Nghìn lẻ một đêm – Chương 43: Hai người chị ghen tỵ và cô em út (tiếp theo)

Từ khi hoàng tử Pervij lên đường, công chúa Parijade hàng ngày cầm chuỗi ngọc lẩm nhẩm lần từng viên ngọc những lúc không có việc. Suốt thời gian ấy ban đêm nàng vòng chuỗi ngọc quanh cổ, sáng thức dậy tay lần xem những viên ngọc có lăn nối tiếp nhau không. Một hôm, vào lúc hoàng tử Pervij cùng chung số phận như hoàng tử Bahman, bị biến thành đá, nàng đang cầm chuỗi ngọc và lẩm nhẩm nói bỗng cảm thấy những viên ngọc không lăn theo ngón tay mình, nàng chắc chắn đấy là dấu hiệu anh đã chết. Đã quyết định phải làm gì nếu tai hoạ xảy ra, nàng không để thì giờ thở than khóc lóc. Cố trấn tĩnh và ngay sáng hôm sau, cải trang thành đàn ông, trang bị vũ khí đầy đủ, dặn người nhà đi ít ngày sẽ trở về, nàng lên ngựa ra đi theo con đường của hai người anh.

Công chúa Parijade vốn quen cưỡi ngựa đi săn giải trí, chịu đựng mệt nhọc đường trường hơn những phụ nữ khác. Cũng đi nhiều ngày như hai anh, đến ngày thứ hai mươi nàng cũng gặp ông già ẩn sĩ như họ. Lại gần, nàng xuống ngựa, dây cương cầm tay, nàng đến ngồi gần ông chào và nói:

– Ẩn sĩ phúc hậu, cho phép tôi ngồi nghỉ một lúc gần cụ và làm ơn cho biết cụ có nghe nói đâu đó trong vùng này có một nơi tìm được con chim biết nói, cây hay hát và nước vàng không ạ?

Ẩn sĩ trả lời:

– Quý cô, nghe giọng nói tôi biết là,của phụ nữ tuy cô đã cải trang thành đàn ông; tôi cám ơn cô về lời chào mừng và rất vui lòng có vinh dự được gặp cô. Tôi biết chỗ có những vật cô nói nhưng cô hỏi với ý định gì?

Thưa ẩn sĩ, người ta kể cho tôi một chuyện rất hay khiến tôi nóng lòng muốn sở hữu những vật ấy.

– Thưa cô, người ta nói đúng đấy, những vật ấy còn kỳ lạ đặc biệt hơn những gì người ta giới thiệu nhưng giấu cô những khó khăn phải vượt qua để có nó. Cô sẽ không dấn thân vào một việc vất vả và nguy hiểm như vậy nếu người ta nói rõ hết với cô. Cô hãy tin tôi, đừng tiến lên nữa, cô trở về đi để tôi khỏi phải góp phần vào sự thiệt hại của cô.

– Bố phúc hậu – Công chúa đáp – Tôi đến từ xa và sẽ bực bội vì không thực hiện được ý định của mình. Cụ nói những khó khăn và nguy cơ mất mạng nhưng không nói đó là những khó khăn gì và nguy cơ ra sao; tôi muốn biết để cân nhắc, có thể tin tưởng vào quyết định, lòng can đảm và sức lực của mình không, nên giữ hay nên bỏ.

Ãn sĩ bèn nhắc lại với công chúa những lời đã nói với hai hoàng tử, nói quá lên những khó khăn leo lên núi chỗ có lồng chim? phải làm chủ được con chim, nó sẽ cho biết chỗ có cây hay hát và nước vàng; tiếng ồn và âm vang những giọng nói đe doạ và đáng sợ nghe khắp quanh mình mà không thấy người; cuối cùng là số lượng những tảng đá đen gây khiếp sợ cho cô và bất cứ ai khi biết rằng đấy là những ky sĩ dũng cảm bị biến dạng do không giữ vững điều kiện chủ yếu là không được ngoảnh lại phía sau trước khi nắm chiếc lồng chim.

Khi ẩn sĩ nói xong, công chúa kết luận:

– Theo tôi hiểu khó khăn lớn nhất để thành công trong việc này là thứ nhất: leo núi lên đến chỗ có lồng chim mà không hoảng hốt về âm vang những giọng nói nghe không thấy người và thứ hai, không được ngoảnh lại nhìn phía sau mình. Về điều kiện sau này, tôi hy vọng khá tự chủ để giữ đúng. Còn điều thứ nhất, tôi thú nhận những giọng nói như cụ kể, có thể làm kinh hoàng những người vững vàng nhất. Nhưng như trong mọi việc làm có hậu quả lớn và nguy hiểm, người ta không cấm dùng thủ thuật, xin hỏi cụ tôi có thể dùng trong việc làm này vốn rất quan trọng đối với tôi không?

– Cô định dùng thủ thuật gì – Ấn sĩ hỏi.

– Tôi thấy nếu dùng bông nút chặt tai lại thì dù giọng nói to và đáng sợ đến mấy, tôi cũng cảm nhận bớt đi rất nhiều, sẽ kém tác động và trí óc tôi vẫn giữ được bình tĩnh, không đến nỗi bối rối mất cả lý trí.

– Thưa cô, cho đến nay tất cả những người hỏi đường như cô, tôi không biết đã có ai dùng thủ thuật ấy chưa. Điều tôi thấy là, không một ai đề nghị dùng cách đó và tất cả đều bị chết. Nếu cô quyết tâm theo ý định của mình, cô cứ thử xem: may ra cô thành công; tuy thế tôi không khuyên cô nên dấn thân vào.

– Bố phúc hậu, tôi quyết tâm vô cùng. Lòng tôi nói với tôi thủ thuật ấy sẽ thành công và tôi quyết định dùng nó. Như vậy chỉ còn hỏi cụ tôi phải đi con đường nào, xin cụ làm ơn đừng từ chối.

Ẩn sĩ một lần khuyến khích nàng suy nghĩ kỹ lại, thấy không lay chuyển được lòng quyết tâm, rút một viên tròn ra đưa cho nàng:

– Cô cầm lấy viên này – ông nói – lên ngựa ném ra phía trước, đi theo nó vòng vòng qua mọi nẻo đường cho đến chân núi cô tìm và dừng lại khi nó dừng; cô xuống ngựa và leo lên núi. Cô đi đi, đừng quên những lời tôi dặn.

Công chúa Parijade cảm ơn ẩn sĩ, chào từ biệt rồi lên ngựa, ném viên tròn ra phía trước mặt lăn đi, thúc ngựa chạy theo cho đến khi nó dừng lại ở chân núi:

Nàng xuống ngựa, lấy bông nút chặt lỗ tai, nhìn kỹ đường rồi bắt đầu dũng cảm bước lên núi. Nàng nghe những tiếng la hét, nhận thấy bông là một cứu cánh rất tác dụng. Càng đi lên những giọng nói càng tăng, càng mạnh nhưng không làm nàng có cảm giác rối trí. Nghe nhiều loại chửi rủa, chế diễu giới tính nhưng nàng khinh thường, chỉ cười. Nàng tự nhủ: Ta chẳng bị xúc phạm vì những lời chửi rủa, hay chế giễu; các người cứ nói tệ hại nữa ta cũng không cần và không ngăn cản được ta tiếp tục đi lên . Cuối cùng lên trên cao, nàng nhận thấy lồng và con chim, cùng hoà theo những giọng nói, cố làm nàng bối rối bằng giọng oang oang tuy người bé: Rút lui đi, không được lại gần đây :

Công chúa phấn khích trước vật đó, bước nhanh hơn khi thấy gần tới mục đích; nàng lên tới đỉnh núi, đất bằng, chạy thẳng đến chiếc lồng nắm lấy nói với con chim:

– Chim ơi, không muốn ta cũng bắt; mày không thoát khỏi đâu.

Trong lúc Parijade lấy bông ở tai ra, con chim nói:

– Cô gái dũng cảm, đừng giận tôi vì phụ hoạ với những giọng nói cố bảo vệ tự do cho tôi. Tuy bị nhốt trong lồng, tôi vẫn luôn bằng lòng về số phận mình; nhưng do phải làm nô lệ tôi mong có nàng là chủ, người đã nắm được tôi một cách can đảm, xứng đáng hơn tất cả mọi người khác trên đời. Từ nay tôi thề trung thành tuyệt đối với nàng, hoàn toàn vâng theo lệnh nàng. Tôi biết nàng là ai, tôi sẽ nói cho nàng biết nàng là ai mà chính nàng cũng không biết xuất thân của mình; một ngày nào đó tôi sẽ giúp nàng một việc hy vọng nàng sẽ rất biết ơn. Để bắt đầu chứng tỏ sự thành thật của tôi xin nàng cho biết nàng mong mụốn điều gì, tôi sẵn sàng vâng lệnh.

Công chúa vui sướng không tả hết về việc chinh phục trả giá bằng mạng sống của hai anh và bản thân phải mệt nhọc, vượt qua mối nguy lớn, nói với chim:

– Chim ơi, ta định nói với chim ta muốn nhiều điều rất quan trọng, rất phấn khởi thấy chim tỏ ra sẵn sàng. Việc đầu tiên nghe nói ở đây có loại nước vàng đặc tính tuyệt vời, ta muốn chim chỉ cho ta trước đã.

Con chim chỉ chỗ cũng gần đấy nàng đến múc đầy một chiếc bình bạc mang theo. Trở lại nàng hỏi chim:

– Chim ơi, không chỉ thế, ta tìm cây hay hát, cây ấy ở đâu?

– Nàng quay lạỉ, thấy một khu rừng phía sau có cây ấy.

Khu rừng không xa, công chúa đến đấy và giữa nhiều cây cối nàng nghe có hoà âm du dương làm nàng nhận ra cây mình tìm nhưng rất to, cao. Nàng trở lại hỏi chim:

– Chim ơi, ta đã tìm thấy cây hay hát nhưng không thể nhổ bật gốc hay mang đi được.

– Không cần nhổ bật gốc – Chim lại nói- Nàng chỉ cần lấy một nhánh nhỏ đưa về trồng trong vườn; nó sẽ bén rễ vào đất và ít lâu sau nàng sẽ thấy nó trở thành một cây lớn như vừa thấy.

Khi đã có trong tay ba vật quí mà bà tín đồ Hồi giáo làm nàng khát khao, nàng nói với chim:

– Chim ơi, những gì chim vừa giúp ta không đủ. Chim là nguyên nhân cái chết của hai anh ta đã biến thành đá đen trong số ta thấy khi lên đây. Ta muốn đưa họ cùng về.

Có vẻ chim muốn công chúa miễn cho điều này vì thực ra làm được việc đó cũng khá khó khăn. Công chúa nài nỉ:

– Chim à, chim nhớ đã nói là nô lệ của ta, chim đã làm đúng thế và cuộc sống thuộc về ta rồi.

– Tôi không phủ nhận điều đó – Chim nói- Việc nàng đòi hỏi khó khăn hơn nhiều so với những việc khác, nhưng tôi cố gắng làm nàng vui lòng. Nàng nhìn quanh đây xem có một chiếc binh nào không.

– Ta thấy có đấy – Công chúa trả lời.

– Nàng cầm lấy và khi xuống núi rỏ một ít nước trong bình lên mỗi tảng đá đen; đó là cách tìm lại những người anh của nàng.

Công chúa Parljade cầm lấy bình và mang theo lồng chim, lọ nước, cành cây, vừa đi xuống vừa rỏ nước trong bình lên mỗi tảng đá đen trên đường và những tảng đá ấy ngay sau đó biến thành người. Nàng không bỏ sót tảng đá nào, tất cả những con ngựa của các hoàng tử anh cũng như của những người khác đều xuất hiện trở lại. Như vậy nàng nhận ra các hoàng tử Bahman và Pervij; họ cũng nhận ra nàng, chạy lại ôm hôn em gái. Vừa ôm hôn họ nàng vừa tỏ ra ngạc nhiên:

– Các anh thân yêu, các anh làm gì ở đây vậy?

Nghe họ trả lời vừa ngủ một giấc, nàng lại nói:

– Vâng, nhưng không có em, giấc ngủ của các anh còn kéo dài và có lẽ đến mãi ngày tận thế. Các anh không nhớ đã đến đây tìm con chim biết nói, cây hay hát và nước vàng, đã thấy những tảng đá đen rải rác chỗ này ư? Các anh nghĩ xem có còn lại tảng nào không? Các người xung quanh ta và các anh đã là những tảng đá ấy, cả những con ngựa đang chờ các anh nữa. Các anh muốn phép lạ ấy xảy ra như thế nào thì đây vừa tiếp tục nói nàng vừa chỉ chiếc bình nàng đã đặt xuống ở chân núi – nhờ nước trong bình này em đã rỏ xuống từng tảng đá. Sau khi đã làm chủ con chim biết nói trong lồng này, nhờ nó bảo em đã tìm được cây hay hát lấy một cành và nước vàng em lấy vào chiếc lọ, em không muốn trở về mà không có các anh đi cùng, em buộc nó phải làm cách nào, nó chỉ cho lấy chiếc bình nước và làm ra sao.

Các hoàng tử Bahman và Pervij nghe rõ, biết mình vừa chịu ơn công chúa em gái; những người vây quanh họ cũng tỏ lòng biết ơn, thay vì ganh tị việc chinh phục họ đã muốn làm, chỉ có thể đội ơn cứu sống mình, tự nguyện là những nô lệ của nàng, sẵn sàng làm những việc nàng ra lệnh cho họ.

– Thưa các ông – Công chúa nói – Nếu đã nghe tôi nói các ông hẳn nhận thấy tôi không có ý gì khác là làm như thế để tìm lại các anh mình; nếu là một việc tốt cho các ông thì cũng không phải cảm ơn tôi. Tổi xem mỗi người các ông là những người tự do như trước khi gặp không may và tôi chung vui với các ông về hạnh phúc trở lại làm người nhân dịp này. Chúng ta cũng chẳng nên ở lại một nơi không còn gì giữ chúng ta lâu hơn nữa: hãy lên ngựa và mỗi chúng ta trở về nơi ta đã đi.

Công chúa Parijade đi trước lại chỗ nàng để con ngựa đứng chờ. Trước khi nàng lên ngựa, hoàng tử Bahman muốn đỡ cho em, đề nghị nàng đưa lồng chim để chàng cầm cho. Công chúa nói:

– Thưa anh, con chim là nô lệ của em, em muốn tự minh giữ nó; nếu muốn anh giũ cho cành cây và anh Pervij anh phụ trách cho lọ nước vàng.

Khi hoàng tử Bahman, Peryij và tất cả những người khác đã lên ngựa, công chúa chờ để một người trong bọn họ đi trước dẫn đầu. Hai Hoàng tử lịch sự muốn nhường cho những người kia và những người kia muốn nhường vinh dự cho công chúa.

– Thưa các ông, tôi không xứng đáng được vinh dự ấy nhưng tôi chấp nhận vì các ông muốn thế – Nàng phi ngựa lên trước rồi hai hoàng tử và tất cả mọi người cùng đi theo.

Đoàn người muốn gặp ẩn sĩ lúc đi qua để cám ơn sự tiếp đón và những chỉ dẫn thành tâm nhưng ông đã chết, người ta không rõ vì ông đã già yếu hay vì không cần thiết phải chỉ đường lên chinh phục ba vật quí hiếm nữa.

Vậy là đoàn tiếp tục đi nhưng mỗi ngày một ít dần. Những quí ông đến từ những nước khác nhau, lần lượt nhắc lại lời cảm ơn được trở lại cuộc sống, từ biệt công chúa và các anh nàng khi gặp con đường về địa phương mình. Công chúa và hai hoàng tử theo đường mình về đến tận nhà.

Trước hết công chúa để lồng chim trong vườn, bên cạnh phòng khách; khi con chim hót lên những hoạ mi, mai tước, chiền chiện, chim chích, hồng tước và vô vàn các loại chim khác trong nước kéo đến cùng hót theo. Về cành cây nàng cho trồng ở một chỗ không xa ngôi nhà lắm; cành đâm rễ và chẳng bao lâu trở thành một cây to, cành lá reo vui một hợp âm như ở cây nàng lấy cành. Lọ nước vàng, nàng cho xây giữa vườn một bể lớn đá hoa cương, khi xong nàng đổ cả lọ vào đấy. Nước phồng lên tăng nhanh khối lượng và khi lên đến gần mép bể, nó phun ở giữa thành dòng lên cao hai mươi bộ, rơi xuống lại, cứ thế tiếp tục mà nước không tràn.

Tin về những kỳ quan ấy lan khắp vùng, cổng ngôi nhà cũng như cổng vườn không đóng lại với ai chẳng bao lâu nhân dân những vùng quanh đấy đổ xô đến ngắm xem rất đông.

Sau mấy ngày lại sức, hai hoàng tử Baliman và Pervij trở lại cuộc sống bình thường; đi săn là thú vui quen thuộc. Lần đầu từ khi về họ lên ngựa cùng đi, không phải trong rừng nhà mình mà cách đó hai, ba dặm. Trong lúc họ săn, vua Ba Tư bất chợt cũng đến săn cùng chỗ. Khi họ thấy nhà vua sẽ đến qua số đông kỵ sĩ xuất hiện nhiều nơi, họ ngừng săn bắn, rút lui để khỏi gặp nhau nhưng không ngờ lại đúng theo con đường nhà vua đến, trong một chỗ chật hẹp không quay đi hoặc lùi lại mà không bị bắt gặp. Kinh ngạc họ chỉ còn biết xuống ngựa, quỳ xuống trước mặt nhà vua, trán đập xuống đất không ngẩng đầu lên nhìn. Vua thấy họ ăn mặc, nai nịt gọn gàng sạch sẽ như đã ở trong triều, tò mò muốn xem mặt bèn dừng lại, lệnh cho họ đứng dậy.

Hai hoàng tử đứng dậy trước mặt vua thái độ thoải mái tuy có vẻ khiêm tốn, lễ phép. Vua im lặng nhìn họ một lúc từ đầu đến chân sau khi ngắm phong thái và khuôn mặt dễ mến của họ, ngài hỏi họ là ai và ở đâu.

Hoàng tử Bahman trả lời:

– Thưa bệ hạ, chúng thần là con trai viên quản lý khu vườn thượng uyển đã mất, ở trong một trang trại ông cho xây dựng trước khi chết để chúng thần ở trong lúc chờ đợi đến tuổi phục vụ bệ hạ và đến xin Người công việc khi gặp điều kiện.

– Theo ta thấy, các anh thích đi săn?

– Thưa bệ hạ, đấy là việc tập dượt bình thường của chúng thần mà bất cứ ai chuẩn bị nhập vào quân ngũ của bệ hạ cũng không lơ là theo truyền thống cũ của vương quốc .

Vua rất thích thú vì câu trả lời khôn ngoan, nói với họ:

– Nếu thế ta rất vui lòng thấy các ngươi đi săn. Các ngươi cùng đi với ta, chọn săn bắn gì tuỳ thích.

Các hoàng tử lại lên ngựa đi theo nhà vua; chưa đi xa thì thấy xuất hiện nhiều loại thú. Hoàng tử Bahman chọn một con sư tử, hoàng tử Pervij chọn con gấu, đuổi theo thật dũng cảm làm vua ngạc nhiên. Hầu như cùng một lúc tới gần con mồi, họ phóng lao khôn khéo xuyên hẳn con sư tử và con gấu một lúc con nào cũng ngã xuống. Không dừng lại hoàng tử Bahman đuổi theo một con gấu khác, hoàng tử Pervij một con sư tử, chẳng mấy chốc họ đâm chết hai con vật. Họ muốn tiếp tục nhưng vua không cho phép cho gọi họ lại và bảo:

– Nếu ta để các anh tiếp tục, các anh sẽ tiêu diệt hết những con thú của ta. Không phải ta cần phải dành lại cho cuộc săn bắn của ta đến thế mà muốn bảo vệ cuộc sống của các anh từ nay trở thành thân thiết với ta qua lòng can đảm của các anh trông ra có ích nhiều cho ta.

Vua Khosrouschah cuối cùng cảm thấy rất mến hai hoàng tử đến mức bảo đến thăm ngài ngay.

– Thưa bệ hạ – Hoàng tử Bahman nói- Người ban cho chúng thần một vinh dự mà chúng thần không xứng đáng xin khẩn cầu Người miễn cho.

Vua không rõ vì lý gì các hoàng tử không nhận sự chiếu cố của mình, bảo hai chàng giải thích xem.

– Thưa bệ hạ – Hoàng tử Bahman nói- Chúng thần có em gái út cùng sống; chúng thần gắn bó với nhau đến mức chưa làm điều gì khi chưa hỏi ý kiến nàng cũng như nàng chưa làm gì khi chưa hỏi chúng thần.

– Ta rất khen tình anh em đoàn kết của các ngươi. Vậy cứ về hỏi em gái và ngày mai đi săn với ta các ngươi sẽ trả lời.

Hai hoàng tử về nhà nhưng không ai nhớ việc gặp nhà vua, có vinh dự săn bắn với ông, cũng quên nói chuyện với công chúa nhà vua muốn đưa họ về cung. Ngày hôm sau gặp vua trong đợt đi săn, vua hỏi:

– Thế nào? Các ngươi nói chuyện với em gái chưa? Nàng có bằng lòng để ta gặp các ngươi thường xuyên hơn không?

Các hoàng tử đỏ mặt nhìn nhau:

– Thưa bệ hạ – Hoàng tử Bahman trả lời: Xin Người tha lỗi cho chúng thần, cả em thần và thần đều không nhớ ra.

– Vậy hôm nay các ngươi phải nhớ và ngày mai trả lời ta.

Hai hoàng tử lại quên một lần nữa; nhà vua không những không mắng mà rút ra ba viên vàng bỏ vào lòng hoàng tử Bahman. Ông mỉm cười nói:

– Những viên này nhắc các anh không quên lần thứ ba điều ta muốn vì tình cảm đối với ta: tối nay tiếng chúng rơi ra từ thắt lưng sẽ nhắc các anh nếu quên.

Sự việc xảy ra như vua dự kiến. Không có ba viên vàng các hoàng tử đã quên nói chuyện với em gáì. Khi hoàng tử cởi thắt lưng chuẩn bị đi ngủ thì những viên ấy rơi ra. Chàng bèn lại tìm hoàng tử Pervij cùng nhau sang phòng công chúa lúc chưa đi nằm, trình bày lại mọi trường hợp đã gặp nhà vua.

Công chúa Parijade nghe tin hoảng hốt nói:

– Việc các anh gặp vua thật sung sướng và vinh dự, sau này sẽ còn tăng thêm nhưng không ổn và rất buồn đối với em. Em thấy rõ vì em mà các anh chống lại ý muốn của vua; tình cảm hoàn toàn dành cho em, em rất cám ơn. Có thể nói các anh thà chịu vô lễ với vua, thẳng thắn từ chối vì nghĩ sẽ tổn hại đến tình anh em; các anh thấy đến với nhà vua thì phải bỏ rơi em để dành tất cả cho Người. Nhưng các anh tưởng dễ dàng từ chối ý định của nhà vua có vẻ rất sốt sắng như thế nào? Những ý muốn của vua thật nguy hiểm khi chống lại. Vì vậy theo em, các anh hãy làm vui lòng nhà vua, em chỉ biết để các anh đi và có nguy cơ khổ sở vì các anh. Các anh thấy em nghĩ thế đấy, tuy nhiên trước khi kết luận chúng ta thử hỏi con chim xem nó khuyên chúng ta như thế nào; nó rất khôn, tinh tường và đã hứa cứu giúp chúng ta khi gặp khó khăn.

Công chúa Parijade cho mang lồng chim vào, nói rõ tình trạng lúng túng với chim trước mặt các hoàng tử và hỏi cách giải quyết.

Con chim trả lời:

– Các hoàng tử anh nàng phải nghe theo ý muốn của nhà vua và đến lượt mình họ mời vua về thăm nhà.

– Nhưng chim ơi – Công chúa nói – Anh em chúng ta thương yêu nhau; tình cảm không gì sánh bằng ấy có bị tổn hại gì không?

– Không hề; ngược lại càng mạnh mẽ hơn.

– Nếu thế vua sẽ thấy ta.

Chim nói cần thiết vua phải gặp, mọi việc càng tốt hơn thôi.

Ngày hôm sau hai hoàng tử trở lại chỗ đi săn; nhà vua ngay từ xa đã hỏi họ có nhớ nói chuyện với em gái không. Hoàng tử Bahman lại gần trình bày:

– Thưa bệ hạ, xin Người cứ sử dụng chúng thần; không những em gái chúng thần đồng ý mà còn cho chúng thần sai khi vì nàng mà không sẵn sàng làm bổn phận đối với bệ hạ. Nàng tỏ ra xứng đáng thế còn chúng thần đã sai lầm, hy vọng bệ hạ tha thứ cho chúng thần.

– Các ngươi không lo ngại về điều đó. Thay vì cho việc các ngươi làm là sai lầm, ta rất đồng tình, hy vọng các ngươi cũng tôn trọng và gắn bó với ta như thế tuy có phần nhỏ hơn trong tình cảm của các ngươi đối với nhau.

Các hoàng tử ngượng ngùng trước lòng tất quá lớn của nhà vua chỉ trả lời bằng cách cúi thấp mình thể hiện rất tôn kính thái độ của nhà vua.

Trái với thường ngày hôm ấy vua không săn bắn lâu. Xét thấy các hoàng tử không kém thông minh hơn lòng dũng cảm, ngài nóng lòng nói chuyện thoải mái với họ nên chóng trở về cung. Nhà vua muốn họ đi bên cạnh ngài, vinh dự mà chẳng những cận thần tháp tùng, cả quan tể tướng cũng ghen tị thấy họ đi trước mình.

Khi vua vào đến kinh thành, dân chúng đầy đường nhìn vào hai hoàng tử Bahman và Pervij, tìm hiểu xem họ là ai, người lạ hay trong vương quốc. Phần đông nói:

– Dù sao mong nhà vua có hai hoàng tử mạnh khoẻ, thần tú như thế? Có thể đã cùng lứa tuổi ấy nếu hoàng hậu đang chịu hình phạt từ lâu, trước đây sinh nở may mắn.

Việc đầu tiên về đến hoàng cung là nhà vua dẫn các hoàng tử đi xem những cung điện chính mà họ khâm phục về vẻ đẹp, sự giàu có, đồ đạc và trang trí thật cân đối. Người ta phục vụ một bữa ăn phong phú và vua bảo hai chàng cùng ngồi ăn. Họ muốn xin lỗi nhưng phải vâng lời khi vua nói ngài muốn thế. Nhà vua vốn vô cùng thông minh, có những hiểu biết uyên thâm vượt bậc về khoa học đặc biệt về lịch sử, thấy trước các hoàng tử không dám tự do nói chuyện vì khiêm tốn và tôn kính. Để họ có. dịp nôi, ngài bắt đầu nói và trao đổi nhiều vấn đề suốt trong bữa ăn nhưng dù đề cập đến đề tài nào, hai chàng nói với nhiều hiểu biết, thông minh, phân tích bình luận tất làm vua luôn khen ngợi. Nhà vua tự nhủ: “Nếu là con mình, với trí óc như thế, ta dù dạy dỗ chúng cũng không biết được gì hơn, cũng không thành thạo hoặc có học vấn hơn thế . Nhà vua rất vui khi trò chuyện với họ ; ngồi ăn lâu hơn thường lệ và sau khi ở đấy ra nhà vua còn nói chuyện lâu với họ. Cuối cùng nhà vua nói:

– Chưa bao giờ ta nghĩ ở ngoài kinh thành có những thần dân của ta được giáo dục đặc biệt và có khả năng đến thế, trong đời ta chưa có cuộc trò chuyện nào làm ta hài lòng như với các ngươi. Nhưng thế là đủ, đã đến lúc các ngươi thư giãn trí óc với vài trò vui cung đình; không có gì xua tan được mây mù bằng âm nhạc, các ngươi sẽ nghe một hợp tấu nhạc cụ và và công múa hát không tồi.

Vua vừa dứt lời, các nhạc công được lệnh vào đáp ứng khá tất sự chờ đợi về tài năng của họ. Những vai hề rất giỏi tiếp nối ban hoà tấu rồi các nam nữ vũ công kết thúc cuộc vui.

Hai hoàng tử thấy gần hết ngày quỳ xuống trước mặt vua xin phép rút lui sau khi cám ơn về lòng tốt và vinh dự được ban cho. Vua để họ ra về, nói:

– Ta để các anh về, nên nhớ đích thân ta dẫn các ngươi về cung là để chỉ đường; sau này các ngươi tự đến; bao giờ cũng được hoan nghênh và càng đến nhiều hơn, các ngươi càng làm ta vui lòng.

Trươc khi ra đi, hoàng tử Bahman tâu với vua:

– Thưa bệ hạ, chúng thần dám xin Người gia ân cho anh em thần và em gái thần, lần đi săn tới đưa Người đến trong vùng mời Người ghé qua nhà chúng thần một lúc; ngôi nhà không xứng đáng được Người đến thăm nhưng đôi khi các vị vua không chê vảo một nhà tranh.

Vua nói:

– Một ngôi nhà của những chủ nhân như các ngươi chỉ có thể đẹp và xứng với các ngươi ta vui lòng đến và càng vui hơn với những chủ nhà như các ngươi và em gái ngươi mà nghe kể về đức tính ta đã thấy thân mến. Ta không lùi lại quá ngày kia để thoả mãn điều đó. Ta sẽ có ở chỗ gặp các ngươi lần đầu từ sáng sớm; các ngươi cũng đến đo để hướng dẫn ta.

Cùng ngày hôm đó hai hoàng tử về nhà, sau khi kể lại với em gái vinh dự được vua tiếp đón, họ báo đã mời vua đến nhà họ khi đi săn trong vùng và vua đã định ngày kia sẽ ghé thăm.

Công chúa nói:

– Nếu vậy ngay từ bây giờ phải nghĩ đến việc chuẩn bị một bữa ăn xứng đáng với nhà vua. Chúng ta hỏi ý kiến con chim thì hay nhất: có lẽ nó chỉ cho ta một sớ món ăn hợp, khẩu vị nhà vua hơn.

Các hoàng tử thống nhất theo ý kiến em gái; khi họ lui về phòng nàng hỏi riêng con chim. Nàng nói:

– Chim ơi, vua sẽ cho chúng ta vinh dự ghé thăm nhà và chúng ta phải chiêu đãi Người. Chim bảo chúng ta phải làm cách nào để Người hài lòng?

– Nữ chủ phúc hậu, nhà có khá nhiều đầu bếp giỏi, bảo họ cố gắng hết sức mình và trên hết họ phải làm một đĩa dưa chuột, nhồi nhân ngọc mà nàng cho phục vụ trước mặt vua hơn tất cả những thức ăn khác ngay từ đợt đầu.

– Dưa chuột nhồi nhân ngọc? – Công chúa ngạc nhiên kêu lên – Chim ơi, đó là một món ăn kỳ lạ. Nhà vua có thể khen là một vật đẹp nhưng Người ngồi vào bàn để ăn chứ không phải để ngắm ngọc. Hơn nữa nếu ta dùng tất cả những ngọc ta có thể có cũng không đủ làm nhân.

– Nữ chủ, nàng cứ làm như tôi đã nói, đừng lo sẽ ra sao; chỉ xảy đến việc tốt thôi. Còn về ngọc sáng sớm mai nàng ra cây to đầu tiên trong vườn về bên tay phải, cho đào dưới gốc.

Người làm vườn đào đến một chiều sâu nào đó thấy cứng, phát hiện ra một chiếc hộp vàng khoảng một bộ vuông chỉ cho công chúa. Nàng nói:

– Chính vì vật đó mà tôi dẫn ông đến đây. Cứ tiếp tục đi.

Người làm vườn lôi chiếc hộp ra đưa vào tay công chúa. Chiếc hộp chỉ khép bằng những móc sạch, công chúa mở ra thấy đầy những viên ngọc rất nhỏ nhưng đều nhau và tiện dùng theo yêu cầu dự định. Rất hài lòng phát hiện được kho của này, nàng đóng hộp lại mang về nhà trong lúc người làm vườn vun trả lại đất vào gốc cây như trước.

Hoàng tử Bahman và Pervij ở trong phòng thấy em gái ra vườn sớm hơn thường lệ, đi ra gặp nàng giữa vườn tay mang chiếc hộp vàng, ngạc nhiên hỏi:

– Em gái – Hoàng tử Bahman nói – Khi các anh thấy em ra vườn có người làm vườn đi theo thì không mang gì, bây giờ trở vồ tay mang chiếc hộp vàng; phải chăng người làm vườn tìm được kho của chỉ cho em?

– Thưa các anh – Công chúa trả lời – Ngược lại đấy.

– Chính em lẫn người làm vườn đến chỗ có chiếc hộp bảo đào lên. Các anh sẽ ngạc nhiên hơn khi thấy hộp đựng gì.

Công chúa mở hộp và các hoàng tử sửng sốt thấy đầy ngọc rất có giá trị về chất lượng và số lượng, hỏi từ đâu mà em gái biết có kho của này.

– Thưa các anh – Nàng trả lời – Có một việc gấp gáp hơn đang chờ, các anh vào nhà em sẽ bảo.

Hoàng tử Pervij bảo:

– Việc nào gấp gáp hơn điều các anh muốn biết rõ này? Chúng ta cùng vào với nhau vậy.

Trên đường vào nhà, công chúa Pariìađe kể lại việc hỏi ý kíến con chim và nó bảo nên làm thế nào, đặc biệt cần có món đưa chuột nhồi nhân ngọc và nó chỉ chỗ cho đi lấy chiếc hộp này. Ba anh em phân tích nhiều, không hiểu vì sao chim bảo làm món ăn ấy nhưng đành phải theo đúng lời khuyên từng điểm một.

Công chúa cho gọi trưởng đầu bếp, ra lệnh chuẩn bị bữa ăn chiêu đãi nhà vua theo cách nàng hướng dẫn:

– Ngoài những thứ đó – Nàng nói thêm – Ông làm một món ăn thích hợp với khẩu vị nhà vua: một đĩa dưa chuột nhồi nhân. Nhân là những viên ngọc này đây.

Đồng thời nàng mở hộp chỉ cho bếp trưởng. Chưa bao giờ nghe nói nhồi nhân như vậy, bếp trưởng ngạc nhiên lùi lại hai bước. Công chúa đoán được ý nghĩ của ông, nói:

– Tôi biết ông cho tôi là một người điên bảo làm một món ăn chưa bao giờ có như thế. Nhưng không đâu, tôi rất tỉnh táo bảo chuẩn bị món ăn đó. Ông phát huy sáng kiến mang chiếc hộp này đi làm đi và đem trả lại tôi số ngọc còn lại không dùng hết.

Bếp trưởng chẳng còn gì để nói nữa, cầm chiếc hộp mang đi. Cùng ngày ấy công chúa cho dọn dẹp thật sạch sẽ, ngăn nắp cả trong nhà và ngoài vườn để tiếp đón vua xứng đáng hơn.

Ngày hôm sau, hai hoàng tử đã ở chỗ đi săn thì vua Ba Tư đến. Ngài bắt đầu săn bắn cho đến khi mặt trời lên cao, nắng gắt phải nghỉ. Hoàng tử Bahman ở bên cạnh vua để hướng dẫn còn hoàng tử Pelvij đi trước chỉ đường, khi đã trông thấy nhà mình, chàng thúc ngựa về báo tin nhưng người hầu của công chúa được bố trí trên đường đã đi báo, công chúa đang chờ sẵn đón tiếp.

Vua vào đến sân, xuống ngựa trước tiền sảnh; công chúa Parijade chạy đến quỳ dưới chân ngài chào; các hoàng tử giới thiệu em gái, xin phép cho được đón tiếp vua.

Nhà vua cúi xuống nâng công chúa lên, nhìn nàng một lúc, ngỡ ngàng về sắc đẹp, duyên dáng, phong thái không có vẻ gì thôn dã giống nơi nàng ở. Nhà vua nói:

– Hai anh xứng đáng với em gái và em gái xứng đáng với các anh trai; nhìn bề ngoài xét bên trong ta không lạ nữa việc các anh trai không muốn 1àm gì mà không được em gái tán thành. Ta hy vọng biết rõ nàng hơn về điểm này nhưng để xem ngôi nhà đã.

Công chúa thưa:

– Thưa bệ hạ, đây chỉ là một ngôi nhà ở thôn dã phù hợp với những người như chúng thần sống xa người đời. Nó không so sánh được với những ngôi nhà thành phố lớn, càng làm thế nào bằng được những biệt thự ở hoàng cung.

– Ta không hoàn toàn đồng ý như nàng nghĩ nhà vua nói – Những gì ta thấy trước hết làm ta nghi ngờ nàng. Ta sẽ nêu những nhận xét của ta sau khi xem xong; nàng đi trước dẫn đường!

Công chúa để riêng phòng khách lại, dẫn vua đi phòng này đến phòng khác; sau khi xem xét từng phòng; khen sự đa dạng của những gian phòng, nhà vua nói với công chúa Parijade:

– Người đẹp, nàng gọi như thế là một ngôi nhà thôn dã à? Những thành phố lớn, đẹp nhất cung sẽ vắng vẻ nếu tất cả những nhà ở thôn dã giống ngôi nhà của nàng. Ta không ngạc nhiên thấy các ngươi rất thích ở đây và khinh thường thành phố. Đưa ta đi xem khu vườn, xem có phù hợp với ngôi nhà không.

Công chúa mở cửa ra vườn và điều đập vào mắt nhà vua trước tiên là vòi nước phun màu vàng. Lạ lùng về một cảnh quan mới, sau khi ngắm một lúc vua hỏi:

– Ngọn nước tuyệt vời, xem rất thích, ở đâu ra vậy? Nguồn suối ở đâu, nghệ thuật lấm nước phun có vẻ trên đời không có như vậy. Ta muốn đến xem sao.

Ông vừa nói vừa tiến lại. Công chúa tiếp tục dẫn đường, đưa vua đến chỗ trồng cây hay hát.

Lại gần, vua nghe có một hoà âm khác hẳn những bản hợp tấu ông đã nghe nhiều, dừng lại đưa mắt tìm các nhạc công, không thấy nhưng vẫn nghe rõ ràng tiếng nhạc. Ông hỏi:

– Người đẹp, những nhạc công đang hợp tấu ở đâu vậy? Họ ở dưới đất hay biến dạng trên không? Với những giai điệu hay như thế họ ngại gì mà không ra mắt cho người ta vui thích?

Thưa bệ hạ – Công chúa mỉm cười trả lời- Không phải nhạc công hợp tấu mà do cây bệ hạ thấy trước mặt phát ra; xin Người bước lại mấy bước nữa sẽ nghe rõ ràng Vua lại gần say sưa vì âm điệu bản hợp tấu, nghe mãi không thôi. Cuối cùng vua lên tiếng hỏi:

– Người đẹp này cây này tình cờ mọc trong vườn nhà nàng hay là một món quà tặng từ đất nước xa xôi nào? Nàng gọi cây tên là gì?

– Thưa bệ hạ, đây là cây hay hát, không mọc trong vùng này. Đây là một câu chuyện dài liên quan đến nước vàng trong bể và con chim biết nói mà bệ hạ sẽ thấy sau khi xem nước vàng. Nếu Người thấy đượe thần sẽ kể lại khi Người đã nghỉ ngơi giải trí sau cuộc săn mệt nhọc.

– Người đẹp, ta không mệt nhọc gì như nàng nói vì đã được những vật ta ngắm nhìn bù lại. Chúng ta đến xem bể nước vàng đi, ta muốn ngắm con chim biết nói lắm rồi.

Đến bể nước vàng vua nhìn rất lâu vào tia nước không ngớt phun lên cao rồi rơi xuống và nói với công chúa:

– Theo nàng nước này không có nguồn, không có vòi dẫn đến từ một chỗ nào gần đây; ta rất lạ về điều đó cũng như về cây hay hát.

– Thưa bệ hạ, điều ấy đúng như Người vừa nói, bể nước liền một tấm, nước không do từ các bên hay phía dưới đưa vào. Thần đã bỏ vào bể một lọ nước, với đặc tính riêng biệt, nước tự phun lên như bệ hạ thấy.

Vua rời bể nước, nói:

– Lần thứ nhất thế đủ rồi vì ta hứa sẽ thường đến đây hơn. Nàng dẫn ta đi để ta xem con chim biết nói.

Vào gần phòng khách, vua thấy trên những cây quanh đấy có một số lượng chim khổng lồ đang hót râm ran vang lên trong không khí. Nhà vua hỏi vì sao chim tập hợp tại đây mà những cây khác trong vườn không có. Công chúa trả lời:

– Thưa bệ hạ tất cả chúng đến từ những vùng xung quanh để phối hợp với tiếng hót của con chim biết nói. Bệ hạ thấy nó đang trong chiếc lồng để ở một cửa sổ phòng khách Người sẽ vào. Nếu để ý Người sẽ nhận ra tiếng hót của nó rất hay, kể cả chim hoạ mi cũng còn xa mới bằng nó.

Vua vào phòng khách; thấy chim vẫn hót, công chúa cao giọng bảo:

– Nô lệ của ta, đây là nhà vua, chim chào mừng đi.

Con chim ngừng hót ngay và những chim khác cũng ngừng theo. Nó nói: Kính chào nhà vua, mong Người luôn thịnh vượng và sống lâu, . Bữa ăn chuẩn bị gần cửa sổ treo lồng chim, vua vừa ngồi vào bàn vừa nói:

– Ta cảm ơn lời chim chúc mừng; ta rất hài lòng ,thấy chim là vua của các loài chim.

