, cho rằng gã Trang Tụ Hiền này chắc hẳn là Kiều Phong đổi tên. Với võ công cơ trí của hắn, muốn giết mấy trưởng lão đối nghịch để đoạt lại ngôi bang chủ Cái Bang thì chẳng khó gì. Nếu không phải hắn, thì trước nay Cái Bang cùng Thiếu Lâm đời đời giao hảo, sao lại có cuộc khiêu chiến này? Thiên hạ đều biết cuộc đại chiến của Kiều Phong ở Tụ Hiền Trang, hắn lấy tên là Trang Tụ Hiền là đã rõ lai lịch lắm rồi.

Chẳng bao lâu, quần hào từ Lưỡng Hồ, Giang Nam, ở Xuyên Thiểm, rồi ở Lưỡng Quảng đều có mặt tại chùa Thiếu Lâm. Quần hùng hai phương Nam Bắc cách xa ngàn dặm mà đều đến trong một ngày, đủ biết bọn Cái Bang chuẩn bị từ lâu, họ đã gửi anh hùng thiếp đi các nơi từ trước đây một hai tháng. Huyền Từ cùng các vị lão tăng tuy không nói gì, nhưng trong lòng vừa phẫn nộ vừa lo lắng, hành động này của Cái Bang thật là vô lễ. Mấy hôm trước Trang Tụ Hiền đã cho người đưa thư nói về việc lựa chọn minh chủ võ lâm, trong thư chỉ nói hắn sẽ kính cẩn đến bái sơn để nghe phương trượng Huyền Từ chỉ giáo, không định rõ kỳ hạn mà cũng không nói gì đến chuyện mời anh hùng thiên hạ. Đột nhiên quần hào kéo đến nơi, khiến cho chùa Thiếu Lâm phải bối rối không kịp chuẩn bị. Cái Bang chuẩn bị vụ này đã lâu, thế mà phái Thiếu Lâm giao du rất rộng trên giang hồ cũng chưa hay biết gì, chưa bắt đầu tỉ thí mà phái Thiếu Lâm đã kém thế. Dường như Cái Bang đã nắm chắc phần thắng, không nói rõ là mời quần hào tham dự là vì muốn tránh tiếng tự đưa mình lên chức minh chủ võ lâm, nhưng họ tự động gửi thiếp đi khắp thiên hạ thì cũng chẳng khác gì đã mời mọi người đến đây. Quần tăng đều nghĩ thầm: “Cái Bang không mời bọn ta đến tổng đà của họ, ngoài mặt là Trang bang chủ muốn giữ lễ độ nên đích thân đến đây, nhưng thực ra là muốn bọn ta trở tay không kịp.”

Huyền Sinh quay sang hỏi vị hảo hữu ở Hà Bắc là Thần đàn tử Gia Cát Trung: “Hay lắm! Gia Cát lão nhi, lão đã biết tin mà sao không báo cho ta? Thế là mối giao tình ba mươi năm của chúng ta coi như sổ toẹt.” Gia Cát Trung đỏ mặt giải thích: “Ta… ta nhận được thiếp mới có ba ngày, bỏ cả bữa cơm chưa kịp ăn, đi suốt ngày đêm. Ta chỉ sợ lỡ kỳ hạn, không kịp đến tiếp tay cho lão trọc thối tha, mà phi đến chết hai con tuấn mã dọc đường. Thế mà lão trọc còn trách ta nữa ư?” Huyền Sinh bật cười đáp: “Lão đến đây là có lòng tốt lắm rồi!” Gia Cát Trung nói: “Lại còn không tốt ư? Võ công phái Thiếu Lâm của ngươi vốn đã cao cường, ca ca đến đây reo hò trợ oai cũng được chứ sao. Phương trượng của ngươi có gửi anh hùng thiếp hẹn đến mùng chín tháng chín lên Thiếu Lâm Tự họp bàn vụ đối phó với nhà Mộ Dung, thế là ca ca coi như đi sớm mấy tháng.”

Huyền Sinh nghe vậy đã biết lão rất chân thành, chỉ vì đường sá xa xôi nên không báo tin kịp. Lão tăng lại đi hỏi các vị anh hào, thì ra ai ở xa Cái Bang gửi thiếp trước, ai ở gần họ gửi thiếp sau, nên ai cũng chạy suốt ngày đêm, ngựa không dừng vó mới đến kịp. Bọn Cái Bang định kế hoạch rất chính xác, tính đúng lộ trình, không ai có thể tới sớm dù chỉ một ngày, vì thế mà tất cả bằng hữu của phái Thiếu Lâm đều không kịp đưa tin. Nhưng bang chủ cùng bang chúng Cái Bang chưa tới ngay mà đợi cho quần hào đến trước một lúc, muốn thiên hạ biết họ không phải là người gây sự. Thật không hiểu bọn chúng còn âm mưu lợi hại nào khác nữa không.

Rằm tháng sáu, tiết trời nóng nực, hôm nay quần tăng Thiếu Lâm phải ứng phó với bọn Thần Sơn Thượng Nhân cùng Triết La Tinh, phải tỉ đấu với Cưu Ma Trí, lại phải xét xử Hư Trúc, mọi người đều hao tổn tinh thần. Đột nhiên quần hùng nhất tề kéo đến chùa, tuy tăng lữ rất đông nhưng sự việc quá bất ngờ nên ai nấy không khỏi cuống quít. May mà thủ tòa Tri Khách Viện là Huyền Tĩnh đại sư có tài quán xuyến, vật liệu trong chùa cũng tích trữ nhiều, nên việc tiếp đãi quần hào không đến nỗi khiếm khuyết.

Bọn Huyền Từ tiếp khách rất bận rộn, không rảnh chút nào để thương nghị đại sự, ai cũng hoang mang. Bỗng tri khách tăng lại vào báo: “Trấn Nam Vương nước Đại Lý là Đoàn điện hạ giá lâm.”

Về vụ Huyền Bi đại sư của phái Thiếu Lâm trúng Vi Đà Chử mà chết, Đoàn Chính Thuần đã vâng lệnh hoàng huynh đi bái kiến Huyền Từ phương trượng rồi. Họ Đoàn ở Đại Lý vốn là bạn của phái Thiếu Lâm, lúc này đến giúp một tay thật là đúng lúc, Huyền Từ cả mừng hỏi lại: “Đoàn vương gia nước Đại Lý còn ở Trung Nguyên ư?” Rồi phương trượng vội dẫn quần tăng ra nghênh tiếp. Huyền Từ tái hội cùng Đoàn Chính Thuần và bọn thuộc hạ Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn, Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần… chào hỏi mấy câu rồi dẫn vào đại điện giới thiệu với quần hùng.

Người được giới thiệu đầu tiên là Cưu Ma Trí, quốc sư nước Thổ Phồn. Đoàn Chính Thuần đột nhiên biến sắc, chắp tay nói: “Khuyển tử là Đoàn Dự đã được Minh Vương ưu ái dẫn đi du ngoạn. Khuyển tử có kể dọc đường đã được Minh Vương giáo huấn rất nhiều điều bổ ích. Đoàn mỗ cảm kích vô cùng, xin có lời cảm tạ.” Cưu Ma Trí mỉm cười đáp: “Không dám! Đoàn công tử có đến đây không?” Đoàn Chính Thuần đáp: “Khuyển tử không biết đang ở đâu, cũng không hiểu có lọt vào tay tên ác tăng nào nữa không, xin quốc sư chỉ giáo.” Cưu Ma Trí lắc đầu lia lịa, đáp: “Chuyện của Đoàn công tử, tiểu tăng có được biết. Ôi! Đáng tiếc ơi là đáng tiếc!”.