Thấy đa đưa chuột trước mặt, vua nghĩ nhồi nhân như bình thường đưa tay gắp nhưng rất ngạc nhiên thấy nhồi hạt ngọc. Nhà vua nói:

– Món ăn gì mới lạ đây? Nhồi hạt ngọc với ý định gì? Ngọc có ăn được đâu! – Nhà vua nhìn hai anh em hoàng tử và công chúa bảo giải thích nhưng con chim can thiệp ngay:

Thưa bệ hạ, Người có thể nào ngạc nhiên đến vậy khi thấy một món ăn nhồi hạt ngọc trong lúc Người dễ dàng tin rằng hoàng hậu vợ Người đã sinh ra một con chó, một con mèo và một khúc gỗ ư?

– Ta đã tin thế vì các bà đỡ khẳng định với ta.

– Những bà đỡ ấy, thưa bệ hạ – Chim lại nói – Là hai người chị của hoàng hậu, nhưng những người chị này lại ghen ty với hạnh phúc Người đã vinh dự đem lại cho hoàng hậu. Để thoả lòng tức giận họ đã lợi dụng sự dễ dãi của bệ hạ; nếu Người cho tra hỏi, họ sẽ thú nhận tội. Hai anh em trai và em gái Người thấy đây là con của Người bị thả trôi theo dòng suối nhưng được người quản lý khu vườn thượng uyển vớt lên đưa về nuôi dạy chu đáo.

Lời nói của chim làm rõ ngay lòng phân vân của nhà vua. Ngài kêu lên:

– Chim ơi, ta không phân vân gì mà tin vào sự thật chim phát hiện ra và báo với ta. Xu hướng và sự trìu mến ta cảm thấy đối với chúng nói rõ với ta chúng là dòng máu của ta. Đến đây, các con trai, con gái của ta, để ta ôm hôn các con, thể hiện tình cảm đầu tiên của một người bố.

Nhà vua đứng dậy lần lượt ôm lấy hai hoàng tử và công chúa, chan hoà dòng lệ với họ. Nhà vua nói:

– Chưa đủ đâu các con, các con phải ôm hôn nhau không phải với tư cách con của người quản lý vườn ta vĩnh viễn chịu ơn vì bảo vệ cuộc sống của các con mà nhân danh con ta, từ dòng máu các vua Ba Tư ta chắc chắn các con giữ được vinh quang.

Sau khi hai hoàng tử và công chúa ôm hôn nhau với một niềm thoả mãn mới mẻ như nhà vua mong muốn, vua lại ngồi vào bàn cùng họ và ăn vội. Ăn xong, nhà vua nói:

– Các con ta, các con đã biết ta là phụ hoàng rồi, ngày mai ta sẽ dẫn hoàng hậu mẹ các con đến. Các con chuẩn bị sẵn sàng đón tiếp bà.

Nhà vua lên ngựa nhanh chóng trở về kinh thành. Việc đầu tiên khi vào hoàng cung là ra lệnh cho tể tướng xét xử ngay hai người chị hoàng hậu. Hai người bị bắt đưa tới, thẩm vấn riêng rẽ, đối chiếu xác nhận, bị kết tội phanh thây, tất cả không tới một tiếng đồng hồ.

Trong lúc đó vua Khosrouschah, với tất cả triều thần có mặt tháp tùng, đi bộ đến trước cửa nhà thờ lớn đưa hoàng hậu bị giam giữ khổ sở từ bao nhiêu năm nay ra ngoài. Vua đầy nước mắt ôm hôn bà trong tình trạng đáng thương ấy và nói:

– Hoàng hậu, ta đến xin lỗi bà đã xử sự bất công đối với bà và xin sửa chữa mọi việc. Ta đã bắt đầu làm việc đó bằng cách trừng phạt những người đàn bà đã tồi tệ lừa bịp ta và hy vọng bà cho là đã khôi phục được hoàn toàn khi ta đưa lại cho bà hai hoàng tử hoàn hảo và một công chúa đáng yêu xinh đẹp, những đứa con của ta và của bà. Bà về cung đi, lấy lại chức phận của bà với đầy đủ vinh dự.

Việc sửa chữa ấy làm trước một số đông dân chúng nghe tin chạy đến từ các nơi và chỉ một lát sau lan khắp thành phố.

Hôm sau từ sáng sớm vua và hoàng hậu đã thay bộ quần áo buồn rầu nhục nhã, trang bị phù hợp với chức tước, cả triều đình tháp tùng, cùng đến nhà hai hoàng tử và công chúa:

– Hoàng hậu, đây là hai hoàng tử con trai và công chúa con gái bà; bà ôm hôn chúng cũng trìu mển như ta đã ôm hôn chúng; chúng xứng đáng với ta và với bà.

Nước mắt tràn đầy qua những ôm hôn cảm động ấy, đặc biệt về phần hoàng hậu vì niềm an ủi và lòng vui mừng được ôm hôn hai con trai, một con gái đã gây cho bà bao phiền muộn lâu dài. Khi hoàng tử và công chúa đã cho chuẩn bị một bữa ăn ngon chiêu đãi vua, hoàng hậu và các triều thần: mọi người ngồi vào bàn và sau bữa ăn, vua đưa hoàng hậu ra xem khu vườn, chỉ cho bà xem cây hát hay và cảnh nước vàng phun lên cao. Về con chim bà đã thấy trong lồng treo ở cửa sổ và vua đã ca ngợi nhiều trong lúc ăn.

Khi xong việc, vua lên ngựa về cung; hoàng tử Bahmán đi bên phải, hoàng tử Perviì bên trái ông; hoàng hậu và công chúa bên trái bà, đi sau vua. Với trật tự ấy, trước và sau có những võ quan của triều đình theo chức vụ từng người, cả đoàn lên đường về kinh. Khi gần tới kinh thành, dân chúng kéo đến rất đông, ra cổng thành đón họ. Họ nhìn vào hoàng hậu, vui mừng cho bà sau nỗi đau khổ kéo dài và hai hoàng tử, công chúa mà đi theo hoan hô nhiệt liệt. Họ cũng bị con chim trong chiếc lồng công chúa mang theo hấp dẫn vì tiếng hót kéo theo tất cả những con chim khác vừa hót vừa đậu trên cây đọc đường và trên mái nhà trên đường phố.

Hai hoàng tử Bahman và Pervij, được hộ tống rầm rộ về cung và tối đến là những cảnh chiếu sáng và trò vui ở hoàng cung và cả kinh thành kéo dài trong nhiều ngày.

Chương kết: Nghìn một đêm lẻ trôi qua

Vua Ấn Độ không ngăn được mình ca ngợi trí nhớ tuyệt vời của hoàng hậu vợ ngài mỗi đêm đều giải trí mới cho ngài bằng bao nhiêu câu chuyện khác nhau không hề cạn.
Nghìn một đêm lẻ trôi qua với những thú vui nhẹ nhàng ấy; thậm chí giúp vua bớt đi nhiều định kiến xấu về sự chung thuỷ của phụ nữ; trí óc dịu đi, ngài công nhận đức tính và sự khôn khéo của Scheherasade, nhớ đến lòng can đảm tự nguyện muốn trở thành vợ ngài, không e ngại cái chết bà biết sẽ chờ mình vào sáng hôm sau như những người trước bà.
Nhìn nhận điều đó và biết những đức tính khác của bà cuối cùng đưa ngài đến quyết định gia ân cho bà. Ngài nói:

– Scheherasade thân mến, ta thấy rõ nguồn chuyện kể của nàng không hề cạn: nàng giải trí cho ta đã khá lâu, đã làm ta nguôi giận? vì nàng ta sẵn lòng từ bỏ luật lệ độc ác ta đặt ra. Ta hoàn toàn tha thứ và muốn nàng được xem là người giải phóng cho tất cả những cô gái phải hy sinh vì lòng thù hận chính đáng của ta.

Hoàng hậu quỳ xuống chân vua, trìu mến hôn chân ngài tỏ rõ lòng biết ơn sốt sắng và hoàn hảo nhất.

Quan tể tướng là người đầu tiên được vua truyền đạt tin tốt lành ấy. Nguồn tin lan rộng ngay trong thành phố, ra các tỉnh làm mọi dân tộc của vương quốc Ấn độ hô lên hàng nghìn lời ngợi ca và chúc phúc vua và Scheherasade đáng yêu, vợ vua.

HẾT

Đại Đường du hiệp truyện – Chương 1: Mở đầu

Nói tới văn đàn tiểu thuyết võ hiệp Trung Hoa, phải kể tới “năm đại gia” là Lương Vũ Sinh, Kim Dung, Cổ Long, Ngọa Long Sinh, Ôn Thụy An hay khác hơn là “ba đại gia” Lương Vũ Sinh, Kim Dung, Cổ Long. Nhưng nhiều người biết về Kim Dung, Cổ Long và phần nào là Ngọa Long Sinh, song ít người biết tới Lương Vũ Sinh và Ôn Thụy An, trong khi Lương Vũ Sinh là một trong những người mở đầu cho tiểu thuyết võ hiệp hiện đại.

Lương Vũ Sinh tên thật là Trần Văn Thống, sinh năm 1922, người huyện Mông Sơn tỉnh Quảng Tây, học ngành kinh tế đối ngoại ở Đại học Lĩnh Nam Quảng Châu. Năm 1949 ông qua định cư ở Hương Cảng, đầu tiên làm việc ở Đại công báo, về sau chuyển về Tân văn báo. Năm 1953, La Phù, chủ Tân văn báo mở chuyên mục “tiểu thuyết võ hiệp nhiều kỳ”, và người mà La Phù “đặt hàng” đầu tiên là Lương Vũ Sinh. Nhận được sự ủng hộ từ tòa soạn, Lương Vũ Sinh bắt tay vào việc viết tiểu thuyết võ hiệp, với tác phẩm đầu tiên là Long hổ đấu kinh hoa được đăng suốt hai năm, có tiếng vang lớn, số lượng báo in tăng vọt. Các báo khác thấy vậy tranh nhau đặt hàng Lương Vũ Sinh, ông không đáp ứng nổi nhu cầu nên mời Kim Dung giúp đỡ (tác phẩm đầu tiên của Kim Dưng là Thư kiếm ân cừu lục trong thời gian 1955 – 1956 là viết theo đơn đặt hàng này). Ngoài Long hổ đầu kinh hoa, ông còn có nhiều tác phẩm khác như Đại Đường du hiệp ký, Long phụng bảo thoa lục, Bình tung hiệp ảnh lục, Thất kiếm Thiên Sơn, Giang hồ tam nữ hiệp… được nhiều người đọc lớn tuổi ở Hương Cảng, Đài Loan ưa thích.

Tương tự Kim Dung, phần lớn tác phẩm của Lương Vũ Sinh cũng lấy đề tài lịch sử. La Lập Quần trong bài Cổ Long – quái hiệp(Thay lời tựa tác phẩm Cổ long), in trong Huyết anh vũ của Nhà xuất bản Châu Hải, Đài Loan, 1995 từng so sánh:

“Lấy nội dung sáng tác mà bàn, thì tiểu thuyết võ hiệp của Lương Vũ Sinh, Kim Dung chú trọng biểu hiện hoàn cảnh lịch sử, dựa vào lịch sử, từ đó sáng tạo, mở ra một câu chuyện hư cấu xuyên suốt.

Nhưng từ việc sử dụng tư liệu lịch sử mà nhìn, thì giữa hai người có sự khác biệt rất rõ ràng, Lương Vũ Sinh hư cấu nhân vật và sự kiện, đặt vào bối cảnh lịch sử, lấy đó để gia tăng không khí lịch sử, Kim Dung thì trực tiếp lấy nhân vật và sự kiện lịch sử phô diễn thành tiểu thuyết võ hiệp, các nhân vật, sự kiện lịch sử mà Kim Dung viết rất có mức độ, thường có thể lấy giả làm loạn thật”.

Về khuynh hướng sáng tác, thì La Lập Quần nhận định “Nhân vật trong tiểu thuyết võ hiệp của Lương Vũ Sinh mang đậm màu sắc đạo đức phân chia tà chính rạch ròi, nội hàm xã hội của nhân vật phong phú nhưng tính cách nhân vật đơn điệu, có thiếu sót khái niệm hóa, công thức hóa nhân vật”. Trên cùng đường hướng nhận định này, Trần Hiểu Lâm trong bài Thử bàn về chức năng của sự ngẫu nhiên” trong tiểu thuyết võ hiệp – lấy tác phẩm của Kim Dung, Cổ Long và Lương Vũ Sinh làm ví dụ in trong Đại địa phi ưng, Công ty xuất bản Phong vân thời đại, Đài Bắc, 1999 cũng nhận xét:

“Trong các tác phẩm Thất kiếm hạ Thiên Sơn, Giang hồ tam nữ hiệp…, sự đối lập nhị nguyên và đấu tranh qua lại giữa chính tà, đen trắng, thiện ác, thị phi vẫn là mạch chủ yếu thúc đẩy tình tiết của câu chuyện, thể hiện rõ việc Lương Vũ Sinh kế thừa tiểu thuyết võ hiệp truyền thống… Trong thực tế, nếu xâu chuỗi tác phẩm của Lương Vũ Sinh lại, thì sẽ hình thành một phổ hệ hiệp nghĩa thảo dã phát triển song hành với lịch sử chính thống. Từ phổ hệ hiệp nghĩa thảo dã ấy nhìn lại vương triều chính thống tranh giành nhau vì quyền lực dục vọng, rõ ràng ta thấy nó toát lên sự giải thích và châm chọc lịch sử Trung Quốc. Cho nên ý đồ ngẫu nhiên hóa lịch sử chính thống của ông là điều dễ nhận thấy. Về mặt này, Lương Vũ Sinh và Kim Dung khác đường cùng đích, hai người đều tạo ra một thế giới tưởng tượng riêng, lấy thế giới tưởng tượng ấy soi rọi lại lịch sử Trung Quốc, rất nhiều cay đắng máu lệ tự nhiên hiện rõ giữa những dòng chữ và phía sau tác phẩm”.

Về yếu tố “võ công” đặc trưng của tiểu thuyết võ hiệp, thì ba đại gia Lương, Kim, Cổ đều có phong cách riêng. Võ công trong tác phẩm của Kim Dưng thì mang tính văn hóa – triết lý, thậm chí tiếng sáo điệu đàn cũng có thể trở thành phương tiện chuyển tải nội lực đả thương đối phương, võ công trong tác phẩm của Cổ Long thì mang đậm dấu ấn kỹ thuật hiện đại, “có thức không chiêu, còn võ công trong tác phẩm của Lương Vũ Sinh vẫn mang nhiều yếu tố truyền thống:

La Lập Quần nhận xét “Võ công trong tiểu thuyết võ hiệp của Lương Vũ Sinh tính tả thực trong hư ảo rất mạnh, một chiêu một thức rõ rõ ràng ràng, tinh tế mà lại giống như thật, khẩn trương kịch liệt, khoa trương tới mức tột cùng. “Võ công” của Lương Vũ Sinh cũng mang tính khuynh hướng, có võ công của chính phái, cũng có võ công của tà phái, lực đạo võ công của chính phái nhu hòa, tượng trưng cho sự thiện lương, nhân từ vừa tiện lợi trong việc tấn công phòng thủ, lại có ích cho việc tu tâm dưỡng tính, mà võ công của tà phái thì vô cùng bá đạo, tàn độc hung dữ, đầy ý vị tà ác…”.

Đặt cạnh Kim Dung và Cổ Long, Lương Vũ Sinh ít nhiều mang dáng dấp một tác gia “cổ điển” trong dòng tiểu huyết võ hiệp. Ông vẫn rung cảm với các giá trị trung hiếu tiết nghĩa “phi chính thống”, vẫn đề cao tinh thần thượng võ và hào hiệp của những hiệp khách chống triều đình, vẫn dùng tiểu thuyết võ hiệp như một phương tiện để khẳng định cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ. Trong ý nghĩa này, có thể nói Đại Đường du hiệp ký là một tác phẩm tiêu biểu của Lương Vũ Sinh.

Dịch giả: Cao Tự Thanh

Mục lục

Đại Đường du hiệp truyện – Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Chén rượu kết giao vui đạm bạc – Chiếc thoa làm lễ định lương duyên
Chương 3: Thiếu niên vô lại thành tôn quý – Nghĩa sĩ cao phong chịu ngục tù
Chương 4: Ngàn dặm cầu người người không đến – Mười năm lánh họa họa khôn trừ
Chương 5: Cười nhạo Kinh Kha không hảo hán – Ngợi khen nam bát đúng nam nhi !
Chương 6: Chuyện lạ quý phi tiền tắm con – Mừng gặp anh hùng khách mài kiếm
Chương 7: Hổ dực đều run nhìn ánh kiếm – Long tuyền muốn chém đứa gian tà
Chương 8: Dị cái cứu anh hùng gặp nạn – Truy binh theo tuyệt kỹ đánh lui
Chương 9: Bạn thù chưa rõ lòng còn rối – Tà chính khôn hay dạ vẫn nghi
Chương 10: Một kiếm thù kinh lòng hiệp sĩ – Bao năm nghi án hận trời tình
Chương 11: Hiệp sĩ núi hoang gặp giặc cướp – Thần thâu ban tối trộm anh nhi
Chương 12: Kiếm báu đạn thần đương giặc mạnh – Gió tanh mưa máu nổi rừng xanh
Chương 13: Trăm năm bá nghiệp theo dòng nước – Một mảnh cơ tâm dấy sóng cuồng
Chương 14: Trước bàn yến tiệc thấy ăn mày – Trên hội anh hùng phá kế quỷ
Chương 15: Trong cốc Long Miên gây sóng gió – Đầu non Ngọc Thụ chứa nguy nan
Chương 16: Con yêu bị cướp thù không cởi – Thân thế khôn hay hận vẫn dài
Chương 17: Dấy loạn, cường phiên giam sứ giả – Trở về, tráng sĩ hãm trùng vây
Chương 18: Khôn phân yêu hận tình trăn trở – Nói tới ân thù ý mịt mờ
Chương 19: Đêm rằm quán trọ nghe tin dữ – Ngàn dặm biên cương dấy lửa binh
Chương 20: Theo hẹn tới tìm, người chẳng gặp – Lời đồn khó biết, chuyện nên nghi
Chương 21: Giặc Hồ ruổi ngựa thành to sập – Tráng sĩ vung đao ý khí hào
Chương 22: Đáng thương dưới kiếm tình nhi nữ – Khơi dậy trong non chuyện kiếm đao
Chương 23: Cờ Hán vừa giương doanh tế liễu – Ngựa Hồ đã giẫm đất Trung Nguyên
Chương 24: Nợ tình khôn trả sầu dằng dặc – Tương tư chưa dứt hận miên man
Chương 25: Truy tìm động thỏ đào ba chỗ – Sợ thấy hơi ma ngút chín trời
Chương 26: Rắn rồng lẫn lộn thôi ngờ vực – Én nhỏ riêng bay ý mịt mờ
Chương 27: Lối lạ tương phùng gian kế lộ – Cung sâu lại thấy nghịch mưu sinh
Chương 28: Diệu thủ thần thâu kinh thánh tượng – Đa tình công chúa mộ anh hùng
Chương 29: Đói rét xôn xao lòng tướng sĩ – Lửa binh loạn lạc xót nhân dân
Chương 30: Thê lương đường Thục người ít đi – Quằn quại mày ngài chết trước ngựa
Chương 31: Quan ải tiêu điều đường khi bước – Anh hùng say rượu lệ đau đời
Chương 32: Quê xưa lại thấy người phiêu bạt – Khách trốn sao kham ý nhớ thương
Chương 33: Hang cọp náu thân lo báo nước – Phòng khuê nói chuyện biết lòng ngươi
Chương 34: Giết voi cậy mạnh ra oai dữ – Tắm khỉ lên ngôi chuốc tiếng cười
Chương 35: Ma chưởng truy hồn tài khó chống – Khổ tâm vì bạn oán đâu sờn
Chương 36: Mười năm nhịn nhục thù đà trả – Mấy độ tìm con hận chửa tiêu
Chương 37: Lục lâm nợ máu than khôn giải – Ma trận hơi yêu hóa chẳng tan
Chương 38: Chuộc tội xóa hờn thà một chết – Một lời giải họa kết tân tri
Chương 39: Mừng gặp con hùng ngờ giữa mộng – Đau nghe bạn thiết khốn trong thành
Chương 40: Đâu Buồn Giặc Mạnh Vào Trung Thổ -còn Có Anh Hùng Dựng Hán Tinh

Chương 2: Chén rượu kết giao vui đạm bạc – Chiếc thoa làm lễ định lương duyên

Chén rượu kết giao vui đạm bạc -Chiếc thoa làm lễ định lương duyên

Chúc mừng năm mới, năm mới đại cát!.

Hôm ấy là ngày mồng một Tết năm Thiến Bảo thứ bảy nhà Đại Đường.

Ở một sơn thôn cách Trường An sáu mươi dặm có một gia đình, chủ nhân họ Sử, tên Dật Như, thi đỗ Tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ hai mươi hai, nhưng không muốn làm quan trong triều, nên chưa đến tuổi trung niên đã về quê ở ẩn, người làng tôn trọng y là một bậc quân tử có học thức, vừa sáng ra đã tới chúc Tết y.

Sử Dật Như theo tục lệ chúc Tết người làng một lượt, đưa khách về xong, lại lắc lắc đầu chép miệng khẽ than :

– Thế đạo thế này, có gì mà mừng?.- U oa, u oa, trong hà vang ra tiếng trẻ khóc, hòa lẫn vào tiếng pháo bộc can tạch tạch đùng đùng (Theo phong tục người thời Đường ngày đầu năm lấy tre tươi đốt cho nổ, gọi là bộc can, khác với loại bộc trượng về sau. Bài thơ Tảo xuân của Lai Hộc có câu :

– Vừa xem lịch mới được vài trang, sân nhỏ còn vun tro bộc can, tức là vịnh chuyện ấy).

Sử Dật Như trên mặt thoáng nét tươi cười, nghĩ thầm :

– Nếu nói có chuyện mừng, thì chính là bắt đầu từ hôm nay có thêm một đứa nhỏ, trong nhà có thể náo nhiệt hơn một chút.

Y sai đứa thư đồng đang đốt bộc can trước thềm :

– Những lễ vật ngươi thu nhận, lấy ra cho ta bốn hộp bánh trái mang tới nhà Đoàn đại gia, mời y qua uống vài chén rượu, trong lòng hơi thắc mắc :

– Mồng một hàng năm người tới chúc Tết sớm nhất là y, sao năm nay lại tới muộn thế này?.

Đứa thư đồng dạ một tiếng, nhưng lại chợt cười nói :

– Lão gia, không cần đi mời nữa, người xem, không phải là Đoàn đại gia đã tới kia rồi sao?.

Chỉ nghe có người cao giọng ngâm :

– Phong cảnh tháng ngày không chịu đợi, ruộng dâu bể biếc thoắt đổi dời. Nhà ngọc thềm son ngày trước đâu, đến nay chỉ thấy cỏ xanh bãi. Vắng vẻ tịch mịch Sử quân tử, năm dài sách vở không rời tay. May có cố nhân còn gặp gỡ, gà vàng rượu trắng cùng nhau say.

Sử Dật Như hô hô cười nói :

– Bài thơ của Lư Chiếu Lân bị sửa thành một bài thơ tức cảnh rồi. Đoàn huynh, gà vàng rượu trắng đã chuẩn bị sẵn, chờ huynh cùng say một bữa, sao bây giờ mới tới?.

Người mà Sử Dật Như gọi là :

– Đoàn huynh tên Đoàn Khuê Chương, là một người trung niên hơn bốn mươi tuổi, tướng mạo vạm vỡ, ăn mặc theo lối võ sư, Sử Dật Như lại là một thư sinh ôn nhu văn nhã, từ tướng mạo mà nhìn thì hai người tựa hồ không thể thân thiết như thế, nhưng thật ra hai người lại là bạn thân sớm tối qua lại với nhau, nguyên Đoàn Khuê Chương không những tinh thông võ nghệ mà còn có biệt tài về thơ văn. Y vốn là người nơi khác, dời nhà tới đây ở chưa đầy mười năm, Sử Dật Như cũng chưa biết rõ lai lịch của y, chỉ là kính trọng y lòng dạ ngay thẳng, văn võ toàn tài, hai người ý khí hợp nhau, bên thành tri kỷ.

Đoàn Khuê Chương nghe Sử Dật Như có ý trách móc như thế, bèn cười nói :

– Sử huynh, hôm nay tiểu đệ tới muộn, là có lý do. Sử Dật Như hỏi :

– Vì chuyện gì vậy?. Đoàn Khuê Chương mặt mày rạng rỡ nói :

– Tối qua tiện nội có thêm một đứa nhỏ. Sử Dật Như cả mừng nói :

– Ha ha! Đây đúng là không lẻ thì có đôi, con huynh là trai hay gái thế?

Đoàn Khuê Chương nói :

– Là một thằng tiểu tử thối tha, à mà huynh hỏi như thế, chắc là tẩu phu nhân cũng mới sinh phải không?. Sử Dật Như nói :

– Ta thì sinh được một con nhóc vô dụng. Đoàn Khuê Chương cười lớn nói :

– Hô hô, là một cô nương, vậy thì đệ phải chúc mừng huynh gấp đôi. Sử Dật Như hơi kinh ngạc, không hiểu ý y. Đoàn Khuê Chương cười nói :

– Chắc Sử huynh đã nghe chuyện trong Trường An gần đây rồi chứ? Hoàng thượng cướp Dương Thái Chân – là vợ của Thọ vương Lý Mạo rồi phong làm Qúy phi, đó là chuyện năm Thiên Bảo thứ tư. Dương Qúy phi rất được sủng ái, đến nay không đầy ba năm, ba người chị của nàng đều được phong là Phu nhân, tháng trước tin tức trong kinh đồn ra, ngay anh họ của nàng là Dương Quốc Trung cũng được làm Tể tướng, đúng là một nhà phú quý, không ai sánh được. Vì thế phong khí trong kinh thay đổi hẳn, vừa nghe có ai sinh con gái là thân thích bạn bè tranh nhau chúc mừng, ai cũng nói thế đạo hiện nay là không trọng sinh trai, trọng sinh gái. Ngô huynh sinh được một tiểu thư, há không phải đáng chúc mừng hai lần sao?.

Sử Dật Như không vui, nói :

– Nếu ta muốn cầu công danh phú quý, thì mười năm nay đã không cam tâm ẩn dật ở thôn quê, ta là vì không quen nhìn tiểu nhân nắm quyền, gian tà đầy triều nên mới bỏ cái mũ sa đen, chẳng lẽ ta lại học theo lối của bọn tiểu nhân hèn hạ vô sỉ như Dương Quốc Trung à?.

Đoàn Khuê Chương vội nói :

– Chúng ta kết giao mười năm, lẽ nào tiểu đệ lại không biết Sử huynh là người ra sao? Câu ấy chẳng qua chỉ là nói đùa cho vui thôi, rồi lại thở dài nói :

– Chúng ta đem phong khí kinh đô ra làm chuyện cười, chứ thật ra chuyện ấy đủ cho những kẻ có lòng hiện nay phải khóc đấy! Phong khí ngày càng tệ, việc nước ngày càng suy, sắp tới thật không biết sẽ ra thế nào nữa!.

Sử Dật Như cũng thở dài nói :

– Truyện cười mà, thật càng lúc càng chẳng ra sao! Nào nào, chúng ta cứ say khướt một phen, mặc chuyện đời sẽ ra thế nào!.

Hai người đối ẩm được vài chén, Sử Dật Như trong lòng ngứa ngáy, cầm cái như ý gõ vào mâm hát :

– Sầm phu tử, Đan Khâu sinh, rượu sắp thuốc, ly đừng dừng. Cùng huynh ca một khúc, xin huynh vì ta nghe tới cùng:

Chuông trống thức ngon không đáng quý, chỉ mong say khướt không cần tỉnh. Hô hô, chỉ mong say khướt không cần tỉnh.

Bài Tương tiến tửu ấy của Lý Thái Bạnh thật rất đúng ý ta, thi nhân trên đời hiện nay ta chỉ khâm phục có y và Lão Đỗ thôi, nghe nói y hiện đang ở Trường An, tiếc là thường bị hoàng đế giữ lại trong cung, nếu không quả thật ta cũng muốn tới Trường An gặp y một lần.

Đoàn Khuê Chương như bị động chạm, chợt lại cười nói :

– Sử huynh, ta nói huynh có thêm một tiểu thư, thật đáng chúc mừng gấp đôi, cũng không phải là nói đùa đâu. Ngươi khâm phục Lão Đỗ không phải là vì bài thơ Binh xa hành sao. Bài thơ ấy làm xong là giá giấy ở Lạc Dương tăng vọt, trong đó có mấy câu thế này:

Mới biết sinh trai dở, chẳng bằng sinh gái tốt. Sinh gái còn gả cho láng giềng, sinh trai cỏ nội vùi xương cốt. Hiện nay nước nhà chinh chiến liên miên, vả lại dấu hiệu loạn lạc dường như đã hiện rõ ra rồi, sinh được một thằng tiểu tử thối tha quả thật không bằng sinh được một đứa con gái đâu.

Sử Dật Như uống cạn một chén rượu đầy, dằn mạnh chén một cái, nói:

– Chuyện đàn bà con gái, chúng ta có quản được bao nhiêu? Đúng là câu thơ của Đỗ Phủ mà huynh mới đọc lại khiến ta nghĩ tới một chuyện. Đoàn Khuê Chương hỏi :

– Chuyện gì?. Sử Dật Như nói :

– Sinh gái còn gả cho láng giềng, chúng ta tuy không phải là láng giềng nhưng cũng là cùng thôn, chẳng lẽ lại vừa khéo như thế, hai đứa nhỏ đều sinh đúng ngày ba mươi Tết, chúng ta cứ kết duyên Tần Tấn, ý huynh thế nào?.

Đoàn Khuê Chương cả mừng nói :

– Ta vừa nghe nói tẩu phu nhân sinh được một tiểu thư là đã sớm có ý ấy, chỉ là không dám mở miệng, chúng ta là bạn tâm giao, nay lại làm thông gia với nhau, đúng là không gì tốt hơn. Vừa khéo ta có mang theo một chiếc thoa ngọc, thôi thì lấy đó làm sính lễ vậy. Sử Dật Như vừa nhìn thấy chiếc thoa ngọc, bất giác sửng sốt. Chỉ thấy chiếc thoa ngọc ấy lóng lánh tươi nhuận, chính là loại ngọc Hòa Điền hạng nhất, phía trên đầu khảm một hạt minh châu, đẹp rực rỡ, xem ra quả thật giá trị không nhỏ. Sử Dật Như không kìm được nghĩ thầm :

– Y làm sao có được vật báu vô giá như thế?. Nên biết Đoàn Khuê Chương từ khi tới ở thôn ấy, sinh sống bằng việc dạy võ cho một số thiếu niên trong thôn, nhà rất nghèo, mỗi khi gặp chuyện khó khăn Sử Dật Như còn thường phải giúp đỡ y, bây giờ lại thấy y lấy chiếc thoa ngọc ra làm sính lễ, cảm thấy rất kỳ lạ. Có điều Sử Dật Như hiểu rõ Đoàn Khuê Chương là người hào hiệp, quang minh chính trực, nên tuy cảm thấy rất kỳ lạ nhưng không hề nghi ngờ chiếc thoa ngọc ấy của Đoàn Khuê Chương là có lai lịch bất minh.

Đoàn Khuê Chương như cũng biết ý, không đợi Sử Dật Như hỏi, lập tức nói ngay :

– Ông cố ta vào năm Trình Quan từng theo Đại tướng quân Lý Tĩnh viễn chinh Đột Quyết, tới Hòa Điền lấy được một cặp thoa ngọc, về sau luận công xét thưởng, lại được Thái tông hoàng đế thưởng cho hai viên minh châu Nam Hải, người bèn tìm thợ khéo khảm minh châu lên thoa, giữ lại làm vật báu gia truyền, nên tiểu đệ bất kể gia đạo khó khăn thế nào cũng không nỡ bán cặp thoa ngọc này.

Sử Dật Như nới :

– Té ra Đoàn huynh là dòng dõi nhà tướng, thảo nào mà mười tám ban võ nghệ đều tinh thông. Không còn nghi ngờ gì về lai lịch của chiếc thoa ngọc nữa, nhưng trong lòng Sử Dật Như lại dấy lên một mối ngờ vực:

thân thuộc dòng dõi nhà tướng, là điều vinh dự, mà tại sao trước nay Đoàn Khuê Chương không hề nói tới?

Đoàn Khuê Chương uống một chén rượu, nói tiếp :

– Tiểu đệ trong nhà không có vật gì đáng giá, chỉ có chiếc thoa ngọc này là vật quý, nên trước nay lúc nào cũng mang theo bên người. Cặp thoa ngọc này, một chiếc chạm rồng, một chiếc chạm phụng, gọi là Long Phụng bảo thoa, bây giờ ta đưa chiếc Phụng thoa này cho lệnh ái làm sính lễ.

Sử Dật Như nói :

– Ngô huynh đem vật báu gia truyền làm sính lễ, trịnh trọng như thế, tiểu đệ vô cùng cảm kích. Y vốn không dám nhận, nhưng nghĩ tới con gái về sau gả về cho con trai Đoàn Khuê Chương, chiếc thoa ngọc này vẫn là vật của nhà y, nên cũng không từ chối nữa.

Y đón lấy chiếc thoa ngọc nhìn qua một lượt, chỉ thấy trên chiếc thoa dài năm tấc quả nhiên cỏ chạm hình một con chim phụng xòe cánh bay cao, khéo léo tinh tế, thần thái sinh động, dáng vẻ giống như núp trong chiếc thoa ngọc, và như muốn bay ra. Có điều vì chiếc thoa ngọc này chỉ có năm tấc ( tấc =, cm), con phụng chạm ở giữa, phải nhìn kỹ mới có thể thấy rõ.

Sử Dật Như tấm tắc khen ngợi, Đoàn Khuê Chương nói :

– Còn chiếc chạm rồng này, cũng mời ngô huynh thưởng lãm. Dật Như nhìn tới chiếc Long thoa, kiểu dáng cũng giống chiếc Phụng thoa, trên cũng có khảm một viên minh châu, chỉ khác là trên chạm một con rồng vàng nhe nanh múa vuốt, chạm trổ cũng rất tinh xảo.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Hiện nay kẻ gian trị nước, mối loạn đang sinh, tương lai thế đạo ra sao, không ai dám nói trước Tiểu đệ đem chia tách Long Phụng bảo thoa, lấy chiếc Phụng thoa làm sính lễ, là còn có ý…. Nói tới đó thì hơi ngần ngừ, dường như có điều gì e ngại, Sử Dật Như nói :

– Còn có ý gì, xin được thỉnh giáo. Chúng ta đã là thông gia, còn có chuyện gì không nói ra được chứ?.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Huynh là bậc đạt nhân, vào ngày đầu năm ắt không kiêng kỵ, tiểu đệ nói ra lời không may. Ta nghĩ tương lai hai nhà chúng ta nếu vì loạn lạc chia lìa, thì đôi vợ chồng chưa cưới chứng nó cũng có thể mỗi đứa giữ một chiếc thoa xem như là vật làm tin.

Sử Dật Như hô hô cười rộ nói :

– Huynh cũng lo xa quá!, lòng nghĩ thầm :

– Hai nhà chúng ta ở cùng một thôn, cho dù gặp lúc loạn lạc mất mùa, cũng nhất định phải cùng chia hoạn nạn, làm sao mà chia lìa được. Nhưng thấy Đoàn Khuê Chương nói rất trịnh trọng, trong lòng bất giác cảm thấy có điềm chẳng lành bên cố gắng nói cười vui vẻ, xua đi không khí nặng nề. Vừa nói chuyện vừa đưa trả chiếc Long thoa cho Đoàn Khuê Chương, còn chiếc Phụng thoa thì nâng niu cất giữ.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Tiểu nhi còn chưa đặt tên, huynh học rộng tài cao, xin đặt giúp cho một cái tên được không?.

Sử Dật Như cười nói :

– Con gái của ta cũng chưa có tên. Ngoài cửa hoa tuyết như lông ngỗng đang tơi xuống, mấy gốc lạp mai trong sân đang nở rộ trong tuyết, Sử Dật Như uống cạn một chén đầy, ngẩng lên cười nói :

– Ta rất thích hoa mai khinh tuyết ngạo tuyết, con gái ta cứ dặt tên là Nhược Mai vậy. Ngừng lại một chút lại nói tiếp :

– Cho dù khinh tuyết ngạo tuyết cũng chưa đủ. Thế sự hiện nay, gian tà đầy đường, trang nam nhi phải có khả năng lên ngựa múa gươm, xuống ngựa múa bút mới phải. Được, ta có ý này, bạo gan thay huynh đặt tên cho hiền lang, gọi là Khắc Tà thì thế nào?.

Đoàn Khuê Chương vỗ tay cười nói :

– Hay, hay lắm! Đoàn Khắc Tà, Sử Nhược Mai, hai cái tên ấy gói ghém tiết tháo và mong muốn của chúng ta. Chỉ mong sau này chúng nó khôn lớn thành người, đừng quên kỳ vọng của cha mẹ vào chứng nó.

Đúng lúc hai người đang nói cười thắm thiết, chợt nghe thấy tiếng tù và tu tu, tiếng la thét hòa với tiếng trẻ con kêu khóc. Sử Dật Như kinh ngạc nói :

– Ngoài kia có chuyện gì vậy, chẳng lẽ là nha lại xuống bắt phu, trưng thu lương thực sao? Chúng ta ra xem đi.

Nhà họ Sử cách đường không quá mươi bước, hai người ra tới cổng lớn, ngước mắt nhìn ra, chỉ thấy bụi bay mù mịt, một toán quan quân từ đầu thôn phóng mau tới, giáp trụ sáng loáng, người mạnh ngựa khỏe, người cưỡi ngựa đi đầu vung một lá cờ to, thêu một chữ :

– An bằng kim tuyến lớn, bay phần phật trước gió. Tiếp theo là hai kỵ mã, mỗi người cũng cầm một lá cờ to, trên thêu quan hàm, một lá đề :

– Bình Lô Tiết độ sứ, một lá đề :

– Bình Dương Tiết độ sứ. Tiết độ sứ là quan trấn thủ một phương của nhà Đường, trong phạm vi địa phương mà y cai quản thì việc quân việc dân đều do một tay y nắm giữ, cũng như một vương quốc nhỏ, uy phong không ai sánh được. Một người mà kiêm làm Tiết độ sứ tới hai nơi, lại càng là chuyện trước nay chưa từng có.

Sử Dật Như sửng sốt, nghĩ thầm :

– Té ra là An lộc Sơn!. Cái tên An Lộc Sơn thì người đương thời không ai không biết, nhưng Sử Dật Như là lần đầu thấy mặt, chỉ thấy y là một gã to béo như con heo mập, mặc áo giáp đính ghim vàng, khệnh khạng ra vẻ, oai phong lẫm liệt ngồi trên một con ngựa cao lớn, giữa đám quân sĩ tiền hô hậu ủng vung roi quát :

– Quân đâu, mặc kệ bọn khỉ gió trên đường, đạp chết thì thôi, phóng ngựa cho nhanh, hôm nay chúng ta phải tới Trường An để chúc Tết Qúy phi.

Nguyên là năm trước An Lộc Sơn tới Trường An, ra sức lấy lòng Dương Qúy phi, mặc dù y lớn tuổi hơn Dương Qúy phi rất nhiều, nhưng lại được Dương Qúy phi nhận làm con nuôi. Y được nếm mùi ngon ngọt, nên năm nay lại tới chúc Tết Dương Qúy phi, y một mình kiêm chức :

– Tiết độ sứ hai trấn Bình Lô, Phạm Dương còn chưa thoa? mãn, lại muốn luồn lọt cửa Dương Qúy phi để được kiêm chức Tiết độ sứ Hà Đông! Y sốt ruột cầu cạnh, nên dọc đường cứ thúc hối xe ngựa đi mau.

Ngày mùng một Tết, nhà nông đều mặc sức vui chơi, những người nhàn rỗi tụ họp ở đầu làng cuối thôn rất đông, nhất là bọn trẻ con, giống như bầy khỉ sút chuồng, nô đùa khắp nơi, lúc ấy lại có một bọn trẻ trên dư mười tuổi đang đánh đáo trên đường.

Đoàn tùy tùng của An Lộc Sơn rầm rập phóng tới, vung roi ngựa đốp đốp chát chát đánh bửa ra, bọn người nhàn rỗi cạnh đường cũng có vài kẻ bị đánh trúng, hoảng sợ bỏ chạy tán loạn, đâu còn ai dám xông ra đường che chở cho bọn trẻ con.

Đám trẻ con hoảng sợ kêu cha gọi mẹ, dồn thành một đám hỗn loạn, những đứa can đảm lanh lợi vội vàng bỏ chạy, nhưng có ba đứa nhỏ tuổi nhất, có lẽ vì sợ quá nên nhũn người ra, bò lê bò càng trên đường, vẫn chưa bò ra khỏi đường, rõ chắc sẽ bị thương dưới vó ngựa của đoàn thiết ky!

Đột nhiên bóng người chớp lên băng ngang qua đường, nhanh như ưng cắt, chỉ thấy hai tay y quờ một cái túm lấy hai đứa nhỏ ở giữa đường vung tay ném ra xa, nói thì chậm chứ lúc ấy rất mau, con ngựa đi đầu đã phóng tới, trên đường vẫn còn một đứa nhỏ, người ấy vừa bế nó lên thì con ngựa cao to chỉ còn cách y ba thước, chỉ nghe :

– roát một tiếng, kỵ sĩ trên ngựa vung roi đập xuống, con chiến mã bị y cản đường đứng thẳng trên hai nhân sau, hai cái móng sắt vó trước bổ xuống người y.