Đoàn Chính Thuần trống ngực đánh thình thình, tưởng là Đoàn Dự đã gặp chuyện gì bất trắc, vội hỏi: “Minh Vương nói vậy là có ý gì?” Ông đã từng trải bao nguy hiểm, nhưng nghĩ đến con mình gặp nguy hiểm, bất giác giọng nói lạc hẳn đi.

Mấy tháng trước hai cha con đã gặp nhau sau vụ Lung Á Lão Nhân tổ chức kỳ hội, nhưng sau đó. Đoàn Dự lại nửa đêm trốn đi. Đã mấy tháng nay Đoàn Chính Thuần không thấy dấu tích gì của chàng, một chút tin tức phong thanh cũng không nghe. Ông cứ lo sợ con trai lại rơi vào độc thủ của bọn Đoàn Diên Khánh, Cưu Ma Trí hay Đinh Xuân Thu, chẳng lúc nào được yên tâm. Phen này ông được tin tân bang chủ Cái Bang là Trang Tụ Hiền gây sự với chùa Thiếu Lâm về ngôi minh chủ võ lâm, bèn nghĩ rằng chỗ quần hùng tụ hội ắt dễ nghe tin tức con trai. Vả lại họ Đoàn ở Đại Lý cũng là một võ lâm thế gia, đối với vụ Cái Bang cùng Thiếu Lâm tranh ngôi minh chủ võ lâm cũng phải quan tâm.

Cưu Ma Trí đáp: “Khi tiểu tăng đến Thiên Long bảo tự có được bái kiến Khô Vinh đại sư, Bản Nhân phương trượng cùng lệnh huynh, thấy vị nào cũng thần định khí nhàn, trang nghiêm trầm tĩnh, thật là những bậc cao sĩ. Trấn Nam Vương oai danh lừng thiên hạ, sao lại cưng chiều công tử chẳng khác nữ nhân?”

Đoàn Chính Thuần trấn định tâm thần, nghĩ thầm: “Giả tỉ Dự nhi đã gặp chuyện bất trắc thì mình hoang mang cũng vô ích, chỉ khiến lão Phiên tăng này coi thường.” Ông bèn đáp: “Thương yêu con cái là lẽ thường tình, nếu người đời chẳng ai sinh con đẻ cái, nuôi dưỡng nâng niu thì e rằng chẳng còn người nào nữa. Bọn tại hạ là phàm phu tục tử, làm sao so được với quốc sư là một bậc cao tăng từ bi đức độ, tứ đại giai không?”

Cưu Ma Trí mỉm cười nói: “Lúc mới gặp, tiểu tăng thấy lệnh lang tướng mạo phi thường, những tưởng sẽ làm rạng rỡ Đoàn môn, trở thành một vị minh quân của Đại Lý, tạo phúc cho trăm vạn lê dân ở cõi Thiên Nam.” Đoàn Chính Thuần đáp: “Không dám!”, nghĩ thầm: “Lão trọc này thật là khả ố, ruột mình nóng như lửa đốt mà lão toàn nói chuyện đâu đâu.”

Cưu Ma Trí thở dài nói: “Hỡi ơi, thực là đáng tiếc! Ai mà ngờ được Đoàn quân lại kém bề phúc đức…” Lão thấy Đoàn Chính Thuần sợ tái mặt, lại mỉm cười nói tiếp: “Lệnh lang khi đến Trung Nguyên đã gặp một cô nương xinh đẹp, rồi từ đó bám gót không rời, bao nhiêu hùng tâm tráng chí đều tiêu tan hết. Cô nương kia đi hướng Đông là lệnh lang đi hướng Đông, cô nương kia đi hướng Tây là lệnh lang đi hướng Tây. Ai thấy vậy cũng trách lệnh lang là kẻ du tử phong lưu, là hạng tử đệ khinh bạc không chịu lo sự nghiệp. Như vậy còn chưa đáng tiếc ư?”

Bỗng nghe có tiếng cười của một thiếu phụ, nhưng mọi người nhìn xem ai cười thì lại là một hán tử trung niên mặt mũi dữ tợn. Người này chính là Nguyễn Tinh Trúc, mấy tháng nay bà được kề cận Đoàn Chính Thuần, lần này cũng theo ông đến Thiếu Lâm Tự. Qui củ của chùa Thiếu Lâm vốn không cho nữ nhân vào chùa nên bà phải cải dạng nam trang. Bà là mẫu thân của A Châu, có tài cải trang thiên phú, lúc này giả làm nam nhân từ hình dung đến cử chỉ chỗ nào cũng giống, không như bốn cô Tứ Kiếm ở cung Linh Thứu ai nhìn kỹ cũng phát giác ngay. Nhưng bà chưa đạt tới mức như A Châu, nên lúc buột miệng cười, thanh âm lại dịu dàng uyển chuyển. Nguyễn Tinh Trúc thấy mọi người chăm chú nhìn mình, mới sửa giọng ồ ồ nói: “Tiểu vương tử của Đoàn gia nước Đại Lý đúng là gia học uyên nguyên, tướng môn hổ tử. Khá lắm, khá lắm!”

Đoàn Chính Thuần đi tới đâu gieo nợ tình tới đó, tiếng tăm đã đồn khắp giang hồ. Bây giờ Đoàn Dự điên đảo vì Vương Ngữ Yên, mụ lại mỉa mai nào là “gia học uyên nguyên” cùng “tướng môn hổ tử”, quần hùng nghe không khỏi nhìn nhau cười thầm.

Đoàn Chính Thuần cũng cười ha hả, nhìn Cưu Ma Trí nói: “Thằng nhỏ đó hư quá…” Cưu Ma Trí ngắt lời: “Y có hư đâu? Y ngoan lắm đấy chứ!” Đoàn Chính Thuần biết Cưu Ma Trí chế giễu cậu quý tử giống mình phong lưu lãng mạn, nhưng không tức tối gì mà hỏi ngay: “Không hiểu hiện giờ nó ở phương nào, nếu quốc sư biết tin tức thì xin chỉ giúp!” Cưu Ma Trí lắc đầu đáp: “Đoàn công tử không vượt nổi tù ngục ái tình, ngày đêm tương tư đau khổ. Lúc tiểu tăng gặp y thì chỉ thấy da với xương, mặt vàng như nghệ, bây giờ khó mà biết được y còn sống hay đã chết.”