Đúng vào chớp mắt cực kỳ nguy hiểm ấy, chỉ thấy y ôm đứa nhỏ điểm mũi chân xuống đất chênh chếch bay ra, chiếc roi da rát một tiếng lướt qua đánh rách một mảnh trên vạt áo y nhưng không đánh trúng đứa nhỏ, con chiến mã hai vó bổ xuống đúng vào chỗ y vừa đứng, sự việc diễn ra chỉ trong một cái chớp mắt!

Sử Dật Như ngỡ rằng người ấy là Đoàn Khuê Chương, sau mới nhìn kỹ lại, thì ra là một thiếu niên nhà quê, mặc một chiếc áo bông màu xám, không ngờ thân thủ lại mau lẹ như thế! Trong nháy mắt đoàn thiết ky đã phóng qua, thiếu niên kia buông đứa nhỏ xuống, nói :

– Bọn nhỏ bị hoảng sợ, xin vị thúc bá này đưa chúng về nhà giúp.

Người nhà của ba đứa nhỏ kia vừa khéo cũng có mặt ở đó, vội vàng chạy tới nhìn, chỉ thấy bên ven đường có một đống rơm, hai đứa nhỏ lồm cồm bò ra, nức nở gọi :

– Mẹ Ơi, mẹ Ơi!, chính là hai đứa nhỏ y vừa ném ra, rơi xuống giữa đống rơm, tuy bị hoảng sợ nhưng không hề bị thương.

Mọi người vội vàng xúm lại xem xét hai đứa nhỏ, trong tiếng kêu la ầm ĩ, thiếu niên nhà quê kia đã lặng lẽ bỏ đi,đến khi người nhà của bọn trẻ sực nhớ ra, định cảm tạ ân nhân, thì đã không còn thấy thiếu niên nhà quê ấy đâu nữa…

Sử Dật Như trú ngụ Ở thôn này mười mấy năm, người trong thôn y đều biết mặt, mới rồi trong lúc căng thẳng không kịp nhận mặt, lúc này nhớ lại diện mạo của thiếu niên kia, mới phát giác ra y không phải là người trong thôn, Sử Dật Như vô cùng kinh ngạc, hỏi :

– Đoàn huynh, huynh có biết người ấy không?. Y e là mình nhìn không rõ, nên lại hỏi Đoàn Khuê Chương lần nữa, nhưng không nghe trả lời, chợt phát hiện ra Đoàn Khuê Chương đã không còn đứng bên cạnh!

Sử Dật Như giật nảy mình, lúc đưa mắt nhìn ra, chỉ thấy Đoàn Khuê Chương đang đi mau về phía trước, bẻ cái cổ áo da dê lên trùm đầu, dường như sợ gió lạnh, lộ ra vẻ co ro cóm róm. Nhà họ Sử chỉ cách đường mươi bước, lúc ấy y đã đi tới dưới một gốc cây ngoài hiên nhà.

Sử Dật Như vốn định lớn tiếng gọi y, chợt nghĩ lại, nảy ý nghi ngờ :

– Đoàn đại ca lúc bình thời hay trượng nghĩa phù nguy, hoàn toàn không phải là một kẻ hèn nhát, mới rồi mấy đứa nhỏ suýt nữa bị ngựa xéo bị thương, với bản lĩnh của y thì cũng có thể cứu, nhưng y lại không ra cứu, đó đã là một chuyện lạ, bây giờ lại rón rén bỏ đi, cũng không nói với mình câu nào, tại sao lại thế? Thêm nữa, y là người luyện võ lẽ ra không sợ lạnh như thế, sao lại bẻ cổ áo lên trùm đầu lộ ra dáng vẻ co ro cóm róm như vậy? Chẳng lẽ y sợ người ngoài nhận ra y sao?. Sử Dật Như là người đọc sách, tâm tư tinh tế, vừa nảy ý nghi ngờ liền lập tức không gọi y nữa, cũng vội vội vàng vàng trở vào nhà.

Đoàn Khuê Chương đã bước vào tới nhà họ Sử, đợi Sử Dật Như bước vào, y lập tức đóng chặt cổng lớn, hạ giọng hỏi :

– Quan quân đi qua hết rồi chứ?. Sử Dật Như nói :

– Qua hết rồi. Đại ca, huynh….

Đoàn Khuê Chương nói :

– Vào trong hãy nói, để đề phòng trên vách có tai, tiết lộ phong thanh.

Sử Dật Như vô cùng nghi ngờ, hai người cùng nhau bước vào sảnh đường, Đoàn Khuê Chương còn hết sức cẩn thận đóng cửa phòng lại.

Sử Dật Như không nhịn được hỏi :

– Đoàn huynh, chẳng lẽ trước đây huynh đã làm chuyện gì phạm pháp sao?.

Đoàn Khuê Chương cười gượng một tiếng, rót đầy một chén rượu, uống một hơi cạn sạch, khẽ nói :

– Chắc đại ca nghi ta phạm vào vương pháp phải không? Ta chưa từng phạm pháp, chỉ là từng xúc phạm một gã thiếu niên vô lại.

Sử Dật Như càng thêm kinh ngạc, nói :

– Đại ca, huynh không phải là một kẻ nhát gan, cho dù từng xúc phạm một gã thiếu niên vô lại, thì huynh võ nghệ như vậy, cũng có gì phải sợ chứ?. Đoàn Khuê Chương nói :

– Nói ra dài lắm. Huynh nói gã thiếu niên vô lại ấy là ai nào? Chính là vị Tiết độ sứ Bình Lô kiêm Tiết độ sứ Phạm Dương mà huynh vừa nhìn thấy đấy.

Sử Dật Như kêu lên thất thanh :

– Hả, An Lộc Sơn à?.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Trong bấy nhiêu năm ta chưa từng nói với huynh về lai lịch của ta, bây giờ thì có thể nói rồi. Ta vốn là người U Châu, dời tới quý thôn chính là để tránh xa gã An Lộc Sơn ấy.

Đoàn Khuê Chương lại uống một chén rượu rồi nói tiếp :

– Tiên tổ ta lập nhiều quân công, làm tới chức Binh mã sứ U Châu, tính ra cũng là một chức võ quan không vừa. Tiên phụ bất hạnh mất sớm, ta kế thừa di ấm tổ phụ, không biết trời cao đất dày, kết giao với một bọn thiếu niên nhàn rỗi lêu lổng, thường ngày chuyên quản chuyện không đâu trong làng xóm, dẹp nỗi bất bình, tự cho là mình trượng nghĩa. Thật ra trong bọn thiếu niên ấy có quá nửa là kẻ vô lại, vì muốn kiếm rượu thịt nên kết giao với ta mà thôi. Trong đó có một gã, chính là An Lộc Sơn, mà lúc ấy thì y còn chưa mang họ An.

Đoàn Khuê Chương ngừng lại một lúc rồi nói tiếp :

– An Lộc Sơn là người Hồ ở Tây Vực, vốn họ Khang, mẹ là người Đột Quyết, về sau tái giá với tướng Hồ, An Diên Yển, y mới đổi mang họ An. Sử Dật Như cười nói :

– Bất kể y vốn họ gì, nhưng mọi người hiện đều biết y là An Lộc Sơn, thì cứ gọi y là An Lộc Sơn thôi. Về sau giữa huynh với An Lộc Sơn phát sinh chuyện gì vậy?.

Đoàn Khuê Chương nói :

– An Lộc Sơn thông hiểu ngôn ngữ Lục phiên, lúc ấy làm Hỗ thị lang ở U Châu. Ở U Châu người Hán người Hồ xen lẫn, Hỗ thị lang là một chức quan nhỏ chuyên trách quản lý thương vụ của người Hán người Hồ ở chợ, gặp lúc đôi bên ngôn ngữ bất thông thì kiêm luôn việc phiên dịch. Y thường nhân đó trục lợi, lừa dối các thương nhân lương thiện, nhưng bề ngoài thì tỏ vẻ phóng khoáng, thích kết giao với các hảo hán. Ta thấy y biết vài đường quyền bổng, lại thông hiểu ngôn ngữ Lục phiên, nhất thời không xem xét, cho rằng y là một nhân tài, bèn kết bạn với y.- Dần dần ta phát giác ra hành vi của y không chính cương, cũng từng khuyên nhủ y, y bề ngoài nghe theo nhưng bên trong thì làm trái lại, thay vốn thêm lời, có lần y ngụy tạo giấy nợ, sách nhiễu một thương nhân, bắt ép họ đưa con gái cho y trừ nợ, ta biết được chuyện ấy, trong lúc nóng giận đánh y một trận no đòn, từ đó tuyệt giao. An Lộc Sơn giữa chợ đông người bị ta mắng cho một chặp, đánh cho một trận, không còn mặt mũi nào tới đó nữa, hôm sau mất tăm luôn, không biết đi đâu.- Qua vài năm, chợt nghe nói y làm tới chức Binh mã sứ quân Bình Lô, thì ra y được cha dượng tiến cử, vào làm Tróc sinh tướng dưới trướng U Châu Tiết độ sứ Trương Hữu Khuê. Quân ở biên cương trọng dụng tướng Hồ, y lại giỏi luồn lọt, lại thêm cũng vài phen lập được công lao, nên được thăng chức rất mau, sau khi làm Binh mã sứ, không đầy hai năm lại được thăng làm Phó Tiết độ sứ Bình Lô, rồi dẫn quân về đóng ở U Châu.- Lúc ấy một chút của cải tiên tổ để lại ta đã vung phí hết sạch, thất thểu bơ vơ, bọn bạn bè ngày trước cũng tan đi hết. Ta biết An Lộc Sơn là một kẻ tiểu nhân báo thù từ một cái lườm một cái nguýt.

Sau khi y làm quan to, những chuyện tác oai tác phúc của hắn ta cũng đã nghe không ít. Đoán chắc là sau khi y trở về U Châu nhất định không bỏ qua ta, mà ta đối với cố hương cũng đã không còn gì để lưu luyến, nên lập tức xa lìa đất cũ, phiêu bạt vài năm, mới tới ở nơi này, không ngờ hôm nay lại gặp y ở đây. Sử huynh, chỉ e hôm nay đã là ngày chúng ta chia tay rồi.

Sử Dật Như nói :

– Ta cứ cho rằng huynh đã gây ra họa lớn tày trời gì, thì ra chỉ là lúc trẻ từng đánh một gã vô lại mà thôi. Chuyện đã lâu năm, An Lộc Sơn cũng chưa chắc còn nhớ đâu.

Đoàn Khuê Chương nói :

– An lộc Sơn coi chuyện ấy là mối sỉ nhục lớn nhất trong đời, e đến chết vẫn còn chưa quên, nếu ta không chạy, nhất định sẽ gặp mối họa lớn, ta chết không đáng tiếc, chỉ là sợ liên lụy tới vợ con bè bạn. An lộc Sơn hiện nay khí thế ngất trời, hôm nay chẳng phải huynh cũng đã chính mắt nhìn thấy y thị uy sao?.

Sự tàn bạo vô đạo của An Lộc Sơn thì Sử Dật Như hoàn toàn không phải không biết, nhưng y không nghĩ sự tình lại nghiêm trọng tới mức như thế, y kết giao với Đoàn Khuê Chương nhiều năm, quả thật không thể xa nhau một ngày, vì thế nên khuyên giải :

– Hôm nay ở ven đường có rất đông người, An Lộc Sơn giữa đám tiền hô hậu ủng, mau lẹ phóng ngựa, chắc gì y đã nhận ra huynh trong đám đông?.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Người xưa nói rất hay, là đề phòng tai họa từ lúc chưa xảy ra. Sự tình phải nghĩ tới chỗ xấu nhất, nhỡ khi tai họa đột ngột xảy ra, lúc ấy ta muốn ẩn núp cũng không còn kịp nữa.

Huống chi từ khi An Lộc Sơn bợ đỡ Dương Qúy phi năm trước, sắp tới nhất định thường tới Trường An, chỗ này cách Trường An rất gần, thế nào cũng có một ngày bị y phát hiện ra.

Sử Dật Như nói :

– Hai người chúng ta tình như thủ túc, bây giờ lại kết thành thông gia, lẽ ra phải hoạn nạn có nhau, muốn đi thì hai nhà chúng ta cùng đi.

Đoàn Khuê Chương tỏ vẻ lúng túng, hồi lâu mới nói :

– Huynh cao nghĩa, thật đáng khâm phục. Chỉ là tẩu phu nhân vừa sinh nở, như thế thì coi sao được?.

Sử Dật Như cười nói :

– Thế tẩu phu nhân không phải cũng vừa sinh nở sao?.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Tiện nội biết chút võ nghệ, thân thể khỏe mạnh, việc đến lúc nguy cấp, muốn đi cũng không khó. Tẩu phu nhân lại là khuê tú danh môn, làm sao phiêu bạt sinh nhai, dầm mưa dãi nắng được?.

Sử Dật Như nói :

– Theo ta thấy, muốn đi cũng không phải vào lúc này, thiết nghĩ An Lộc Sơn vào tới Trường An, ít nhất cũng phải qua Nguyên Tiêu mới về lại U Châu. Tẩu phu nhân tuy thân thể khỏe mạnh, nhưng vừa sinh nở xong, vậy cũng không nên đi xa. Theo ta thấy, chẳng bằng cứ chờ thêm mươi bữa nửa tháng, lúc ấy hai nhà cùng đi, há không phải hay hơn sao?.

Đoàn Khuê Chương nghe Sử Dật Như nói rất có lý, lại nghĩ tới việc hứa hôn lúc nãy, nếu hai nhà chia tay ngay trong hôm nay, tuy nói có Long Phụng bảo thoa làm tin, nhưng về sau có thể gặp lại nhau không thì chỉ còn cách thuận theo mệnh trời. An Lộc Sơn vào tới Trường An, không tránh khỏi rất nhiều quan lại thù tạc, trong kinh phú quý phồn hoa, y lại vừa nhận Dương Qúy phi làm mẹ nuôi, cũng sẽ tự đắc hưởng lạc một phen. Cho dù y nhận ra mình, muốn trả cái thù bị nhục năm xưa, thì chắc cũng phải đến lúc sau khi y rời Trường An trở về, lại đi qua thôn trang này chăng?

Ngẫm nghĩ hồi lâu, cuối cùng Đoàn Khuê Chương nghe theo lời khuyên của Sử Dật Như, quyết định trước ngày Nguyên Tiêu một hôm, hai nhà sẽ cùng xa chạy cao bay.

Sử Dật Như hồi Đoàn Khuê Chương có nhận ra thiếu niên nhà quê kia không, lúc ấy mới có cơ hội nói tới. Đoàn Khuê Chương nghe xong rất kinh ngạc, nói :

– Có một người như vậy sao? Lúc ấy ta vừa nhìn thấy cờ hiệu của An Lộc Sơn là vội trùm đầu tránh đi. Té ra ầm ĩ cả lên là vì chuyện ấy.

Sử Dật Như nhìn thấy thần sắc Đoàn Khuê Chương có vẻ khác lạ, nghĩ thầm :

– Thiếu niên nhà quê kia bản lĩnh quả thật hơn người, không trách gì Đoàn đại ca nghe thấy phải kinh ngạc.

Đoàn Khuê Chương ngồi thêm một lúc, đoán là đoàn người ngựa của An Lộc Sơn đã đi xa hơn mười dặm, mới cáo từ Sử Dật Như, hẹn Sử Dật Như ngày mai tới nhà y chơi.

Đoàn Khuê Chương về rồi, Sứ Dật Như vào nhà trong thăm vợ và đứa con gái vừa sinh, vợ y còn rất yếu, tình thần vẫn chưa hồi phục, con gái thì như một khối phấn chạm ngọc, cực kỳ khả ái. Sử Dật Như sợ vợ lo lắng, nên định đến khi nàng nghỉ ngơi khỏe rồi, trước lúc lên đường mới nói việc cả nhà đi xa với nàng. Còn chiếc Phụng thoa Đoàn Khuê Chương đưa làm sính lễ thì lấy ra đưa cho vợ xem.

Vợ Sử Dật Như họ Lư, là đại tộc ở Hà Đông, con nhà phú quý nhưng thấy chiếc Phụng thoa cũng tấm tấc khen ngợi, vội hỏi từ đâu ra. Sứ Dật Như nói :

– Là của Đoàn đại ca. Lư thị hỏi :

– Là Đoàn Khuê Chương Đoàn đại ca phải không ?. Sử Dật Như cười nói :

– Còn có vị Đoàn đại ca nào khác nữa chứ?. Lư thị nói :

– Ờ, cũng lạ thật. Đoàn đại ca lại có được chiếc thoa quý giá trị liên thành này. Sử Dật Như cười nói :

– Còn có chuyện lạ hơn, là ngày ba mươi Tết hôm qua Đoàn đại ca cũng sinh được một đứa con, có điều chúng ta sinh được con gái, còn y sinh được con trai. Lư thị nói :

– Lại có chuyện vừa khéo thế à! Các huynh là bạn thân, con cái cũng cùng sinh ra một ngày? Phu quân, thiếp nói đùa một câu nhé hai đứa nhỏ này giống như một đôi trời sinh vậy. Sử Dật Như hô hô cười rộ nói :

– Không phải nói đùa đâu, việc hôn nhân đã định rồi. Chiếc Phụng thoa này chính là sính lễ Đoàn đại ca đưa con gái chúng ta đấy. Có lẽ nàng cũng không chê nhà họ nghèo chứ?.

Lư thị nghĩ ngợi một lúc, nói :

– Đoàn đại ca, Đoàn đại tẩu đều là người tốt, hàng trăm người không có được một người như họ, Đoàn đại ca lại là văn võ toàn tài, thiếp thấy thế đạo hiện nay, chỉ e tương lai khó tránh khỏi đại loạn, con gái gả cho nhà họ, so với gả cho con em nhà thư hương, quan lại nào cũng hay hơn nhiều. Chỉ là thiếp có chút lo lắng…. Sử Dật Như vội hỏi :

– Lo lắng chuyện gì?. Lư thị nói :

– Đoàn đại ca nhà nghèo, mà lại có chiếc bảo thoa này…. Sử Dật Như cười nói :

– Chẳng lẽ nàng ngờ chiếc thoa này lai lịch bất minh à?. Lư thị lắc đầu nói :

– Không phải ý ấy. Với con người của Đoàn đại ca, thì cho dù là vật đáng tiền hơn thiếp cũng không nghi là của cải bất nghĩa.

Nhưng xét từ việc y có chiếc bảo thoa, thì nhất định y không phải là người tầm thường, nếu không phải ông cha từng làm quan to thì bản thân y ắt là nhân vật loại Kinh Kha Nhiếp Chính. Mà y lại cam tâm sống vô danh trong thôn nhỏ này, theo như thiếp thấy, chỉ e có quá nửa là y trốn tránh tai họa gì đó, lánh nạn mà tới thôi!

Sử Dật Như ngấm ngầm khâm phục sự hiểu biết của vợ, nghĩ thầm :

– Lúc mình vừa nhìn thấy chiếc bảo thoa này cũng từng thầm nghi ngờ, nhưng không suy nghĩ được trọn vẹn như nàng, đoán một lần là ra ngay. Nhưng y sợ vợ vừa sinh xong lo nghĩ quá độ, nên vẫn giấu diếm chưa nhắc tới chuyện Đoàn Khuê Chương kết oán với An Lộc Sơn, chỉ nói :

– Nàng đoán không sai, y đúng là dòng dõi nhà tướng, chiếc Phụng thoa này là lúc tiên tổ của y theo Lý Tĩnh Lý Đại Tổng quản Tây chinh lấy được. Đoàn đại ca là người hiếu nghĩa, có thể cũng đắc tội với vài kẻ tiểu nhân, nhưng chắc không đến nỗi có tai họa gì lớn đâu. Lư thị nói :

– Chỉ mong không có là hay.

Sử Dật Như đưa chiếc thoa cho vợ cất, ra ngoài đi chúc Tết mấy người trưởng bối; lại đi một vòng từ đầu thôn tới cuối thôn, thấy người trong thôn đều nhao nhao bàn tán chuyện sáng hôm nay, chửi mắng An Lộc Sơn coi mạng người như rác, khen ngợi thiếu niên vô danh kia ban lĩnh phi phàm. Sử Dật Như qua lời bàn luận của họ biết sau chuyện ấy hoàn toàn không có người lạ nào vào thôn, mới yên tâm nghĩ thầm :

– Nếu An Lộc Sơn nhận ra y, nhất định sẽ phái người tới nghe ngóng, còn đã không có ai tới, thì không cần phải lo lắng.

Chiều tối y về nhà, vì vợ trong thời gian nghỉ ngơi sau khi sinh nở, theo tập tục phải mời bà đỡ tới bầu bạn qua đêm, y ăn cơm tối xong, qua thăm vợ một lúc, rồi tới thư phòng nghỉ ngơi. Lúc ấy đã gần đến canh hai, y bước vào thư phòng, vừa thắp nến lên, đột nhiên thấy một người lạ mặt đang ngồi trong thư phòng của mình bèn giật mình hoảng hốt. Trong ánh nến chập chờn, chỉ thấy người kia là một võ quan trên mặt đầy râu, toàn thân khoác áo da, viên võ quan ấy không đợi y mở miệng đã lập tức đứng lên đón, ôm quyền cười nói :

– Làm khách không mời, đang đêm tới thăm, thật rất mạo muội! May là Đoàn tiên sinh lại là hiệp sĩ giang hồ, những chuyện thế này cũng đã thường nhìn thấy, nghĩ chắc không đến nỗi trách móc.

Sử Dật Như tuy là một thư sinh yếu ớt, nhưng vốn gan dạ, tuy vì bất ngờ nên giật nảy mình, nhưng đến khi thấy rõ khách là một võ quan, trong lòng đã hiểu một nửa, lúc ấy lại nghe viên võ quan kia gọi mình là :

– Đoàn tiên sinh thì đã hoàn toàn hiểu rõ sự tình, nghĩ thầm :

– Sáng nay Đoàn đại ca núp vào nhà mình, không hỏi cũng biết, gã này tưởng mình là Đoàn đại ca đây!.

Sử Dật Như định thần xong, y tuy trong lòng hiểu rõ nhưng làm như không biết gì, làm ra vẻ kinh ngạc hỏi :

– Tôn giá là ai, tới đây có ý gì? Xin được cho biết.

Viên võ quan kia nhìn Sử Dật Như một cái, Sử Dật Như tuy nói đã hơi định thần nhưng dáng vẻ hoảng sợ rốt lại cũng không che giấu được hết, viên võ quan kia nghĩ thầm :

– An đại soái nói y tinh thông võ nghệ, bản lĩnh phi phàm, tại sao lại có dáng vẻ thư sinh thế này, vừa nhìn thấy mình đã hoảng sợ run bắn cả người? Hay y là kẻ đại trí nhược ngu, đại dũng nhược khiếp, thân mang tuyệt kỹ, mà cố ý làm ra dáng vẻ như thế chăng?.

Viên võ quan kia ngồi xuống, nói :

– Tiểu nhân là Phiêu kỵ tướng quân dưới trướng An đại soái, họ Điền tên Thừa Tự, Điền trong điền thổ, Thừa trong phụng thừa, Tự trọng thừa tự Y nói rặt giọng Sơn Đông, dường như sợ Sử Dật Như nghe không rõ, vừa nói vừa dùng ngón tay chấm nước trà viết ra trên bàn, trên bàn xuất hiện ba chữ Điền Thừa Tự, giống như thợ mộc dùng đục đục vào, sâu tới ba phân.

Điền Thừa Tự vốn xuất thân là giang hồ đại đạo, trước kia có thể nói là một nhân vật không ai không biết trong hắc đạo, y tự báo tính danh, lại bộc lộ bản lĩnh ấy, dụng ý là định trấn áp :

– Đoàn Khuê Chương để :

– Đoàn Khuê Chương không dám kháng cự.

Sử Dật Như vốn không biết võ công, lúc ấy trong lòng y đã có chủ ý, cũng không sợ sệt nữa, đối với việc Điền Thừa Tự ra oai chỉ thấy buồn cười, lúc ấy hờ hững nói :

– Té ra là Điền tướng quân, ngưỡng mộ đã lâu, ngường mộ đã lâu! Có việc gì xin cứ chỉ giáo.

Điền Thừa Tự bộc lộ công phu ấy, lại thấy Sử Dật Như thần sắc trở lại thản nhiên, không hề tỏ vẻ khiếp sợ, nghĩ thầm :

– Quả nhiên y là chân nhân không lộ tướng, suýt nữa mình nhìn lầm rồi, càng lúc càng cho rằng Sử Dật Như đúng là Đoàn Khuê Chương, vì không dò được y sâu cạn ra sao, trong lòng hơi phát hoảng, bèn bộc lộ công phu Kim chung thủ, khẽ xoa một cái, xóa ba chữ Điền Thừa Tự trên bàn đi, cười gượng nói :

– Té ra Đoàn tiên sinh đã sớm biết tiện danh của tiểu nhân, chúng ta hiện thân phận tuy có chỗ khác nhau, nhưng đều từng lăn lộn trên giang hồ, lá xanh hoa đỏ cũng từ một cội mà ra, Điền mỗ tuyệt không thể đắc tội với Đoàn tiên sinh, xin tiên sinh cũng đừng làm khó Điền mỗ, cho ta một chút thể diện, cùng đi với ta một lần!

Sử Dật Như vẫn làm ra vẻ không biết gì, hờ hững nói :

– Điền tướng quân, chuyện này mới là lạ đây, ngươi và ta vốn không quen biết, mà ngươi lại muốn ta đi theo ngươi à? Mà nói lại, ta cũng chưa thấy qua chuyện đêm hôm khuya khoắt tới mời khách!.

Điền Thừa Tự đứng phắt lên, phần sắc căng thẳng, trầm giọng nói :

– Đoàn tiên sinh, tính ra ngươi cũng là nhân vật có tiếng tăm, Điền mỗ đã theo quy củ võ lâm, lấy lễ mà mời, chẳng lẽ ngươi quả thật muốn :

– Rượu mời không uống, uống rượu phạt sao? Đi hay không đi, chỉ một lời là quyết! Cần gì đùn đẩy thoái thác lôi thôi, làm như không biết? Đó đâu phải là bản sắc anh hùng?.

Sử Dật Như cười nói :

– Ta vốn không phải anh hùng, vả lại quả thật ta còn chưa biết ý tướng quân tới đây làm gì. Cho dù mời khách cũng phải có lý do mời khách chứ.

Điền Thừa Tự hừ một tiếng, nói :

– Lý do à? Vậy thì hãy hỏi An Tiết độ sứ của bọn ta.

Sử Dật Như nói :

– Ủa, té ra người mời khách là An Lộc Sơn sao?.

Điền Thừa Tự nói :

– Đúng thế, An đại soái căn dặn là bất kể thế nào cũng phải mời được tiên sinh ngươi tới, nên ngươi không đi cũng phải đi?. Y ngừng lại một chút, rồi chuyển qua giọng ôn hòa hơn :

– Đoàn tiên sinh, ngươi là người sáng suốt không cần dài dòng. Điền mỗ vâng lệnh An đại soái, không thể không thế này, xin ngươi đừng làm khó ta. Nguyên là Điền Thừa Tự đối với :

– Đoàn Khuê Chương cũng có mấy phần sợ sệt, nếu không y đã sớm động thủ rồi.

Sử Dật Như trong lúc ra sức kéo dài thời gian đã suy đi nghĩ lại.

Nếu đi thì hậu quả ra sao, rất khó đoán trước. Vả lại y bình sinh chán ghét kẻ quyền quý, loại vua con hại dân ra oai, cát cứ một phương như An Lộc Sơn chính là kẻ mà y căm hận. Nếu là bình thời thì y có chết cũng không chịu đi gặp An Lộc sơn. Nhưng hiện chuyện có liên quan tới Đoàn Khuê Chương, nếu không đi thì y phải nói rõ thân phận của mình ra, để gã Điền Thừa Tự này hiểu rõ đây là một sự hiểu lầm, nhưng nếu thế thì Đoàn Khuê Chương lại khó mà thoát thân.

Điền Thừa Tự thúc ép đến cùng, Sử Dật Như nảy ra ý nghĩ :

– Mình đi cũng không hề gì, thủ hạ của An Lộc Sơn bắt lầm người, cho dù y ngông cuồng không nói lý lẽ cũng chưa chắc đã dám giết mình. Đoàn đại ca mà đi thì ít nhất cũng không tránh được một phen bị lăng nhục, y là một anh hùng hảo hán thà chết không chịu nhục, mình mà nói rõ chân tướng ra thì chính là hại chết mạng y!.

Sử Dật Như tâm ý đã quyết, lập tức hô hô cười rộ, ngẩng đầu cười nói :

– An Tiết độ sứ đã biết trên đời có ta, phái một vị dại tướng tới mời, quả thật khiến ta vừa mừng vừa lo! Đó là chuyện mong còn chưa được, biết đâu ta còn có thể được làm quan, hô hô, đã được triệu, lẽ nào không đi?.

Điền Thừa Tự trong lòng vốn đang căng thẳng như dây cung, sẵn sàng động thủ bất cứ lúc nào, nghe y nói một câu như thế, lập tức chùng xuống, cười nói :

– Đoàn tiên sinh quả nhiên là người sáng suốt, nghe An đại soái nói ngươi vốn là bạn cũ của người, chỉ cần ngươi chịu nói vài câu dễ nghe, thì ngươi muốn làm chức quan lớn nào cũng dễ như trở bàn tay! Đoàn tiên sinh, ta đã sắp sẵn ngựa, xin mời lên đường thôi!.

Sử Dật Như lại làm như chuyện đùa, cười nói :

– Có gì mà gấp? Ta không thể cứ nói lên dường là lên đường ngay được.

Điền Thừa Tự sắc mặt sa sầm, hô hô cười nói :

– Ngươi còn có công việc gì nữa? An đại soái căn dặn ta phải mời được tôn giá về tới Trường An trước khi trời sáng, ta thì có thể chờ ngươi, chứ An đại soái thì không rảnh đâu mà chờ ngươi.

Sử Dật Như nói :

– Ta cũng phải từ biệt người nhà một tiếng.

Điền Thừa Tự cười nói :

– Nếu không phải đã sớm biết thân phận của ngươi, quả thật ta đã nghĩ ngươi là một kẻ sĩ cổ hủ. Đại trượng phu làm việc, há lại lằng nhằng lần khân như vậy? Ngươi đi từ biệt người nhà, trong lúc nhất thời làm sao nói được rõ ràng? Nhỡ như vợ ngươi kêu kêu khóc khóc, thì chỉ e ầm ĩ đến sáng cũng chưa lên đường được. Y hắng giọng một tiếng, lại nói :

– Ta nể mặt ngươi là đồng đạo võ lâm, hoàn toàn chưa làm kinh động người nhà của ngươi, ngươi cần gì gọi họ dậy giữa đêm hôm khuya khoắt?, trong lòng nghĩ thầm :

– Gã Đoàn Khuê Chương này uổng có tiếng tăm như vậy, chẳng biết gì về luật giang hỗ, cũng không giống nhân vật giang hồ.

Thật ra Sử Dật Như hoàn toàn không muốn vào từ biệt vợ, khiến vợ đau lòng, y nói như thế là có sự tính toán khác. Mà việc Điền Thừa Tự không ưng thuận thì y đã sớm tính tới rồi.

Y nghe Điền Thừa Tự nói chưa làm kinh động người nhà của mình, liền yên tâm nói :

– Tuy nói là thế, nhưng ta đi chuyến này không biết lúc nào mới về, cũng phải để lại vài chữ để họ khỏi ngờ thần ngờ ma, mất công lo lắng.

Điền Thừa Tự rất bực bội, nhưng cũng đành nói :

– Được, ngươi cứ để lại vài chữ đi, nhưng không được nói tới An Tiết độ sứ cứ bịa bừa ra chuyện gì đó, chỉ cần cho người nhà của ngươi biết ngươi yên ổn là được. Sắp tới ngươi áo gấm về làng, sẽ cho họ vừa mừng vừa sợ một phen. Sử Dật Như cười nói :

– Ta biết rối, đương nhiên không nói gì tới An Lộc Sơn, rồi lập tức cầm bút lên viết một lá thư ngắn, chỉ nói ra ngoài có việc bảo vợ nếu gặp khó khăn, cứ nhờ bạn bè thân thích.

Điền Thừa Tự đứng bên cạnh nhìn y viết thư, không nói một tiếng.

Sử Dật Như lấy cái nghiên chặn lên lá thư, đặt lên giữa bàn trong lòng nghĩ thầm :

– Vợ mình còn thông minh hơn mình, sáng mai nàng nhìn thấy lá thư này, nhất định sẽ đoán được mình gặp chuyện bất ngờ, sẽ lập tức phái người báo cho Đoàn đại ca. Lúc ấy tuy nàng đau lòng, nhưng so với chuyện vợ chồng chia tay bây giờ thì vẫn tốt hơn.

Đoàn đại ca cũng nhất định sẽ chiếu cố cho mẹ con nàng, bảo vệ họ xa chạy cao bay!. Đáng thương Sử Dật Như tuy phí tâm lo nghĩ, nhưng rốt lại y vẫn thiếu kinh nghiệm giang hồ, nào biết Điền Thừa Tự đã sớm an bài, nếu không thì đời nào lại cho y viết lá thư ấy?

Điền Thừa Tự khẽ nói :

– Nhẹ chân một chút!. Hai người ra tới ngoài thư phòng, Điền Thừa Tự phi thân nhảy lên nóc nhà, thấy Sử Dật Như không đi theo, vội vàng nhảy xuống, tức giận hỏi :

– Cái gì, lại không muốn đi à? Sử Dật Như nói :

– Ta đang ở trong nhà mình, muốn rời nhà cũng không thể lén lén lút lút như thế, muốn đi thì ta phải đi từ cổng lớn. Trên giang hỗ vừa khéo có quy củ như thế, nhân vật có thân plận trong võ lâm cho dù bị người ta bức bách cũng nhất định phải ra đi từ cổng lớn mới không đến nỗi bị mất mặt. Điền Thừa Tự mắng thầm :

– Đang lúc này mà còn nghênh ngang thối tha như thế, nhưng y cũng chỉ đành làm theo, từ cổng lớn đi ra. Sử Dật Như đưa mắt nhìn, thì ngoài cửa đã có ba con tuấn mã yên cương đầy đủ!

Một viên võ quan áo đen bước tới, ôm quyền nói :

– Vị này là Đoàn tiên sinh phải không? Tiểu đệ là Tiết Tung, trước đây cũng từng sống ở U Châu một thời gian. Đại danh của Đoàn huynh như sét ngang tai, hôm nay may mắn được gặp. Thủ hạ của An Lộc Sơn có mấy viên tướng đắc lực, Tiết Tung cũng là một trong số đó. Sử Dật Như đáp lễ nói :

– Đại danh của Tiết tướng quân, tại hạ đã ngưỡng mộ từ lâu. Tiết Tung vô cùng đắc ý hô hô cười rộ, Sử Dật Như không biết y cười chuyện gì, chỉ nghe Điền Thừa Tự nói :

– Nghe nói trước kia vì chuyện Lý gia ở Thanh Hà câu mà các ngươi suýt nữa động đao động kiếm với nhau, có chuyện ấy không? Tiết Tung nói :

– Đúng thế, cả thời gian cũng đã hẹn rồi. Về sau có một người tự xưng là đệ tử của Cù Nhiêm Khách ra mặt thu xếp chuyện ấy, ta và Đoàn huynh cũng mỗi người đi một phương, trước nay chưa từng gặp nhau, hô hô, nói ra cũng đã là chuyện mười bốn năm rồi. Điền Thừa Tự cười nói :

– Trở đi chúng ta đều là đồng liêu, hai người các vị cũng có thể thân cận với nhau nhiễu hơn.

Sử Dật Như vốn không biết chuyện Thanh Hà câu, may là họ vội vàng lên đường, Tiết Tung theo phép tắc giang hồ, nói vài câu xong, lập tức giục y lên ngựa, không nói chuyện nữa, Sử Dật Như mới không bị lộ chỗ sơ hở.

Điền Thừa Tự đi trước, Tiết Tung đi sau, hai con ngựa kẹp Sử Dật Như vào giữa. Vốn Tiết Tung cũng xuất thân giang hố đại đạo, là một tay Viên Công kiếm pháp tài giỏi, An Lộc Sơn sai hai người họ tới là để đề phòng Đoàn Khuê Chương chống cự, Tiết Tung vừa rồi tiếp ứng ở ngoài, cũng để chuẩn bị một trận ác đấu, không ngờ Điền Thừa Tự lại thu xếp sự tình ổn thỏa như thế, y cũng cả mừng.

Tâm trạng Sử Dật Như lại vô cùng nặng nề, y nhảy lên ngựa, ngoái đầu nhìn lại, nghĩ thầm :

– Bây giờ chắc nàng đang ngủ, làm sao biết được chuyện vợ chồng ly biệt ôi, không biết về sau còn có ngày vợ chồng tái ngộ, cha con gặp mặt không? Con gái mới sinh ra đã mất cha, sắp tới nó lớn lên, không biết sẽ đau lòng đến thế nào?. Đồng thời trong lòng chợt lại nảy ý nghi ngờ, Điền Thừa Tự tới nhà y, lằng nhằng với y trong thư phòng tới nửa giờ, phòng ngủ ở bên trong cách đó khá xa, vợ vừa sinh xong yếu ớt, ngủ say không dễ tỉnh lại thì còn có thể, nhưng trong nhà y còn có một thư đồng, một tỳ nữ, lại còn thêm một bà đỡ được mới tới, buổi tối lúc sắp đi ngủ còn tới chăm sóc cho sản phụ và đứa nhỏ, tại sao họ không hề nghe thấy tiếng động gì?

Y nói chuyện với Điền Thừa Tự trong thư phòng lâu như thế, chẳng lẽ đứa thư đồng ngủ phía sau thư phòng lại không nghe thấy sao?.

Nhưng lúc ấy đã không còn thời gian để y nghĩ kỹ, Điền Thừa Tự thúc ngựa phi mau đi trước dẫn đường, y chỉ còn cách bám chặt theo.Tuy y không giỏi kỵ thuật nhưng con ngựa y cưỡi là chiến mã xông pha trận mạc đã nhiều, không cần y sai khiến cũng vững vàng phóng mau theo con ngựa phía trước. Nhà y cách Trường An chẳng quá sáu mươi dặm, ba con ngựa này đều là tuấn mã, mỗi ngày đi vài trăm dặm, không đầy hai giờ đã tới một nơi, phía trước là một hòn núi, dưới chán núi có một tòa nhà lớn, Sử Dật Như biết đó là Ly Sơn thì ra tòa nhà lớn này chính là phủ đệ của An Lộc Sơn ở Trường An.

Lúc ấy vừa đến canh năm, trời còn chưa sáng, Điền Tiết hai người dắt y từ cửa ngách bước vào, mời y ngồi nghỉ trong Bạch hổ đường, chỗ bọn vệ sĩ canh gác tụ tập. Tiết Tung dương dương tự đắc nói :

– Vị này chính là U Châu kiếm khách Đoàn Khuê Chương đại danh lừng lẫy, về sau các ngươi nên thỉnh giáo y nhiều thêm.

Trong Bạch hổ đường có mười mấy vệ sĩ trực ban, nghe nói tới Đoàn Khuê Chương, đều :

– Ái chà một tiếng, đứng bật cả dậy, đến khi nhìn thấy tướng mạo Sử Dật Như lại không khỏi ngẩn người ra, trong lòng đều nghĩ :

– Đoàn Khuê Chương tung hoành giang hồ, đại danh lừng lẫy sao lại giống như một bạch diện thư sinh thế này?.

Bọn vệ sĩ ấy tuy cảm thấy tướng mạo của :

– Đoàn Khuê Chương không giống như họ từng nghĩ, nhưng oai danh của Đoàn Khuê Chương mười mấy năm trước đã chấn động vùng Hà Sóc, ai dám coi thường? Vì thế bên nhao nhao bước tới làm lễ. Sử Dật Như cũng làm ra vẻ khệnh khạng, ai làm lễ với y y cũng oai vệ ngồi đó, hững hờ gật đầu một cái.

Một tên vệ sĩ nói :

– Đoàn đại hiệp kiến thức rộng rãi, hiện bọn ta có một chuyện muốn thỉnh giáo Đoàn đại hiệp. Sử Dật Như xua xua tay, nói :

– Không cần đa lễ, cứ nói đi. Tên vệ sĩ ấy nói :

– Gần đây có một người tên Diệu thủ Không Không Nhi nổi tiếng võ lâm, Đoàn đại hiệp có biết lai lịch của y không? Đại soái của bọn ta muốn mời y, không biết Đoàn đại hiệp cớ cách nào không.

Sử Dật Như lạnh lùng nói :

– Cái gì mà Không Không Nhi, trước nay ta chưn từng nghe qua!.

Bọn vệ sĩ đều giật nảy mình không nói tiếng nào, nên biết những nhân vật thành danh trong võ lâm mười người thì có tới tám chín kẻ cho mình là nhất, trong mắt không người. Họ chỉ biết :

– Đoàn Khuê Chương coi thường Không Không Nhi, nên giọng nói mới có vẻ khinh miệt như vậy. Tên vệ sĩ hỏi y lại nghĩ thầm :

– Một núi khó dung hai cọp, y đã đầu thân vào dưới trướng đại soái, đương nhiên không muốn có người hơn y. Mình hỏi y nghĩ cách đi tìm Không Không Nhi, quả là lỡ lời, chẳng khác gì xúc phạm y. Nhưng y dám công nhiên coi thường Không Không Nhi, e là thân hoài tuyệt kỹ, danh bất hư truyền!.