Đột nhiên một nhà sư trẻ tuổi tiến ra, cung kính thi lễ với Đoàn Chính Thuần rồi nói: “Vương gia bất tất phải lo nghĩ. Đoàn tam đệ vẫn tinh thần sáng suốt, thân thể khỏe mạnh.” Đoàn Chính Thuần đáp lễ, cảm thấy ngạc nhiên. Ông thấy người này ăn mặc theo kiểu tăng nhân tiểu bối chùa Thiếu Lâm, không hiểu sao y lại gọi Đoàn Dự là tam đệ, liền hỏi lại: “Tiểu sư phụ mới gặp nó ư?” Nhà sư trẻ tuổi này chính là Hư Trúc. Y đáp: “Vâng. Hôm trước tiểu điệt cùng tam đệ ở cung Linh Thứu uống rượu say mèm…”

Đột nhiên thanh âm Đoàn Dự từ ngoài điện vang lên: “Gia gia! Hài nhi ở đây. Lão nhân gia có mạnh khỏe không?” Câu nói vừa dứt, một người chạy vọt vào trong điện, nhảy xổ vào lòng Đoàn Chính Thuần, chính là Đoàn Dự. Chàng nội công thâm hậu, mắt tinh tai thính, vừa đến cổng chùa đã nghe tiếng phụ thân đối đáp cùng Hư Trúc, không kiên nhẫn nổi liền thi triển Lăng Ba Vi Bộ để chạy vào cho lẹ.

Cha con gặp nhau, vui mừng không tả nổi. Đoàn Chính Thuần thấy con mình tuy có vẻ phong sương nhưng tinh thần cực kỳ tráng kiện, không phải “chỉ thấy da với xương, mặt vàng như nghệ” như Cưu Ma Trí vừa nói.

Đoàn Dự quay đầu lại nhìn Hư Trúc hỏi: “Nhị ca lại làm hòa thượng rồi ư?” Phen này Hư Trúc về chùa đã thành tâm sám hối, quì trước tượng Phật hàng nửa ngày trời, thế mà vừa thấy Đoàn Dự lập tức nhớ đến nữ lang trong mộng, bất giác mặt đỏ ra đến mang tai, hổ thẹn đến không dám mở miệng nói gì.

Cưu Ma Trí nghĩ thầm, nếu Vương Ngữ Yên không gần đây, thì dù Thiếu Lâm Tự có chuyện lớn tày trời cũng chẳng ai kéo nổi vị Đoàn công tử si tình này lên núi Thiếu Thất. Nhưng Vương Ngữ Yên lại có thâm tình với biểu huynh, nhất quyết chẳng chịu chia tay Mộ Dung Phục. Lão bèn vận khí gọi to: “Mộ Dung công tử! Đã lên núi Thiếu Thất, sao không vào chùa lễ Phật?”

Danh hiệu của Mộ Dung công tử thật không phải nhỏ. Quần hùng đều ngơ ngác nghĩ thầm: “Thì ra Cô Tô Mộ Dung công tử cũng đến rồi. Sao mình chưa thấy gì mà lão Phiên tăng này đã biết trước?”

Không ngờ ngoài cổng chùa vẫn chẳng thấy động tĩnh gì. Một lúc sau vẫn chỉ nghe tiếng dội từ vách núi xa xa vọng về: “Mộ Dung công tử… Thiếu Thất… lễ Phật…”

Cưu Ma Trí chợt nghĩ: “Thì ra lần này ta đoán sai, nếu Mộ Dung Phục đã lên núi Thiếu Thất thì nhất định hắn phải đáp lời ta.” Lão ngửa mặt lên trời cười ha hả, đang định nói mấy câu đánh trống lảng thì bỗng một thanh âm quái gở vang lên: “Mộ Dung công tử đang đánh nhau ác liệt với Đinh Lão Quái. Khi công tử giết xong lão quái sẽ lên núi Thiếu Thất lễ Phật.”

Cha con Đoàn Chính Thuần, Đoàn Dự vừa nghe đã biến sắc. Đây chính là thanh âm của Ác quán mãn doanh Đoàn Diên Khánh. Ngay lúc đó Đoàn Diên Khánh mình mặc áo bào xanh, tay chống đôi thiết trượng tiến vào đại điện. Theo sau lão là Vô ác bất tác Diệp Nhị Nương, Hung thần ác sát Nam Hải Ngạc Thần, Cùng hung cực ác Vân Trung Hạc, cả Tứ Đại Ác Nhân đều đến.

Huyền Từ phương trượng đón khách, bất luận thiện ác đều theo đúng lễ nghi. Thiếu Lâm Tự vốn không tiếp nữ khách, nhưng lần này Huyền Từ phương trượng thấy Diệp Nhị Nương cũng chỉ hơi giật mình, rồi chẳng nói gì nữa. Quần tăng đều nghĩ: “Hôm nay trong chùa quá đông người, việc không tiếp nữ khách chỉ là chuyện nhỏ, bất tất phải gây thêm phiền phức.”

Nam Hải Ngạc Thần vừa thấy Đoàn Dự thì thẹn đỏ mặt, quay lưng định lờ đi. Đoàn Dự cười nói: “Đồ nhi! Độ này có mạnh khỏe không?” Nam Hải Ngạc Thần nghe chàng gọi mình là đồ nhi, biết không thể trốn tránh được, liền tức giận thóa mạ: “Con mẹ nó! Gã sư phụ thối tha này vẫn chưa chết ư?” Phần lớn quần hùng trong đại điện không rõ nội tình, thấy một người nho nhã như Đoàn Dự gọi một tên hung thần là “đồ nhi” đã ngạc nhiên, khi nghe chính miệng hắn gọi Đoàn Dự là sư phụ mà ngôn từ vô lễ, lại càng thấy kỳ lạ.

Diệp Nhị Nương mỉm cười lên tiếng: “Đinh Xuân Thu đại hiển thần thông, đánh Mộ Dung công tử đến không trả đòn được. Sao bọn ta không ra đó mà xem?” Đoàn Dự la lớn: “Ôi chao!” rồi lập tức vọt ra khỏi điện.

***

Lúc Hư Trúc đã làm chủ tình hình ở cung Linh Thứu, bọn sáu người Mộ Dung Phục, Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác, Vương Ngữ Yên cùng xuống núi Tiêu Dao. Cả bọn đều thấy mình tham gia vào vụ nổi loạn trong cung Linh Thứu đã là vô lý, nổi loạn bất thành thì lại càng chẳng hứng thú gì, mặt mày bí xị. Chỉ riêng Vương Ngữ Yên là cười nói được, khi nàng ở cạnh biểu ca thì cõi nhân gian biến thành cực lạc.

Sáu người đi theo hướng Đông trở về Trung Nguyên. Một buổi chiều, họ đang đi ngang một khu rừng rậm thì đột nhiên Phong Ba Ác la lớn: “Có mùi máu.” Y rút soạt thanh đơn đao, đi đến chỗ có mùi, nghĩ thầm: “Mười chỗ có mùi máu thì hết chín chỗ có đánh nhau.” Y chạy thẳng vào, mùi máu càng lúc càng nồng, đột nhiên thấy mười mấy thi thể ngổn ngang, binh khí tứ tán, máu đọng chưa khô, hiển nhiên chết chưa lâu. Trận đại chiến này đã kết thúc rồi. Phong Ba Ác dừng lại than: “Chao ôi! Ta lại đến chậm một bước.”

Bọn Mộ Dung Phục cũng đến nơi, thấy các thi thể đều mặc quần áo lam lũ, lưng đeo túi vải, đều là người trong Cái Bang. Công Dã Càn hỏi: “Có người là đệ tử bốn túi, có người năm túi, không hiểu sao đều chết ở đây?” Đặng Bách Xuyên nói: “Chúng ta nên chôn cất mấy cái tử thi này.” Công Dã Càn hưởng ứng: “Đúng thế. Công tử cùng Vương cô nương hãy sang bên kia nghỉ chân, để bốn người bọn thuộc hạ thu dọn chỗ này.” Y liền nhặt một cây thiết côn, bắt đầu đào hố. Bỗng nhiên trong đám thi thể có tiếng rên rỉ, Vương Ngữ Yên kinh hãi níu lấy tay Mộ Dung Phục.