Tên vệ sĩ ấy lỡ lời, mọi người đều không dám lên tiếng. Điền Thừa Tự khẽ cười một tiếng nói qua chuyện khác, hỏi một tên vệ sĩ :

– Công chuyện làm tới đâu rồi?.

Tên vệ sĩ ấy nói :

– Rất là bất lợi, lão già ấy võ công quái dị, bọn tôi đều nhìn không ra võ công của y là gì. Còn có một tên thiếu niên, không biết có phải là đồ đệ y không, đầu bù tóc rối giống một thiếu niên nhà quê, nhưng tay chân vô cùng tàn độc, ngay Trương Thống lĩnh cũng bị y đả thương.

Điền Thừa Tự hỏi :

– Bị thương nặng không Tên vệ sĩ ấy nói :

– May ra thì không bị tàn phế, nhưng ít nhất cũng phải chữa chạy ba tháng.

Điền tướng quân, tôi thấy phải đích thân người ra tay mới xong!.

Sử Dật Như nghe họ nói tới dáng vẻ thiếu niên nhà quê kia, trong lòng rúng động, nghĩ thầm :

– Chẳng lẽ đó là thiếu niên hôm qua cứu người dưới vó ngựa ?.

Điền Thừa Tự cười nói :

– Đoàn đại ca tới rồi, đúng là vừa khéo nên nhường công lao này cho Đoàn đại ca làm cái lễ ra mắt. Đoàn đại ca, chắc ngươi phá giải được công phu Mai hoa châm thích huyệt chứ.

Sử Dật Như chưa kịp trả lời, chợt nghe kỳ bài quan cao giọng truyền lệnh :

– Đại soái truyền hai tướng quân Điền Tiết cùng Đoàn Khuê Chương vào yết kiến.

Nguyên là trời đã sáng hẳn, An Lộc Sơn đã thăng đường. Đúng là:

Gan ruột soi người chân nghĩa sĩ, Không nề đao kiếm quả lương bằng.

Muốn biết tính mạng Sử Dật Như thế nào, xin hạ hồi phân giải.

Chương 3: Thiếu niên vô lại thành tôn quý – Nghĩa sĩ cao phong chịu ngục tù

Thiếu niên vô lại thành tôn quý -Nghĩa sĩ cao phong chịu ngục tù

Sử Dật Như theo hai người Điền Tiết, chưa lên tới bậc thềm, chỉ nghe An Lộc Sơn trên sảnh hô hô cười rộ nói :

– Tiểu Đoàn, Tiểu Đoàn, ngày trước ngươi mắng ta là vô lại, khốn kiếp, không ra cái gì, hôm nay thì sao? Là ngươi không ra gì hay ta không ra gì?.

Sử Dật Như cố ý cúi đầu thật thấp, im lặng không lên tiếng, Điền Thừa Tự thân thể cao lớn, cao hơn y cả một cái đầu, An Lộc Sơn chưa nhìn thấy rõ ràng, lại hô hô cười rộ nói :

– Đoàn Khuê Chương, ngươi cũng biết sợ hãi sao? Nghĩ tới giao tình ngày trước, ngươi dập đầu nhận lỗi với ta, thì ở đây đang là ta đang thiếu một tên chăn ngựa, sẽ thưởng cho ngươi chức ấy!, trong lòng thì nghĩ thầm :

– Đợi ngươi dập đầu nhận lỗi xong, ta sẽ lập tức sai người chặt chân ngươi, phế bỏ võ công của ngươi, cho ngươi suốt đời chịu nhục, như thế hay hơn một đao chém ngươi thành hai đoạn, quá tiện lợi cho ngươi.

An Lộc Sơn đang lúc vô cùng đắc ý, Sử Dật Như đột ngột ngẩng đầu lên, cao giọng nói :

– Tiểu nhân tuy bất tài cũng đã từng thi đậu Tiến sĩ, làm tới chức Lang quan, Tiết độ sứ muốn ta làm mã phu, như thế không hợp với thể lệ của triều đình, chỉ e trước hết ngươi phải tâu với hoàng thượng chuẩn y cách hết công danh của ta mới được!. Nên biết chế độ khoa cử bắt đầu từ nhà Đường, Đường Thái tông Lý Thế Dân mở khoa chọn kẻ sĩ, nhìn thấy sĩ tử xếp hàng tiến vào trường thi, từng đắc ý cười nói :

– Anh hùng thiên hạ đều rơi hết vào vòng rồi!. Để lung lạc người đọc sách trong thiên bạ, khiến người ta coi trọng chế độ khoa cử, Đường Thái Tông từng lập ra điều lệ người đi học thì có thể được miễn lao dịch cho chính quyền, người thi đậu Tú tài có thể được miễn hình phạt, người thi đậu Tiến sĩ thì không cần phải nói.

An Lộc Sơn giật nảy mình, hai mắt tròn xoe nói :

– Ngươi là ai? Sao lại tới đây?. Sử Dật Như nói :

– Ta là Tiến sĩ Sử Dật Như, còn tại sao tới đây, xin ngươi cứ hỏi hai vị tướng quân này.

An Lộc Sơn đập bàn mắng :

– Khốn nạn, khốn nạn! Ta bảo các ngươi đi bắt Đoàn Khuê Chương, tại sao các ngươi lại bắt người này về?

Điền Thừa Tự vô cùng hoảng sợ, ngấm ngầm kêu khổ, vội nói- Chúng tôi hoàn toàn không nhận lầm chỗ, quả thật là tới nhà họ Đoàn, chúng tôi nói rất rõ, đại soái mời Đoàn Khuê Chương, người này bên đi theo!.

Sử Dật Như nói :

– Ta nói với các ngươi ta là Đoàn Khuê Chương lúc nào, các ngươi cứ nhất định bảo ta là Đoàn Khuê Chương, vung đao múa gậy cứ như hung thần ác sát, ta làm sảo dám phân biện, làm sao dám không đi? Ngươi nói ngươi vào nhà họ Đoàn, Tiết độ sứ cứ phái người tới tra vấn, nhà ta thì người trong thôn không ai không biết, xem thử rốt lại là nhà họ Sử hay nhà họ Đoàn?.

Tiết Tung bước, lên bẩm :

– Cho dù chúng tôi vào lầm nhà, thì ban ngày đại soái, người cũng đã nhìn thấy, hán tử trùm áo lên đầu bước vào nhà y, đại soái đã nhận ra hán tử ấy là Đoàn Khuê Chương, vả lại còn núp trong nhà y, không cần nói cũng biết là có liên quan với y, đại soái muốn bắt Đoàn Khuê Chương thì cứ tra hỏi y là được!.

Điền Thừa Tự và Tiết Tung là hai viên đại tướng đắc lực nhất của An lộc Sơn, An Lộc Sơn đành để cho họ có ba phần thể diện, chửi mắng một hồi, cũng coi như xong, rồi quay qua mắng Sử Dật Như- Ngươi cũng không phải tốt lành gì, hay ngươi cậy là từng thi đậu Tiến sĩ, trong con mắt ta, Tiến sĩ không đáng một đồng, giết chết ngươi cũng như xéo chết một con kiến thôi! Nói đi, Đoàn Khuê Chương ở đâu?.

Sử Dật Như cười lớn nói :

– Ngươi coi rẻ mạng người, lạm sát người vô tội, không cần khoe khoang nữa, ta đã sớm nghe tiếng rồi? Nói thật, nếu ta sợ chết đã không tới chỗ ngươi đâu!.

Sử Dật Như chẳng qua chỉ là một thư sinh văn nhã, tả hữu của An Lộc Sơn phần lớn đều là bọn ma vương giết người không chớp mắt, nhưng Sử Dật Như nói câu ấy ra, bọn ma quỷ ấy không ai không cả kinh thất sắc! Thử nghĩ An Lộc Sơn tay nắm binh phù, quyền khuynh trong ngoài, có bao nhiêu người dám ăn nói bừa bãi, không hề úy kỵ như thế trước mặt y?

An Lộc Sơn tức tới mức bảy khiếu bốc khói, đập bàn mắng :

– Lôi, lôi y ra, đánh chết đi?.

Một viên đại tướng bên cạnh y chợt đứng lên nói :

– Xin đại soái bớt giận, có thể nghe ta nói một câu không? Người ấy là anh em kết nghĩa với An Lộc Sơn, Bình Lô quân Phó Tiết độ sứ Sử Tư Minh, chức vụ chỉ sau An Lộc Sơn, nhưng mưu trí thì cao hơn An Lộc Sơn nhiều.

An Lộc Sơn nói :

– Sử huynh đệ có lời gì?.

Sử Tư Minh nói :

– Sử Dật Như vốn giỏi thơ văn, vả lại nổi tiếng cứng đầu, nghe nói năm trước y thi đậu Tiến sĩ, từng dâng Trị an thập sách, lại từng vạch tội Tể tướng đương thời là Lý Lâm Phủ, vì thế bị bãi quan. Loại kẻ sĩ có danh tiếng này, giết đi e sẽ bị người ta bàn tán. Ta nghe nói Lý Thái Bạch từng trong cung mượn rượu mắng người, có lần uống rượu say thậm chí còn bắt Cao Lực Sĩ cởi giày cho y, Qúy phi nương nương mài mực cho y, kẻ ngông cuồng như thế mà hoàng đế vẫn khoan dung ưu đãi. Nguyên soái, nếu ngươi đã thỏa mãn với chức vị hiện tại thì giết y không hề gì, còn nếu không như thế thì ngại gì tha chết cho y, để người trong thiên hạ biết nguyên soái là người kính lễ bậc hiền sĩ!

An Lộc Sơn tuy thô lỗ nhưng cũng là một kẻ khá thông minh, y nhất thời tức giận định giết Sử Dật Như, lúc ấy nghe Sử Tư Minh nói thế, lại bất giác xoay chuyển ý nghĩ, vốn y dã tâm bừng bừng, đã sớm có ý cướp giang sơn của nhà Lý Đường, lời Sử Tư Minh quả thật là ngấm ngầm nhắc nhở y muốn y mua chuộc lòng người, nhất là đối vôi các sĩ đại phu, không nên đắc tội quá đáng.

An Lộc Sơn nghĩ ngợi xong, hô hô cười nói :

– Được, hoàng đế có thể dung tha Lý Thái Bạch, chẳng lẽ ta không dung được ngươi? Được thôi, ta thấy ngươi gan dạ, cũng giống một kẻ có tài ngươi cứ làm Ký thất (chức quan, tương tự Thư ký hiện nay) cho ta vậy. Còn Đoàn Khuê Chương ngươi cứ tìm tới đây giúp ta, ta cũng sẽ phong cho y làm một chức võ quan. Ngươi còn nói gì nữa không?.

Sử Dật Như tức giận tới cùng cực, lớn tiếng cười nhạt nói :

– Sử mỗ tuy bất tài cũng từng đọc qua sách thánh hiền, biết được sự khác nhau giữa người trung kẻ nịnh! Sử mỗ ngay chức Lang quan của triều đình cũng không muốn làm, há lại uốn mình khuất thân đi thờ kẻ loạn thần tặc tử nhà ngươi à!.

Câu chửi này đừng nói An Lộc Sơn không chịu nổi, mà ngay Sử Tư Minh cũng hoảng sợ tái mặt, run giọng kêu lên :

– Ngươi, ngươi, thiên hạ lại có kẻ không biết hay dở như ngươi!.

An Lộc Sơn cả giận quát :

– Được, kẻ sĩ các ngươi coi thường ta, thì ta cũng không cần loại người như các ngươi, như vậy ta cũng có thể dành lấy thiên hạ.

An Lộc Sơn đang thịnh nộ, Sử Tư Minh cũng không dám khuyên can, lúc ấy lại vừa khéo một tên vệ sĩ tiến vào, nhìn thấy tình hình, bất giác ngẩn ra.

An Lộc Sơn quát :

– Chuyện gì?. Tên vệ sĩ kia quỳ một gối xuống nói :

– Bẩm đại soái, đã mời gia quyến của vị Đoàn đại gia này tới rồi.

Nguyên là Điền Thừa Tự tuy nói với Sử Dật Như là không làm kinh động gia quyến của y, nhưng đó là giả, thử nghĩ An Lộc Sơn muốn bắt Đoàn Khuê Chương, làm sao có thể tha cho gia quyến của y, để họ lọt lưới? Chẳng qua lúc ấy hai người Điền Tiết e xảy ra một trận đánh nhau, hai bên sẽ bị tổn thương, nên nói toàn lời nghĩa khí giang hồ, sắp xếp Đoàn Khuê Chương xong, lừa y lên đường, sau đó lại cho bọn vệ sĩ của họ đã mai phục sau nhà bắt hết người nhà của y. Lúc Sử Dật Như và Điền Thừa Tự trò chuyện trong thư phòng, Tiết Tung đã dùng loại thuốc mê đặc chế không mùi làm tất cả người nhà của y ngất đi.

An Lộc Sơn hô hô cười rộ nói :

– Hay lắm, ngươi xem ngươi còn có cần tới vợ con không, có chịu phục ta không?. Tiếng cười chưa dứt đã nghe Sử Dật Như quát lớn :

– Ác tặc vô lại, Đoàn đại ca ta nói về ngươi không sai, triều đình dùng loại người như ngươi làm đại tướng, quả thật khiến người ta đau lòng, ta chết làm ma dữ, cũng không tha cho ngươi đâu!. Y nghe nói vợ con bị bắt, lập tức nổi giận, bất kể tất cả, vừa lớn tiếng chửi mắng vừa xông lên thềm, An Lộc Sơn giật nảy mình, nhưng không chờ y sai bảo đã có vệ sĩ cản Sử Dật Như lại, đáng thương Sử Dật Như là một thư sinh, làm sao địch được bọn vệ sĩ như sói như cọp, bị một tên vệ sĩ đập một quyền vào ngực, phun ra một ngụm máu, lập tức ngã lăn xuống đất ngất đi luôn.

An Lộc Sơn lắc lắc đầu nói :

– Trong những người đọc sách lại có kẻ cứng cỏi thế này, kể cũng hiếm có. Được, ngươi muốn được chết thì ta lại không cho người chết, cứ từ từ hành hạ ngươi, xem ngươi chịu phục hãy khòng.

Sử Tư Minh cũng cười nói :

– Họ Sử này cậy vào cái dũng khí nhất thời, lớn mật làm càn, xúc phạm đại soái, đợi y tỉnh lại, tự nhiên sẽ nghĩ tới vợ con, lúc ấy đại soái cứ ban cho y một phút ân huệ, không sợ y không phục.

An Lộc Sơn nói :

– Nói rất phải. Y sai bọn vệ sĩ đưa Sử Dật Như vào nhà ngục. Tên vệ sĩ đầu tiên biết là bắt lầm người, liền hỏi :

– Còn vợ con của gã họ Sử này thì sắp xếp thế nào?. An Lộc Sơn nói :

– Lằng nhằng lắm chuyện, cứ nhốt vào nhà lao phụ nữ, còn hỏi cái gì.

Tên vệ sĩ liền :

– Dạ? một tiếng, đang định lui xuống, An Lộc Sơn chợt nói :

– Vợ y nhan sắc ra sao, gọi lên đây xem thử. Tiết Tung đột nói chen vào :

– Bẩm đại soái, người đàn bà ấy nhan sắc bình thường, vả lại vừa sinh nở xong…. Y chưa dứt lời, An Lộc San đã nổi giận mắng- Xui xẻo, xui xẻo, ngươi thật là một kẻ khốn, tại sao lại bắt sản phụ vào phủ!. Lúc ấy quan trường có rất nhiều điều kiêng ky, An Lộc Sơn sợ máu sản phụ xung phạm :

– Quan tinh của y, nên đùng đùng nổi giận.

Tên vệ sĩ kia bị y mắng một trận, thầm kêu là oan uổng, tự nhủ- Là ngươi bảo ta bắt, ngươi lại không dặn là sản phụ thì không bắt, đồng thời lại cảm thấy vô cùng ngạc nhiên. Nên biết vợ Sử Dật Như là danh môn khuê tú, tuy vừa sinh nhưng vẫn không che giấu được nhan sắc chim sa cá lặn, tên vệ sĩ kia là người đưa Lư thị lên ngựa, đương nhiên nhìn thấy rất rõ, nghĩ thầm trong lòng :

– Người đàn bà này mười phần xinh đẹp, tại sao Tiết tướng quân lại nói là nhan sắc bình thường?.

Tiết Tung thấy An Lộc Sơn nổi giận, lại bước lên bẩm :

– Vợ họ Sử là một sản phụ, giam trong phủ quả rất bất tiện. Tiểu tướng lớn mật bẩm với nguyên soái, xin giao người phụ nữ này cho ty chức xử trí.

An Lộc Sơn cười nói :

– Ngươi cần thị làm gì?. Tiết Tung nói :

– Ty chức ít nhất cũng có một đứa con chưa dứt sữa, người đàn bà này vừa sinh xong, còn rất nhiễu sữa, ty chức muốn thị làm bà vú, vả lại thị biết chữ, thì tương lai khuyển tử có thể theo thị học được vài chữ.

An Lộc Sơn cười lớn nói :

– Tiết tướng quân hôm nay lại đại phát từ bi, quả thật hiếm có. Được rồi, ngươi không sợ xui xẻo thì cứ lãnh thị về đi.

Vốn Tiết Tung là một kẻ hiếu sắc, y cố ý nói Lư thị nhan sắc bình thường, nhận nàng về, thật ra là có ý đồ, trong lòng mưu việc bất chính, muốn đợi sau một tháng, Lư thị nghỉ ngơi xong sẽ chiếm làm của mình.

An Lộc Sơn nói :

– Đoàn Khuê Chương chưa bắt được, chúng ta quả thật không thể yên tâm. Đã phát hiện ra tung tích của y tại thôn ấy, chắc y cũng thì ở quanh đó không xa, Điền Tiết hai vị tướng quân hôm nay còn phải vất vả vì ta chuyến nữa. Lúc ấy bèn phát lệnh tiễn, lại thêm bốn tên vệ sĩ đắc lực sai họ nhất định phải bắt được Đoàn Khuê Chương về.

Lại nói Đoàn Khuê Chương hôm mồng một Tết sau khi chia tay Sử Dật Như trở về nhà, vợ y là Đậu thị, chính là cháu cố của Đậu Kiến Đức, một trong :

– Phản vương mười tám lộ vào cuối đời Tùy. Đậu Kiến Đức sau khi bị Lý Thế Dân tập kích đánh bại, hậu nhân vẫn ẩn náu trong chốn lục lâm làm nghề không vốn. Con trai, cháu nội đều là kẻ cướp nổi tiếng trên giang hố, có thể nói là một :

– Thế gia cường đạo. Nhưng Đậu Tuyến Nương tuy võ nghệ cao cường lại không thích sống bằng nghề cướp bóc, có lần nàng gặp Đoàn Khuê Chương, đôi bên tỷ võ bất phân thắng bại, lại mến tài nhau, sau cùng kết thành vợ chồng. Tuyến Nương sau khi lấy chồng, thoa gai quần vải, tần tảo việc nhà, giấu kín tài nghệ, người trong thôn chỉ biết nàng là một phụ nữ lương thiện bình thường, không biết nàng từng là một nữ tướng cướp danh chấn gừng hồ. Vì nàng từ nhỏ đã luyện tập võ công, nên đù mới sinh nở xong, thân thể vẫn khỏe mạnh.

Đoàn Khuê Chương gặp vợ, trước tiên nói chuyện kết thông gia với nhà họ Sử, Đậu thị cũng rất vui mừng. Đoàn Khuê Chương biết rõ vợ là một nữ hào kiệt, nguy hiểm tới mức nào cũng dám đương đầu, kế đến kể lại chuyện chạm trán với An Lộc Sơn và cái hẹn của y với Sử Dật Như, chỉ chờ qua rằm tháng giêng thì hai nhà sẽ cùng ra đi.

Đậu Tuyến Nương nói :

– Hai nhà cùng đi đương nhiên là hay, nhưng cũng không thể không đề phòng An Lộc Sơn sẽ sai người tới bắt chàng trước rằm tháng giêng. Đoàn Khuê Chương nói :

– Theo ý nàng thì nên làm sao?. Đậu Tuyến Nương nói :

– Nếu lúc bình thời thì cho dù dưới trướng An Lộc Sơn, cao thủ như mây cũng chưa chắc đã làm gì được chúng ta, nhưng bây giờ thiếp vừa sinh xong, võ công nhiều lắm chỉ còn ba phần, lại thêm thằng bé này, chỉ sợ lúc đại nạn xảy ra, hai mẹ con thiếp lại trở thành gánh nặng cho chàng. Đoàn Khuê Chương nói :

– Sao lại nói thế? Chúng ta sống thì cùng sống, chết thì cùng chết, ta lại trách nàng sao? Đậu Tuyến Nương mỉm cười nói- Ý thiếp không phải như vậy, thiếp và chàng cùng chết cố nhiên không có gì đáng tiếc, nhưng người lại không bảo toàn một chút gốc rễ của nhà ta sao? Cho nên theo thiếp thấy ….

Đoàn Khuê Chương nói :

– Vợ chồng chúng ta có chuyện gì mà không nói được, theo ý nàng thì thế nào, cứ việc nói ra. Đậu Tuyến Nương nói :

– Thiếp nói thì người không được giận đấy, theo như thiếp thấy chẳng bằng thiếp cứ đi trước chàng một bước. Đoàn Khuê Chương nói :

– Không chờ đại huynh đại tẩu nhà họ Sử sao? Vậy, vậy thì coi sao được?. Đậu Tuyến Nương nói :

– Không phải bỏ rơi họ, ý của thiếp là người ở lại đây, đợi sau rằm tháng giêng, đại tẩu nhà họ Sử khỏe hẳn rồi, thì người bảo vệ họ cùng tới nhà ta. Đoàn Khuê Chương hai mắt mở to, kêu lên :

– Cái gì, nàng muốn về nhà mẹ à?.

Đậu Tuyến Nương cười khẽ nói :

– Tuy thiếp vừa sinh xong, có khi không địch nổi các cao thủ dưới trướng An Lộc Sơn, nhưng đối với bọn cướp vặt trên đường thì thiếp rất yên tâm. Vì thế chẳng bằng thiếp mang con tới chỗ huynh trưởng thiếp tạm thời ẩn náu. Người và đại huynh đại tẩu nhà họ Sử cứ đi sau, như vậy há không phải là kế lưỡng toàn à?.

Đoàn Khuê Chương không vui, nói :

– Nương tử, năm xưa nàng theo ta xuất giá, đã nói những gì? Đậu Tuyến Nương nói :

– Năm ấy chú bác huynh trưởng của thiếp bảo người nhập bọn, người thà chết không theo, thiếp cũng vì thế mà quyết ý xa lìa họ, lúc ra cửa từng nói rằng nếu không phải họ rửa tay gác kiếm thì nhất định thiếp không quay về, nhất định không làm cường đạo nữa. Đoàn Khuê Chương nói :

– Vậy bây giờ họ đã rửa tay gác kiếm chưa?. Đậu Tuyến Nương nói :

– Bây giờ là lúc hoạn nạn…. Đoàn Khuê Chương ngắt lời nói :

– Chí khí của một người không nên vì gặp lúc hoạn nạn nguy hiểm mà thay đổi! Hơn nữa lúc chúng ta gặp nạn mới tới dựa vào họ, cho dù họ không chế nhạo, thì ta cũng chẳng còn mặt mũi nào!.

Đậu Tuyến Nương biết chống khí cốt cao ngạo, chuyện nhỏ thì hòa hoãn, nhưng gặp chuyện lớn có quan hệ tới việc xuất xử thì tính nết lại mười phần cố chấp, biết không thể khuyên được y, bên thở dài một tiếng nói :

– Nếu người đã không muốn, thì thôi đi vậy.

Đoàn Khuê Chương sợ vợ lo nghĩ, lại an ủi :

– An Lộc Sơn cầu kết với Dương Qúy phi, bây giờ đang hưởng lạc trong kinh, chưa chắc đã tới tìm ta làm khó. Mà cho dù muốn tới, cũng chưa chắc trong vài hôm nữa, cứ để ta nghĩ cách. Nàng tuy khỏe mạnh nhưng vừa sinh xong cũng không nên nghĩ ngợi nhiều, nàng cứ đi nghỉ sớm đi!.

Đoàn Khuê Chương nhà nghèo, không mời được :

– Bà đỡ chăm sóc sản phụ, Đoàn Khuê Chương lo cho vợ đi nghỉ, kiểm lại bảo kiếm và ám khí trước đây đã dùng, ra ngoài sân mài kiếm cho sắc, chép miệng nói :

– Kiếm ơi kiếm, ta đã bỏ mặc ngươi hơn mười năm, hôm nay lại phải dùng tới ngươi rồi!. Đang lúc tâm sự dâng trào, chợt nghe có tiếng răng rắc vang lên, âm thanh cực nhỏ, nhưng rơi vào tai bậc hành gia như Đoàn Khuê Chương, lập tức biết ngay là có người cực kỳ cao minh dạ hành! Đoàn Khuê Chương nghĩ thầm :

– Hay đấy tới nhanh thật! Xem ra tối nay chỉ e mình phải đại khai sát giới rồi. Tối mùng một tháng giêng, ở chân trời chỉ có mấy ngôi sao lập lòe, trong sân tối om, Đoàn Khuê Chương núp sau góc tường, một tay cầm bảo kiếm, tay kia thò vào túi ám khí, đầu tiên lấy ra hai ngọn Tam lăng thấu cốt tiêu tẩm độc, ngẫm nghĩ một lúc lại cất trở vào trong túi, rút ra hai quả Thiết liên tử không tẩm độc.

Thiết liên tử vừa nắm trong tay, nói thì chậm chứ lúc ấy rất mau, chỉ nghe tiếng vạt áo sột soạt trong gió, hai cái bóng đen đã vọt qua tường, Đoàn Khuê chương đột ngột đứng phắt lên, quát lớn một tiếng- Nằm xuống!. Y là thân phận võ học danh gia, tuy gặp phải kình địch, bị bức bách phải sử dụng ám khí, nhưng cũng không thể im lặng không lên tiếng ngấm ngầm tập kích.

Nào ngờ hai quả Thiết liên tử đánh ra lại như bùn rơi vào đáy biển, không thấy dấu vết đâu nữa, đã không đánh trúng địch nhân, cũng không nghe tiếng rơi xuống đất. Đoàn Khuê Chương vừa sửng sốt, y vốn đã đoán hai người kia hoàn toàn không phải là kẻ tầm thường, nhưng không ngờ bản lĩnh của họ lại cao cường như thế, chỉ nghe giọng một người già hô hô cười rộ nói :

– Dượng nó, ám khí của ngươi càng lúc càng cao cường đấy!

Đoàn Khuê Chương nói :

– A, té ra là tam ca!. Người già kia cười nói :

– Chẳng lẽ ngươi còn nhớ được thân thích nhà này, xa cách hơn mười năm mà sao ngay một lá thư cũng không gởi tới?.

Đậu Tuyến Nương có năm anh trai, người này xếp thứ ba, tên Đậu Lệnh Phù, Đoàn Khuê Chương tuy không muốn dấn thân vào dòng nước đục với họ, nhưng vẫn có tình thân thích, lúc ấy bèn mời họ vào nhà, thắp nến lên, chỉ thấy Đậu Lệnh Phù trên người có vết máu, người kia là một thiếu niên mười bảy mười tám tuổi, mặc quần áo màu xám, từ tướng mạo mà nhìn thì rất giống một thiếu niên nhà quê, đứng cạnh Đậu Lệnh Phù không nói tiếng nào, thái độ đối với Đoàn Khuê Chương rất lãnh đạm. Đoàn Khuê Chương rất bồn chồn :

– Y nửa đêm tới đây, không biết là có chuyện gì? Xem ra trên áo y có vết máu, dường như bị ngoại thương một chút.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Thằng nhỏ ngốc, không biết chút lễ phép nào, nhìn thấy bậc trưởng bối sao còn chưa chịu dập đầu?.

Thiếu niên kia đành phải dập đầu ba cái lạy Đoàn Khuê Chương, kêu một tiếng :

– Dượng!.

Đoàn Khuê Chương đỡ y đứng dậy, nghĩ thầm :

– Lúc mình rời nhà họ, tam ca chỉ có một đứa con gái, thằng nhỏ này đường như sau đó mới sinh, theo lẽ không thể lớn thế này. Thiếu niên kia giật tay lại, không để y đỡ, bèn đứng lên, xòe bàn tay ra, một quả Thiết liên tử từ kẽ tay y rơi xuống, lạnh lùng nói :

– Dượng, quả Thiết liên tử này trả lại cho người đây. Đoàn Khuê Chương giật nảy mình, nên biết mới rồi y ngờ là cao thủ của An Lộc Sơn phái tới bắt mình, tuy trước khi chưa hỏi rõ không dám sử dụng ám khí tẩm độc, nhưng lúc phóng hai quả Thiết liên tử ra, y cũng đã vận tới bảy thành công lực, dùng công phu ám khí đả huyệt mạnh, Đậu Lệnh Phù tiếp được thì không đáng ngạc nhiên, nhưng thiếu niên này chỉ mười bảy mười tám tuổi cũng có thể cứng cỏi tiếp được ám khí của y, chuyện đó không thể không khiến người ta kinh ngạc.

Đậu Lệnh Phù hừ một tiếng, trách thiếu niên :

– Đúng là một đứa xuẩn tài, ngươi cũng đã qua lại giang hồ hai năm, sao còn trẻ con như thế?.

Thiếu niên ấy lui qua một bên nhìn Đoàn Khuê Chương, chỉ nghe Đậu Lệnh phù nói tiếp :

– Sau này, trong đêm tối đừng cậy mình giỏi, dùng tay tiếp ám khí của đối phương nữa, may là Thiết liên tử của dượng ngươi chưa tẩm độc, nếu không thì một chút công phu của ngươi làm sao phong bế được huyệt đạo, độc khí xâm nhập thì cho dù không chết, cánh tay ấy của ngươi cũng sẽ trở thành tàn phế, kế lần trong tay áo ra một quả Thiết liên tử đưa cho Đoàn Khuê Chương, lại dạy dỗ thiếu niên :

– Bản lĩnh nghe tiếng ám khí ngươi đã học được rồi, về sau có gặp phải ám khí trong đêm tối ngươi từ tiếng ám khí rít gió có thể nghe biết được kình lực của đối phương, tự mình đánh giá, nếu có thể tiếp được thì cũng nên học cách dùng tay áo cuốn lấy như ta, nếu không thì cứ tránh cho mau.

Thiếu niên ấy nói :

– Tạ Ơn tam thúc dạy bảo. Đoàn Khuê Chương nghĩ thầm :

– Lời dạy bảo này cũng chỉ đúng một nửa. Nếu người phát ám khí là cao thủ nội gia tuyệt đỉnh, thì căn bản không dễ mà nghe được kình lực của đối phương!. Y liếc mắt nhìn qua, chỉ thấy thiếu niên kia ngón tay giữa tím đen, vội vàng rút thuốc trị thương ra, cười nói :

– Không trải qua một chuyện, không khôn thêm một chút, người trẻ tuổi bị thua thiệt cũng có chỗ hay, mà nói lại lúc chúng ta còn trẻ như y, chỉ e còn chưa có được bản lĩnh và kinh nghiệm như y đâu!

Ngón tay của ngươi đau không? Buộc một chút thuốc vào sẽ đỡ ngay.

Hai câu sau là nói với thiếu niên, thiếu niên ấy lại đẩy tay Đoàn Khuê Chương ra, lạnh lùng nói :

– Không cần đâu, cũng chưa bị dập xương, chỉ hơi đau một chút, nếu lại dùng thuốc, thì còn gì là anh hùng hảo hán nữa?.

Đậu Lệnh Phù cười nói :

– Dượng không cần để ý tới y, y muốn làm hảo hán thì cứ để y chịu đau một chút.

Đoàn Khuê Chương nghĩ thầm :

– Tính nết của thằng nhỏ này cũng quật cường lắm, chẳng lẽ vì thế mà kỳ lạ với mình?. Thiếu niên kia đối với Đoàn Khuê Chương tuy lạnh lùng, nhưng Đoàn Khuê Chương lại rất thích y, đột nhiên có ý nghĩ :

– Chẳng lẽ thiếu niên nhà quê cứu người dưới vó ngựa sáng nay chính là y?. Vừa định hỏi, Đậu Lệnh Phờ đã hỏi trước :

– Em gái ta đâu?.

Câu nói chưa dứt, chỉ nghe tiếng Đậu Tuyến Nương. cười khanh khách từ mái ngói nhảy xuống, cười nói :

– Tam ca, cơn gió nào thổi huynh tới đây thế?. Nguyên là Đậu Tuyến Nương sau khi nghe tiếng người dạ hành, biết Đoàn Khuê Chương ở ngoài sân, địch nhân từ trước mặt tới đã có y cản trở, đoán là y không bị gì, vì thế bèn đi vòng ra phía sau nhìn một lúc, nhìn xem còn có đồng bọn nào khác không, vừa trở lại thì nghe câu nói của anh nàng.

Đậu Lệnh Phù cười nói :

– Lục muội, muội còn chưa quên một chút tài nghệ ấy của giới lục lâm. Chà, sắc mặt của muội không tốt lắm, có bị bệnh không?.

Đậu Tuyến Nương cười không trả lời, Đoàn Khuê Chương cười nói không phải bệnh, là tối ba mươi hôm qua vừa sinh được một thằng mập.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Chúc mừng, chúc mừng, đáng tiếc là ông cậu ta không mang theo chút quà ra mắt nào.

Thiếu niên kia bước tới ra mắt Đậu Tuyến Nương, Đậu Tuyến Nương nghe y gọi mình là cô cô, cũng hơi ngạc nhiên, vội hỏi :

– Thằng cháu này, sao ta không nhận ra là ai?.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Lục muội còn nhớ Thiết trại chủ ở Yên Sơn không?. Đậu Tuyến Nương nội :

– Ủa, thì ra vị tiểu huynh đệ này là cháu nhà họ Thiết? Có phải tên Thiết Ma Lặc không? Ta nhớ ra rối, hôm ta và Khuê Chương thành thân, Thiết trại chủ cũng từng đắt một đứa nhỏ tới uống rượu mừng. Đậu Lệnh Phù nói :

– Thằng nhỏ ấy chính là y đấy. Đậu Tuyến Nương nói :

– Ờ, ngày tháng qua mau thật, bấm đốt tay tính lại đã hơn mười năm rối, lúc ấy vị tiểu huynh đệ này còn nước mũi thò lò đùa giỡn với một đám trẻ con, chắc chỉ mới bảy tám tuổi thôi mà? Không ngờ bây giờ cao lớn thế này, trở thành một vị thiếu niên anh hùng rồi! Thiết trại chủ khỏe không?. Thiếu niên kia tròng mắt đỏ lên, Đậu Lệnh Phù nói :

– Sau khi các ngươi ra đi hai năm thì Thiết trại chủ qua đời, đại ca nhận y làm nghĩa tử, năng lực nhận thức và nắm bắt của y trong chuyện học võ rất cao, hơn hẳn bọn trẻ nhà chúng ta, nên lần này ta không dắt ai theo, mà dắt y đi. Ma Lặc, ngươi muốn học công phu Mai hoa châm, thì sau này cứ thỉnh giáo cô cô ngươi nhiều hơn.

Nguyên Thiết trại chủ ở Yên Sơn tên Thiết Côn Luân, là người Hồ. Thời Đường ở phương Bắc, người Hồ người Hán cư trú xen lẫn, lấy vợ gả chồng với nhau, sự phân biệt giữa người Hồ người Hán không nhiều như về sau. Vợ Thiết Côn Luân chính là con gái lão anh hùng Phong Lý Thường ở Phạm Dương, có chút quan hệ thân thích với Đậu gia. Thiết Côn Luân võ công cực cao, anh em họ Đậu thân thiết với y, kết bạn sinh tử chi giao, nên sau khi bị kẻ thù ám hại, Thiết Côn Luân bên gởi gắm con côi cho Đậu gia. Đoàn Khuê Chương nghĩ thầm- Chẳng trách y còn trẻ mà đã thành tựu như thế. Té ra y là con trai Thiết Côn Luân.

Đậu Tuyến Nương hỏi :

– Tam ca, trên má huynh dính máu, là chuyện gì vậy, có phải là dọc đường giết người không?.

Đậu Lệnh Phù hô hô cười rộ nói :

– Ta bình sinh giết người rất nhiều, mà lần này suýt nữa bị người giết chết?. Đậu Tuyến Nương giật nảy mình nói :

– Tam ca gặp phải cường địch nào thế, ở nhà có chuyện gì?. Nàng nghĩ nếu không xảy ra chuyện gì, thì anh nàng quả không ngàn dặm xa xôi tìm tới. Đậu Lệnh Phù nói :

– Đêm nay ta tới đây là có hai chuyện muốn các ngươi giúp đỡ. Đoàn Khuê Chương nói- Xin cứ nói.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Chuyện thứ nhất là xin dượng cho thuốc giải.

Thật xấu hổ, ta lần đầu tiên thua trận bị thương.

Đoàn Khuê Chương bất giác sửng sốt, nghĩ thầm :

– Y chẳng qua chỉ bị một chút ngoại thương, tại sao lại xin mình thuốc giải?. Y nghĩ chưa dứt chợt nghe soạt một tiếng, Đậu Lệnh Phù sốt ruột không chờ được đã xé một mảnh vạt áo, chỗ tâm oa (vùng ngực) hiện ra một đốm nhỏ màu đỏ, nói :

– Ngươi là đại hành gia, có nhận ra được không?.

Đoàn thuê Chương giật mình thất sắc, nói :

– Đây là Bạch mi châm!

Tam ca kết oán với Đường gia ở Kiếm Nam sao?.- Bạch mi châm là một loại ám khí cực độc, vào cơ thể người ta xong có thể theo huyệt đạo đi lên tim, khiến người ta mất mạng, mà hiện tại đốm đỏ trên tâm oa của Đậu Lệnh Phù cách tim chẳng quá năm tấc, quả thật rất nguy hiểm. Đúng là:

Giang hồ sông gió trùng trùng hiểm,

hiệp khách làm sao ẩn núi hoang?.

Muốn biết chuyện sau thế nào, xin nghe hạ hồi phân giải.

Chương 4: Ngàn dặm cầu người người không đến – Mười năm lánh họa họa khôn trừ

Ngàn dặm cầu người người không đến -Mười năm lánh họa họa khôn trừ

Đậu Lệnh Phù nói :

– Người đánh ta bị thương, ta còn chưa biết lai lịch, nhưng có thể đoán được, y quyết không phải là người của Đường gia. Đậu Tuyến Nương hỏi :

– Tam ca là bị người ta ám hại một cách ám muội phải không?. Đậu Lệnh Phù nói :

– Không phải. Là đôi bên chính diện giao đấu, tuy y dùng loại ám khí tẩm độc xấu xa này, ta cũng không thể nói gì được. Đậu Tuyến Nương nói :

– Nói thế thì đúng là người của Đường gia rồi. Nên biết Đường gia ở Kiếm Nam tuy nổi tiếng về ám khí, nhưng nói tới bản lĩnh võ công thật sự thì vẫn chưa phải là đối thủ của anh em họ Đậu, võ công đạt tới mức như Đậu Lệnh Phù thì trừ phi đối phương bất ngờ ám hại, nếu không thì chính diện giao đấu, cho dù ám khí cực kỳ tàn độc cũng quyết không thể làm y bị thương.

Nhưng Đoàn Khuê Chương vẫn còn chút nghi ngờ :

– Người kia đã dùng Bạch mi châm bắn trúng huyệt đạo của y thì cần gì dùng đao kiếm làm y bị thương? Vả lại đây chỉ là bị thương nhẹ ngoài da, cũng không phải là do bậc cao thủ gây ra. Chẳng lẽ trước sau y bị thương tới hai lần à?. Chỉ vì trong giới lục lâm có rất nhiều điều kiêng ky, chuyện thù oán không bao giờ chịu nói với người ngoài, Đoàn Khuê Chương đã không muốn dính dấp vào đó, nên tuy nghi ngờ cũng không muốn hỏi nhiều, lúc ấy bèn nói :

– Linh chi khử độc hoàn trong nhà ta tuy không đúng là thuốc giải, nhưng cônglực của tam ca thâm hậu, uống vào một viên, chắc có thể bình an vô sự. Nguyên là lúc tổ phụ của Đoàn Khuê Chương Tây chinh, lấy được một cây linh chi ngàn năm, chế thành dược hoàn, có thể giải được bách độc, nên Đậu Lệnh Phù mới tìm tới y nhờ vả.

Đậu Tuyến Nương đi lấy Linh chi khử độc hoàn cho anh, từ phòng ngủ bước ra, cười nói :

– Thằng nhỏ rất ngoan, đang ngủ rất say, muội có thể ngồi với các huynh một lúc. Tam ca, chuyện thứ hai là gì?.

Đậu Lệnh Phù sắc mặt trở nên nghiêm trang, nhìn Đậu Tuyến Nương nói :

– Lục muội, không biết muội còn nghĩ tới tình nghĩa anh em không?. Đậu Tuyến Nương nói :

– Tam ca nặng lời quá, cùng một mẹ sinh ra, tình nghĩa anh em, sao lại không nghĩ tới?.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Nếu muội nghĩ tới tình nghĩa anh em, thì mời vợ chồng muội cùng về nhà, cứu mạng cho bọn ta!. Đậu Lệnh Phù biết Đoàn Khuê Chương xuất thân con nhà tướng, chí hạnh cao khiết, không chịu hòa mình vào đám lục lâm, nên tuy y muốn mời Đoàn Khuê Chương nhưng lại không nói thẳng với Đoàn Khuê Chương.