Phong Ba Ác chạy đến la lên: “Lão huynh chưa chết ư?” Trong đám thi thể có một người từ từ ngồi dậy, mở miệng nói: “Ta chưa chết, nhưng… cũng… sắp chết rồi.” Đó là một lão cái trạc ngũ tuần, tóc hoa râm, mặt đầy vết máu trông rất dễ sợ. Phong Ba Ác lập tức móc ra một viên thuốc trị thương nhét vào miệng lão.

Lão cái nuốt viên thuốc, rồi lại nói: “Chắc không ăn thua gì đâu. Bụng ta trúng hai đao, không sống được nữa rồi.” Phong Ba Ác hỏi: “Ai đã ra tay hại các vị?” Lão cái lắc đầu đáp: “Nói ra xấu hổ, chính là nội loạn trong Cái Bang chúng ta.” Hai gã Phong Ba Ác. Bao Bất Đồng đều “A” lên một tiếng. Lão cái nói: “Lẽ ra không nên nói với người ngoài, nhưng tình thế đã nát bét đến thế này thì không giấu giếm được nữa. Không biết quí tính đại danh các vị là gì, đa tạ đã ra tay giúp đỡ… Đệ tử Cái Bang tự tàn sát lẫn nhau…, đồng đạo võ lâm chưa từng quen biết lại cứu giúp. Vừa rồi… nghe các vị định chôn cất thi thể bọn ta, tấm lòng nhân nghĩa đến thế, lão… lão vô cùng… cảm kích.” Bao Bất Đồng cãi: “Sai bét, sai bét! Ngươi chưa chết, không phải là thi thể. Dĩ nhiên chúng ta không định chôn ngươi, sao ngươi lại cảm kích chuyện đó?” Lão cái nói: “Huynh đệ Cái Bang… giết chúng ta, lại không thèm đắp điếm thi thể, còn nói gì là… hảo huynh đệ nữa? Thật là không bằng… giống cầm thú.” Bao Bất Đồng toan cãi là cầm thú cũng không biết đắp điếm thi thể, nhưng gã thấy Mộ Dung Phục liếc mắt bèn thôi không nói nữa.

Lão cái lại nói: “Xin quí vị báo tin cho Ngô trưởng lão của tệ bang, nói rằng tân bang chủ là thằng lỏi Trang Tụ Hiền chỉ là hình nộm, hoàn toàn để tên gian tặc Toàn Quan Thanh điều khiển. Chúng ta không phục tên họ Trang làm bang chủ, Toàn Quan Thanh liền sai người đến giết. Bây giờ chúng lại toan đi gia hại Ngô trưởng lão, xin lão nhân gia hết sức đề phòng.”

Mộ Dung Phục gật gật đầu, nghĩ thầm: “Thì ra là thế.” Y đáp: “Lão huynh cứ yên tâm, chúng ta chắc chắn sẽ đưa tin. Nhưng không biết Ngô trưởng lão hiện đang đâu?” Lão cái hai mắt đã lạc thần, nhìn trân trân ra ngoài xa, từ từ lắc đầu nói: “Ta… ta cũng không biết.”

Mộ Dung Phục lại nói: “Cũng không sao. Chúng ta chỉ cần loan tin này ra giang hồ, tự nhiên sẽ truyền đến tai Ngô trưởng lão. Không chừng bọn Toàn Quan Thanh nghe được tin đồn, lại không dám gia hại Ngô trưởng lão nữa.” Lão cái gật đầu lia lịa, đáp: “Đúng thế, đúng thế! Xin đa tạ!” Mộ Dung Phục hỏi tiếp: “Lai lịch của tân bang chủ Trang Tụ Hiền của quí bang thế nào? Bọn ta ít hiểu biết, hôm nay mới nghe thấy cái tên đó lần đầu.” Lão cái giận dữ đáp: “Thằng lỏi đầu sắt này…”

Bọn Mộ Dung Phục cùng giật mình la lên: “Là tên quái nhân đầu sắt đó ư?” Lão cái đáp: “Ta từ Tây Hạ về, cũng chưa gặp hắn bao giờ, chỉ nghe huynh đệ trong bang kể lại. Tên tiểu tử đó vốn chụp một cái mặt nạ sắt trên đầu, sau này được Toàn Quan Thanh tìm cách lột ra. Ôi chao, mặt hắn bây giờ sứt sẹo ghê tởm hơn cả ma quỉ, nhưng chuyện đó thì khỏi cần nói làm gì. Thằng lỏi này võ công lợi hại vô cùng. Mấy tháng trước bản bang mở đại hội ở Quân Sơn để cử ra bang chủ, mọi người tranh luận mãi không quyết định được, cuối cùng phải dựa vào võ công cao thấp. Thằng lỏi đầu sắt đánh chết liên tiếp mười một cao thủ trong bang, hiển nhiên giành được ngôi bang chủ. Rất nhiều huynh đệ không phục, tên gian tặc Toàn Quan Thanh bèn…” Giọng lão càng lúc càng lào phào, tựa như sắp tuyệt khi đến nơi.

Đặng Bách Xuyên bèn nói: “Lão huynh! Để bọn ta xem vết thương đã. Trị thương xong rồi hãy kể tiếp.” Lão cái đáp: “Bụng thủng rồi, ruột đổ ra rồi… Đa tạ, bất quá…” Lão nói đến đây, gắng gượng đưa tay sờ sờ trong áo, nhưng yếu sức quá rồi. Công Dã Càn hiểu ý liền hỏi: “Phải chăng tôn giả muốn lấy vật gì ra?” Lão cái gật đầu, Công Dã Càn bèn dần dần lấy đồ vật trong bọc của lão ra, để vào lòng bàn tay lão. Nào là hỏa đao, hóa thạch, ám khí, thuốc men, lương khô, bạc vụn… đủ thứ, thứ nào cũng thấm đầy máu tươi.

Lão cái nói: “Ta… ta không xong rồi. Bản văn này rất quan trọng, mong ân công nghĩ tình đồng đạo giang hồ mà giao lại cho trưởng lão nào trong Cái Bang cũng được, chỉ đừng giao cho thằng lỏi đầu sắt hay tên gian tặc Toàn Quan Thanh. Tiểu lão ở dưới cửu tuyền cũng cảm kích đời đời.” Nói xong, lão đưa tay phải ra, không ngớt run run, lấy từ tay Công Dã Càn một tờ giấy lớn màu vàng, được xếp ngay ngắn.

Mộ Dung Phục nói: “Các hạ yên tâm. Thương thế của các hạ chắc là khó trị rồi, nhưng chúng ta bảo đảm sẽ trao bản văn này cho trưởng lão quí bang.” Y bèn cầm lấy tờ giấy vàng đó.

Vị lão cái nhỏ giọng nói: “Tại hạ họ Dịch, tên là Dịch Đại Bưu, phiền túc hạ chuyển lời. Ta ở Tây Hạ về, bản văn này là thông báo của quốc vương Tây Hạ kén phò mã. Chuyện này thật không nhỏ chút nào, liên quan đến vận khí cùng an nguy của Đại Tống. Nhưng ta vừa về đến Trung Nguyên đã bị bọn gian đồ bản bang hạ thủ, chỉ mong gặp được Ngô trưởng lão mà thuật lại, nào ngờ không gặp nữa rồi. Chỉ mong túc hạ nghĩ đến ngàn vạn sinh linh… sinh linh…” Lão không nói tiếp được nữa, thở mỗi lúc một gấp, đột nhiên thổ ra một bóng máu tươi, tròng mắt trợn ngược lên. Lão nhìn bộ mặt tuấn tú của Mộ Dung Phục bỗng nhớ tới một người, vội hỏi: “Các hạ là ai? Là Cô Tô… Cô Tô…”

Mộ Dung Phục đáp: “Không sai. Tại hạ là Mộ Dung Phục ở Cô Tô.” Lão cái quát lên: “Ngươi… ngươi là cừu nhân của bản bang…” Rồi lão đem hết sức tàn để giật lấy tờ giấy vàng trong tay Mộ Dung Phục.

Mộ Dung Phục để lão đoạt lại, nghĩ thầm: “Trước kia Cái Bang cho rằng ta giết chết phó bang chủ Mã Đại Nguyên của họ. Gần đây lời đồn đại đã giảm nhiều, nhưng người này mới ở Tây Hạ về chưa rõ tình hình, hiển nhiên vẫn coi ta là đại cừu nhân. Lão sắp chết rồi, thôi chẳng để ý làm gì nữa.”

Lão cái dùng sức cả hai tay, toàn xé bỏ tờ giấy, đột nhiên duỗi chân ra một cái, máu miệng ộc ra, đứt hơi chết rồi !

Phong Ba Ác gỡ tay lão lấy lại tờ giấy, thấy viết bằng bút son đầy chữ nước ngoài ngoằn ngoèo, dưới cùng có đóng một con dấu thật to. Công Dã Càn hiểu văn tự mấy nước, cầm lấy xem từ đầu đến cuối rồi nói: “Quả nhiên đây là bản văn của quốc vương Tây Hạ chiêu phò mã. Công chúa Tây Hạ đến tuổi cập kê, quốc vương muốn tìm một thanh niên chưa thành gia thất, khôi ngô tuấn tú, văn võ song toàn, đến tiết Trung Thu tháng tám năm nay sẽ mở cuộc tuyển chọn. Nhân sĩ bất luận nước nào, tự tin mình là nhân tài hạng nhất, đến trước ngày đó hãy gửi danh thiếp xin gặp, quốc vương sẽ sắp xếp tiếp kiến. Ai không được tuyển làm phò mã, cũng sẽ căn cứ vào tài đức mà thu dụng, phong cho quan tước. Dù người kém cỏi cũng được tặng thưởng vàng bạc…”

Công Dã Càn đọc chưa xong, Phong Ba Ác đã nổi lên cười ha hả rồi nói: “Vị nhân huynh Cái Bang này thật là tức cười. Y xách bản văn này từ Tây Hạ về, chẳng lẽ muốn tên ăn mày nào đi qua Tây Hạ xin làm phò mã ư?”

Bao Bất Đồng nói: “Sai bét, sai bét! Tứ đệ chưa hiểu đấy thôi. Các vị trưởng lão Cái bang tất nhiên đều vừa già vừa xấu, nhưng đệ tử trong bang thiếu gì người văn võ song toàn, thông minh tuấn tú? Nếu đệ tử nào trúng tuyển ngôi phò mã nước Tây Hạ thì Cái Bang không vinh dự hay sao?”. Đặng Bách Xuyên chau mày nói: “Trước nay thường nghe nói hảo hán Cái Bang chẳng ai mưu cầu công danh phú quý, sao lão Dịch Đại Bưu này lại bị lợi lộc mê hoặc đến thế?” Công Dã Càn nói: “Đại ca! Lão nói việc này không phải chuyện nhỏ, có quan hệ đến vận mệnh an nguy của nhà Đại Tống, còn bảo chúng ta nghĩ đến sinh linh thiên hạ gì gì đó. Nếu lão nói đúng sự thực thì không phải là họ cầu công danh phú quý cho Cái Bang đâu.” Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét!”

Công Dã Càn nhìn Bao Bất Đồng hỏi: “Tam đệ lại có cao kiến gì nữa?” Bao Bất Đồng đáp: “Nhị ca! Nhị ca hỏi tiểu đệ lại có cao kiến gì ư? Chữ “lại” đó tỏ ra đệ đã đưa ra cao kiến một lần rồi, nhưng đệ đã nói gì đâu? Như vậy đủ chứng minh nhị ca không tin là đệ có cao kiến chi hết, và ý tứ câu này phải hiểu là: “Bao lão tam lại nói tầm bậy gì đó?” Có phải thế không?”

Phong Ba Ác tuy ưa đánh nhau với người ngoài, song với huynh đệ thì gã không đánh. Còn Bao Bất Đồng có tính thích tranh luận, bất chấp kẻ thân người sơ, kẻ trên người dưới, ai nói gì không hợp ý là hắn cãi đến kỳ cùng. Công Dã Càn đã hiểu tính khí hắn, chỉ mỉm cười nói: “Tam đệ đã từng phát biểu vô số cao kiến. Chữ “lại” đây là thật sự mong ngươi “lại” có cao kiến.”

Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Lúc nhị ca nói câu này miệng cứ cười cười, nhất định không có thành ý.” Y còn muốn nói nữa, nhưng Đặng Bách Xuyên ngắt lời, hỏi: “Tam đệ! Theo ý kiến của tam đệ thì Dịch Đại Bưu lấy bảng văn tuyển phò mã nước Tây Hạ về, nhờ chúng ta giao cho trưởng lão Cái bang, là lão có dụng ý gì? Bao Bất Đồng đáp: “Cái này… tiểu đệ không phải Dịch Đại Bưu thì làm sao mà biết được lão có dụng ý gì?”

Mộ Dung Phục nhìn sang Công Dã Càn để hỏi ý kiến gã. Công Dã Càn mỉm cười nói: “Ý kiến của ta khác hẳn với Bao tam đệ.” Gã biết trước rằng bất luận mình nói gì, Bao Bất Đồng cũng phản đối, chi bằng nói chặn đầu trước đi là hơn. Bao Bất Đồng trợn mắt nhìn Công Dã Càn nói: “Sai bét, sai bét! Lần này nhị ca đoán sai rồi. Tiểu đệ nghĩ rằng nhị ca nghĩ thế nào thì tiểu đệ cũng nghĩ đúng như thế, không sai chút nào.” Công Dã Càn cười nói: “Thế thì tuyệt diệu!”

Mộ Dung Phục hỏi: “Nhị ca nghĩ thế nào?” Công Dã Càn đáp: “Hiện nay thiên hạ phân làm năm nước Đại Liêu, Đại Tống, Thổ Phồn, Tây Hạ và Đại Lý, trừ nước Đại Lý nhỏ bé ở nơi xa lánh tại Thiên Nam là không tranh giành với ai, còn bốn nước kia đều có chí thôn tính thiên hạ..