Đậu Lệnh Phù nhìn em gái, Đậu Tuyến Nương lại nhìn nhìn chồng, suốt hồi lâu mới nói :

– Tam ca, huynh nói thử xem, là chuyện gì vậy?.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Gần đây người nhà Bình Dương vương khiêu chiến với bọn ta, nói ra thật xấu hổ, mấy thằng anh vô dụng của muội đều thất trận.

Gia thế nhà Bình Dương vốn giống như Đậu gia, cũng là hậu duệ của một trong Phản vương mười tám lộ, sau khi Vương Thế Sung bị Lý Thế Dân tiêu diệt, hậu nhân của y cũng trở thành thế gia cường đạo. Hai nhà Vương Đậu lại có thù oán nhiều đời, chuyện minh tranh ám đấu không đời nào không có, vốn rất bình thường, nhưng Đậu Tuyến Nương nghe thấy như thế, lại vô cùng ngạc nhiên.

Nguyên là nhà họ Vương đến hiện nay nhân tài đã thua xa nhà họ Đậu, năm anh em nhà họ Đậu người nào cũng võ nghệ cao cường, đệ tử con em có tới vài mươi người, đều là nhân vật nổi tiếng trong lục lâm. Còn nhà họ Vương chỉ một mạch đơn truyền, người đương gia tên Vương Bá Thông, võ công tuy cao cường nhưng so với Đậu gia ngũ hổ vẫn còn thua kém một chút, cho dù đơn đả độc đấu thì anh em họ Đậu bất kể là ai cũng không thua y, càng không cần nói tới chuyện liên thủ hợp công. Vương Bá Thông lại chỉ có một trai một gái, còn chưa trưởng thành, đệ tử dưới trướng cũng ít hơn nhà họ Đậu, mấy lần đánh nhau đều là nhà họ Đậu thắng, về sau người nhà họ Đậu đi tới đâu Vương Bá Thông cũng tránh xa, không dám tranh phong. Cho nên lần này Đậu Tuyến Nương nghe nói năm anh trai đều thua trận, thì vô cùng ngạc nhiên.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Lục muội có chỗ không biết, hiện nay hình thế trong hắc đạo đã khác hẳn, anh hùng liên tiếp xuất hiện, đám già bọn ta đều bi áp đảo!.

Đậu Tuyến Nương xuất giá tòng phu, đã sớm quyết tâm rời khỏi chốn lục lâm, nhưng đối với gia đình vẫn rất quan tâm, vội hỏi :

– Vương Bá Thông mời nhân vật lợi hại nào tới trợ trận thế? Các anh ấy có bị thương không?.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Vương Bá Thông đúng là đã mời tới một nhân vật cực kỳ lợi hại, tên là Tinh Tinh Nhi. Đậu Tuyến Nương kinh ngạc nói :

– Tinh Tinh Nhi à? Ta còn chưa nghe thấy cái tên này. Đoàn Khuê Chương cười nói :

– Chúng ta ở ẩn tại thôn này mười năm, đúng là đã sắp biến thành người điếc rồi.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Vài năm gần đây, trên giang hồ nảy sinh hai nhân vật lợi hại, tuổi đều còn trẻ, đều chẳng quá hai mươi, nhưng thủ đoạn lại rất tàn độc. Tinh Tinh Nhi chính là một trong hai người ấy, người kia là Không Không Nhi, bọn ta chưa gặp qua, nghe nói bản lĩnh còn cao cường hơn Tinh Tinh Nhi rất nhiều, đó quả thật là rất kỳ diệu!.

Đậu Tuyến Nương mày liễu nhướng lên, nói :

– Kỳ diệu như thế nào? Chẳng lẽ chỉ dựa vào một mình Tinh Tinh Nhi mà thắng được cả năm người các huynh à?.

Đậu Lệnh Phù biết em gái bề ngoài thì mềm nhưng bên trong thì cứng, đang định nói khích lòng cùng căm thù của nàng, thở dài một tiếng nói :

– Khỏi phải nói, lần này Đậu gia thua một trận tan nát, ngay đại ca cũng bị thương, hai người em trai bị trúng Bạch mi châm.

Đại ca Đậu Lệnh Khản là thủ lĩnh lục lâm vùng Sóc Bắc, võ công cao cường, Đoàn Khuê Chương cũng rất khâm phục, lúc đầu y còn chưa để ý, bây giờ nghe nói Đậu Lệnh Khản cũng bị thương, mới giật nảy mình.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Hôm ấy Vương Bá Thông dắt một mình Tinh Tinh Nhi tới, Tinh Tinh Nhi vừa gầy vừa nhỏ, giống như một con khỉ, bọn ta đều không coi y ra gì. Y lại muốn một mình đánh nhau với năm người bọn ta, bọn ta đương nhiên không muốn làm mất tiếng tăm của mình, trước tiên là nhị ca ra tiếp chiến, không đầy vài chiêu, toàn thân đã bị kiếm quang của y trùm lên, tứ đệ, ngũ đệ nhìn thấy không xong đành sấn vào giúp đỡ, nhưng vẫn bị y ép lùi lại liên tiếp, sau cùng ta và đại ca cũng nhảy vào vòng chiến, đại ca dùng cặp Thiên tứ thần bài không sợ bảo kiếm của y đón đỡ phía trước, bốn anh em bọn ta bao vây hai bên, kịch chiến nửa giờ vây chặt lấy y, nào ngờ đúng lúc bọn ta đang chiếm thượng phong, y liền lập tức phóng Bạch mi châm ra!.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Các huynh lấy đông đánh ít, thì vốn không thể trách ngươi ta sử dụng ám khí tẩm độc.

Đậu Lệnh Phù nói tiếp :

– Nếu là người khác thì Bạch mi châm chưa chắc đã làm được gì bọn ta. Nhưng đáng hận là Tinh Tinh Nhi vô cùng giảo hoạt, một đường kiếm pháp quả đã tới chỗ xuất thần nhập hóa, mà lúc phóng Bạch mi châm ra, kiếm pháp cũng hoàn toàn không chầm lại, liên tiếp bức bách bọn ta, nếu bọn ta muốn tránh Bạch mi chám, ắt phải bị thương dưới kiếm của y! Hai cái hại phải chọn một, bọn ta chỉ còn cách liều mạng để độc châm phóng vào chỗ yếu hại, tử chiến với y. May là có song bài của đại ca đón đỡ, nhị ca ngũ đệ chưa bị thương, ta và tứ đệ tay chân đều chậm lại, chưa kịp liên thủ với đại ca, đều đã bị trúng một mũi Bạch mi châm, ta bị thương trên tay, tứ đệ bị thương ở bắp chân, đại ca đón đỡ được ba chiêu sát thủ của y, kết quả tuy giữ được tính mạng, nhưng hai ngón tay trái lại bị bảo kiếm của y hốt đứt! May là nhị ca và ngũ đệ còn chưa bị thương, đúng lúc đôi bên đang liều mạng tử chiến ấy, đều đánh trả lại một kiếm, cũng làm cho y bị thương hai chỗ, lúc ấy đôi bên mới ngừng tay.

Đậu Tuyến Nương thở ra một hơi, nói :

– Thế cũng còn may, còn chưa tới mức thua một trận tan nát.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Tuy Tinh Tinh Nhi bị thương, nhưng chỉ là ngoài da thịt, thương thế của ba người bọn ta, nói ra cũng kể như thua một trận tan nát.

Đậu Tuyến Nương nói :

– Thương thế của tứ ca ra sao?. Nàng biết đại ca bản lĩnh cao cường, chỉ bị chém đứt hai ngón tay, cũng không hề gì, tứ ca công lực kém hơn, bị trúng :

– Bạch mi châm mới khiến người ta lo lắng, nên đầu tiên hỏi về tứ ca trước.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Tứ đệ tuy công lực hơi kém, nhưng may là bị thương không phải chỗ yếu hại, Bạch mi châm mà muốn lên tới tim, ít nhất cũng phải hơn một tháng nữa.

Đoàn Khuê Chương vừa tính ngày tháng thì Đậu Lệnh Phù sau khi trúng Bạch mi châm đến nay đã qua hơn hai mươi ngày, Bạch mi châm vừa từ cánh tay theo huyệt đạo lên tới ngực y, bèn nghĩ thầm- Với công lực của y mà nói vốn đã thuộc loại ít có trong võ lâm, chứ người bình thường mà trúng Bạch mi châm thì nhiều nhất cũng không sống thêm được quá ba ngày. Mà công lực của đại ca thì ít nhất còn cao gấp đôi y. Nhưng Đậu gia ngũ hổ bọn họ liên thủ hợp công mà lại bị một mình Tinh Tinh Nhi đánh bại, thì bản lĩnh của gã Tinh Tinh Nhi này quả thật đủ để kinh thế hãi tục.

Đậu Lệnh Phù trầm giọng nói :

– Lục muội, muội là người nhà Đậu gia, muội nên biết nhà họ Đậu chúng ta trước naychưa từng nhờ vả người ngoài, may mà các người cũng không phải người ngoài, lần này ta tới cầu cứu, cũng không gọi là phá lệ của nhà họ Đậu.

Đậu Tuyến Nương cảm thấy khó nghĩ, ngần ngừ một lúc, liếc nhìn chồng, không dám trả lời ngay. Chỉ nghe Đậu Lệnh Phù nói tiếp- Hiện nay trên đời e chi có kiếm pháp của dượng là có thể đối địch với Tinh Tinh Nhi, lục muội, bản lĩnh của muội, không phải là ta tán dương, chứ trên giang hồ cũng ít có kẻ sánh được, nhất là công phu Mai hoa châm thích huyệt, chỉ có muội là được chân truyền của cha, không ai bì được, ý của đại ca là muốn ta đưa các ngươi về nhà ngay, đợi lúc Tinh Tinh Nhi trở lại, thì dượng sẽ tỷ kiếm với y, muội ở bên cạnh đấu ám khí với y, đánh như thế thì có thể nắm chắc phần thắng.

Lục muội, nhà họ Đậu chúng ta chỉ còn dựa vào hai vợ chồng muội thôi!

Đậu Tuyến Nương không dám tự ý, đưa mắt nhìn chồng, Đoàn Khuê Chương đã sớm có mấy phần không quyết, nói :

– Tam ca, em gái huynh vừa sinh xong, chỉ e có chỗ bất tiện.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Tinh Tinh Nhi cũng phải dưỡng thương xong mới dám trở lại, lục muội chỉ đứng cạnh dùng ám khí trợ trận, cũng không cần phải mất nhiều khí lực, nhiều lắm là sau một tháng đã có thể ứng chiến rồi.

Đậu Tuyến Nương nói :

– Đoàn lang, ý huynh ra sao?. ý ở ngoài lời là nàng đã không thành vấn đề, chỉ chờ chồng nói một câu thôi.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Trong nhà nàng có chuyện, nàng phải trở về thì ta không cản trở. Võ nghệ của ta đã gác bỏ nhiều năm, Tinh Tinh Nhi lợi hại như thế, ta tự thấy không phải là đối thủ của y.

Đậu Lệnh Phù chợt biến sắc trầm giọng nói :

– Đệ không muốn đi cứ thẳng thắng nói ra là được, đệ là anh hùng hiệp khách, không muốn nhận bọn ta là thân thích, Đậu Lệnh Phù ta cũng không mặt dày năn nỉ đệ đâu.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Tam ca, không phải như thế, đệ có một lời khuyên, còn nghe hay không là tùy huynh.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Nói đi!.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Đệ khuyên các huynh nên nhân lúc này rửa tay gác kiếm! Nghĩ chắc Vương Bá Thông chẳng qua chỉ là tranh bá lục lâm với các huynh, các huynh ẩn tích mai danh, im hơi kín tiếng, chẳng lẽ y và Tinh Tinh Nhi lại tìm tới nữa sao?.

Đậu Lệnh Phù cười nhạt, nói :

– Thật là lời vàng ngọc! Đệ không phải là người Đậu gia, nhưng đệ cưới con gái nhà Đậu gia, chắc cũng phải biết gia huấn nhà họ Đậu là:

Thà chết không chịu nhục? Hơn trăm năm nay chưa từng bị ai khinh rẻ vì tìm tới cửa, mà lại co đầu rụt cổ không dám ra. Cho dù có rửa tay gác kiếm, thì cũng phải trả mối thù này đã.

Đoàn Khuê Chương nghĩ thầm :

– Nếu nói tới chuyện trả thù, thì món nợ máu các người thiếu thiên hạ cũng không ít đâu! Người trong lục lâm sống trên ngọn đao, thắng bại tử thương là điều không thể tránh khỏi, nếu lại thù oán báo phục, giết Tinh Tinh Nhi, thì khó mà nói sẽ lại không có một Tinh Tinh Nhi khác. Nhưng y thấy Đậu Lệnh Phù đang giận dữ, nói ra câu ấy không khác gì lửa đổ thêm dầu, y vốn không khéo ăn nói, đã định nói mà không tiện nói ra, chỉ đành im lặng, để Đậu Lệnh Phù khỏi nổi trận lôi đình.

Đậu Tuyến Nương vốn định khuyên chồng chỉ giúp anh em mình lần này, nhưng nhìn thấy dáng vẻ của chồng như thế, biết là có khuyên cũng vô dụng, nên cũng không lên tiếng. Đậu Lệnh Phù phất tay áo một cái, giận hờn nói :

– Cứ xem như là ta tới lầm cửa, tự mình gây ra chuyện mất mặt, xin cáo từ.

Đậu Tuyến Nương vội nói :

– Tam ca, tam ca, hãy ngồi xuống đã, rồi từ từ bàn tính.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Tam ca nhất định trả thù, người ta ai có chí của kẻ ấy, ta cũng không dám khuyên nữa, hai viên Linh chi khử độc hoàn này huynh mang về cho tứ ca vậy.

Đậu Lệnh Phù đã phất tay áo đứng lên, lạnh lùng nói :

– Không cần đâu. Cho dù có chữa được y cũng sẽ lại bị thương dưới kiếm của Tinh Tinh Nhi nữa thôi!.

Đậu Tuyến Nương nói :

– Đêm đã khuya rồi, tam ca, huynh có muốn đi thì cũng hãy chờ đến sáng hãy đi!.

Thiếu niên cùng đi với Đậu Lệnh phù kia nãy giờ đứng cạnh cười nhạt im lặng không nói gì, lúc ấy đột nhiên lên tiếng :

– Nghỉ lại một đêm không hề gì, chỉ sợ bạn bè làm quan của dượng tới đây, nhìn thấy đại đạo lục lâm ở trong nhà của người thì có chỗ bất tiện! Tam thúc, chúng ta cứ lập tức lên đường là hay.

Đoàn Khuê Chương sửng sốt, lập tức nhảy bật lên nói :

– Ma Lặc, ngươi nói gì?. Trong lòng lấy làm lạ, nghĩ thầm :

– Mình bình sinh chưa từng kết giao với bạn bè làm quan, chẳng lẽ là họ nói Sử Dật Như Sử đại ca cũng đã từ quan lâu rồi. Huống hồ lần thứ nhất họ tới thôn này, làm sao mà biết được?.

Thiết Ma Lặc tránh qua một bên, cao giọng nói :

– Bạn bè người kết giao lại sợ ta nói ra à? Người không cho ta đi, dường như muốn trói ta giao cho quan phủ lập công phải không? Không sai, người cứu người dưới vó ngựa hôm nay chính là ta, người xông vào An Lộc Sơn cũng là ta, người còn đợi gì nữa?.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Nghĩa phụ ngươi đã không dạy ngươi sao, đạo khác nhau thì không mưu việc với nhau. Ngươi nói nhiều làm gì?

Ngươi gây ra tai họa không hề gì, nhưng bộ xương già này của ta cũng phải liên lụy với ngươi, phải chôn ở đây rồi. Câu ấy bề ngoài là mắng Thiết Ma Lặc, nhưng thật ra là để đối phó với Đoàn Khuê Chương.

Đậu Tuyến Nương sợ tới mức ngẩn ra, kêu lên :

– Tam ca, tam ca, huynh nói gì thế? Tuy Khuê Chương không chịu giúp huynh đánh nhau với Tinh Tinh Nhi, nhưng huynh ấy cũng không trở mặt thành thù, trói các người đem nộp quan đâu, huynh coi huynh ấy là người thế nào?.

Đoàn Khuê Chương thân hình chớp lên đứng chặn giữa cửa, lạnh lùng nói :

– Tam ca, nói chuyện cho rõ ràng rồi hãy đi!.

Đậu Lệnh Phù lạnh lùng nói :

– Đệ nói hay lắm, kẻ sĩ ai có chí của người ấy, không thể miễn cưỡng, đệ muốn tới tìm công danh phú quý dưới trướng An Lộc Sơn, cũng không lạ gì đệ không nhìn nhận nhà họ Đậu là thân thích! Nhưng mong đệ nghĩ tới một chút nghĩa khí giang hồ, sau khi bọn ta đi rồi, đệ hãy báo tin được không? Có điều nếu quả thật đệ muốn giữ bọn ta lại đây, thì Đậu Lệnh Phù ta tuy không phải là đối thủ của đệ cũng quyết không chịu bó tay chịu trói đâu!.

Đậu Tuyến Nương trách :

– Tam ca, huynh định đi đâu? Huynh không biết, An Lộc Sơn chính là kẻ thù của Đoàn lang, tối nay muội đã bàn cách tránh họa với huynh ấy, chuẩn bị đào tẩu đấy.

Đoàn Khuê Chương đã bình tĩnh lại, nói :

– Tam ca, ở đây nhất định có chuyện hiểu lầm gì đó. Huynh nói xem, tại sao huynh cho rằng đệ muốn tìm công danh phú quý dưới trướng An Lộc Sơn?.

Đậu Lệnh Phù vừa nghe hai vợ chồng họ nói thế, giống như không phải giả tạo, trong lòng cũng ngờ vực không hiểu được bên nói- Thủ hạ của An Lộc Sơn có hai viên tướng đắc lực một người là Điền Thừa Tự, một người là Tiết Tung, hai người ấy với đệ có giao tình thế nào?.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Đệ đã nghe tới tên họ, trước đây vì cái hẹn ở Thanh Hà câu (khe Thanh Hà), Tiết Tung từng hẹn tỷ kiếm với đệ, về sau do đồ đệ của Cù Nhiệm Khách ra mặt, hóa giải chuyện ấy nên không có đánh nhau. Từ đó đến nay, đệ vẫn chưa từng gặp mặt y.

Đậu Lệnh Phù kinh ngạc nói :

– Đệ nói thật à? Vậy thì lạ thật.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Huynh không tin đệ cũng phải tin em gái huynh, huynh cứ hỏi muội ấy, lúc bình sinh đệ đã từng nói qua chuyện ấy chưa?.

Đậu Tuyến Nương nói :

– Hai người ấy quả thật không hề có quan hệ gì với bọn ta, tam ca, tại sao huynh lại coi hai người ấy và Khuê Chương là một bọn?.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Ở đầu thôn này có một nhà, trước cổng có ba cây hòe, chủ nhà là một thư sinh mặt trắng không có râu, khoảng trên dưới bốn mươi tuổi, chẳng lẽ người ây cũng không hề có quan hệ với ngươi?.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Người ấy là bạn thân của đệ, tên Sử Dật Như. Không sai, người họ Sử ấy từng làm quan, nhưng hơn mười năm trước vì đàn hặc gian tướng Lý Lâm Phủ nên đã bị bãi quan rồi. HÔ hô, huynh nói đệ kết giao với bạn bè làm quan là nói y chứ gì? Người ấy có đạo có lòng, cao thượng ngay thẳng tuy từng làm quan, nhưng cũng là người trong bọn hiệp nghĩa đấy.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Y từng làm quan, đệ có biết quan hệ giữa y và An Lộc Sơn ra sao không?.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Sử đại ca chơi thân với đệ mười năm, đệ vốn biết y căm hận An Lộc Sơn, thì việc y có quan hệ gì với An Lộc Sơn thì không đời nào có.

Đậu Tuyến Nương chen vào :

– Có một chuyện vừa khéo huynh còn chưa biết, tối hôm trước Sử đại tẩu cũng sinh được một con gái, bọn ta và họ đã kết thông gia. Nói ra thì họ Sử cũng là thân thích của huynh đấy.

Đậu Lệnh Phù vuốt vuốt râu, trầm ngâm một lúc, nói :

– Như thế thì ta càng lúc càng hồ đồ. Được rồi, ta cứ nói mọi chuyện từ đầu đã.

Mấy hôm trước có một người bạn nói từng nhìn thấy đệ vội vã đi ngang qua Trường An, vì thế ta đoán chắc là đệ cư trú gần Trường An, liền cùng Thiết Ma Lặc tới tìm các ngươi. Ba hôm trước trong đường sơn đạo Phượng Tường, lại gặp tám tên cao thủ dưới trướng An Lộc Sơn, ác đấu một trận.

Đậu Tuyến Nương hỏi :

– Huynh cũng có thù với An Lộc Sơn à?.

Đậu Lệnh Phù cười nói :

– Muội rời khỏi lục lâm không đầy mười năm mà ngay chuyện đó cũng không hiểu. Đậu gia chúng ta chính là cường đạo trong khu vực thuộc quyền An Lộc Sơn quản hạt, chịu nghe y chiêu an hay đối đầu với y, không phải chuyện đơn giản đâu.

Đậu Tuyến Nương cười nói :

– Chuyện đó muội biết, có điều lúc muội rời nhà, An Lộc Sơn còn chưa làm Tiết độ sứ. Muội vẫn chưa biết Đậu gia chúng ta thuộc quyền y quản hạt.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Bọn ta không những không chịu nghe y chiêu an, lúc y kiêm thêm chức Tiết độ sứ Phạm Dương, tứ đệ còn giở trò đùa cợt y, cướp mất một chiếc áo cừu quý báu mà Dương Qúy phi gửi cho y, vì thế y đã sớm muốn bắt bọn ta rồi. Vương Bá Thông và Điền Thừa Tự dưới trướng An Lộc Sơn trước đó là bạn tốt trong hắc đạo, sau khi Điền Thừa Tự theo An Lộc Sơn, Vương Bá Thông vẫn ngấm ngầm đi lại với y. Cho nên theo chỗ ta đoán, lần này bọn ta bị thủ hạ của An Lộc Sơn vây đánh ở sơn đạo Phượng Tường có quá nửa là do thằng đầy tớ Vương Bá Thông báo tin?.

Đoàn Khuê Chương nghĩ thầm :

– Trong lục lâm cũng có chia cao thấp, ông anh vợ này của mình lại không chịu dấn thân vào dòng nước đục, ngấm ngầm thông đồng với quan phủ, rốt lại cũng còn hon Vương Bá Thông một bậc.

Đậu Lệnh Phù nói tiếp :

– Tám tên vệ s của An Lộc Sơn tuy không thuộc hạng là cao thủ bậc nhất nhưng võ công cũng rất cao cường, trong đó có một người tên Trương Trung Chí, trước đó cũng là người trong hắc đạo, sử dụng một cặp Hổ đầu câu là lợi hại nhất. Vết thương trên vai ta, là bị Hổ đầu câu của y móc rách đấy.

Thiết Ma Lặc cười nói :

– Tam thúc, người vẫn thích nói địch nhân lợi hại hơn một chút, đó là lão nhân gia cố ý để lộ chỗ sơ hở, chứ nếu không thì họ Trương kia làm sao tới gần người được?.

Đậu Lệnh Phù nghiêm trang nói :

– Ma Lặc, người trẻ tuổi như ngươi rất dễ có tật khinh địch, tật xấu ấy mà không sửa thì tương lai nhất định sẽ gặp rủi ro. Nên biết lời giáo huấn trong chốn lục lâm là lúc giáp mặt với địch thì thủ thắng là tốt nhất, càng mau càng tốt, để tránh xảy ra chuyện bất ngờ, cho dù là sư tử bắt thỏ cũng phải dùng hết sức. Huống chi chúng ta không phải là sư tử, mà đối phương càng không phải là thỏ.- Từ tình hình hôm ấy mà nói, ta đã bị trúng Bạch mi châm, cục diện đối phương hợp vây đã hình thành, nhìn thấy rất rõ, bọn ta không muốn dằng dai với họ, nếu không phải ta cố ý để lộ chỗ sơ hở, dụ cho Trương Trung Chí mắc câu, chỉ e còn chưa chắc đã dễ dàng thoát được khỏi vòng vây! Chứ cứ cắm đầu liều mạng đánh bừa như ngươi, quả thật rất nguy hiểm.

Giáo huấn Thiết Ma Lặc xong, Đậu Lệnh Phù quay lại nói :

– Ta căm hận Trương Trung Chí là ăn cướp giết ăn cướp, đồng loại tương tàn, nên dụ y tới gần, lập tức thi triển tuyệt kỹ Tích lịch chưởng, một chưởng đánh gãy xương sườn y, y cũng nhân chỗ sơ hở của ta lại đánh trúng ta một câu, xem ra cũng là một đối thủ dữ dằn.

Đậu Tuyến Nương nói :

– Trong tám tên vệ sĩ ấy, không có Điền Thừa Tự và Tiết Tung à?.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Điền Tiết hai người là thân phận đại tướng, đương nhiên không có trong đó. Cũng có thể họ cho rằng tám người kia đối phó với một già một trẻ bọn ta cũng đủ rồi. Y cười một tiếng, lại nói tiếp :

– May mà họ không nhận ra được ta, chứ nếu hai vị tướng quân Điền Tiết đích thân ra tay, thì ta nguyên khí chưa khôi phục, chắc chắn không phải là đối thủ của họ, chỉ sợ tối nay đã không thể gặp mặt muội rồi.

Đậu Tuyến Nương hơi kinh ngạc, nói :

– Tam ca, mới rồi huynh nói…. Đậu Lệnh Phù đã hiểu ý, lập tức nói tiếp :

– Muội không biết tại sao mới rồi ta không nhắc tới hai người ấy trước chứ gì? Hôm ấy ta không có duyên được gặp gỡ hai vị tướng quân, nhưng tối hôm nay lại nhìn thấy rồi!.

Đoàn Khuê Chương không khỏi giật nảy mình, vội hỏi :

– Tối hôm nay à? Huynh nhìn thấy họ Ở đâu?.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Chính trong thôn này, chưa quá một giờ Đậu Tuyến Nương nói :

– Chuyện là thế nào?. Đậu Lệnh Phù nói :

– Muội đừng gấp, cứ nghe ta kể tiếp đã.

Đậu Lệnh Phù nói tiếp :

– Ra khỏi sơn đạo Phượng Tường, vừa khéo là ngày mồng một tết, ta tới thôn các ngươi, gặp phải cả đoàn người ngựa của An Lộc Sơn đang vội vàng lên Trường An để chúc tết Qúy phi nương nương của y. Lão già ta là con chim phải tên sợ cành cây cong, không dám gây thêm chuyện khác, vội tránh vào sơn cốc ẩn núp. Thằng tiểu tử này lại là con nghé mới sinh không kinh gì cọp lại ra khỏi sơn cốc xem cảnh nhộn nhịp.

Thiết Ma Lặc nói tiếp :

– Vừa khéo lúc tiểu diệt ra xem, liếc thấy dượng, dượng kéo cổ áo da dê trùm đầu, chân không rời đất bước chậm rãi nhưng đi rất mau, vừa nhìn thấy là biết ngay người có võ công thượng thặng.

Đoàn Khuê Chương trong lòng e sợ nghĩ thầm :

– Thằng nhô nãy nhãn quan lợi hại thật. Hỏng bét, mình nhất thời nôn nóng, bước mau hai bước, kết quả là bị nhìn ra. Y có thể nhìn ra mình có võ công thượng thặng thì bọn cao thủ dưới trướng An Lộc Sơn lẽ nào lại không nhận ra.

Chỉ nghe Thiết Ma Lặc nói tiếp :

– Về sau lại xảy ra chuyện bọn vệ sĩ của An Lộc Sơn phóng ngựa xéo lên đám trẻ con, tiểu diệt nhịn không được nên cứu mấy đứa trẻ ấy.

Đậu Lệnh Phù cười nói :

– May mà họ vội đi, không có thời gian để bắt ngươi. Có điều cũng may là ngươi nhìn ra võ công của dượng ngươi, nếu không ta còn chưa biết các ngươi cư trú trong thôn này đâu!.

Đậu Lệnh Phù ngừng lại một lúc, rồi nói tiếp :

– Ma Lặc vừa nói, ta đã đoán ra ngay là đệ. Ma Lặc thấy đệ bước vào một căn nhà ở đậu thôn, ta lại cho rằng đó là nhà của đệ.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Rồi các người tới nhà họ Sử phải không?.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Không sai, bọn ta đang chờ ở cổng nhà họ Sử, thì nhìn thấy Điền Thừa Tự và Tiết Tung.

Đoàn Khuê Chương buột miệng kêu lên :

– Các người có vào xem không Sử đại ca của ta không biết ra sao rồi?.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Ta còn nhìn thấy một thư sinh mặt trắng không có râu khoảng bốn mươi tuổi đi cùng với họ, trò chuyện rất vui vẻ, trong tình hình như thế, ta làm sao dám bước vào?.

Đoàn Khuê Chương vô cùng hoảng sợ vội hỏi :

– Huynh có nghe họ nói chuyện gì với nhau không?.

Đậu Bệnh Phù nói :

– Ta và Thiết Ma Lặc núp trên cây tùng, lúc ấy họ đang nhảy lên ngựa, ta chỉ nghe Tiết Tung nói:

đại soái nhất định sẽ cho ngươi làm quan. Về sau lại thấp thoáng nghe họ nói hai lần:

Đoàn tiên sinh. Họ đã phóng ngựa đi, không còn nghe được gì nữa, tựa hồ họ rất kính trọng vị :

– Đoàn tiên sinh kia.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Chẳng trách gì huynh lại cho rằng hai thằng đày tớ ấy là bằng hữu của đệ, thế về sau thế nào?.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Còn thế nào nữa? Vị Sử đại ca kia của đệ đi với họ rồi, ta cũng biết đó không phải là nhà của đệ, lúc ấy bèn tới từng nhà trong thôn nhìn trộm, kể cũng may mắn, cuối cùng đã tới chỗ các ngươi. Y ngừng lại một lúc, lạnh lùng nói :

– Nếu không phải ta còn cho rằng đệ có vài phần thân thích, thì ta cũng không dám tới gặp đệ đâu. Được rồi, ta đã nói hết những chuyện ta nghe thấy rồi, có cho ta đi hay không là do đệ thôi! Nếu đệ muốn bắt ta nộp cho An Lộc Sơn làm cái lễ ra mắt, thì cứ động thủ đi!.

Hai chữ :

– động thủ vừa từ miệng Đậu Lệnh Phù buông ra, chợt nghe Đoàn Khuê Chương quát lớn một tiếng, như một mũi tên vọt ra cửa, Đậu Lệnh Phù giật mình hoảng sợ, kêu lên :

– Ngươi, ngươi quả thật…. Y chỉ cho rằng Đoàn Khuê Chương quả thật muốn đi tố cáo, gây ra chuyện bất lợi cho y, trong lúc nóng nảy không kịp suy nghĩ, cũng vội vàng lao ra khỏi nhà.

Câu ấy của y chưa nói xong, bước chân vừa bước qua bậc cửa, vạt áo đã bị Đậu Tuyến Nương giữ lại, chỉ nghe Đậu Tuyến Nương kêu lớn- Tam ca, huynh hồ đồ quá!.

Đậu Lệnh Phù nói :

– Cái gì?. Đậu Tuyến Nương nói :

– Nếu huynh ấy muốn gây ra chuyện bất lợi cho huynh, sao không đích thân động thủ?

Lẽ nào lại có chuyện bây giờ còn đi gọi người tới giúp, chẳng lẽ huynh ấy không đoán là các người sẽ lập tức đào tẩu sao?.

Đậu Lệnh Phù kinh nghiệm giang hồ phong phú hơn em gái nhiều, lời Đậu Tuyến Nương lại cùng có lý, y đương nhiên cũng nghĩ tới, chỉ vì nhất thời hoảng sợ, nên mới thất thố, bây giờ nghĩ lại, quả nhiên là mình hồ đồ, vội dừng bước lại quay đầu nhìn qua, chỉ thấy Thiết Ma Lặc đang tuốt một thanh đoản kiếm sắc bén sáng lóa, nhắm vào giữa người của Đậu Tuyến Nương, nguyên là y cho rằng Đậu Tuyến Nương không kể tới tình anh em, muốn giữ :

– Tam thúc của y lại, nên chuẩn bị đến lúc cần sẽ liều mạng với Đậu Tuyến Nương.

Đậu Lệnh Phù quát :

– Ma Lặc, dừng tay!. :

– Lục muội, muội nói đi!

Tính mạng tam ca của muội giao hết cho muội đấy?.

Đậu Tuyến Nương cười nói :

– Tam ca, không cần hấp tấp, nghe muội nói rõ đã. Nàng khêu bấc đèn lên, kể lại chuyện chồng mình kết oán với An Lộc Sơn, quan hệ giữa hai nhà Đoàn Sử, việc hai nhà hẹn nhau đi lánh nạn… tường tận kể rõ đầu đuôi với Đậu Lệnh Phù.

Đậu Lệnh Phù và Thiết Ma Lặc lúc ấy mới hiểu rõ, chỉ nghe thấy gà gáy ngoài cửa, đã đến canh năm, đứa trẻ sơ sinh trong phòng cũng đã oa oa khóc lớn, câu chuyện của Đậu Tuyến Nương cũng vừa kể xong, cười nói :

– Con muội đòi bú rồi, thằng nhỏ này ngoan thật, ngủ một mạch đến sáng. Nó cũng phải ra gặp cậu nó chứ.

Đậu Tuyến Nương cho con bú xong, bế đứa bé bước ra, Đậu Lệnh Phù nói :

– Thằng nhỏ này cốt cách thanh kỳ, là một nhân tài học võ đây. Đứa nhỏ vừa ra, không khí căng thẳng đã giảm đi rất nhiều, nhưng trong lòng người nào cũng còn nơm nớp không yên.

Chợt nghe một tiếng hú dài, Đoàn Khuê Chương cao giọng ngâm nga :

– Bảo kiếm muốn rời vỏ, Chém chết kẻ gian tà, Há vì thù oán nhỏ, Nửa đêm đâm người ta, Cho dù thân gãy nát, Cũng chẳng mềm lòng mà!, búng vào kiếm vang thành tiếng như rồng ngâm sải chân bước lên bậc thềm.

Lúc ấy ánh mặt trời đã bắt đầu hiện ra, chỉ thấy y tức giận trợn ngược lông mày, hai mắt đổ lửa, Đậu Tuyến Nương trước nay chưa thấy chồng có dáng vẻ như thế, hoảng sợ ngẩn ra, nàng còn chưa lên tiếng, Thiết Ma Lặc đã đột nhiên sấn tới một bước, nói :

– Ta trách lầm dượng rồi, rồi đùng đùng đùng ba tiếng dập đầu lạy Đoàn Khuê Chương.

Đoàn Khuê Chương đỡ Thiết Ma Lặc đứng dậy, ngẩng đầu cười nói :

– Được, ngươi thương ghét phân minh, không hổ là kẻ có bản sắc anh hùng!.

Đậu Lệnh Phù cũng bước tới tạ lỗi, Đoàn Khuê Chương nghiêng người tránh qua một bên trầm giọng nói :

– Lúc này còn khách sáo làm gì nữa. Tam ca, đệ có một chuyện, trăm nhờ cậy huynh.

Đậu Lệnh Phù cười nói :

– Ngươi với ta là thân thích, cần gì phải nói thế, ngươi vừa bảo không cần khách sáo, mà ngươi đã khách sáo trước rồi?. Y thấy dáng vẻ Đoàn Khuê Chương như thế, biết ngay nhất định đã có chuyện vô cùng nghiêm trọng, vì thế cố ý bật tiếng cười ha hả để làm giám đi sự căng thẳng của mọi người.

Đoàn Khuê Chương chỉ con trai nói :

– Tam ca, xin người chiếu cố cho hai mẹ con họ, trời vừa sáng là đưa họ đi ngay. Tuyến Nương, nàng cố nuôi con cho tốt, lúc nó trưởng thành thì đem kiếm phổ của ta ra dạy lại cho nó.

Đậu Tuyến Nương vốn muốn đưa con về nhà mẹ lánh nạn nên tranh luận với chồng, không ngờ chồng lại đột nhiên ưng thuận, nàng linh cảm thấy có chuyện không hay, bàn tay run lên, không dám nhận kiếm phổ. Đoàn Khuê Chương thở dài một tiếng, nói :

– Cầm lấy đi, sau này có thể ta và nàng không gặp lại nhau nữa đâu.

Đậu Tuyến Nương nói :

– Khuê lang, chàng định đi đâu?.

Thật ra nàng đã đoán được bảy tám phần rồi. Đoàn Khuê Chương nói :

– Ta đi tìm Sử đại ca.

Đậu Tuyến Nương nói :

– Chàng tới Sử gia nhìn qua rồi à? Rốt lại thế nào? Sứ đại tẩu và con gái chị ấy ra sao rồi?.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Đều bị bọn thủ hạ của An Lộc Sơn bắt đi rồi.

Đậu Tuyến Nương thốt lên :

– Thật à? Quả là chuyện không ngờ tới được!.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Chẳng lạ đâu, hôm qua ta nhất thời sơ ý, tránh vào nhà họ Sử, An Lộc Sơn đương nhiên tưởng Sử đại ca là ta.

Đậu Tuyến Nương nói :

– Sử đại ca là một Tiến sĩ, sao y không nhận ra được?. Đậu Lệnh Phù nói tiếp :

– Ta nghe Điền Thừa Tự nói cho y làm quan, dượng nó, ta thấy, lòng người khó dò, ngươi….

Đoàn Khuê Chương mày kiếm dựng lên, lập tức ngắt lời y :

– Tuyến Nương, người khác không biết Sử đại ca là người thế nào, nhưng chẳng lẽ nàng cũng không biết sao? Y là vì bảo toàn cho ta, nên cố ý giả mạo nhận tên ta đi rồi.- Ta tới Sử gia, trong nhà không có cả một cái bóng, ta ngửi thấy mùi mê hương trong phòng ngủ còn sót lại, tìm thấy trong thư phòng một lá thư của Sử đại ca viết. Nàng cầm lấy mà xem!.- Nàng thấy đấy, Sử đại ca khổ tâm thế nào, y vì muốn bày chuyện qua mặt bọn Điền Thừa Tự, nên cố ý trò chuyện lấy lệ với y một hồi, chẳng lẽ nàng cũng tin huynh ấy muốn làm quan với An Lộc Sơn sao.- Nàng thấy đấy, tại sao Sử đại ca gửi thư cho họ, trong di thư bảo vợ con y tìm tới nhờ thân thích chiếu cố, lúc y viết lá thư này không tiện nói rõ, chứ người chí thân chí thích của y không phải chúng ta thì là ai?.- Tuyến Nương, sự tình như thế, nàng còn chưa hiểu rõ sao?.

Đậu Tuyến Nương là con nhà thế gia lục lâm, đương nhiên hiểu rõ thủ đoạn trong hắc đạo, căm hờn nói :

– Hai gã Điền Tiết này trước kia cũng đã là nhân vật thành danh trong giang hồ, mà hành vi lại hèn hạ như thế, cả đàn bà trẻ con cũng không buông tha.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Đúng thế, cả nhà Sử đại ca đều bị liên lụy vì ta, nàng nói xem, nàng có thể đứng ra ngoài chuyện này không?.

Đậu Tuyến Nương lòng như dao cắt, nàng biết rõ dưới trướng An Lộc Sơn cao thủ như mây, chồng mình tới đó nhất định dữ nhiều lành ít, nhưng chuyện tã tới nước này làm sao nàng có thể cản trở, vả lại nàng cũng là một người đàn bà có khí khái anh bùng hiểu rõ nghĩa lớn, gặp phải trường hợp này nếu đổi lại là nàng, nàng cũng phải xả thân vì nghĩa như chồng mà thôi.

Hai vợ chồng bốn mắt nhìn nhau, im lặng không nói gì. Qua một lúc, Đậu Tuyến Nương mới run run đưa tay đón lấy kiếm phổ mà Đoàn Khuê Chương đưa, hạ giọng nói :

– Đoàn lang, thiếp đi đây. Chỉ mong người tốt có trời giúp, chàng và Sử đại ca, Sử đại tẩu đều được bình an trở về? Chỉ tiếc là thiếp vừa sinh xong, không thể đi cùng với chàng.

Đoàn Khuê Chương mỉm cười nói :

– Nếu nàng nuôi cho con khôn lớn thì còn khó khăn hơn cùng liều mạng với ta nhiều. Ta không thể chia sẻ sự vất vả với nàng, chỉ còn cách xin tam ca chiếu cố cho nàng. Y cố gắng giữ giọng bình thản, nhưng trong nụ cười vẫn không giấu được nét u buồn.

Đậu Lệnh Phù cười nói :

– Khuê Chương, với võ công của đệ, chưa chắc đã không thể trở về đâu, bọn ta còn phải chờ đệ tới đối phó với Tinh Tinh Nhi đấy!. Thật ra y nói câu ấy chẳng qua là để an ủi em gái mà thôi. Cho dù Đoàn Khuê Chương võ công cao cường hơn nhưng xông vào nơi đầm rồng hang cọp thì song quyền khó địch bốn tay, muốn yên lành trở về đã là cực kỳ khó khăn, huống chi còn muốn cứu người.

Gà đã gáy ba lần, Đoàn Khuê Chương nói :

– Được rồi, chúng ta cùng đi thôi. Ta đi với các người một đoạn, tới đầu thôn sẽ chia tay.