Bao Bất Đồng nói: “Nhị ca nói vậy là không đúng rồi. Nước Đại Yên ta hiện nay tuy không có đất đai cương thổ, nhưng công tử chẳng giờ phút nào là không nghĩ tới việc phục quốc. Biết đâu ngày sau Đại Yên ta lại tiếp bước oai hùng của tổ tiên mà trung hưng cơ nghiệp?”

Mộ Dung Phục, Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Phong Ba Ác đều đứng nghiêm chỉnh, vẻ mặt trang trọng đồng thanh nói: “Chí hướng phục quốc, nhất quyết không lúc nào quên được.” Rồi người rút đao, kẻ tuốt kiếm, vung binh khí lên ngang ngực.

Tổ tông của Mộ Dung Phục xưa kia vốn thuộc tộc Tiên Ty. Thời kỳ loạn Ngũ Hồ ở Trung Quốc, họ Mộ Dung dòng dõi Tiên Ty đánh Đông dẹp Bắc oai phong lừng lẫy, dựng ra mấy triều đại Tiền Yên, Hậu Yên, Nam Yên và Tây Yên. Về sau nhà Yên bị nhà Bắc Ngụy diệt, người họ Mộ Dung tản cư đi khắp nơi nhưng vẫn truyền đời dặn con cháu phải cố mà trung hưng phục quốc. Nhưng qua các triều đại Tùy Đường, họ Mộ Dung ngày càng suy yếu, triển vọng khôi phục Đại Yên ngày càng mờ mịt nhưng chí hướng vẫn chưa tắt hắn.

Đến cuối đời Ngũ Đại, trong họ Mộ Dung xuất hiện một nhân vật kỳ tài trăm đời cũng hiếm thấy là Mộ Dung Long Thành, sáng tạo ra tuyệt kỹ Đẩu Chuyển Tinh Di thế gian vô địch, dương danh thiên hạ. Mộ Dung Long Thành theo di huấn của tổ tông, tụ tập anh hùng, mưu toan phục quốc. Nhưng đại thế trong thiên hạ phân ly lâu ngày tất phải hợp lại, Triệu Khuông Dẫn đã dựng lên nhà Đại Tống, bốn bể thanh bình, lòng người đều mong thịnh trị. Mộ Dung Long Thành tuy võ công cao cường, rút cục cũng không làm được gì, chết trong uất hận.

Mấy đời sau, bao nhiêu tráng chí hùng tâm cùng võ công của Mộ Dung Long Thành dường như đã truyền cả lại cho Mộ Dung Phục. Nhưng đối với nhà Tống thì mưu đồ trung hưng Đại Yên lại là hành vi phản nghịch vô đạo, vì vậy Mộ Dung Phục chỉ ngấm ngầm tụ tập hào kiệt, tích thảo dồn lương, không lộ chút phong thanh nào ra ngoài. Trong võ lâm chỉ biết Cô Tô Mộ Dung là một thế gia võ công cực cao, hành vi kỳ bí gần như tà môn ngoại đạo, chẳng ai biết nhà Mộ Dung đang nuôi hoài bão chí lớn trong lòng. Hành động của nhà Mộ Dung khác hẳn những phái võ khác, người luyện võ tầm thường chỉ thấy Mộ Dung như cái đinh trước mắt, phái nào cũng ghen ghét. Công phu Gậy ông đập lưng ông lại càng tích thêm tiếng ác vào cho nhà Mộ Dung.

Lúc này ở nơi hoang dã bốn phía không người, Bao Bất Đồng đề cập đến chí lớn phục Yên, mọi người bất giác nổi dạ anh hào rút kiếm tuốt đao, khảng khái hiên ngang bày tỏ chí hướng.

Vương Ngữ Yên từ từ quay đi, lẳng lặng ra chỗ khác. Mẫu thân nàng vốn cho rằng chuyện xưng đế xưng vương chỉ là mộng tưởng hão huyền đã mấy trăm năm của họ Mộ Dung, việc phục quốc chẳng hy vọng gì, cái họa diệt tộc lại rõ ràng trước mắt. Vì thế mà mẫu thân nàng mới cấm cửa Mộ Dung Phục đến nhà, ẩn cư một nơi hẻo lánh ở Linh Hồ, không muốn quan hệ tới nhà Mộ Dung cho thêm rắc rối.

Công Dã Càn nhìn theo Vương Ngữ Yên một lúc, rồi nói: “Đại Liêu và Đại Tống đánh nhau đã mấy trăm năm, Đại Liêu tuy chiếm được thượng phong, nhưng muốn diệt được Đại Tống còn là chuyện khó. Tây Hạ cùng Thổ Phồn hùng cứ phương Tây, mỗi nước có đến mấy chục vạn tinh binh. Bất luận Tây Hạ hay Thổ Phồn mà chịu trợ giúp Đại Liêu thì nhà Đại Tống tất phải nguy ngập. Còn nếu một trong hai nước này giúp đỡ Đại Tống thì cái ngày diệt vong của Đại Liêu sắp đến.”

Phong Ba Ác lớn tiếng đáp: “Nhị ca nói đúng lắm. Trước nay Cái Bang vẫn trung thành với Tống triều, phen này lão Dịch Đại Bưu sang Tây Hạ lấy bảng văn về chắc là muốn nhà Đại Tống có tay thiếu niên anh hùng nào đi dự tuyển ngôi phò mã nước Tây Hạ. Giả tỉ Tống Hạ liên hôn với nhau, tất trở nên thiên hạ vô địch.”

Công Dã Càn gật đầu nói: “Nói là thiên hạ vô địch thì chưa chắc, nhưng nhà Đại Tống lương thảo phong phú của cải dồi dào, còn Tây Hạ binh cường mã tráng. Hai nước này mà liên minh với nhau thì Đại Liêu cùng Thổ Phồn đều không địch nổi, còn nước Đại Lý nhỏ xíu kia thì chẳng nhắc đến làm gì. Theo ta suy đoán, thì sau khi Tống Hạ liên minh, việc đầu tiên là họ thôn tính Đại Lý, sau đó mới đánh Liêu.” Đặng Bách Xuyên nói: “Chắc là Dịch Đại Bưu tính toán như thế, nhưng việc Tống Hạ liên minh không phải dễ dàng đâu. Các nước Đại Liêu, Thổ Phồn, Đại Lý mà biết tin này, nhất định tìm cách phá hoại.” Công Dã Càn nói: “Chẳng những họ bày kế phá hoại, mà họ đều muốn lấy công chúa Tây Hạ.”

Đặng Bách Xuyên nói: “Không hiểu công chúa Tây Hạ đẹp hay xấu, tính tình ôn nhu hòa nhã hay là ngang tàng ngỗ ngược?” Bao Bất Đồng cười ha hả nói: “Đại ca lo lắng làm chi? Chẳng lẽ đại ca muốn qua Tây Hạ ghi tên ứng tuyển để tranh ngôi phò mã hay sao?”

Đặng Bách Xuyên cười đáp: “Giả tỉ Đặng đại ca của tam đệ mới hai mươi tuổi, võ công cao gấp mười, hình mạo đẹp gấp trăm, thì ta đã lập tức bay qua Tây Hạ rồi.” Rồi gã nghiêm mặt nói tiếp: “Việc mưu đồ phục quốc của nước Đại Yên ta mấy trăm năm nay thủy chung vẫn như hoa trong gương, trăng dưới nước, không thành sự thực, xét cho cùng chỉ vì chưa được một lực lượng đáng kể nào viện trợ. Nếu họ Mộ Dung cùng nước Tây Hạ kết mối thân tình, khi chúng ta khởi nghĩa ở Trung Nguyên, Tây Hạ đưa quân viện trợ, thì đại sự làm sao mà không thành tựu?”

Công Dã Càn tán thưởng: “Đúng thế! Đời Xuân Thu, hai nước Tấn Tần liên hôn, Tấn công tử Trùng Nhĩ vong quốc chạy ra ngoài được Tần Mục Công cho quân giúp đỡ, cuối cùng xưng hiệu Tấn Văn Công lập bá nghiệp một thời.”

Bao Bất Đồng chỉ định nói chơi, thế mà nghe xong ý kiến của Đặng Bách Xuyên và Công Dã Càn, gã bèn gật đầu lia lịa nói: “Không sai! Chỉ mong rằng việc này giúp ích cho việc trung hưng phục quốc nước Đại Yên ta, còn công chúa Tây Hạ đẹp hay xấu, dịu dàng hay ngỗ ngược thì cũng không quan trọng. Giả tỉ quốc vương Tây Hạ chịu gả cho Bao lão tam một con heo nái, Bao lão tam cũng ráng nhắm mắt cưới làm vợ.”

Mọi người đều cười ồ, đưa mắt nhìn Mộ Dung Phục. Mộ Dung Phục hiểu bốn gã này muốn mình đi Tây Hạ ứng tuyển ngôi phò mã. Y nghĩ thầm: “Kể về tài mạo nhân phẩm, văn tài võ học thì hiện nay trên đời khó mà kiếm được một chàng trai đủ tư cách như mình, việc đi Tây Hạ cầu thân mười phần có thể nắm vững đến sáu bảy. Nhưng nếu quốc vương Tây Hạ tính tới gia thế thì mình tuy là dòng dõi vương tôn nước Đại Yên nhưng đã suy vong từ lâu rồi, ở Đại Tống mình chỉ là một tên bạch đinh áo vải. Nếu bốn nước Đại Tống, Đại Lý, Đại Liêu, Thổ Phồn phái vương công đến cầu hôn, thì mình không có chút danh vị nào, thua người ta là chắc chắn.” Y nghĩ đến đây, bất giác đưa mắt nhìn bảng văn.

Công Dã Càn đi theo Mộ Dung Phục đã lâu, đoán được tâm lý của y, bèn nói: “Trên bảng văn ghi rất rõ ràng. Người ứng tuyển không cần gia thế, chỉ cần nhân phẩm cùng bản lĩnh. Đã thành phò mã thì tự nhiên sẽ có tước vị, còn bản lĩnh thì không thể do vua chúa ký thánh chỉ ban tặng được. Công tử! Hùng tâm của họ Mộ Dung đã mấy trăm năm, nay đặt cả vào công tử…” Hắn nói đến đây, tâm thần kích động, âm thanh run rẩy.

Bao Bất Đồng nói: “Công tử làm Tấn Văn Công thì bốn huynh đệ chúng ta sẽ làm Hồ Mao, Hồ Yển, Giới Tử Thôi…” Y bất giác nghĩ tới Giới Tử Thôi về sau bị Tấn Văn Công thiêu sống, câu nói này quả là không nên chút nào, bèn cười rồi im bặt.

Mộ Dung Phục mặt trắng bệch ra, tay chân run rẩy. Y cũng thấy đây là cơ hội ngàn năm khó gặp, trước nay mỗi khi công chúa kiếm chồng đều do quốc vương sai đại thần làm mối mà tuyển chọn con cháu của đại quan trong nước, không hề thông cáo rộng rãi ra khắp thiên hạ để công khai lựa chọn như kiểu này. Y không tự chủ được, quay lại nhìn sau lưng Vương Ngữ Yên thì thấy nàng đứng dưới một gốc liễu, tay phải nắm lấy một cành rủ xuống, mắt nhìn xuống sông, chỉ mặc một tấm áo mỏng manh, trông thực đáng thương.

Dĩ nhiên Mộ Dung Phục biết rằng biểu muội từ nhỏ vẫn nuôi một mối thâm tình với mình. Cô mẫu cùng song thân mình có chuyện bất hòa, nhiều phen ngăn trở những cuộc gặp gỡ giữa nàng và mình, thế nhưng một cô gái yếu đuối không biết võ công mà dám phiêu bạt giang hồ tìm mình, tình ý thật là thế gian hiếm có. Y tự nhủ: “Mộ Dung Phục này bôn tẩu bốn phương, ôm một tấm lòng trung hưng phục quốc, đến võ công cũng không thể chuyên tâm rèn luyện, thì còn kể gì đến chút tình nhi nữ? Nhưng biểu muội lại thâm tình với mình đến thế, làm sao mà không động lòng được? Nếu lúc này mình đột nhiên bỏ nàng ra đi cầu hôn với một cô công chúa chưa từng gặp mặt, về lý thì không sai, nhưng về tình thì thật là bất nhẫn.”

Công Dã Càn đằng hắng rồi nói: “Công tử! Từ xưa đến nay, những người làm nên đại sự đều không câu nệ tiểu tiết. Đã là đại anh hùng, đại hào kiệt thì phải phá bỏ cửa quan tình ái.”

Bao Bất Đồng phụ họa: “Sau này khôi phục lại được nước Đại Yên, công tử lên ngôi chúa tể một nước, thì chuyện tam cung lục viện không phải nói làm gì. Khi đó công chúa nước Tây Hạ sẽ lên ngôi chánh cung nương nương, còn vị biểu muội họ Vương được phong làm Tây cung nương nương, thế là xong hết. Trong lòng công tử có sủng ái cô nàng hơn một tí thì cũng đâu có ai cấm được?” Bao Bất Đồng thường ngày chỉ ưa chặn họng người ta, nhưng bây giờ là lúc thương nghị đại sự, gã nói toàn những lời hợp đạo lý.

Mộ Dung Phục gật đầu, nghĩ thầm: “Phụ thân ta lúc sinh thời đã căn dặn, ngoài việc trung hưng Đại Yên thì thiên hạ không còn gì là đại sự nữa. Vì chuyện phục hưng đại nghiệp thì cha anh có thể giết, con em càng có thể giết, bằng hữu chí thân có thể ruồng bỏ, tình yêu trai gái càng không nên để vào lòng. Tuy Vương Ngữ Yên đối với ta một mối thâm tình, nhưng ta trước sau chỉ coi nàng như một cô biểu muội chứ đã có tình ý gì đâu mà ngại?” Trước nay y cũng nghĩ rằng sau này sẽ cưới nàng làm vợ, nhưng cho rằng đó là chuyện dĩ nhiên, không cần nghĩ ngợi gì nhiều. Bao Bất Đồng nói cùng có lý, sau này đại sự thành rồi, mình sẽ đặt nàng vào ngôi phi tần, gia tâm sủng ái một chút là xong hết.” Y trầm ngâm một lúc rồi không lý gì đến Vương Ngữ Yên nữa, lên tiếng nói: “Các vị nói rất có lý. Đây quả là một cơ hội rất tốt để mưu đồ khôi phục nước Đại Yên. Nhưng đại trượng phu không thể thất tín, ta phải đưa bảng văn này tới Cái Bang.”