Tối hôm mồng một, mọi người đều thức rất khuya, trên đường còn chưa có người, nhà họ Sử ở đầu thôn, lúc đi ngang qua Sử gia, Đoàn Khuê Chương chợt dừng chân, nói :

– Cho ta nhìn con một lúc. Y hôn lên trán con một cái, trầm giọng nói :

– Nếu nhỡ ta không thể trở về, thì Sử đại Ca Cũng không thể trở về. Sau khi con trưởng thành, nàng phải bảo nó nghe ngóng tung tích Sử tiểu thự.. Hy vọng con bé còn sống trên đời. Nếu hoàn toàn không có tin tức gì, cũng phải chờ đến lúc sau ba mươi tuổi mới được cưới vợ. Chiếc bảo thoa này, nàng nên cất kỹ, làm vật làm tin về sau.

Đậu Tuyến Nương ứa nước mắt nói :

– Thiếp sẽ dặn lại nó, chàng cứ yên tâm!. Đoàn Khuê Chương nói :

– Kết duyên mười năm, đã làm nàng vất vả rất nhiều, xin nhận của ta một lạy? Đậu Tuyến Nương nói- Thiếp có được một phu quân anh hùng thế này, bất kể sau này ra sao cũng suốt đời không hối tiếc! Xin chàng cũng nhận của thiếp một lạy.

Đôi bên lạy nhau xong, Đoàn Khuê Chương lập tức rời đi. Y sợ nhìn thấy vợ khóc, không hề ngoái đầu lại, lập tức lên đường. Chợt nghe Thiết Ma Lặc cao giọng gọi :

– Dượng, khoan đã! Đoàn Khuê Chương nói :

– Ngươi có chuyện gì?. Thiết Ma Lặc nói :

– Tiểu diệt theo người tới Trường An. Đoàn Khuê Chương nói :

– Ngươi theo ta làm gì?.

Thiết Ma Lặc nói :

– Muốn tới Trường An để mở rộng tầm mắt!. Đoàn Khuê Chương cười nói :

– Ngươi biết ta tới Trường An làm gì không?

Đây không phải là chuyện đùa đâu. Thiết Ma Lặc nói :

– Tiểu diệt biết người định tới phủ An Lộc Sơn cứu vị nghĩa sĩ họ Sử kia, cô cô vừa sinh xong, tam thúc thì độc thương chưa hồi phục hoàn toàn, lại phải trở về để đối phó với người nhà Vương gia, đều không thể đi cùng với người. Tiểu diệt lại đang rảnh rỗi, có thể làm bạn với người. Đoàn Khuê Chương nghiêm trang nói :

– Chuyện này có quan hệ tới tính mạng, ngươi có biết không? Ta không thể cho ngươi theo được. Thiết Ma Lặc cũng nghiêm trang nói :

– Dượng, người cũng không khỏi có chỗ coi thường tiểu diệt quá đấy, chỉ coi một mình người là anh hùng hảo hán thôi à? Bất kể người có muốn hay không, tiểu diệt cũng nhất định đi theo.

Đoàn Khuê Chương rất cảm động, nói :

– Được, người có chí như thế thì ta mang ngươi cùng đi. Tới Trường An rồi, ngươi phải nghe lời ta đấy. Thiết Ma Lặc nói :

– Chuyện đó đương nhiên.

Đậu Lệnh Phù vốn không muốn rời Thiết Ma Lặc, nhưng y biết gã thiếu niên này tính nết rất cương cường, nói một thì không nói hai, vả lại y nghĩ tới lần này mình tới đây nhờ vả, bây giờ Đoàn Khuê Chương có việc mà mình không thể giúp đỡ, để Thiết Ma Lặc đi cũng vừa khéo để đến đáp tình nghĩa, bên nói :

– Thằng nhỏ này công phu cũng khá, ít nhất cũng có thể làm người báo tin, đệ cứ đưa nó đi, cho nó rèn luyện thêm cũng tốt.

Đoàn khuê Chương nói :

– Tam ca yên tâm, dù sao đệ cũng không thể để thằng nhỏ này mất mạng vì đệ được. Tới Trường An rồi, đệ sẽ có cách thu xếp. Nếu may mắn giữ được tính mạng, cứu được Sử đại ca trở về, đệ sẽ tới U Châu thăm các người, tiện dịp so tài cao thấp với Tinh Tinh Nhi một phen. Y đã quyết định trong lòng, phải đem tâm pháp võ công của mình truyền lại cho Thiết Ma Lặc, chứ tuyệt đối không để Thiết Ma Lặc phải mạo hiểm xông vào phủ An Lộc Sơn.

Thiết Ma Lặc rất thông minh, đã sớm hiểu được ý tứ của hai người, nghĩ thầm trong lòng :

– Tới Trường An rồi, ta cũng có cách, người muốn bỏ rơi ta cũng chưa chắc đã làm được.

Đậu Lệnh Phù vô cùng vui vẻ, tuy Đoàn Khuê Chương đi chuyến này dữ nhiều lành ít, nhưng rốt lại cũng không phải hoàn toàn tuyệt vọng, bây giờ y đã đáp ứng sau khi xong việc sẽ tới đối phó với Tinh Tinh Nhi, vậy chỉ cần y vô sự trở về thì trong cuộc tranh chấp giữa hai nhà Đậu Vương, nhất định Đậu gia nắm chắc phần thắng.

Đậu Tuyến Nương nghe Thiết Ma Lặc cùng đi, trong lòng hơi nhẹ nhõm, nói :

– Đoàn lang, lần này chàng đi nên tùy tình hình mà hành sự, nếu gặp lúc nguy cấp không thể ra tay cũng đừng nên miễn cưỡng mà làm, muốn có người giúp đỡ, cứ bảo Thiết Ma Lặc đem thư về.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Ta biết rồi. Nương tử, nàng cũng nên cố bảo trọng, nhớ kỹ lời ta, nuôi dạy con cho tốt. Y sợ rơi nước mất, không dám quay đầu, mang theo Thiết Ma Lắc đi thẳng về phía Trường An.

Trường An cách nhà y không đến sáu mươi dặm, ngay trong hôm ấy đã tới. Chính là:

Hiệp khí trong lòng chưa để mất,

Bỏ nhà làm khách chốn Trường An.

Muốn biết chuyện sau thế nào xin nghe hạ hối phân giải.

Chương 5: Cười nhạo Kinh Kha không hảo hán – Ngợi khen nam bát đúng nam nhi !

Cười nhạo Kinh Kha không hảo hán -Ngợi khen Nam Bát đúng nam nhi!

Ba ngày sau, có hai người khách lạ ghé vào một tửu lâu cạnh cửa Minh Phong thành Trường An.

Cửa Minh Phong là một cửa lớn ở hoàng cung thời Đường, tòa tửu lâu này tọa lạc cạnh hoàng cung, khách tới đây đều là những nhân vật không tầm thường. Trong đó có một số quan văn võ đi chầu buổi sáng trở về, vì nhà ở xa không về kịp nên ghé vào đó dùng cơm trưa, cũng có một số là túc vệ, sau khi xong phiên trực cùng bạn bè tới đây uống rượu. Cho nên các tửu lâu khác buổi chiều mới đông đúc, nhưng tửu lâu này thì buổi trưa lại là lúc làm ăn tốt nhất, mà trong số khách khứa, mười người thì đến tám chín người là khách quen.

Nhưng hai người khách tới hôm nay lại là lần đầu bước vào tửu lâu này, trong tửu lâu không ai nhận ra. Hai người này, một người khoảng ngoài bốn mươi tuổi, khí vũ hiên ngang, mặc áo cừu đeo kiếm báu, tựa hồ là một hiệp khách, người đi cùng với y là một thiếu niên khoảng mười bảy mười tám tuổi, ăn mặc cũng giống một con em nhà giàu có, nhưng hai mắt sáng quắc, tinh quang rực rực, khiến người ta vừa nhìn thấy đã biết y là một thiếu niên tinh minh có tài, bọn khố gấm dựa vào di ấm của tổ tiên không thể sánh được.

Khách trên tửu lâu tuy cảm thấy hai người khách lạ này có điểm đặc biệt, nhưng tửu lâu này rất nổi tiếng ở Trường An, thỉnh thoảng cũng có hiệp khách ở ngoài tới, hoặc những kẻ tới đây để chạy chọt làm quan, nên mọi người tuy cảm thấy hơi đặc biệt, nhưng cũng không để ý.

Hai người này chính là Đoàn Khuê Chương và Thiết Ma Lặc.

Nguyên là Đoàn Khuê Chương sau khi tới Trường An bèn tới tá túc trong một ngôi chùa quen, trụ trì ngôi chùa tên Hoài Nhân, là một cao tăng, lúc tổ phụ của Đoàn Khuê Chương còn sống từng là đại thí chủ của chùa này, Hoài Nhân và Đoàn Khuê Chương cũng là chỗ quen biết, nên Đoàn Khuê Chương chọn chùa này làm nơi ẩn náu. Nhưng tuy Đoàn Khuê Chương có chỗ ở nhưng không sao biết rõ phủ đệ của An Lộc Sơn tại Trường An, về sau y hỏi thăm biết được tửu lâu này, nghĩ thầm An Lộc Sơn đã thường vào cung, khách khứa tới tửu lâu này cũng không ít người có quan hệ với cung đình, bèn mang theo Thiết Ma Lặc vào đó uống rượu hy vọng có thể nghe ngóng được một vài tin tức. Để phù hợp với thân phận khách khứa trong tửu lâu này, y bỏ tiền ra mua y phục đắt tiền.

Lúc ấy đã gần đến giờ Ngọ, đúng là lúc tửu lâu náo nhiệt. Ở một cái bàn cạnh cửa sổ có mấy viên quan đang quây quần uống rượu, trong đó có một thư sinh trung niên, chỉ mặc một bộ quần áo vải, ngồi xổm trên đầu tiệc, ăn nói tự nhiên, hào khí hơn người! Mấy viên quan kia lại như sao chầu mặt trăng, đối với y vô cùng cung kính!

Đoàn Khuê Chương trong lòng chợt hoảng sợ, nghĩ thầm :

– Người này tướng mạo thanh kỳ, khí khái bất phàm, quả thật bình sinh hiếm thấy, không biết rốt lại là nhân vật nào? Mấy viên quan kia cũng khác hẳn kẻ phàm tục. Không ngờ trong quan trường lại có loại nhân vật như vậy!.

Đoàn Khuê Chương đang chăm chú nhìn thư sinh áo vải kia, đột nhiên thấy ánh mắt của thư sinh cũng bắn thẳng qua y, kế gõ mạnh bàn khen :

– Kiếm tốt, kiếm tốt!. Đoàn Khuê Chương giật nảy mình, nghĩ thầm :

– Thư sinh này quả thật là kẻ biết hàng, thanh kiếm của mình còn chưa tuốt ra khỏi vỏ mà y đã biết là bảo kiếm!. Thư sinh kia nhìn y vẫy tay gọi :

– Nào nào, lại đây! Chén vàng rượu ngon cùng say khướt, Mời khách cần chi hỏi họ tên! Ngươi qua đây uống rượu, cho ta xem thanh bảo kiếm với!.

Tuy Đoàn Khuê Chương đi khắp giang hồ, trước nay cũng chưa gặp phải chuyện thế này, một kẻ vốn không quen biết đột nhiên đòi mượn bảo kiếm của y ngắm nghía, đó là chuyện vô cùng cấm kỵ trên giang hồ, nhưng thư sinh kia hào khí hơn người, tựa hồ giống như có một sức mạnh không sao kháng cự, khiến Đoàn Khuê Chương vì thế mến phục, nhất thời không kìm được sự nhiệt thành, quên mất cần phải cẩn thận, ứng tiếng đứng lên, bước qua nói :

– Vinh hạnh được tiên sinh mời qua uống rượu, chỉ sợ thanh kiếm này không đáng gọi là bảo kiếm, lại làm bẩn mắt tiên sinh mà thôi.

Thanh bảo kiếm ấy của Đoàn Khuê Chương là năm xưa tổ phụ y theo Đại tướng quân Lý Tĩnh Tây chinh, được Lý Tĩnh ban cho làm bảo vật gia truyền, kiếm vừa tuốt khỏi vỏ ánh sáng lấp lánh, thư sinh búng vào thanh kiếm nói :

– Tuy không phải là Can Tương, Mạc Tà, nhưng cũng đáng gọi là thần khí ở nhân gian rồi. Ngươi từ đâu tới đây?.

Đoàn Khuê Chương hàm hỗ đáp :

– Ta từ U Châu tới. Thư sinh kia nói :

– Đường đi xa thật! Trên đường nhiều nguy hiểm, nghĩ chắc nếu ngươi không cầm thanh bảo kiếm này, thì cũng khó mà tới được Trường An. Hô hô, ta cầm tới thanh kiếm này lại nhớ tới chuyện du hiệp lúc còn trẻ. Một viên quan bên cạnh cười nói :

– Sĩ khí của Học sĩ, đến nay vẫn chưa giảm. Thư sinh kia cười nói :

– Bây giờ thì dựa vào hoàng đế kiếm rượu thịt, còn sĩ khí gì nữa chứ?.

Y đột nhiên đứng phắt lên, tay cầm bảo kiếm, cao giọng ngâm nga :

– Chén vàng rượu thơm mười ngàn đấu, Mâm ngọc trân hào ức vạn đồng, Dừng chén ném đũa không ăn nổi, Tuốt kiếm nhìn quanh lòng mênh mông.

Tiếng ngâm chưa dứt, chợt có một viên đại quan áo thêu đai ngọc từ đám khách bước ra, đi tới gần hỏi :

– Vị tiên sinh này, xin hỏi….

Một viên quan lớn tuổi cùng bàn với thư sinh kia kêu lên :

– A, ngươi là Ngô Tư mã phải không? Lý Học sĩ, vị này là Hồ Châu Tư mã Ngô đại nhân, cũng là người đồng đạo với chúng ta.

Đoàn Khuê Chương đang ngạc nhiên nghi ngại, không biết thư sinh kia là nhân vật loại nào, chợt nghe thư sinh hô hô cười rộ, thuận miệng ngâm nga trả lời viên Tư mã Hồ Châu kia :

– Thanh Liên cư sĩ người tiên trích, Chợ rượu vùi tên ba chục xuân, Hồ Châu Tư mã can chi hỏi, Kim túc Như Lai ấy hậu thân.

Đoàn Khuê Chương vừa sợ vừa mừng, nguyên thư sinh mà y gặp chính là đại thi nhân Lý Bạch mà y và Sử Dật Như vốn ngưỡng mộ.

Nguyên vị đại thi nhân nổi tiếng thiên hạ này không những hay thơ mà còn thông hiểu kiếm thuật, y thích rượu mê thơ, rất phóng khoáng, tự hiệu là Thanh Liên cư sĩ, người khác thấy y có dáng vẻ phiêu nhiên xuất thế, lại gọi y là :

– Lý Trích tiên., y lúc còn trẻ tuổi, hâm mộ phong thái du hiệp hào hùng, cũng từng chống kiếm ngao du bốn phương, lên Nga Mi, tới Thái Hàng, chơi Vân Mộng.., dạo khắp những nơi danh sơn đại xuyên trong thiên hạ, nếm qua hết rượu ngon trong thiên hạ, sau khi tới Trường An, được Bí thư giám Hạ Tri Chương tiến cử ca tụng, mọi người coi trọng, dần dần tên họ truyền vào trong cung, ngay hoàng đế cũng biết tới đại danh của y. Vị hoàng đế này (Đường Huyền tông) chính là một nhân vật phong nhã hiếm có trong các hoàng đế Trung Quốc, thông hiểu âm nhạc, cũng biết thưởng thức thơ văn, hâm mộ Lý Bạch tài hoa nên đặc biệt phá lệ ưu đãi, triệu vào phong làm Hàn lâm Học sĩ, lại thường gọi y vào cung ngắm hoa, nghe nhạc, uống rượu, làm thơ, nhưng Lý Bạch không thích giàu sang, vẫn tự hào là kẻ :

– áo vải. cười nói ngạo công khanh, kết giao cùng hiệp sĩ, nên y thấy Đoàn Khuê Chương tướng mạo bất phàm, lưng đeo bảo kiếm, bèn hành động thoải mái, không câu nệ tiểu tiết, gọi y qua cùng uống rượu.

Đoàn Khuê Chương vừa mừng rỡ vừa đau xót, nghĩ thầm :

– Nếu là Sử đại ca ở đây, được uống rượu ngâm thơ với Thanh Liên cư sĩ mà y ngưỡng mộ, không biết sẽ cao hứng tới mức nào?.

Lý Bạch hô hô cười rộ, trả thanh bảo kiếm cho Đoàn Khuê Chương, nói :

– Hôm nay ta được thưởng thức bảo kiếm, kết bạn mới, chuyện vui thế nảy, sao không uống cho thật say!. Rồi tay trái kéo Tư mã Hồ Châu Ngô Quân, tay phải kéo Đoàn Khuê Chương cùng vào tiệc, lập tức ra sức thống ẩm, liên tiếp uống mấy chén lớn, đột nhiên thịch mộttiếng, y cởi giày ra, ngoẹo đầu qua một bên, cởi mũ vứt xuống đất, lắc lư nói :

– Ô, say rồi, say rồi, đúng là say thật rồi!. Rồi nghiêng đầu để chân trần, nằm phục xuống bàn, quả nhiên khò khò ngáy ầm lên.

Một viên quan cùng bàn hoảng sợ nói :

– Thanh Liên Học sĩ quả say thật rồi. Nếu hoàng thượng gọi y vào làm thơ, thì làm sao đây?. Một người khác nói :

– Chưa chắc đã có chuyện vừa khéo như thế đâu. Viên quan lớn tuổi vừa gọi Ngô Quân cười nói :

– Các ngươi cũng hơi coi thường y đấy, Lý Bạch đấu rượu thơ trăm bài, uống rượu càng say y làm thơ càng hay!. Viên quan kia nói :

– Lý Bạch đấu rượu thơ trăm bài, hay hay, đó cũng là một câu thơ hay. Một người trẻ tuổi cùng bàn cười nói :

– Ngươi biết câu thơ ấy là ai làm không? Là Lão Đỗ mấy hôm trước làm một bài Ẩm trung bát tiên tặng Thanh Liên Học sĩ.

Ẩm trung bát tiên có Hạ lão đại nhân, còn có vị Trương huynh này….

Viên quan già kia nói :

– Cũng có ngươi nữa, ngươi quên nói tới mình rồi. Thiếu niên kia cười nói :

– Ta là phụ thêm vào thôi. Y uống một chén, lại cười nói :

– Mấy câu Lão Đỗ tả Thanh Liên cư sĩ thật giống hệt như dáng vẻ của y hôm nay. Ngô Quân hỏi :

– Mấy câu ấy ra sao?.

Thiếu niên kia ngâm :

– Lý Bạch một đấu thơ trăm bài, Quán rượu kinh đô cứ ngủ say, Thiên tử gọi tới không lên thuyền, Tự xưng thần là tiên rượu đây!. Nếu quả thật hôm nay hoàng thượng triệu y, thì đúng là càng hợp cảnh đấy!.

Đoàn Khuê Chương lúc ấy mới thông tính danh của họ, vốn người già chính là Bí thư giám Hạ Tri Chương ra sức tán dương Lý Bạch ở Trường An, chính y cũng là một thi nhân nổi tiếng, thiếu niên đẹp trai kia tên Thôi Tông Chi, người họ Trương chính là Trương Húc viết chữ thảo nổi tiếng khắp thiên hạ, mấy người còn lại cũng là những kẻ có tên tuổi ở Trường An, Đoàn Khuê Chương hàm hồ nói ra một cái tên giả.

Tư mã Hồ Châu Ngô Quân cười nói :

– Ẩm trung bát tiên ngoài Lý Học sĩ, Hạ lão đại nhân, Trương huynh, Thôi huynh ra, không biết còn có những ai nữa. Bài thơ ấy của Đỗ Phủ ngươi có nhớ được hết không?.

Thôi Tông Chi nói :

– Khó mà được dịp tụ họp đông đủ như hôm nay, Trương huynh, phiền ngươi vung bút lớn một phen, ta đọc hết bài Ẩm trung bát tiên ấy cho ngươi nghe, ngươi viết một bức thảo thư tặng Ngô Tư mã, coi như món quà ra mắt của chúng ta tặng y, có được không?. Ngô Quân cả mừng nói :

– Trương huynh là Thảo thánh hiện nay, Lão Đỗ có hiệu là Thi thánh hiện nay, lấy bút của thảo thánh viết thơ hay của thi thánh, thật rất thích hợp, món quà này quả thật vô cùng quý báu!.

Trương Húc nôi :

– Chỉ sợ say quá viết không đẹp, khiến Ngô Tư mã cười cho. Thôi Tông Chi cười nói :

– Ngươi viết chữ thảo cũng như Lý Học sĩ làm thơ, càng say càng đẹp, cần gì phải khách sáo.

Hạ Tri Chương gọi tửu bảo lấy giấy bút ra, vuốt thẳng tờ giấy trải ra trên một cái bàn bên cạnh, Trương Húc chọn một ngọn bút lông sói lớn nhúng đẫm mực, Thôi Tông Chi bèn đọc:

– Tri Chương cưỡi ngựa tựa đi thuyền, Mắt hoa rơi giếng lại nằm yên. Như Dương ba đấu ngẩng lên trời, Ngửi thấy mùi men nước bọt rơi, Hận chẳng gởi thư tới Tửu tuyền. Tả tướng ngày ngày phí vạn tiền, Uống như cá kình hút nước sông, Ngậm chén vui thánh khoe tránh hiền. Tông Chi tiêu sái lại xinh trai, Nâng chén trợn mắt ngước lên trời, Trông như cây ngọc trước xuân đài. Tô Tấn ăn chay thêu trước Phật, Lúc say chỉ thích trốn vào Thiền. Lý Bạch một đấu thơ trăm bài, Quán rượu kinh đô cứ ngủ say, Thiên tử gọi tới không lên thuyền, Tự xưng thần là tiên rượu đây! Trương Húc ba chén thảo thánh truyền, Bỏ mũ lộ tóc giữa đám đông, Vung bút xuống giấy như khói mây. Tiêu Toại năm đấu mới hăng say, Cao đàm hùng biện kinh bốn bề.

Thôi Tông Chi đọc một câu mọi người lại cười ầm lên một tràng, Hạ Tri Chương nói :

– Đó đúng là tả dáng vẻ uống rượu xấu xa của bọn ta thật thấu đáo!. Trương Húc vung múa ngọn bút lớn, mực bắn như mưa, viết xong bài thơ, trên mặt y đông một đốm, tây một đốm, cả bộ râu cũng dính đầy mực, trên quần áo của những người đứng gần cũng lấm tấm vết mực, Trương Húc hô hô cười rộ, vung bút cười nói :

– Dáng vẻ uống rượu của các ngươi hiện ra rõ ràng, còn dáng vẻ xấu xí của ta cũng lộ ra hết!.

Hạ Tri Chương nói đáng tiếc ngươi không tới Trường An sớm, nghe nói rượu Ô Trình ở Hồ Châu rất ngon, ngươi chỉ vì rượu Ô Trình ngon mới tới Hồ Châu nhận chức Tư mã, nếu ngươi ở Trường An thì Lão Đỗ phải sửa bài thơ ấy thành ẩm trung cửu tiên rồi. Ờ, ta quên hỏi ngươi, ngươi không giữ chức ở Hồ Châu, lại lên kinh làm gì?.

Ngô Quân nói :

– Ta phụng chiếu lên kinh thuật chức, đã tới năm hôm rồi, vẫn chưa được đội ơn hoàng thượng triệu kiến.

Hạ Trì Chương trên mặt lộ vẻ kinh ngạc, nói :

– Hoàng thượng rất ít khi hỏi tới việc chính sự, tại sao lại đột nhiên triệu ngươi lên kinh thuật chức?. Hạ Tri Chương trầm ngâm hồi lâu chợt hỏi :

– Ngươi đã gặp Dương Quốc Trung chưa?. Ngô Quân nói :

– Chưa. Hạ Tri Chương nói :

– Vậy ngươi nên mau chuẩn bị một món lễ vật biếu y. Thôi Tông Chi cười nói :

– Nếu lúc vội vàng không lo kịp, thì biếu vàng càng hay.

Vị tướng gia bảo bối ấy của chúng ta mà thấy vàng ròng sáng ngời rồi, thì dễ nói chuyện lắm.

Ngô Quân cười lớn nói :

– Ta làm quan vài năm, hai tay áo toàn gió mát, lấy đâu ra vàng? Mà nói nếu ta có tiền, thì tự mình không biết mua rượu uống à? Tại sao lại phải biếu lễ vật cho Dương Quốc Trung?.

Hạ Tri Chương nói :

– Tư mã có chỗ chưa biết, Dương Quốc Trung sau khi chuyên quyền, mua quan bán tước không gì không làm, trưởng quan các châu quận nếu không phải là người của y thì trước sau đều bị thay đổi. Theo như ta thấy việc triệu ngươi về kinh thuật chức lần này chỉ e là chủ ý của y. Y đang chờ ngươi đưa lễ vật tới đấy, ai ngờ ngươi lại không biết nhân tình thế cố như vậy!. Y cười một tiếng, nói tiếp :

– Nếu túi quan của ngươi eo hẹp, mấy người bạn rượu bọn ta giúp ngươi một phần được không? Có lẽ y thấy ngươi có chính thanh tốt đẹp nên chần chừ không dám thay ngươi, chỉ triệu ngươi vào báo cáo, muốn chờ ngươi tìm tới cửa. Ngươi cũng nên cho y một chút gì hay, để y có chút thể diện, chắc sẽ được vô sự thôi.

Ngô Quân tức giận nói :

– Tiểu đệ chẳng thà bỏ cái mũ Ô sa này, chứ nhất định không luồn lọt kẻ quyền quý, chuyện tặng biếu lễ vật xin đừng nói tới nữa.

Hạ Tri Chương nói :

– Ngô huynh giữ lòng liêm khiết, đương nhiên rất hay, nhưng sao ngươi không nghĩ thử nếu đổi cho một viên quan tham lam giữ chức Tư mã Hồ Châu, há không phải làm khổ bách tính Hồ Châu sao. Không phải bọn ta khuyên ngươi luồn lọt Dương Quốc Trung, mà là muốn giữ cho Hồ Châu một viên quan tốt. Bây giờ quan tốt trong thiên hạ quá ít, giữ được người nào thì hay được người ấy.

Thôi Tông Chi nói :

– Nếu ngô huynh không chịu biếu lễ vật thì có một cách, có thể nhờ Lý Bộc xạ nói giúp ngươi. Y cũng là một bạn rượu của bọn ta, vị Tả tướng ngày ngày phí vạn tiền, Uống như cá kình hút nước sông, Ngậm chén vui thánh khoe tránh hiền trong bài Ẩm trung bát tiên của Đỗ phủ chính là y, Lý Bộc xạ tuy xa xỉ, nhưng là người rất ngay thẳng.

Ngô Quân lại thở dài nói :

– Hạ lão đại nhân khuyên ta lấy bách tính Hồ Châu làm trọng, tấm lòng ấy rất đáng cảm động, có điều quan trường thế này quả thật cũng khiến ta lòng tàn ý lạnh, hơn nữa, cho dù bỏ tiền ra ta cũng không phải là kẻ dấn thân vào dòng nước đục, chức quan này còn làm được bao lâu nữa? Thịnh tình của các vị ta xin ghi nhận, cái mũ Ô sa này có giữ được không cũng chỉ còn cách thuận theo mệnh trời.

Bọn Hạ Tri Chương còn định khuyên nữa, chợt nghe tiếng bước chân trên thang lầu vang lên, tên tửu bảo khom lưng kêu lên :

– Xin mời Lệnh Hồ đại nhân, Lệnh Hồ Đô uý, hôm nay lão nhân gia tới muộn thế.

Ngô Quân hỏi :

– Bọn quan này sao oai phong thế?. Hạ Tri Chương cười nói :

– Chắc là quân Vũ lâm (tức quân Ngự lâm) chuyên bảo vệ thánh thượng, ngươi đừng coi thường phẩm cấp của họ không bằng ngươi, họ còn hào hoa sang trọng hơn chúng ta đấy. Bọn lão gia thị vệ này là khách quen của tửu lâu, người trong tửu lâu đương nhiên phải lấy lòng họ. Một viên quan nói :

– Đô úy trong cung tới rồi, không biết có phải là hoàng thượng muốn triệu Lý Học sĩ vào cung không!.

Còn đang nói chuyện, chợt thấy ba viên võ quan bước lên lầu, người đi đầu mặc y phục quân Vũ lâm, mười phần oai vệ, hai viên võ quan đi sau mặc nhung trang, lưng đeo đai vàng, chân đi Man hài(một loại hài đen phổ biến), nhìn qua lối ăn mặc đủ biết là tướng lĩnh cao cấp ngoài biên.

Viên võ quan Vũ lâm kia nói :

– Ta dắt tới cho các ngươi hai vị khách quý, vị này là Điền tướng quân, vị này là Tiết tướng quân, mau tìm cho bọn ta một bàn sạch sẽ. Tửu bảo luôn miệng vâng dạ, vội vàng bước tới dọn dẹp một cái bàn cạnh cửa sổ.

Một viên võ quan đi sau Lệnh Hồ Đô úy thân hình hơi béo mập vừa đưa mắt nhìn quanh một vòng, thấy Lý Bạch nằm phục xuống bàn ngáy khò khò giày mũ đều vứt bên cạnh, từ xa đã nghe mùi rượu nồng nặc, lại thêm Trương Húc bộ râu lốm đốm vết mực đang hoa tay múa chân đòi uống thi với người khác liền cau mày nói :

– Người ta đều nói đây là tửu lâu nổi tiếng nhất Trường An, tại sao lại có bọn người rừng nghèo xác xơ múa may ở đây. Lệnh Hồ Đô uy không chờ y đứt lời, vội kéo kéo y, kề miệng vào tai y hạ giọng nói :

– Người đang ngủ chính là Lý Thanh Liên Lý Học sĩ rất được hoàng thượng sủng ái.

Viên võ quan kia hoảng sợ giật nảy mình, vội vàng im bặt, vẻ mặt vô cùng khó coi, liếc liếc qua hai cái bàn của Lý Bạch và Trương Húc, thấy họ ai uống cứ uống, ai ngủ cứ ngủ, tựa hồ không nghe thấy mình nói gì, lúc ấy mới yên tâm.

Lúc ấy Đoàn Khuê Chương đã trở về chỗ ngồi lúc đầu, Thiết Ma Lặc hạ giọng nói :

– Hai người này là Điền Thừa Tự và Tiết Tung, thủ hạ của An Lộc Sơn. Đoàn Khuê Chương nói :

– Phải kìm chế, không được gây sự đấy.

Trên tửu lâu có ba cái bàn, những người ngồi ở đó đều là thị vệ trong cung và võ quan quân Vũ lâm, nhìn thấy Lệnh Hồ Đô uý, nhao nhao đứng lên chào hỏi, Lệnh Hồ Đô úy hô hô cười rộ nói :

– Ta giới thiệu vời các ngươi hai người bạn tốt, là Điền tướng quân và Tiết tướng quân trong quân Bình Lô, hai vị này là tay trái tay phải của An Tiết độ sứ. Trong Tiết độ sứ các lộ thì An Lộc Sơn có kinh quyền lớn nhất, lại là con nuôi của Dương Qúy phi, bọn thị vệ và võ quan kia cũng nhao nhao lấy lòng Điền Tiết hai người.

Đoàn Khuê Chương nghe lời lẽ của họ, biết viên lệnh Hồ Đô úy này tên Lệnh Hồ Đạt, tựa hồ có chức vụ cao nhất trong quân Vũ lâm, mọi người đối với y đều rất cung kính. Điền Tiết hai người là theo An Lộc Sơn từ Bình Lô vào cung, An Lộc Sơn được Dương Qúy phi giữ lại, bảo họ chiều tối vào đón y.

Đoàn Khuê Chương nghĩ thầm :

– Ngôi tửu lâu này vừa khéo đối diện với cửa Minh Phong, tối nay mình trở lại đợi ở đây chờ lúc hai thằng đầy tớ này đón An Lộc Sơn, mình sẽ ngấm ngầm theo sau là được.

Hôm trước Thiết Ma Lặc cứu người dưới vó ngựa, tuy hai người Điền Tiết đi hai bên An Lộc Sơn, nhưng lúc ấy trông Thiết Ma Lặc như một thiếu niên nhà quê, bây giờ lại ăn mặc như công tử nhà giàu, Điền Tiết hai người làm sao nhận ra được? Huống hỗ ánh mắt của họ đều bị dáng vẻ say khướt của Lý Bạch thu hút, không hề chú ý tới hai người Đoàn Thiết.

Nhưng Đoàn Khuê Chương cũng không dám khinh suất, sợ bị họ nhận ra, nên định nghe ngóng được tin tức của An Lộc Sơn xong thì sẽ rời khỏi tửu lâu.

Đang định gọi tửu bảo tính tiền, thì lại có một người khách bước lên tửu lâu, vừa lên tới là cao giọng hỏi :

– Lý Học sĩ có uống rượu ở đây không?. Người này cũng ăn mặc kiểu võ quan nhưng khác hẳn hai người Điên Tiết, y mặc một bộ nhung trang bằng vải, đang mùa đông lạnh. lẽo vẫn đi hài cỏ, nhưng lưng đeo trường đao, vỏ đao làm bằng sừng tê giác quý báu, kiểu thức cổ nhã, chuôi đao khảm chỉ vàng, nếu không phải y mang thanh đao quý báu như thế thì hoàn toàn giống hệt một tên quân sĩ nghèo khổ.

Đoàn Khuê Chương ngẩng đầu lên nhìn người ấy một cái, bất giác ngấm ngầm hoảng sợ, viên võ quan ấy khoảng trên dưới ba mươi tuổi, ánh mắt sáng rực có thần, râu quai nón nhọn như mũi kích, trên mặt đầy vẻ phong trấn nhưng không che lấp được hiệp khí hùng phong của y, Đoàn Khuê Chương chợt nhớ tới một người, nhưng không dám chắc có phải là y không.

Lệnh Hồ Đạt quát :

– Thằng đầy tớ ngươi là ai thế. Lý Học sĩ lại rảnh rỗi gặp loại người như ngươi à?.

Viên võ quan cười nhạt nói :

– Ta tìm Lý Học sĩ thì dính líu gì tới ngươi? Ai cần ngươi nhiều chuyện?.

Tiết Tung nói :

– Ngươi la lối không có quy củ gì, Lý Học sĩ đang ngủ, ngươi dám gọi y dậy à? Xem dáng vẻ ngươi quê mùa như thế, Lý Học sĩ chắc không giao du với loại bằng hữu như ngươi đâu?. Mới rồi Tiết Tung không nhận ra Lý Bạch, buông lời vô lễ, cảm thấy khó xử, muốn nhân dịp này, một là để giúp oai cho Lệnh Hồ Đạt, hai là để lấy lòng mấy viên quan uống rượu với Lý Bạch, trong bụng nghĩ thầm:

– Lần này chắc không đến nỗi nhìn lầm người. Xem ra thằng đầy tớ này giỏi lắm cũng chỉ là một viên võ quan nhỏ trong biên quân, làm sao mà quen biết được Lý Bạch.

Tiết Tung đứng cản đường, viên võ quan kia cả giận nói :

– Ngươi lại mắt chó nhìn người à?., tay chưởng bằng bặn xô ra, Tiết Tung cười nhạt nói :

– Ngươi muốn đánh nhau sao?., lập tức thi triển Cầm nã thủ chụp vào mạch môn của y, định bẻ cổ tay y, làm một trò cười cho bọn võ quan trước mặt. Nào ngờ y chưa chụp được người ta, thì đã bị viên võ quan kia một chưởng hất ra, loạng choạng suýt ngã!

Lệnh Hồ Đạt giật nảy mình, nên biết Tiết Tung là Thanh Châu kiếm khách nổi tiếng, lấy kiếm thuật, ám khí và cầm nã thủ nổi tiếng tam tuyệt, mà vừa ra tay đã bị thua thiệt trước đối phương, vả lại Lệnh Hồ Đạt cũng không nhận ra viên võ quan kia làm sao tránh được chiêu cầm nã của Tiết Tung.

Tiết Tung cả giận, đã toan tuốt kiếm ra. Hạ Tri Chương bước lên giảng hòa, nói :

– Lý Học sĩ kết giao khắp thiên hạ, lòng kính yêu Lý Học sĩ của Tiết tướng quân rất đáng cảm kích, vị này…. Viên võ quan kia nói :

– Ta họ Nam, nam trong đông tây nam bắc. Hạ Tri Chương nói tiếp :

– Vị Nam huynh này nếu đã là bạn tương tri của Lý Học sĩ, thì cũng đừng trách móc Tiết tướng quân cản trở, Lý Học sĩ quả thật có uống thêm vài chén, hiện đang ngủ ở đây. Câu ấy của Hạ Tri Chương quả rất mềm mỏng, Tiết Tung cũng biết y là một vị đại quan, chỉ đành nén giận, không dám phát tác.

Viên võ quan họ Nam kia đưa mắt nhìn quanh, hoi :

– Vị nằm ngủ trên bàn kia là Lý Học sĩ phải không?.

Hạ Tri Chương kinh ngạc nói :

– Không sai, đó chính là Lý Học sĩ.

Tiết Tung cười nhạt nói :

– Làm ầm lên suốt nửa ngày, thì ra ngươi cũng không quen Lý Học sĩ!.

Người họ Nam nói :

– Ta nói ta quen y lúc nào, ta không muốn lầm người thôi.

Hạ Tri Chương nói :

– Vậy các hạ tìm y có chuyện gì?. Người họ Nam nói :

– Ta không dám mạo nhận là tri kỷ, nhưng có một người là bạn tri kỷ của Lý Học sĩ nhờ ta chuyển một lá thư cho y.

Hạ Tri Chương nói :

– Là vị nào vậy?., nghĩ thầm :

– Bạn bè tri kỷ của Lý Bạch, nói ra thì cho dù mình không quen chắc cũng không đến nỗi chưa nghe thấy tên họ. Người họ Nam kia nói là một vị bằng hữu họ Quách, lá thư này ta phải đích thân đưa cho Học sĩ, không tiện đưa qua người khác., xem tình hình thì y không muốn nói tên của người họ Quách.

Hạ Tri Chương nghĩ thầm :

– Mình cũng chưa từng nghe Lý Bạch nói tới người bạn nào họ Quách. Nhưng y già dặn việc đời, người khác không muốn nói, y cũng không hỏi nữa, lúc ấy bèn nói :

– Lý Học sĩ không biết lục nào mới tỉnh dậy, có cần ta gọi y giúp không?.

Viên võ quan họ Nam nói :

– Không cần, không cần. Ta cứ ngồi ở đây uống rượu, chờ y tỉnh dậy là được., rồi cao giọng gọi :

– Lấy năm cân rượu ngon, thái ba cân thịt bò!.

Tiết Tung liếc mắt nhì y, nghênh ngang đắc ý nói :

– Thấy chưa, hai mắt ta nhìn người có sai đâu?. Ý ở ngoài lời, là muốn nói :

– Các ngươi xem đấy, ta nói Lý Học sĩ không có loại bạn bè thế này, là đâu có sai?. Người họ Nam kia rót rượu vào cốc lớn uống ừng ực, không đếm xỉa gì tới y. Tiết Tung lại cười nói :

– Đây là tửu lâu nổi tiếng nhất Trường An, hô hô, thật không ngờ có người cho rằng đây là quán rượu ven đường. Đó là y chế nhạo người họ Nam kia chỉ biết những món tầm thường trong quán rượu ven đường, trong tửu lâu này có rất nhiều sơn hào mỹ vị mà y không gọi, chỉ biết gọi rượu trắng và thịt bò thái.

Người họ Nam kia dằn mạnh chén rượu một cái, cao giọng nói:

– Ta ăn uống cái gì, lại cần ngươi quản à?.

Cái chén rượu làm bằng đồng xanh, bị y dằn mạnh một cái chỉ nghe keng một tiếng, đã ngập lút xuống mặt bàn không thấy đâu nữa, mọi người đều hoảng sợ, Tiết Tung cũng hơi sợ, nhưng không muốn mất mặt chỗ đông người, lùi lại một bước nói :

– Ngươi đừng ngang ngạnh, ở đây không phải là chỗ đánh nhau, nếu có bản lĩnh, ngươi dám hẹn chỗ tỷ kiếm với ta không?., khẩu khí đã mềm đi rất nhiều.

Viên võ quan họ Nam kia cười nhạt nói :

– Ngươi cứ vạch đường đi, ta cứ theo đó tiếp là được. Đợi ta gặp Lý Học sĩ xong, sẽ lập tức đến nơi hẹn.

Đoàn Khuê Chương nhìn thấy thân thủ của người này, trong lòng nghĩ thầm :

– Đây nhất định là y rồi, không ngờ lại gặp y ở đây.

Nhưng trên tửu lâu đông người nhiều miệng, tuy y nhận ra được người kia nhưng vẫn tạm thời nhẫn nại, không dám bước tới chào hỏi.

Điền Thừa Tự và Tiết Tung cùng đi, Tiết Tung phát sinh chuyện cãi vã với người họ Nam, nhưng Điền Thừa Tự lại nép qua một bên, sợ sệt như con ve mùa lạnh, Đoàn Khuê Chương ngấm ngầm lưu ý, chỉ thấy y sắc mặt xám xanh, nhìn chằm chằm vào viên võ quan họ Nam kia, mấy lần đặt tay lên chuôi đao, nhưng trước sau vẫn không dám đứng dậy. Đoàn Khuê Chương ngấm ngầm ngạc nhiên, nghĩ thầm:

– Điền Thừa Tự và họ Nam này nhất định đã có chuyện đụng chạm, xem ra chỉ e sắp có trò vui.