Đặng Bách Xuyên nói: “Đúng thế! Đừng nói Cái Bang không có nhân vật nào so được với công tử, mà cho dù có kình địch thật sự, chúng ta cũng không thể giấu giếm bảng văn một cách đê hèn vô sỉ.” Phong Ba Ác phụ họa: “Dĩ nhiên là thế. Đại ca cùng nhị ca theo công tử qua Tây Hạ cầu thân, còn tam ca cùng tiểu đệ đem bảng văn qua Cái Bang. Từ nay đến ngày trung thu tháng tám sang năm còn lâu lắm, bọn họ có chọn người ứng tuyển cũng còn kịp chán, không thể trách bọn ta xử ép họ được.”

Mộ Dung Phục nói: “Chúng ta làm việc phải quang minh lỗi lạc. Bây giờ ta thân hành đem bức bảng văn này giao cho trưởng lão Cái bang, rồi mới đi Tây Hạ.” Đặng Bách Xuyên vỗ tay reo lên: “Công tử nói đúng lắm. Chúng ta không nên để người khác dị nghị sau lưng mình một câu nào.” Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác cũng gật đầu khen phải, rồi đem an táng thi thể bọn Cái Bang.

Mộ Dung Phục gọi Vương Ngữ Yên lại nói: “Biểu muội! Bọn Cái Bang này bị giết có liên quan đến một việc lớn. Ta phải thân hành qua Tổng đà Cái Bang, tiện đường đưa biểu muội về Mạn Đà Sơn Trang trước.” Vương Ngữ Yên giật mình, kinh hãi nói: “Muội… muội không về nhà đâu. Mẫu thân thấy muội sẽ giết chết ngay.” Mộ Dung Phục cười đáp: “Cô mẫu tuy tính tình nóng nảy nhưng chỉ có mình biểu muội là con, sao lại giết chết? Nhiều lắm là người trách mắng mấy câu mà thôi.” Vương Ngữ Yên nói: “Không… không…! Muội không về nhà đâu, nhất định phải theo biểu huynh đi Cái Bang.”

Mộ Dung Phục đã quyết ý đi Tây Hạ cầu thân, nhưng đối với Vương Ngữ Yên cũng thấy khó nghĩ. Y liền nói: “Thôi đành thế này vậy. Biểu muội là một cô gái nhỏ tuổi mà đi theo chúng ta xuất đầu lộ diện trên chốn giang hồ, thật có nhiều điều bất tiện. Biểu muội đừng đi nữa, nếu không muốn về Mạn Đà Sơn Trang thì về nhà ta ở Yến Tử Ổ tạm trú. Xong việc rồi ta sẽ quay về với biểu muội, được không?”

Vương Ngữ Yên hai má ửng hồng, mừng thầm trong bụng. Nguyện vọng cả đời nàng là được kết duyên đôi lứa với biểu huynh rồi cùng ở Yến Tử Ổ. Bây giờ nàng nghe Mộ Dung Phục bảo mình về Yến Tử Ổ, tuy chưa công khai cầu hôn, nhưng sự tình đã rõ ràng lắm rồi. Nàng không nói gì, chỉ từ từ cúi đầu xuống, khóe mắt lộ ra những tia sáng hoan hỉ.

Đặng Bách Xuyên cùng Công Dã Càn nhìn nhau, cảm thấy mình đang lừa gạt một vị cô nương ngây thơ chất phác, trong lòng không khỏi áy náy. Bỗng nghe “bốp” một tiếng, Phong Ba Ác tự tát vào mặt mình một cái rất mạnh. Vương Ngữ Yên ngẩng đầu lên, ngạc nhiên hỏi: “Phong tứ ca! Tứ ca làm sao thế?” Phong Ba Ác đáp: “Tiểu huynh đánh… đánh một con muỗi đấy thôi.”

Cả đoàn sáu người lại lên đường về hướng đông. Chưa tới hai ngày thì Đoàn Dự đã từ phía sau đuổi tới, mừng rỡ chào hỏi: “Ái chà! May quá, lại gặp Đặng đại ca, Công Dã nhị ca, Bao tam ca, Phong tứ ca cùng Vương cô nương rồi. Mọi người cũng đi về hướng đông, thế thì chúng ta cùng đi lại càng vui vẻ.”

Tuy Bao Bất Đồng rất chán ghét Đoàn Dự, nhưng chàng đã từng cứu tính mạng của Phong Ba Ác, Mộ Dung Phục, Vương Ngữ Yên. Vì thế đã không tiện công khai đuổi chàng đi, nhưng trên đường không khỏi có lời qua tiếng lại. Tuy nhiên Đoàn Dự bất kể là nghe thấy hay không cũng bỏ ra ngoài tai hết, ung dung tự tại, mặc ai nói gì thì nói.

Đoàn người đi dọc đường cũng nghe tin Cái Bang tranh ngôi minh chủ võ lâm với phái Thiếu Lâm. Mộ Dung Phục cùng bọn Đặng Bách Xuyên ngấm ngầm thương nghị, nếu Cái Bang cùng phái Thiếu Lâm tranh đấu thành thế lưỡng bại câu thương, nhà Mộ Dung ở giữa ngư ông thủ lợi thì không chừng đoạt được danh hiệu minh chủ võ lâm, hiệu lệnh cho hào kiệt giang hồ. Đây thật là một cơ duyên rất tốt không nên bỏ lỡ, họ bèn chuyển hướng đi đến Thiếu Lâm Tự, không ngờ vừa tới chân núi Thiếu Thất đã gặp Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu.

Mấy tháng nay, Đinh Xuân Thu mở rộng môn phái, thu nạp rất nhiều đồ đệ. Bất luận lục lâm hắc đạo hay yêu quái tà môn, ai đến quy đầu lão cũng nhận ngay. Mới vài tháng mà bọn tiểu tặc ở Trung Nguyên tranh nhau nghênh tiếp lão ở dọc đường, đông đảo như kiến bu thịt thối.

Mộ Dung Phục đã suýt bị Đinh Xuân Thu hại mạng trong kỳ hội của Tô Tinh Hà, lần đại chiến thứ hai ở phạn điếm cũng may lắm mới thoát thân. Chuyến này lại gặp nhau, Mộ Dung Phục thấy đối phương quá đông người thì không khỏi ngấm ngầm kiêng nể. Nhưng Phong Ba Ác lại là một nhân vật không sợ trời không sợ đất, mới nói qua nói lại ba câu đã xông vào đánh nhau với bọn môn đồ phái Tinh Tú. Đoàn Dự muốn đưa Vương Ngữ Yên tránh ra, nhưng Vương Ngữ Yên lo lắng cho biểu huynh nên không chịu bỏ đi. Môn đồ phái Tinh Tú tràn lên đông đúc như nước thủy triều, chỉ chốc lát đã nhấn chìm bọn Mộ Dung Phục trong biển người.

Đoàn Dự thi triển Lăng Ba Vi Bộ né tránh bọn môn đồ phái Tinh Tú, khi nghe thấy thanh âm của phụ thân liền chạy vào chùa để gặp mặt. Đến khi Diệp Nhị Nương nói Mộ Dung Phục đang bị Đinh Xuân Thu đánh cho thất điên bát đảo, chàng liền nghĩ thầm: “Ta phải mau mau chạy ra để cõng Vương cô nương thoát hiểm”, rồi vọt đi như bay.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.