Tiết Tung nghĩ thầm :

– Công phu trên tay của ngươi tuy cao cường, nhưng tỷ kiếm thì chưa chắc ta đã thua ngươi. Đang định hẹn với họ Nam, bọn Hạ Tri Chương cũng đang định bước tới giảng hòa, giữa lúc huyên náo, chợt nghe ba tiếng thanh la keng keng keng, có người cao giọng gọi :

– Thánh chỉ tới?.

Trên tửu lâu lập tức im ắng, những người làm quan có phẩm cấp đều đứng cả lên tránh qua hai bên, chủ tửu lâu vội vàng bước ra đón tiếp nói :

– Xin chào Trung sứ đại nhân, không biết thánh chỉ là triệu vị đại nhân nào. Chuyện này đã xảy ra ở đây mấy lần, chủ nhân cũng biết nhất định là tuyên triệu Lý Bạch, nhưng vẫn không thể không hỏi một câu như vậy.

Thời Đường thái giám phụng chỉ ra ngoài làm việc được tôn xưng là Trung sứ, nhưng người đứng đầu mấy tiểu thái giám phụng chỉ ra tìn Lý Bạch lần này lại không phải thái giám, mà là một nhạc công tên Lý Quy Niên, tuy là nhạc công nhưng rất được hoàng thượng sủng ái, trao cho chức Chưởng nhạc ngự phụng, thân phận không phải tầm thường, bọn Hạ Tri Chương đều biết y.

Lý Quy Niên bước lên cao giọng hô lớn :

– Phụng thánh chỉ lập tức tuyên triệu Lý Học sĩ tới gác Trầm Hương ra mắt. Sau lưng y có một tiểu thái giám tay bưng áo mão, đai ngọc, hốt ngà, cũng tới tìm Lý Bạch.

Lý Quy Niên cười nói :

– Lý Học sĩ quả nhiên say rồi. Hoàng thượng gọi y vào gặp lập tức, thế này thì làm sao được? Hạ đại nhân cũng ở đây, xin giúp ta gọi y dậy.

Hai người đang đỡ Lý Bạch lên, Lý Bạch chợt hai tay xô ra, hơi rượu nồng nặc, lẩm bẩm :

– Ta say muốn ngủ ông cứ về. đầu cũng không ngẩng lên, lại nằm vật xuống ngủ tiếp. Hạ Tri Chương và Lý Quy Niên bị y xô một cái, loạng choạng suýt ngã, Lý Quy Niên cười gượng nói :

– Lần này lại còn say hơn cả lần trước, làm sao bây giờ?.

Tiểu thái giám nói :

– Chúng ta khiêng y đi. Lý Quy Niên nói:

– Cũng phải để y mặc triều phục vào chứ. Rồi kêu lên :

– Chủ quán, mang một chậu nước ra đây.

Hạ Tri Chương làm quan tới chức Bí thư giám, cũng là chức cận thần hầu hạ hoàng đế, cũng rất quen biết Lý Quy Niên, Lý Quy Niên đã tuyên đọc thánh chỉ, đôi bên cũng chẳng cần câu nệ lễ tiết gì, Hạ Tri Chương hỏi :

– Lần này hoàng thượng tuyên triệu lý Học sĩ vào gấp, có chuyện gì thết?. Lý Quy Niên nói :

– Năm nay Dương Châu tiến cống rất nhiều loại hoa mẫu đơn nổi tiếng, đều trồng phía đông ao Hưng Khánh, dưới gác Trầm Hương. Hôm nay mẫu đơn nở rộ, hoàng thượng sai nội thị bày tiệc trong đình, cùng Dương Qúy phi thưởng ngoạn, sai ta dắt mười sáu đệ tử Lê Viên, đều cầm nhạc khí, tới đó hầu hạ. Vừa tấu được vài khúc, không hợp ý hoàng thượng. Hoàng thượng bèn bảo ta dừng lại, nói :

– Hôm nay đối diện Phi tử, thưởng thức danh hoa, há lại dùng nhạc cũ? Ngươi cứ dắt theo con ngựa Ngọc hoa thông ta vẫn cưỡi, mau đi tuyên triệu Học sĩ Lý Bạch vào đây làm một bài hát mới để thường ngoạn. Ngươi thấy đấy, ngay ngự mã của hoàng thượng cũng đã dắt tới, là để đón Lý Học sĩ, làm sao không sốt ruột cho được?.

Còn đang nói chuyện, chủ tửu lâu đã đích thân bưng một chậu nước ra, Lý Quy Niên hỏi lấy một chiếc khăn, cũng bất kể trời đông lạnh buốt, đích thân cầm khăn nhúng vào nước lạnh, vắt vắt hai cái rồi đặt lên trán Lý Bạch, lại bảo chủ tửu lâu đưa ra một tấm bình phong bốn cánh, quây lấy Lý Bạch, cười nói :

– May mà ta rất biết tính nết của Lý Học sĩ, nên đã tới Hàn lâm viện lấy quan bào, ngọc đới, hốt ngà của y tới, quả nhiên đúng như ta đoán, y lại mặc một bộ áo vải uống rượu với chư công ở đây.

Bọn Lý Bạch bị tấm bình phong che khuất, Đoàn Khuê Chương không nhìn thấy tình hình bên trong, qua một lúc, chỉ nghe giọng Lý Bạch nói :

– Phong cảnh đáng ghét, ta uống rượu còn chưa đủ, làm thơ gì được?. Lý Quy Niên thì thà thì thào, dường như đang ghé vào tai Lý Bạch nài nỉ, qua một lúc lại nghe Lý Bạch cười nói :

– Ờ, các loại mẫu đơn nổi tiếng ở Dương Châu đều nở rộ rồi, Đại hồng, Thâm tử, Đạm hoàng, Đạm hồng, Thông bạch các loại đều có, hoàng thượng lại chuẩn bị rượu ngon Lương Châu chờ ta tới uống, hô, chuyện này hợp ý ta đây, đi xem mẫu đơn Dương Châu, ta cũng đi một chuyến vậy.

Tiếng ván lầu kêu cót két, nguyên là lúc y nói tới các loại mẫu đơn, rượu ngon Lương Châu, không kìm được hoa chân múa tay. Kế lại nghe tiếng sột soạt, dường như y đã cởi áo vải ra, mặc triều phục vào.

Lại qua một lúc, chỉ thấy Lý Bạch đảy tấm bình phong bước ra, bước chân vẫn còn xiêu vẹo, ánh mắt đờ đẫn, mùi rượu nồng nặc, mấy thái giám tiền hô hậu ủng dìu đỡ hai bên, bước qua trước mặt viên võ quan họ Nam. Lý Bạch chợt dừng lại, nói :

– Thật là một vị tráng sĩ, này, ngươi…. Người họ Nam nói :

– Ta mang một lá thư của Quách lệnh công cho ngươi, đang định gặp ngươi. Còn chưa dứt lời bọn thái giám đã sớm sấn lên xô y ra, quát :

– Là kẻ nào, mau cút đi?. Lý Bạch tức giận nói :

– Lẽ nào lại có chuyện ấy, các ngươi muốn đuổi bạn tốt của ta đi à?., hai tay giang ra, hai tên tiểu thái giám đỡ y đùng đùng một tiếng, ngã chổng bốn vó lên trời.

Bọn thái giám cả kinh thất sắc, một viên quan đứng bên cạnh cũng rất ngạc nhiên, hạ giọng hỏi bạn :

– Này, mới rồi người kia còn chưa nhận ra Lý Học sĩ mà, tại sao lại đột nhiên trở thành bạn tốt của y thế?.

Lý Bạch xô bọn thái giám ra, nghiêng đông ngã tây, lảo đảo lắc lư bước lên vài bước, chi vào viên võ quan họ Nam kia hô hô cười rộ nói :

– Ngươi không nhận ra ta à? Nhưng ta lại nhận ra ngươi? Ngươi, ngươi nhất định là Nam Bát huynh, Cười nhạo Kinh Kha gan tựa chuột, Ngợi khen Nam Bát đúng nam nhi! Hô hô hô, đã gặp Nam Bát, không thèm đếm xỉa tới Qúy phi nương nương nữa, nào nào, chúng ta lại uống tiếp đi.

Lý Quy Niên đã bước lên kéo Nam Bát, vái y một vái, hạ giọng nói :

– Hoàng thượng chờ gặp Lý Học sĩ, xin ngươi giúp cho.

Lý Bạch sải chân bước một bước dài, thân hình nghiêng nghiêng, vịn vào một cái bàn kêu lên :

– Nam Bát, Nam Bát, sao ngươi không tới đây uống rượu, ồ, ồ! Mới rồi ngươi nói gì? Có Lão công công giàu có nào nhờ ngươi mang cái gì tới đưa cho ta à? Hô hô, Nam Bát ngươi lại biết mang lễ vật giúp người khác sao? Chuyện đùa, chuyện đùa. Mau lại đây nói cho rõ xem?. Lý Bạch còn chưa tỉnh hẳn, lại tập trung sự chú ý vào cả Nam Bát, nên chưa nghe rõ y nói gì, tưởng mấy chữ Quách lệnh công mà y nói là Lão công công gì đó. Viên võ quan họ Nam cười lớn nói :

– Học sĩ quả nhiên là người trong bọn ta, nhưng hiện dưới lầu có ngự mã chờ chở ngươi vào cung, nếu ngươi bồi tiếp ta uống rượu, ta uống cũng không thoải mái, chẳng bằng đợi đến tối nay ngươi rảnh rỗi, ta sẽ tới uống rượu với ngươi suốt đêm!.

Lý Bạch nói :

– Được, ngươi nói rất đúng! Đợi ta gặp hoàng thượng xong sẽ gặp lại ngươi, đúng là có thể uống một phen thống khoái?.

Hạ Tri Chương vội nói lý Học sĩ ở trong nhà ta, ngươi cứ hỏi nhà họ Hạ Ở phía tây thành là biết. Người họ Nam kia nói :

– Lão tiên sinh, người là Hạ Thiếu giám, ta biết rồi. Y biết ý tứ của Hạ Tri Chương, là muốn y để Lý Bạch đi cho mau, y nghĩ nếu muốn nhờ Hạ Tri Chương nói lại thì không phải đôi ba câu là có thể nói rõ ràng, mà Lý Bạch vẫn đang còn say, trong tình hình này cũng không tiện đưa lá thư kia ra.

Lý Quy Niên cùng bọn thái giám vội đưa Lý Bạch xuống lầu, bọn bạn rượu của Lý Bạch cũng theo xuống ra về! Viên võ quan họ Nam kia lắc lắc đầu, thở dài nói :

– Ngọc Môn đã báo tin binh lửa, Cửa cung mê mệt còn ca múa…., ầm một tiếng đập bàn kêu lên :

– Đáng tiếc cho Lý Học sĩ!., rồi ngửa cổ lên, trút tất cả rượu còn trong chén vào miệng một hơi cạn sạch, ném một đĩnh bạc xuống bàn rồi định bỏ ra. Lệnh Hồ Đạt và Tiết Tung đột nhiên bước tới, Lệnh Hồ Đạt tươi cười nói:

– Nam huynh, khoan đã!.

Viên võ quan họ Nam kia mày kiếm giương lên, cao giọng nói:

– Chỗ nào, đi luôn bây giờ phải không? Ngoài họ Tiết này ra, ngươi cũng muốn dính dấp vào chứ gì?.

Lệnh Hồ Đạt cười nói :

– Nam Bát huynh, không phải hẹn ngươi tỷ kiếm đâu. Người họ Nam hai mắt trợn tròn nói :

– Không phải hẹn ta tỷ kiếm, thì ngươi giữ ta lại làm gì?. Tiết Tung bước tới ôm quyền nói:

– Mới rồi không biết là Nam huynh, mạo phạm rất nhiều, xin Nam huynh bỏ qua.

Nam Bát trong bụng thấy buồn cười, nghĩ thầm :

– Chắc là thằng đầy tớ này thấy Lý Học sĩ đối xử với mình như thế nên lập tức trở thành lễ phép. Y là một người phóng khoáng, tuy khinh thường Tiết Tung, nhưng người ta đã qua xin lỗi, y cũng hô hô cười nói :

– Đụng chạm một chút, cần gì để bụng? Tiết tướng quân đã không cần tỷ kiếm với ta nữa, vậy ta xin đi trước một bước.

Lệnh Hồ Đạt nói :

– Không đánh không quen biết, Nam Bát huynh ngồi thêm một lúc có hề gì?. Nam Bát nói :

– Không dám với cao!.

Lệnh Hỗ Đạt cười nói :

– Nam Bát huynh nói thế là vẫn còn có ý trách móc rồi. Tiết Tung cũng nói :

– Đôi bên đều là đồng đạo võ lâm, Lệnh Hồ Đô úy lại rất thích kết giao, Nam Bát huynh cần gì phải dè xẻn lời chi giáo như thế?. Nam Bát nghĩ thầm :

– Hai người này võ công cũng cao cường, mà lại đáng ghét như thế!., đành ngồi trở lại, lạnh nhạt nói :

– Hai vị có gì chỉgiáo?.

Lệnh Hồ Đạt cười nói :

– Đúng là có chuyện muốn thỉnh vấn Nam huynh, vị Quách lệnh công mới rồi Nam huynh nói tới có phải là Quận thú Cửu Nguyên Quách Tử Nghi không?. Quách Tử Nghi có công lao to lớn, được phong là Phần Dương vương, nhưng lúc ấy chỉ là một viên Quận thú, người biết tên y vẫn còn không nhiều. Đoàn Khuê Chương bên cạnh lắng nghe, cũng cảm thấy hơi kinh ngạc, nghĩ thấm:

– Lệnh Hồ Đạt là Đô úy quân Vũ lâm, Tiết Tung là tướng tâm phúc của An Lộc Sơn, họ kính trọng Lý Học sĩ thì không nói làm gì, vì Lý Học sĩ rốt lại cũng là người hoàng thượng coi trọng. Nhưng tại sao đối với một viên Quán thú mà lại chột dạ như vậy, không biết Quách Tử Nghi là nhân vật thế nào?.

Nam Bát ngần ngừ một lúc, đáp :

– Không sai, người nhờ ta đưa thư cho Lý Học sĩ chính là Quách Quận thú. Hai vị cũng quen y à?.

Nguyên việc kết giao giữa Lý Bạch và Quách Tử Nghi rất không tầm thường. Có một hôm Lý Bạch du sơn ngoạn thủy tới địa giới Tinh Châu, chợt gặp một toán quân tốt cầm thương xách gậy, áp giải một chiếc tù xa, tù nhân trong xe dáng mạo khôi vĩ, Lý Bạch nảy dạ hiếu kỳ, bước tới hỏi thăm, té ra người ấy chính là Quách Tử Nghi, lúc bấy giờ là Thiên tướng dưới trướng Lũng Tây Tiết độ sứ Kha Thư Hàn, vì phụng quân lệnh kiểm tra binh lương, lại do thủ hạ lỡ tay làm cháy hết lương thực, tội quy về chủ tướng, theo pháp luật phái xử trảm, lúc ấy Kha Thư Hàn đi tuần tới địa giới Tinh Châu, vì thế Quân chính ty đem y ra trước quân môn hành quyết.

Quách Tử Nghi trong tù xa nói rõ nguyên nhân, giọng nói sang sảng như chuông. Lý Bạch quay ngựa lại đi cạnh tù xa, vừa đi vừa thong thả hỏi y về quân cơ, vũ lược, kiếm thuật, binh thư, Quách Tử Nghi đối đáp trôi chảy, giống như gặp được người tri kỷ, càng nói càng hợp, càng bàn càng hăng, thần thái hiên ngang, không hề giống một tên tù đang bị mang ra xử trảm, Lý Bạch càng nghe càng ngạc nhiên, nghĩ thầm :

– Mình bình sinh kết giao với anh hùng hào kiệt không phải là ít, nhưng nói người xứng đáng được gọi là quốc sĩ thì dường như chi có người này.

Lý Bạch theo xe tù thẳng tới trước quân môn, đích thân vào gặp Tiết độ sứ Lũng Tây Kha Thư Hàn, nói rõ ý mình, xin y rộng lòng tha tội cho Quách Tử Nghi, Kha Thư Hàn vốn hâm mộ đại danh của Lý Bạch, cũng nhân dịp này lấy lòng y, bên ưng thuận cho Quách Tử Nghi được ở lại dưới trướng, lấy công chuộc tội.

Sau đó vài năm, Quách Tử Nghi nhiều lần lập quân công, dần dần bộc lộ tài năng, làm tới chức Thái thú Cửu Nguyên, Lý Bạch ở Trường An nghe được tin tức cố nhân, lấy làm rất vui. Nhưng y không muốn khoe khoang ơn đức của mình, nên trước nay chưa từng kể lại chuyện ấy cho người khác, vì vậy cho dù là bạn thân như Hạ Tri Chương cũng không biết tới mối thâm tình ấy giữa y và Quách Tử Nghi.

Quách Tử Nghi cũng nghe tin tức của Lý Bạch ở Trường An, biết y tuy được hoàng đế sủng ái, nhưng chằng qua chỉ là một loại khách thanh cao của hoàng đế chứ không được trọng dụng. Vả lại kẻ quyền thần nắm việc nước, nghĩ thầm với tính cách của Lý Bạch chắc cũng không hòa mình vào chốn quan trường như thế. Quách Tử Nghi nghĩ tới đó, bèn nhờ một người bạn của y cầm giúp thư vào kinh tìm Lý Bạch, muốn mời Lý Bạch tới chỗ của y.

Người bạn ấy chính là viên võ quan mà Lý Bạch gọi là Nam Bát huynh, lúc ấy đang ở dưới trướng Quách Tử Nghi, giúp Quách Tử Nghi bảo vệ biên giới. Người này theo vai vế là thứ tám, tên thật là Nam Tễ Vân, là một hiệp khách nổi tiếng ở Yên Triệu, trên giang hồ trong vòng hai mươi năm chỉ có hai hiệp khách nổi tiếng, mười năm trước là Đoàn Khuê Chương, từ khi Đoàn Khuê Chương ẩn cư thì người nổi tiếng nhất là y. Y ở Cửu Nguyên, từng có lần một mình một ngựa đánh lui ba trăm thiết ky của người Chương vào cướp bóc biên giới, nên dân gian lúc bấy giờ có một câu ca tụng y là :

– Phải như Nam Bát mới là nam nhi.

Lúc ấy Lệnh Hồ Đạt vừa hỏi Nam Tễ Vân về Quách Tử Nghi, Nam Tễ Vân cho biết rằng y quen Quách Tử Nghi, nên cũng thẳng thắn thừa nhận không ngại ngùng, nói người nhờ y đưa thư cho Lý Bạch chính là Quách Tử Nghi.

Nào ngờ Lệnh Hồ Đạt hỏi rõ ràng xong, gượng gạo nói :

– Lá thư ấy Lý Học sĩ vẫn chưa nhận, xin cho tại hạ mượn xem qua được không?.

Lá thư ấy tuy không có gì là cơ mật, nhưng yêu cầu như thế lại không khỏi có chỗ bất cận nhân tình, Nam Tễ Vân phật ý không vui, nói :

– Lệnh Hồ đại nhân nói đùa rồi, thư của người khác, tại sao lại hỏi mượn xem?. Lệnh Hồ Đạt cười nhạt một tiếng, lại hỏi :

– Nam Bát huynh, vừa rồi ngươi nói:

Đáng tiếc cho Lý Học sĩ, câu ấy là có ý gì?.

Nam Tễ Vân tức giận nói :

– Ngươi cậy vào cái gì mà thẩm vấn ta?.

Lệnh Hồ Đạt nói :

– Lý Học sĩ đội ơn hoàng thượng, phái Trung sứ mang ngự mã tới đón, vinh dự không ai sánh bằng, ngươi lại nói y đáng tiếc, xin thứ lỗi cho ta ngu muội, quả thật không hiểu được, còn xin ngươi nói cho rõ. Nam Tễ Vân bị y hỏi vặn, không sao giải thích, liền sa sầm mặt nói :

– Ta không có thời giờ đâu mà nói chuyện với ngươi.

Tiết Tung cười nhạt nói :

– Có thời giờ để tỷ kiếm, chứ không có thời giờ để nói chuyện phải không?. Lệnh Hồ Đạt nham hiểm gian hoạt, lúc ấy nói chen vào :

– Ngươi đưa lá thư ấy cho ta, chúng ta tìm chỗ khác nói chuyện, thì ta vẫn coi ngươi là bạn bè.

Nam Tễ Vân hừ một tiếng, nói :

– Nam Bát ta lại chịu để người uy hiếp à? Không đưa ra thì sao?.

Lệnh Hồ Đạt biến sắc, đột nhiên quát lớn :

– Ngươi chạy theo cận thần, câu kết với ngoại bang, lại mang lòng bất mãn, phỉ báng triều đình, hai tội đều rõ rành rành, còn muốn chạy à?.

Đoàn Khuê Chương nãy giờ hờ hững ngồi ngoài nghe, mới rồi nhìn thấy Lệnh Hồ Đạt bước qua chắp tay tạ tội với Nam Tễ Vân, cũng chỉ cho rằng y là kẻ tiểu nhân chạy theo thế lợi, vì chuyện Lý Học sĩ nên mới lấy lòng Nam Tễ Vân, không ngờ trong khoảnh khắc y lại đột nhiên trở mặt động thủ với Nam Tễ Vân, cho dù Đoàn Khuê Chương từng trải nhiều cũng cảm thấy vô cùng bất ngờ!

Nói thì chậm chứ lúc ấy rất mau, chi thấy Lệnh Hồ Đạt đã rút ra một đôi Hộ thủ câu ra chiêu Đảo quyển châu liêm, câu trái móc ngang vào ngực, câu phải chênh chếch đánh tới, đều đánh vào trước mặt Nam Tễ Vân. Nam Tễ Vân chưa tuốt đao, chỉ nghe soạt một tiếng, vạt áo Nam Tễ Vân đã bị Hộ thủ câu của y móc rách một mảnh lớn, kế lại chát một tiếng, Lệnh Hồ Đạt đã bị y đánh một tát tai tóe lửa!

Nam Tễ Vần thân thủ mau lẹ, lùi lại, nghiêng người, tránh câu, ra chưởng, tuốt đao, một hơi liền lạc, chưởng trái vỗ ra, lập tức tay phải một đao vung lên, keng một tiếng đón đỡ thanh trường kiếm của Tiết Tung.

Tia lửa bắn tung tóe, thanh Thanh cương kiếm của Tiết Tung bị mẻ một miếng, Tiết Tung có hiệu là Thanh Châu kiếm khách, công phu kiếm pháp quả thật đã tới mức phi phàm, đao kiếm vừa chạm nhau, lập tức biết đối phương mang bảo đao, lập tức biến chiêu, thanh trường kiếm khua một vòng ra chiêu Long Môn cổ lãng, liên hoàn ba thức, liên tiếp đánh vào ba chỗ hiểm yếu trên thượng bàn, trung bàn và hạ bàn của Nam Tễ Vân, kiếm quang chớp chớp, quả thật giống như sóng nước cuồn cuộn, bay châu rắc ngọc, nhìn hoa cả mắt! Lệnh Hồ Đạt võ công còn cao hơn Tiết Tung một bậc, y từ khi xuất đạo đến nay, đây là lần đầu tiên bị người ta tát vào giữa mặt, lửa giận bùng lên, cũng lập tức sử dụng tuyệt chiêu sát thủ, song câu một ngang một dọc ra chiêu :

– Chỉ thiên hoạch địa., câu trước móc vào bối tâm Nam Tễ Vân, câu sau móc vào khuỷu chân Nam Tễ Vân, nếu Nam Tễ Vân đứng yên không động, ắt bối tâm sẽ bị y móc thủng một lỗ lớn, nếu nhảy về phía trước, ắt trước ngực sẽ trúng kiếm của Tiết Tung, còn nếu nhảy bật lên thì cũng như đưa bắp chân ra cho ngọn câu sắc nhọn của Lệnh Hồ Đạt móc vào!

Nam Tễ Vân rất giỏi, chỉ thấy y trong kiếm quang câu ảnh, nhao người chúc xuống một cái, sau lưng dường như mọc ra thêm hai con mắt, một cước đá về phía sau, vừa khéo đá trúng hổ khẩu Lệnh Hồ Đạt, ngọn Hộ thủ câu nhắm vào khuỷu chân y của Lệnh Hồ Đạt còn chưa chạm tới ống quần y đã bị y đá bay tung ra, cùng lúc ấy y dựng thanh đạo đang nằm ngang lên, chênh chếch chém tới. Chiêu ấy đánh vào chỗ địch nhân phải cứu, kiếm thế của Tiết Tung nếu không thay đổi, vẫn tiếp tục phóng tới, thì có thể khiến y bị thương, nhưng cánh tay ấy của Tiết Tung nhất định sẽ không giữ được, may mà chiêu thức của Tiết Tung còn chưa sử dụng hết, vội vàng thu kiếm lùi bước, chỉ nghe Nam Tễ Vân hô hô cười rộ, đã lướt qua cạnh người Lệnh Hồ Đạt.

Thiết Ma Lặc nhìn thấy xuất thần, bất giác đập bàn kêu lớn :

– Hay lắm!. Nên biết hai thức đao cước dùng cùng lúc ấy của Nam Tễ Vân, đao chém tễ phía trước, cước lại đá ra phía sau, phương hướng hoàn toàn trái ngược nhau, quả thật là một công phu vô cùng khó luyện, không những phải tập trung cao độ, mà còn phải nắm đúng thời điểm, lại không được chệch một phân. Thiết Ma Lặc gần đây đã được Đậu Lệnh Khản dạy cho công phu Tiền cung hậu tiễn này, hóa giải chiêu số của địch nhân đồng thời đánh vào cả trước mặt sau lưng nhưng vẫn chưa luyện thành, nên lúc ấy nhìn thấy Nam Tễ Vân sử dụng chiêu Tiền đao hậu cước tinh diệu như vậy liền bất giác bật tiếng ca ngợi.

Nam Tễ Vân nghe thấy tiếng kêu, đưa mắt nhìn qua phía y chợt giật mình :

– Kia không phải là Đoàn đại ca sao?. Bước chân tự nhiên chậm lại một chút, cũng đúng lúc ấy, Điền Thừa Tự quát lớn một tiếng, hất đổ một cái bân, chặn đường lui của Nam Tễ Vân.

Nam Tễ Vân hai mắt chớp lên, quát :

– Té ra là gã cường đạo nhà ngươi mà cũng làm được võ quan rồi!. Điền Thừa Tự tức giận nói:

– Thật hồ đồ, ta là Bình Lô tướng quân, ngươi lại dám bôi nhọ à!.

Nam Tễ Vân ngẩng đầu lên trời hú dài một tiếng, căm tức nói :

– Quan quân giặc cướp không phân biệt, hào cường cậy thế, quốc gia làm sao không loạn?. Trong tiếng hú dài, chưởng trái vỗ ra, bức Điền Thừa Tự lui lại hai bước, tay đao lật lại một cái, gạt thanh trường kiếm của Tiết Tung ra, Lệnh Hồ Đạt quát :

– Làm phản rỗi, làm phản rồi!Thằng đầy tớ này đã phỉ báng triều đình, bôi nhọ đại tướng, loạn thần tặc tử ai cũng được giết, loạn đao giết chết y cho ta. Mấy viên võ quan có giao tình với Lệnh Hỗ Đạt lập tức sấn tới bao vây.

Nguyên là Điền Thừa Tự trước khi theo An Lộc Sơn là một tên độc hành đại đạo, có lần trên đường Tinh Châu đánh cướp một nhóm thương khách, bị Nam Tễ Vân gặp được trượng nghĩa cứu người, chém y một đao, từ đó kết oán. Cho nên mới rồi Điền Thừa Tự nhìn thấy Nam Tễ Vân bước vào, nhất thời không dám lên tiếng, chính vì sợ y nói toạc ra chuyện cũ. Nhưng Tiết Tung lại không thể không cảm thấy ngạc nhiên, sau khi cãi nhau với Nam Tễ Vân lần đầu xong, lúc bọn thái giám tới đón Lý Bạch đi, y quay về bàn, bèn hỏi Điền Thừa Tự tại sao lại không ra giúp đỡ y. Điền Thừa Tự có thể giấu diếm người khác, nhưng không dám giấu diếm Tiết Tung và Lệnh Hồ Đạt, vả lại hai người bọn họ cũng đều là hắc đạo xuất thân, bèn kể rõ đầu đuôi câu chuyện. Lệnh Hồ Đạt nghe xong, lập tức nghĩ ra mưu kế.

Lệnh Hồ Đạt thêu dệt tội lỗi cho Nam Tễ Vân, rốt lại hoàn toàn không chỉ để báo thù cho Điền Thừa Tự, mà trong đó còn có lý do phức tạp khác.

Quách Tử Nghi lúc ấy tuy chỉ là một viên Thái thú, nhưng vì y giỏi việc dùng binh, lại không chịu a dua theo An Lộc Sơn nên đã sớm bị An Lộc Sơn căm ghét, mà Lý Bạch ở trong triều cũng đã sớm bị Dương Qúi Trung đố ky, chỉ vì Lý Bạch tiếng tăm quá lớn, hoàng đế lại đang coi trọng y, Dương Quốc Trung không biết làm sao đành chịu thôi. Mặt khác tuy An Lộc Sơn câu kết với Dương Qúy phi nhưng lại có xung đột về quyền lợi với Dương Quốc Trung, đôi bên giành giật lòng tin yêu trước mặt hoàng đế, công kích lẫn nhau. Bấy nhiêu quan hệ rắc rối phức tạp ấy, người ngoài không biết, chứ Lệnh Hồ Đạt thì biết rất rõ.

Cho nên sau khi Lệnh Hố Đạt biết được Nam Tễ Vân cầm thư của Quách Tử Nghi cho Lý Bạch, bèn nảy ra một chủ ý thâm độc, nghĩ thầm :

– Bất kể trong thư nói những gì, mình lấy được xong thì có thể mang tới dâng cho Dương Quốc Trung, để y tìm được một người giỏi thư pháp, mô phỏng bút tích của Quách Tử Nghi, vu hãm họ mưu phản, có thể hoàng đế sẽ không tin, nhưng ít nhất cũng có thể vu hãm họ vào tội cấu kết trong ngoài, kết bè đảng riêng, đó cũng là khiến hoàng thượng nghi ngờ. Như thế cho dù Lý Bạch vẫn được gần gũi thì cũng bớt được sủng ái, còn Quách Tử Nghi ắt là sẽ bị lật, mình làm như thế đã có thể lấy lòng Dương Quốc Trung, lại có thể lấy lòng An Lộc Sơn, há không phải nhất cử lưỡng tiện sao? Y vốn còn muốn lôi kéo Nam Tễ Vân, lấy oai để hiếp, lấy lợi để dụ, dùng cả hai cách, bức bách y đứng ra làm nhân chứng, không ngờ Nam Tễ Vân không mắc lừa y, mới xảy ra chuyện động thủ.

Trên tửu lâu có mười mấy võ quan trong quân Vũ lâm và thị vệ trong đại nội, đều thân thiết với Lệnh Hồ Đạt. Lệnh Hố Đạt quát một tiếng như thế, bấy nhiêu người đều nhao nhao xông tới bao vây Nam Tễ Vân vào giữa. Lệnh Hỗ Đạt nghĩ thầm :

– Chuyện thằng đầy tớ này mới rồi buông lời oán thán triều đình, mang thư cho Quách Tử Nghi, đã do y chính miệng nói ra, tất cả những người ở đây đều có thể làm chứng cho mình, mình cứ giết chết y cũng không đến nỗi có tội, vả lại vẫn có thể theo đúng kế hoạch mà làm.

Lệnh Hố Đạt một tiếng hạ lệnh, sai loạn đao chém chết Nam Tễ Vân, lập tức trong tửu lâu trên dưới hỗn loạn, chỉ nghe tiếng đao kiếm chạm nhau choang choang, tiếng chén bát rơi vỡ loảng xoảng, tiếng bàn ghế ngã đổ ầm ầm, những khách khứa sợ chuyện đều bỏ chạy, người trong tửu lâu luôn miệng kêu khổ không ngớt, khuyên thì khuyên không được, chỉ đành núp hết vào trong.

Nam Tễ Vân cả giận, một thanh bảo đao chỉ đông đánh tây chỉ nam đánh bắc, nhấc chân đá một cái bàn bay ra, có ba viên võ quan đang xông vào y, bị cái bàn tròn đập xuống, lập tức vỡ đầu chảy máu, bò suốt nửa ngày không đứng lên được.

Nhưng hảo hán không chống nổi nhiều người, song câu của Lệnh Hồ Đạt, trường kiếm của Tiết Tung, Kim cương chưởng của Điền Thừa Tự lại càng lợi hại, vòng vây càng lúc càng hẹp lại, Nam Tễ Vân giở hết tài năng ra vẫn không thoát được khỏi vòng vây.

Trong lúc kịch chiến một viên thị vệ trong đại nội phóng ra ba mũi Thấu cốt đinh, Nam Tễ Vân nghiêng người tránh qua, chợt cảm thấy đầu vai bị siết chặt, giống như một cái cùm sắt.

Vốn là Điền Thừa Tự đang đứng gần y, y nghiêng người tránh qua, vừa khéo xoay tới trước mặt Điền Thừa Tự, Điền Thừa Tự bên vung tay chụp. Tiết Tung cả mừng, lập tức bước lên một bước, phóng kiếm đâm vào huyệt Hoàn khiêu trên đầu gối y, song câu của Lệnh Hồ Đạt cũng cuốn tới, móc vào hai gót chân y, ngoài ra còn có hai viên võ quan cầm đao sấn vào chém xuống hai vai y, nhìn thấy Nam Tễ Vân sẽ phải mất mạng dưới loạn đao.

Tiết Tung chiêu kiếm vừa đánh ra, chợt thấy sau lưng có tiếng gió rít, Tiết Tung là một hành gia sử kiếm, lập tức giật nảy mình, không rảnh tấn công mà phải quay về cứu mình trước, lật tay phóng lại một kiếm, chợt nghe keng một tiếng, lại là thanh trường đao của một viên võ quan bị bảo kiếm của người kia chém gãy, mà một kiếm của Tiết Tung phóng ngược lại lại đánh trượt.

Tiết Tung trợn mắt nhìn, thì người ấy chính là kẻ mới rồi uống rượu với Lý Bạch. Đó cũng là Đoàn Khuê Chương mà Tiết Tung nghe danh đã lâu nhưng chưa từng gặp mặt.

Đoàn Khuê Chương phóng kiếm như chớp, y xông vào vòng vây, trường kiếm phóng hờ vào huyệt Chí đường trên lưng Tiết Tung một nhát, y biết Tiết Tung là một hành gia, chiêu này của y lại đánh vào chỗ địch nhân nhất định phải quay về tự cứu, Tiết Tung nhất định sẽ rút kiếm đón đỡ, Nam Tễ Vân có thể bớt đi một cường địch, nên chiêu ấy y không cần sử hết, ung dung chém gãy cương đao của một viên võ quan đang chém tới y xong mới hô hô cười nói :

– Tiết Tung, kiếm pháp của ngươi còn phải luyện thêm mười năm nữa?.

Tiết Tung cả giận xoay người lại ra chiêu Lưu tinh bôn nguyệt đâm vào bụng dưới Đoàn Khuê Chương. Nhưng Đoàn Khuê Chương còn nhanh hơn y, soạt soạt hai kiếm, kiếm quang chớp mau trước mắt y, Tiết Tung vội lăn tròn xuống đất vung kiếm hộ thân, chỉ nghe hai tiếng choang choang, binh khí của hai viên võ quan xông vào cứu viện cho y đã bị bảo kiếm của Đoàn Khuê Chương chém gãy.

May mà hai viên võ quan ấy đã đón đỡ cho y, Tiết Tung lúc ấy mới bật người đứng dậy, nghĩ lại mới rồi nếu không phải thấy việc mau lẹ, ứng biến kịp thời thì hai mắt đã bị người kia đâm thủng, bất giác toát mồ hôi lạnh. Còn chưa định thần, Đoàn Khuê Chương đã hất thanh Thiết giản của một tên vệ sĩ ra, một bông kiếm hoa lại phóng vào y, soạt soạt soạt liên hoàn ba kiếm, giống như gió trời mưa biển, bức người phóng tới, khiến Tiết Tung chân tay luống cuống. Y tự phụ là danh gia kiếm thuật, nhưng trước nay lần đầu nhìn thấy kiếm thuật tinh diệu như thế, bất giác thất thanh la lên :

– Ngươi, ngươi là ai?.

Ở bên kia, Lệnh Hồ Đạt cũng gặp phải sự cản trở bất ngờ, y chỉ còn cách vài bước, song câu cơ hồ đã móc trúng chân Nam Tễ Vân, chợt dưới đất có một cái chén bay tới, y sấn lên một bước, vừa đúng đạp lên cái chén, răng rắc mấy tiếng, cái chén bị y đạp nát, y cũng chúi người đi, suýt nữa ngã lăn ra, lúc ngẩng lên trợn mắt nhìn, thì thấy người ném cái chén ấy lại là một thiếu niên mặt còn bấm ra sữa, nhiều lắm cũng chỉ mười bảy mười tám tuổi.

Lệnh Hồ Đạt tức giận quát :

– Thằng tiểu tử ngươi cũng muốn tìm cái chết à?. Y chưa dứt lời, Thiết Ma Lặc đã sấn tới trước mặt. Đúng là:

Con nghé mới sinh đâu sợ cọp, Thiếu niên hiệp sĩ đấu cường gian.

Muốn biết Đoàn Khuê Chương và Thiết Ma Lặc có cứu được Nam Tễ Vân không, xin nghe hạ hồi phân giải.

Chương 6: Chuyện lạ quý phi tiền tắm con – Mừng gặp anh hùng khách mài kiếm

Lệnh Hồ Đạt đời nào coi thiếu niên này ra gì, ngọn câu bên trái chợt trầm xuống, ngọn câu bên phải hất lên, xoay tròn một vòng, song câu chớp chớp, quát lớn một tiếng :

– Xem đây!., thanh đao của Thiết Ma Lặc đã bị răng cưa trên ngọn Hộ thủ câu bên trái ngoặc lại giữ chặt, định giật ra khỏi tay y. Thiết Ma Lặc linh cơ mau lẹ, khều mũi chân một cái, hất một mảnh bát vỡ dưới đất bay lên, mảnh bát vỡ tuy không phải là ám khí lợi hại, nhưng nếu bị trúng vào mặt, nhẹ thì cũng rách thịt, nặng thì sẽ bị thương, lệnh Hồ Đạt vội nghiêng người tránh qua, mảnh bát vỡ bay lướt qua cạnh y, đánh trúng đầu một tên vệ sĩ, chát một tiếng, mảnh bát bắn tung tóe, tên vệ sĩ kia cố nhiên bị vỡ đầu hai tên vệ sĩ khác cũng bị thương.

Ngọn Hộ thủ câu bên trái của lệnh Hồ Đạt giữ chặt đơn đao của Thiết Ma Lặc, nhưng tay trái y mới rồi bị Nam Tễ Vân đá trúng hổ khẩu, tuy không hề gì nhưng đã không dùng lực được nữa, nhiều lắm cũng chỉ được năm phần so với lúc bình thời, Thiết Ma Lặc nhân lúc y tránh mảnh bát vỡ, thân hình nghiêng qua một bên, trọng tâm không vững, lập tức dùng sức đè thanh đao xuống một cái, rắc một tiếng, hai cái răng cưa trên ngọn Hộ thủ câu đã bị bẻ gãy.

Lệnh Hồ Đạt cả giận, ngọn Hộ thủ câu trong tay phái lập tức ra chiều, Thiết Ma Lặc kêu lên :

– Lợi hại thật., đơn đao chớp lên, mau lẹ bay lượn, lại dùng đơn đao ra một chiêu trong Bát tiên kiếm, khiến Lệnh Hồ Đạt không đề phòng đột nhiên lại có quái chiêu ấy, vẫn theo chiêu số đơn đao đón đỡ, đến khi phát giác ra thì đã không kịp, sột một tiếng, mũi đao phòng tới, rạch đứt một vết dài ba tấc trên bắp tay y.

Nguyên là trong mấy hôm ấy Thiết Ma Lặc ở chung với Đoàn Khuê Chương, Đoàn Khuê Chương đã dạy cho y vài chiêu kiếm pháp tinh diệu, còn hứa tương lai sẽ tìm cho y một thanh kiếm tốt, khuyên ý đổi binh khí. Hiện y gặp phải cường địch, bị bức bách phải dùng kiếm pháp biến thành đao pháp, trở thành một :

– Quái chiêu., nhân lúc bất ngờ đâm Lệnh Hồ Đạt bị thương.

Lệnh Hỗ Đạt tức giận tới mức bảy khiếu phun khói, y bị thương không nặng, song câu cùng dựng lên, sát cơ ngùn ngụt, toan giết chết Thiết Ma Lặc dưới câu lập tức, nhưng lúc ấy Tiết Tung đã bị Đoàn Khuê Chương bức bách phải lui lại liên tiếp, nếu Lệnh Hồ Đạt mà không giúp y, ắt Tiết Tung phải chết dưới kiếm của Đoàn Khuê Chương trước. Lệnh Hồ Đạt chỉ đành bỏ Thiết Ma Lặc, xông vào giúp Tiết Tung chống cự Đoàn Khuê Chương. Đoàn Khuê Chương trường kiếm khai triển, biến thành một vầng kiếm quang chụp xuống hai người. Lệnh Hồ Đạt, Tiết Tung và hai cao thủ khác trong đại nội.

Điền Thừa Tự dùng Hổ trảo cầm nã thủ chụp vào Nam Tễ Vân, đang trong lòng cả mừng, định dùng sức bẻ gãy xương tỳ bà của y, chợt cảm thấy đầu vai Nam Tễ Vân như biến thành một tấm ván sắt, bấu vào không được, Điền Thừa Tự giật nảy mình, nói thì chậm chứ lúc ấy rất mau, Nam Tễ Vân đột nhiên quát lớn một tiếng, thân hình chợt phục xuống, dùng tuyệt kỹ Bối đầu trong thuật Suất giác quật tấm thân to như con trâu nước của Điền Thừa Tự xuống, ầm một tiếng vang rền, ván lầu vỡ toác ra, Điền Thừa Tự cũng theo chỗ vỡ rơi thẳng xuống dưới lầu.

Lúc ấy hai viên võ quan tay múa trường đao mới sấn tới, Nam Tễ Vân quát lớn một tiếng, lật tay đánh ra một đao, chém đứt cánh tay viên võ quan thứ nhất, sống đao đập xuống, lại đánh ngất viên võ quan thứ hai, đám võ quan hoảng sợ la lớn :

– Phản tặc giết chết người rồi. Ngoài Lệnh Hồ Đạt, Tiết Tung, Điền Thừa Tự và hai viên thị vệ võ công cao cường nhất ấy, người khác làm sao còn dám xông vào?

Đoàn Khuê Chương kêu lên :

– Ma Lặc, không cần giết người bừa bãi, chạy thôi!. Thanh bảo kiếm vọt ra một bông kiếm hoa, chỉ vào Lệnh Hồ Đạt, sột một tiếng điểm trúng cổ tay y, thanh Hộ thủ câu của Lệnh Hồ Đạt rơi xuống lần thứ hai, Nam Tễ Vân đánh thêm một đao, thanh Thanh cương kiếm của Tiết Tung cũng bị y hất tung khỏi tay, Nam Đoàn hai người chạy thẳng ra cửa sổ đối diện với đường phố bên dưới.

Chợt nghe Thiết Ma Lặc la lớn một tiếng, chỉ thấy một viên võ quan nãy giờ chưa ra mặt đứng ở cửa cầu thang, mặt mũi đen bóng, vóc dáng cao lớn, trông như một vị môn thần, Thiết Ma Lặc chưa biết sự lợi hại của y, chém thẳng một đao xuống đầu y, viên võ quan ấy cười nói :

– Thằng nhóc, đao pháp không kém đâu., lập tức hai tay vung ra một cái, tay trái đã cướp được thanh đơn đao của Thiết Ma Lặc, tay phải nắm Thiết Ma Lặc nhấc bổng lên!

Đoàn Khuê Chương vô cùng hoảng sợ, vội vàng quay lại cứu Thiết Ma Lặc, viên võ quan mặt đen kia nhấc Thiết Ma Lặc lên xoay xoay trên không, cười nói :

– Thằng tiểu tử này cũng gan dạ lắm, tha mạng cho ngươi đấy., chợt rung cánh tay ném ra một cái, Thiết Ma Lặc bay qua cửa sổ rơi xuống đường!

Câu nói chưa dứt, thanh trường kiếm của Đoàn Khuê Chương đã điểm tới trước mặt y, viên võ quan kia rất cao cường, không lui mà lại tiến, ra chiêu Thám nang thủ vật, năm ngón tay khoằm lại như móc câu chụp vào huyệt Khúc trì của Đoàn Khuê Chương, nếu bị y chụp trúng thì bất kể võ công cao cường tới đâu, cánh tay cũng sẽ lập tức tê rần, trở thành tù binh của y. Đoàn Khuê Chương kiến thức rộng rãi, vừa nhìn thấy chiêu số của y đã biết ngay là gặp phải kình địch, nhưng lúc ấy đã tức giận tới mức hai mắt đỏ ngầu, bất kể lợi hại, định lưỡng bại câu thương, mũi kiếm xoay một cái, hung dữ đâm xuống đầu gối y, cao giọng quát :

– Trả mạng cho người bạn nhỏ của ta đây!.

Viên võ quan mặt đen kia quả thật không ngờ y lại dùng lối đánh liều mạng như vậy, phát trảo ấy chụp xuống tuy có thể bắt được Đoàn Khuê Chương nhưng chính mình thì không khỏi bị tàn phế, dường như y cũng không muốn thật sự liều mạng với Đoàn Khuê Chương, lập tức nghiêng người tránh ra, cười nói :

– Ai giết thằng nhóc ấy? Sao ngươi không ra nhìn thử xem?.

Đúng lúc ấy, chỉ nghe giọng của Thiết Ma Lặc dưới phố vang lên:

– Dượng, các người còn đánh nhau à? Đánh gã mặt đen ấy một trận cho ta với?.

Viên võ quan mặt đen kia hô hô cười nói :

– Thằng nhóc của ngươi không nhận món nhân tình của ta thì thôi, sao còn mắng ta?. Đoàn Khuê Chương quát :

– Được, ta nhận món nhân tình ấy của ngươi, chúng ta không ai làm phiền ai nữa!. Chiêu kiếm thứ hai của y vốn đã phóng ra, lúc ấy lập tức dừng lại.

Lệnh Hồ Đạt vội kêu lên :

– Hai người này là bọn phản tặc, Uất Trì Đô uý, ngươi quyết không được để họ chạy thoát!.

Nguyên viên võ quan mặt đen ấy là tằng tôn của Uất Trì Kính Đức khai quốc công thần đầu thời Đường, có hai anh em, anh y Uất Trì Nam giữ chức Thống lĩnh cấm quân, y là thị vệ đeo đao hộ giá hoàng đế, được phong là Long kỵ Đô úy về cả chức vị lẫn võ công đều cao hơn Lệnh Hồ Đạt, là một trong ba đại cao thủ trong đại nội. Công phu Không thủ nhập bạch nhận gia truyền của nhà y vô cùng lợi hại, năm xưa Tần vương (phong hiệu của Đường Thái Tông trước khi lên ngôi hoàng đế) Lý Thế Dân đem quân đánh Ngụy (Lý Mật), gặp tướng Đơn Hùng Tín của quân Ngõa cương ở cốc Ngũ Hổ, Lý Thế Dân bị Đơn Hùng tín đuổi tới khe Đào Hồn, đã sắp bị bắt, may được Uất Trì Kính Đức cứu giá, tay không đoạt được ngọn Thiết sóc nặng ba mươi ba cân của Đơn Hung Tín, nổi tiếng thiên hạ.

Uất Trì Bắc thi triển tuyệt kỹ gia truyền mà không đoạt được bảo kiếm trong tay Đoàn Khuê Chương, lập tức nảy lòng hiếu thắng, hô hô cười rộ nói :

– Ta bất kể ngươi là ai, nhưng kiếm pháp của ngươi thì không lãnh giáo thêm vài chiêu không xong. Song chưởng khua một vòng ra chiêu Tà quải đơn tiên, chưởng trái chém mạnh vào mạch môn Đoàn Khuê Chương, chưởng phải chụp tới định đoạt bảo kiếm trong tay y. Đoàn Khuê Chương lúc ấy đã biết Thiết Ma Lặc an toàn vô sự, lối đánh tự nhiên cũng khác trước, không cần liều mạng với y nữa, Cầm nã thủ của Uất Trì Bắc tuy tinh diệu tuyệt luân, nhưng Đoàn Khuê Chương làm sao để y chụp trúng, chỉ thấy kiếm quang chớp lên, Đoàn Khuê Chương đảo bộ xoay người, đã vòng ra sau lưng Uất Trì Bắc, quát lớn :

– Xem kiếm!., soạt một nhát mũi kiếm điểm tới huyệt Phong phủ trên lưng Uất Trì Bắc, y lên tiếng báo trước là vì khâm phục Uất Trì Bắc cũng là một hảo hán, mới rồi lại buông tha Thiết Ma Lặc, nên cũng có ý nhẹ tay với y.

Uất Trì Bắc cười nói :

– Ngươi hà tất đao chém xuống, tình còn lưu đâu., chưởng theo tiếng tới, mũi kiếm của Đoàn Khuê Chương còn chưa chạm tới áo y, đột nhiên y lật tay đánh một chưởng, giống như sau lưng đột nhiên mọc thêm mắt, chỉ nghe vù một tiếng, tay áo Đoàn Khuê Chương đã bị y giật rách một mảnh, nếu không phải Đoàn Khuê Chương rút tay thật nhanh thì thanh bảo kiếm đã bị y đoạt mất rồi.

Đoàn Khuê Chương quát :

– Hảo chưởng pháp!., một kiếm đánh trượt, kiếm chiêu lập tức thay đổi, người theo kiếm tới, kiếm theo người chuyển, trong chớp mắt bốn phương tám hướng đều đầy ánh kiếm bóng người, giữa lúc kịch chiến, chỉ nghe soạt một tiếng, Uất Trì Bắc quát :

– Hảo kiếm pháp!.

Nguyên là y sốt ruột tấn công, chỉ hơi sơ ý, vạt áo đã bị Đoàn Khuê Chương đâm trúng một kiếm. Đoàn Khuê Chương nói :

– Hai bên đều không thua thiệt, xin thứ lỗi không bồi tiếp được nữa., rồi bình một chưởng đánh vỡ cửa sổ, lập tức nhảy xuống đường. Uất Trì Bắc cũng không cản trở y, lạng người một cái, chặn Nam Tễ Vân lại nói:

– Người cũng để lại vài chiêu!. Nam Tễ Vân còn lòng dạ nào mà lằng nhằng với y, cố ý để lộ chỗ sơ hở, đợi cho tay chưởng y vừa chém tới, đột nhiên xoay người qua một bên, trở sống đao đập xuống. Nào ngờ Uất Trì Bắc công phu cầm nã quả thật rất lợi hại, đúng lúc bị sống đao đập trúng, một chưởng đã luồn vào, bẻ ngược cổ tay Nam Tễ Vân, Nam Tễ Vân tay nắm không chặt, thanh bảo đao vuột khỏi tay bay tung lên. Uất Trì Bắc kêu lên :

– Được, ta và ngươi cũng hai bên đều không thua thiệt!.

Nam Tễ Vân trầm vai co khuỷu tay lại, chợt cảm thấy tay đối phương lỏng ra, thừa thế giật mạnh, lật người một cái lộn ra chỗ cửa sổ bị Đoàn Khuê Chương đánh vỡ, Uất Trì Bắc một trảo chụp theo, rắc một tiếng, chụp gãy một thanh chấn song cửa sổ, nhưng không chụp được gót chân y.

Đó là Uất Trì Bắc cố ý thả cho y chạy. Nếu luận về công phu chân thực, thì y và Nam Tễ Vân người nào cũng có chỗ sở trường, khó phân cao thấp. Nên biết mới rồi tuy y chụp trúng cổ tay Nam Tễ Vân, nhưng nếu Nam Tễ Vân không trở sống đao đập xuống, thì cánh tay ấy của Uất Trì Bắc đã phải đứt lìa, Nam Tễ Vân đã đao chém xuống tình còn lưu với y, y vốn anh hùng trọng anh hùng, hảo hán tiếc hảo hán nên cũng không thể làm khó đối phương.

Lệnh Hồ Đạt sấn tới, luôn miệng kêu đáng tiếc, còn định đuổi theo, Uất Trì Bắc trầm giọng nói :

– Muốn bắt hai người ấy trừ phi mời Vũ Văn Thống lĩnh và Tần Đô úy cùng tới, nếu không chúng ta đuổi theo cũng không phải là đối thủ của họ. Ngươi ngồi xuống nói chuyện xem, ngươi nói hai người ấy là phản tặc, có chứng cứ gì không? Nói cho ta nghe, ta sẽ bẩm với hoàng thượng, sau đó mới có thể điều động Vũ Văn Thống lĩnh và Tần Đô úy cùng tới giúp đỡ ngươi.

Vũ Văn Thống lĩnh họ kép là Vũ Văn, đơn danh là Thông, Tần Đô úy là tằng tôn của Tần Quỳnh khai quốc công thần đầu thời Đường, tên là Tần Tương, hai người nổi tiếng ngang với Uất Trì Bắc, được gọi là ba cao thủ trong đại nội. Lệnh Hồ Đạt đã nhìn thấy thủ đoạn của Đoàn Khuê Chương và Nam Tễ Vân, cũng biết lời Uất Trì Bắc hoàn toàn không phải giả dối, nếu không điều ba cao thủ đại nội cùng đi, quả thật không sao nắm phần thắng, chỉ đành theo lời ngồi xuống, kể lại mọi chuyện.

Uất Trì Bắc nghe xong hô hô cười nói :

– Nói thế thì ngươi cũng không có chứng cớ gì về việc họ mưu phản. Quách Tử Nghi là tướng quân phòng thủ biên cương đắc lực, Lý Học sĩ lại là người hoàng thượng sủng ái, chúng ta không nên vì lấy lòng Dương Quốc Trung mà đối đầu với họ. Nếu lật họ không được, há không phải chưa thấy cái lợi đâu mà đã gặp họa sao. Họ Nam kia tuy có lời bất mãn với triều đình, nhưng hoàn toàn không có gì nghiêm trọng, chỉ bằng vào vài câu nói mà muốn khép y vào tội mưu phản thì cũng rất khó nói cho trôi. Huống hồ họ Nam là hiệp khách nổi tiếng giang hồ, giao du rất rộng, nếu đắc tội với y, ngày khác chúng ta có việc ra tỉnh ngoài công cán, chỉ e cũng có điều bất tiện. Theo ý tiểu đệ, oan gia nên cởi không nên kết, Lệnh Hồ huynh cũng nên bỏ qua cho rồi.

Chức vị của Uất Trì Bắc còn cao hơn Lệnh Hồ Đạt, lần này nhờ y ra tay giúp đỡ, Lệnh Hồ Đạt mới được an toàn vô sự. Huống hồ nếu muốn điều động ba đại cao thủ cũng không phải là chuyện y có thể làm nổi. Lệnh Hồ Đạt nghĩ tới chuyện lợi hại của bản thân, cũng đành bỏ qua.

Nam Tễ Vân nhảy xuống đường, nhặt thanh bảo đao, cùng hai người Đoàn Thiết vội vàng bỏ chạy, y mặc quần áo võ quan sau lưng lại không có ai đuổi theo, bọn quân binh đi tuần trên đường căn bản không biết trên tửu lâu phát sinh chuyện lớn nên không ai cản trở, không đầy khoảnh khắc, họ đã chạy vào một con hẻm vắng.

Ba người chạy chậm lại, Đoàn Khuê Chương cười nói :

– Nam huynh đệ, chia tay một lần mười mấy năm, ta suýt nữa không nhận ra ngươi, nếu không phải Lý Học sĩ gọi tên ngươi, ta cũng không dám chào đâu.

Nam Tễ Vân nói :

– Đoàn đại ca, tướng mạo của ngươi cũng không có gì thay đổi. Tẩu phu nhân không cùng đi sao? Vị tiểu huynh đệ này là công tử nhà nào?. Thiết Ma lặc cười nói :

– Ngươi không nhận ra ta, chứ ta nhận ra ngươi đấy. Không phải ngươi có xước hiệu là Ma kiếm khách sao? Hôm nay sao không dùng bảo kiếm mà lại dùng bảo đao?Ờ, chiêu tiền đao hậu cước của ngươi hay quá, ta thì chẳng ra gì, luyện rất nhiều lần vẫn chưa làm được. Đoàn Khuê Chương cười nói:

– Thằng nhỏ này không thấy bản lĩnh của người khác thì thôi, chứ đã thấy là muốn học. Nam huynh đệ, người nhớ ra y chưa? Y chính là thằng nhỏ nghịch ngợm ương bướng con trai của Thiết Côn Luân Thiết trại chủ, tên là Ma Lặc. Nam Tễ Vân nói :

– Chẳng trách gì! Năm ấy lúc ta theo sư phụ tới bái kiến Thiết trại chủ, ngươi còn nước mũi thò lò, bây giờ đã cao lớn thế này. Đoàn Khuê Chương cười nói:

– Mười năm thế sự bao thay đổi, lúc ấy ngươi chẳng qua cũng chỉ bằng tuổi Thiết Ma Lặc bây giờ, mà hiện đã là một hiệp khách nổi tiếng thiên hạ. Lệnh sư khỏe không?. Nam Tễ Vân nói :

– Y vẫn như xưa, trôi nổi khắp nơi, mài gương cho người ta. Có điều hiện nay có sư đệ Lôi Vạn Xuân đi với y, nên thanh kiếm của ta đã tặng cho sư đệ.

Thanh đao này là của Thái thú Tuy Dương Trương Tuấn tặng ta.

Thiết Ma Lặc nói chen vào :

– Trong bấy nhiêu năm, ta cũng tìm lão nhân gia người, đáng tiếc là không có duyên gặp mặt. Đoàn Khuê Chương cười nói :

– Ngươi tìm lão nhân gia người làm gì? Muốn học nghề mài gương à?. Thiết Ma Lặc mi mắt chợt đỏ hoe, nói :

– Tiên phụ có di mệnh sai ta tìm lão nhân gia người.

Nguyên là thời cổ lấy đồng làm gương, dùng lâu ngày phải mài lại một lần, khôi phục độ sáng nên có một số người chuyên làm nghề mài gương. Sư phụ của Nam Tễ Vân là một vị hiệp ẩn trên giang hồ, lấy việc mài gương làm nghề nghiệp, một là để che giấu thân phận thật của mình, hai là cũng để dễ mượn đó ngao du bốn phương, kết giao với bậc hào kiệt. Người ngoài không biết tên y, đều gọi y là Ma kính lão nhân. lúc Nam Tễ Vân theo y đi lại giang hồ, cũng kiêm thêm việc mài kiếm cho người ta, vì thế bằng hữu trên giang hồ tặng cho y một cái xước hiệu là Ma kiếm khách. Mười hai năm trước, thầy trò y từng nhận lời mời của Đậu gia ngũ hổ, tới làm khách ở sơn trại của họ, từng gặp vợ chồng Đoàn Khuê Chương. Thiết Côn Luân có hai người bạn rất thân, một người là Đậu Lệnh Khản đứng đầu Đậu gia ngũ hổ, một người chính là Ma kính lão nhân. Thiết Côn Luân từng định gửi gắm con côi lại cho Ma kính lão nhân, nhưng vì Ma kính lão nhân hành tung vô định, không dễ tìm được, vì vậy mới cho con nhận Đậu Lệnh Khản làm nghĩa phụ.

Nam Tễ Vân nói :

– Bọn ta cũng từng nghe tin Thiết trại chủ, nhưng vì sau khi Thiết lão qua đời, sơn trại lại bị quan quân vây đánh, sơn trại của Đậu gia ngũ hổ cũng mấy lần dời chỗ, nên bọn ta không sao hỏi thăm tin tức. Sư phụ lão nhân gia cũng rất nhớ nhung thế huynh. May là gặp nhau ở đây. Thiết huynh đệ muốn tìm lão nhân gia người cũng không khó, ngày mai ta sẽ đi Tuy Dương, đã hẹn gặp sư phụ Ở đó, ngươi cứ đi theo ta một chuyến.

Thiết Ma Lặc nói :

– Chuyện đó, chuyện đó.. Y vốn định nói:

– Chuyện đó quá hay!., nhưng câu nói vừa ra tới miệng, lại đổi thành:

– Chuyện đó hay thì hay, nhưng ngày mai ta không thể đi với ngươi.

Nam Tễ Vân là đại hành gia trên giang hồ, nghe lời nói xét sắc mặt, nghĩ thầm :

– Cái chết của Thiết Côn Luân nghe nói là bị kẻ thù hại chết, mới rồi Thiết Ma Lặc nói tới cha y suýt nữa rơi nước mắt, đủ thấy chuyện đó là đúng. Cha y di mệnh bảo y tìm sư phụ mình, chắc không chỉ là gửi gắm con côi mà nhất định cũng có ý nhờ bạn già báo thù. Nhưng tại sao bây giờ mình muốn dắt y đi gặp sư phụ, y lại nói không thể đi cùng? Chẳng lẽ y có việc gì quan trọng hơn cả chuyện trả thù cho cha sao?.

Nam Tễ Vân ngẫm nghĩ một lúc, rồi hỏi Đoàn Khuê Chương:

– Đoàn đại ca, các ngươi tới Trường An là có chuyện gì phải không?.

Đoàn Khuê Chương nhìn Thiết Ma Lặc một cái nói :

– Cũng không có chuyện gì quan trọng, chẳng qua chỉ là muốn thăm một người bạn!.

Nam Tễ Vân hỏi :

– Người bạn nào thế?. Đoàn Khuê Chương nói:

– Không phải là bạn bè võ lâm, nói ra ngươi cũng chưa chắc đã biết. Ờ, ngươi trú ở đâu? Có thể ở lại Trường An thêm hai ngày không? Có thể đến giờ Ngọ ngày mai, Thiết Ma Lặc sẽ tới gặp ngươi. Nam Tễ Vẩn nảy ý nghi ngờ, tự nhủ. Mình với Đoàn đại ca tuy không phải là bạn thâm giao, nhưng trước nay vẫn biết y là người hào hiệp sảng khoái, hôm nay ở tửu lâu rút kiếm giúp đỡ mình, lại càng hiểu lòng nhau. Tại sao bây giờ lại nói chuyện ấp a ấp úng như thế? Chẳng lẽ lại coi mình là người ngoài à? Kỳ lạ hợn là y chỉ nói Thiết Ma Lặc sẽ tới tìm mình, dường nhớ không muốn đi với Thiết Ma Lặc, vả lại y chỉ hỏi địa chỉ của mình chứ không chịu nói địa chỉ của y, tại sao lại thế? Y vốn nổi tiếng hào hiệp, lẽ ra không nên cạn tình như vậy.

Nam Tễ Vân làm sao biết được trước khi nói câu ấy, Đoàn Khuê Chương đã xoay chuyển ý nghĩ mấy lần, y đã chuẩn bị hy sinh tính mạng, tối nay vào phủ đệ của An Lộc Sơn cứu Sử Dật Như, y biết rõ nếu có bậc cao thủ như Nam Tễ Vân giúp đỡ thì so với việc một mình y xông vào đầm rồng hang cọp cũng dễ thành công hơn, nhưng lại xoay chuyển ý nghĩ, trong phủ An Lộc Sơn cao thủ như mây, nếu vạn nhất lại khiến Nam Tễ Vân phải chết theo mình, trong lòng sao nỡ?

Huống hồ Nam Tễ Vân hiện đang giúp đỡ Quách Tử Nghi phòng thủ biên cương, mất mạng vì mình, há lại không phải là chặt đứt một cánh tay của Quách Tử Nghi sao? Ngoài ra còn có một lý do khác, vì mới rồi trên tửu lâu y tuốt kiếm giúp đỡ, nếu tối nay Nam Tễ Vân cũng giúp y một tay, thì đó là làm ơn mà mong được báo đáp. Y là một người giữ đạo hiệp nghĩa, với người khác thì có thể coi điều đó là chuyện đương nhiên, nhưng với mình thì coi việc làm ơn mà mong được báo đáp là làm tổn thương phong thái hiệp sĩ. Nên rốt lại y không chịu thổ lộ chân tình cho Nam Tễ Vân biết.

Thiết Ma Lặc là một đứa nhỏ lanh lợi, đoán được ý Đoàn Khuê Chương, tuy định nói ra nhưng không dám. Nam Tễ Vân trong lòng rất nghi ngờ, nhưng y nhỏ hơn Đoàn Khuê Chương, trước đó lại chỉ mới gặp mặt một lần, cũng không tiện hỏi nhiều, lúc ấy trên mặt lại càng có vẻ khó chịu.

Đoàn Khuê Chương nói qua chuyện khác, hỏi Nam Tễ Vân :

– Hịện Trương Tuần đang làm Thái thú Tuy Dương à? Nghe trước đây y từng mang phủ binh xung đột, đánh nhau mấy bận với quân Khương, là một vị tướng quân trí dũng song toàn. Nam Tễ Vân nói :

– Lần này ta định tới Tuy Dương trước, sau đó mới về Cửu Nguyên, cũng là muốn gặp vị Trương Thái thú này một lần, làm một việc. Hiện biên cương náo động, An Lộc Sơn tay cầm trọng binh, quá nửa quân tướng đều là người Hồ, ngày đêm mưu tính xâm chiếm đất đai của các Tiết độ sứ khác, mở rộng thế lực của mình. Cứ như thế này, thì sắp tới nhất định sẽ trở thành đại họa. Quách lệnh công biết ta là bạn thân của Trương Thái thú nên nhờ ta tới Tuy Dương liên lạc với y, nhỡ khi có họa loạn, đôi bên cũng dễ cùng tiến cùng lui, chia sẻ hoạn nạn với nhau. Vừa khéo tháng sau sư phụ ta cũng sẽ tới Tuy Dương, nên bọn ta hẹn gặp nhau ở chỗ Trương Thái thú.

Ba người vừa đi vừa trò chuyện, lúc ấy đã vòng qua Tử cấm thành, tới chân núi Ly Sơn, trên Ly Sơn có dựng Ly cung, từ gò Nghênh Loan ở lưng chừng núi trở lên là khu cấm đia, có vệ sĩ canh giữ, từ gò Nghênh Loan trở xuống có một tòa phủ đệ sơn son thiếp vàng, xem ra còn lộng lẫy hơn cả Ly cung. Nam Tễ Vân chỉ vào tòa phủ đệ ấy, căm tức nói :

– Thằng đầy tớ An Lộc Sơn cũng biết hưởng phúc, mỗi năm y ở Trường An nhiều lắm cũng chỉ một tháng, mà xây tòa phủ đệ này không kém gì hoàng cung, đáng thương cho tướng sĩ ở biên cương ăn đói mặc rét, ở trong lều để che mưa gió.

Đoàn Khuê Chương nói :

– A, té ra đây là phủ đệ của An Lộc Sơn.

Trong lòng nghĩ thầm :

– Mới rồi đại náo một trận trên tửu lâu nếu tối nay lại tới đó chờ xa giá của An Lộc Sơn, nhất định sẽ bị người ta nhận ra. Bây giờ đã biết chỗ phủ đệ của y thì không cần tới tửu lâu nữa. Chỉ là phủ đệ của y gần với Ly cung, nếu xông vào cứu người, chỉ sợ có chuyện nguy hiểm bất ngờ. Nam Tễ Vân thấy y nhíu mày, chỉ cho rằng y đang bất bình vì nhìn thấy phủ đệ của An Lộc Sơn hào hoa lộng lẫy, chứ có nằm mơ cũng không ngờ tối nay y sẽ một mình xông vào chỗ đầm rồng hang cọp.

Bóng mặt trời dần dần ngã về phía tây, Nam Tễ Vân nói :

– Hôm nay gặp đại ca, thật là điều vui vẻ trong đời, tiếc là chưa trò chuyện thật thỏa ý. Đợi ta tới phủ Hạ Thiếu giám thăm Lý Học sĩ xong, nếu ngày mai ngô huynh rảnh rỗi, xin mời đi cùng Thiết Ma Lặc tới chỗ ta chơi một chuyến. Đoàn Khuê Chương nói :

– Lệnh Hồ Đạt có ý hãm hại ngô huynh, tối nay trước khi ngươi tới Hạ gia, phải thật cẩn thật mới nên. Nam Tễ Vân cười nói :

– Trong phủ Hạ Thiếu giám, Lý Học sĩ cũng ở đó, chắc y không dám ngông cuồng quá đáng. Tiểu đệ cứ tùy cơ hành sự là được. Đoàn Khuê Chương nói :

– Sáng mai ta đã có hẹn với một người bạn, sợ không thể gặp ngô huynh. Ngày mai có thể có chuyện làm phiền ngô huynh, đến lúc ấy ta sẽ nhờ Thiết Ma Lặc chuyển lời. Nam Tễ Vân thấy y từ đầu đến cuối vẫn không chịu nói rõ, không biết rốt lại y có chuyện gì, trong lòng đột nhiên eảm thấy kinh ngạc.

Lúc ấy hai người chia tay dưới chân Ly Sơn, Đoàn Khuê Chương và Thiết Ma Lặc vội vàng trở về gian phòng tại chùa, đóng chặt cửa lại.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Ma Lặc, ta và ngươi chỉ còn ở gần nhau hai giờ nữa thôi, kiếm pháp mà ta truyền thụ cho ngươi, có chỗ nào ngươi không hiểu thì mau hỏi đi. Y lúc sinh ly tử biệt vẫn đau đáu không quên chuyện truyền thụ võ công cho Thiết Ma Lặc, Thiết Ma Lặc tính tình vốn rất cương cường, từ nhỏ đến lớn chỉ khóc một lần lúc cha mất, lúc ấy lại không kìm được nước mắt, đột nhiên nằm phục xuống đất, dập đầu bình bình bình ba cái lạy Đoàn Khuê Chương, nghẹn ngào nói :

– Dượng, xin cho con gọi một tiếng sư phụ vậy, sư phụ!.

Đoàn Khuê Chương đỡ y đứng lên, mỉm cười nói :

– Được học trò như ngươi thì còn gì bằng, chỉ tiếc là ta không thể đem tất cả bản lĩnh của mình dạy hết cho ngươi thôi. Tương lai ngươi thành tựu còn cao hơn ta nhiều, danh phận sư đồ ấy cũng không nên coi là chuyện thật., ý tứ là muốn Thiết Ma Lặc tương lai sẽ tìm bậc minh sư khác, thành tựu càng cao. Thiết Ma Lặc nói :

– Sư phụ, người không chịu thì con cứ bám riết ngươi, chừng nào người ưng thuận mới thôi. Đoàn Khuê Chương cười nói :

– Thật là không sao chịu được thằng nhỏ nhà ngươi, được rồi, chúng ta cứ tạm coi nhau như thầy trò, đến lúc duyên phận đã hết thì ngươi nên tìm bậc minh sư khác, nếu ngươi không chịu thì ta cũng không nhận ngươi là đồ đệ. Thiết Ma Lặc nghe tới đó lại càng thương tâm, nước mắt như mưa, Đoàn Khuê Chương kéo y tới trước mặt, lau nước mắt cho y, cười nói :

– Thằng nhỏ ngốc, khóc cái gì, bây giờ không phải là lúc khóc đâu? Có chỗ nào không hiểu, thì hỏi mau đi!.

Kiếm pháp mà Đoàn Khuê Chương truyền thụ vô cùng thâm sâu Thiết Ma Lặc quả thật có rất nhiều chỗ không hiểu, nhưng giờ này chỗ này, y còn lòng dạ nào mà suy nghĩ hỏi han?

Đoàn Khuê Chương nói :

– Được, sư phụ sẽ khảo xét ngươi một phen, ngươi đọc hết một lượt cho ma nghe!. Thiết Ma Lặc kìm nước mắt, đem kiếm quyết mà Đoàn Khuê Chương truyền thụ đọc thuộc lòng lại một lượt từ đầu đến cuối, kiếm quyết này vốn y đã học thuộc lòng, nhưng lúc át cảm tình rối loạn, lại đọc sai mấy câu, Đoàn Khuê Chương nhất nhất sửa lại cho y, lại giải thích thêm một lượt, nói:

– Ngươi nhớ kỹ càng hay, sắp tới gặp bậc minh sư, có thể thỉnh giáo y.

Lúc ấy đã canh hai, Đoàn Khuê Chương đổi mặc y phục dạ hành, nói :

– Sáng sớm ngày mai nếu ta vẫn chưa về, ngươi phải lập tức rời khỏi chỗ này, tới chỗ Nam đại hiệp. Các ngươi tới Tuy Dương trước, gặp Ma kính lão nhân thì chuyển lời giúp ta, xin Ma kính lão nhân giúp nghĩa phụ ngươi một tay, đây là ta đáp ứng nguyện vọng của tam thúc ngươi, chứ ta thì e không thể giúp y được nữa. Ma kính lão nhân và nghĩa phụ ngươi có giao tình, chắc y sẽ ưng thuận.

Thiết Ma Lặc vốn rất muốn đi cùng Đoàn Khuê Chương, nhưng y biết Đoàn Khuê Chương nhất định không cho, nói ra cũng vô ích. Chỉ đành luôn miệng vâng dạ, theo lời y dặn bảo, nhưng trong lòng đã sớm có ý khác.

Đoàn Khuê Chương đổi mặc y phục dạ hành xong, tới chân núi Ly Sơn thì đã sắp canh ba. Đêm ấy không có trăng, dưới ánh sao mờ mờ, Đoàn Khuê Chương quan sát hình thế, chỉ thấy hai bên vách núi dựng đứng, chỉ có một chỗ sườn núi thoai thoải làm thành một con đường tắt thông tới phủ đệ của An Lộc Sơn, có hai tên vệ sĩ canh gác chỗ cửa núi, phía sau phủ đệ là cấm địa Ly cung của hoàng đế, khỏi phải nói là nó được canh gác nghiêm ngặt.

Đoàn Khuê Chương nghĩ thầm :

– Nếu mình xông bừa vào, cho dù có thể giết được hai thằng khốn này, ắt cũng sẽ làm kinh động bọn hộ vệ, vậy thì làm sao đây?.

Chợt nghe tiếng gió vù vù, vốn là có một con chim lớn từ rừng cây bay lên, Đoàn Khuê Chương nảy ra một kế, nhặt một hòn đá, co ngón tay búng ra, rơi xuống sau lưng hai tên vệ sĩ, hai tên vệ sĩ kia giật nảy mình, vội vàng quay lại quan sát. Đoàn Khuê Chương nhân cơ hội ấy rón rén vòng qua sát người họ, y khinh công trác tuyệt, thi triển công phu Đăng bình độ thủy, không chút tiếng động, lúc hai tên vệ sĩ kia thấy sau lưng không có ai quay đầu lại thì y đã cách họ bảy tám trượng, nép mình trong đám cỏ rậm. Chỉ nghe một tên vệ sĩ bàn với đồng bọn :

– Tiếng động này có chỗ đáng ngờ, dường như có người dạ hành ném đá dò đường, ta canh gác phía trước, ngươi ra phía sau tra xét một lượt, đừng để người ta nhân lúc sơ hở lên núi. Tên vệ sĩ ấy võ công bình thường nhưng là kẻ đi lại trên giang hồ, Đoàn Khuê Chương trong lòng ngấm ngầm kêu khổ, nằm yên trong đám cỏ không dám thở mạnh.

May là tên vệ sĩ đi tra xét lại không đi về phía y núp, Đoàn Khuê Chương nhân lúc y quay lưng về phía mình đang định phi thân vọt ra, chợt nghe cạch một tiếng, một hòn đá rơi xuống bên cạnh y, đột nhiên chợt thấy một bóng đenmau như tên bắn đã vọt tới trước mặt y, Đoàn Khuê Chương đứng bật lên, một chưởng vỗ ra, người kia tránh qua hạ giọng nói :

– Đoàn đại ca phải không? Mau quay trở lại, nếu không thì khó giữ được tính mạng đấy?. Đoàn Khuê Chương đời nào chịu nghe, trong chớp mắt ấy đã như ánh chớp vươn người vọt vào sau một gốc cây lớn.

Tên vệ sĩ kia quát :

– Ai? A, té ra là Nhiếp tướng quân, ta lại tưởng là người dạ hành ném đá dò đường!. Vị Nhiếp tướng quân kia cười nói :

– Đêm nay có khâm sứ tới, ta đặc biệt đi tuần tra một vòng, thử xem các ngươi có cẩn thận không. Ngươi nhìn đây, đây là cái mà các ngươi tưởng là người dạ hành đấy., rồi vung tay một cái, một ngọn Hoạt thủ tiễn phóng ra, một con chim lớn tung lên kêu một tiếng thê thảm rơi xuống đất. Vị :

– Nhiếp tướng quân. kia cười nói :

– Chỉ là một con cú mèo buổi tối ra kiếm ăn, chắc là nó phá tổ chim trên cây, đất đá rơi xuống, làm các ngươi tưởng có người ném đá dò đường. Có điều tiếng động thứ hai thì đúng là do ta ném đá, để thử các ngươi thôi.

Các ngươi quả thật rất cảnh giác, làm tròn chức vụ, rất tốt!.

Hai tên vệ sĩ kia mặt mày hớn hở, đồng thanh nói :

– Còn mong Nhiếp tướng quân nói tốt cho vài câu trước mặt Tiết Chỉ huy!.

Nghe lời đối thoại của họ, thì hai tên vệ sĩ này là do Tiết Tung quản, mà chức vụ của vị :

– Nhiếp tướng quân. này dường như thấp hơn Tiết Tung nhưng cao hơn họ, vả lại nhất định là người thân tín của Tiết Tung. Đoàn Khuê Chương nảy ý nghi ngờ, xem ra :

– Nhiếp tướng quân. này có ý giấu diếm cho y, mới rồi khuyên y mau trốn đi cũng tựa hồ xuất phát từ thiện ý. Tướng quân thủ hạ của An Lộc Sơn, thân tín của Tiết Tung, đã biết rõ y là Đoàn Khuê Chương kẻ thù của chủ soái mà lại ngấm ngầm che chở cho y, đó quả thật là chuyện khó hiểu.

Lúc ấy, hai tên vệ sĩ kia đã theo :

– Nhiếp tướng quân. ra ngoài cửa núi tuần tra, Đoàn Khuê Chương nghĩ thầm :

– Cho dù là điện Diêm vương thì tối nay Đoàn Khuê Chương ta cũng xông vào một phen., bất kể lời khuyến cáo lập tức rời khỏi chỗ nguy hiểm của vị :

– Nhiếp tướng quân. kia, sấn vào phủ đệ của An Lộc Sơn.

Phía trước phủ đệ đương nhiên cũng có vệ sĩ canh gác, Đoàn Khuê Chương thi triển tuyệt kỹ khinh công, rắn bò thỏ phục, mượn vật che người, vòng ra cổng sau, cổng sau chỉ có hai tên vệ sĩ canh gác, chắc vì cổng sau đối diện với gò Nghênh Loan, trên gò cứ năm bước có một vệ sĩ, mười bước có một trạm canh, không sợ có địch nhân từ trên núi xuống, nên cổng sau không canh gác nghiêm ngặt như cổng trước.

Đoàn Khuê Chương núp sau một tảng đá, chỉ nghe hai tên vệ sĩ kia đang bàn tán chuyện hôm nay An Lộc Sơn vào cung gặp Dương Qúy phi, người gầy cười nói :

– Ta không tin, có chuyện ấy thật à? Nghe ngươi nói như thế, thì hoàng đế lại không trở thành con rùa đen mù mắt sao?. Người béo nói :

– Ngươi không tin à? Ngươi có biết vị khâm sứ còn ngồi trong kia không? Y thay mặt hoàng đế và Qúy phi nương nương tới đun :

– Tiền tắm con. Tiết độ sứ đại nhân của chúng ta hôm nay không những được nhìn no mắt, mà còn phát tài to.

Đồng bọn của y lắng nghe rất thú vị, cười nói :

– Lão Ngụy, quả thật là Qúy phi nương nương đích thân tắm cho đại soái chúng ta à? Sự tình xảy ra thế nào? Ngươi kể lại từ đầu tới cuối cho ta nghe với.

Người béo nói :

– Lúc Tiết độ sứ đại nhân của chúng ta vào cung, Qúy phi nương nương đang tắm gội trong hậu cung, nghe nói y tới, bèn khoác một tấm the mỏng, chưa trang điểm bước ra…. Người gầy nói chen vào :

– Như thế lại không chết rét sao?. Người béo cười nói :

– Ngươi đúng là đàn bà nhà quê không biết việc đời, trong hậu cung bốn phía đều đặt lò sưởi, trong điện bốn góc đều đặt đỉnh đốt Long diên hương, cho dù bên ngoài tuyết rơi đầy trời thì trong cung vẫn ấm như mùa xuân. Người gầy tắc lười nói :

– Không biết lúc nào mới đến lượt chúng ta theo đại soái vào cung, nếu có cơ hội để mở rộng tầm mắt thì cũng không đến nỗi sống uổng kiếp này. Lão Ngụy, Qúy phi nương nương chỉ khoác một tấm the mỏng, hoàng thượng lại không trách bà làm mất thể thống sao?.

Tên vệ sĩ họ Ngụy hô hô cười rộ nói :

– Hoàng thượng rất sủng ái Qúy phi nương nương, đời nào lại trách? Huống hố trong quan văn quan võ cả triều thì người hoàng thượng tin cậy nhất chính là An Tiết độ sứ của chúng ta, y có nằm mơ cũng không ngờ người y tin tưởng nhất và người y sủng ái nhất lại có chuyện vụng trộm với nhau!.

Người gầy nói :

– Ta thật không sao hiểu được, đại soái chúng ta có bản lĩnh gì mà lấy lòng được Qúy phi nương nương, lại khiến được hoàng thượng tin tưởng như thế. Lão Ngụy cười nói :

– Ngươi mới tới làm sao ngươi biết được, đại soái chúng ta bề ngoài tỏ ra là một võ tướng thô mãng, nhưng thật ra y cũng rất giỏi mưu kế. Có một hôm y cùng hoàng thượng trò chuyện trong cung Chiêu Khánh, y là một người béo mập, hoàng thượng lại chỉ vào bụng y nói đùa:

Thằng nhỏ này bụng to đầy một ôm, không biết bên trong chứa những gì? Đại soái chúng ta rất lanh lợi, lập tức chắp tay nói:

Trong này không có vật gì khác, chỉ có một tấm lòng son, thần nguyện hết lòng thờ bệ hạ. Hoàng thượng nghe xong cực kỳ vui vẻ, khen y là đại đại trung thần, coi như tâm phúc!.

Người gầy cười nói :

– Chúng ta càng nói càng xa, ngươi nói lại từ đầu đi, nói chuyện Qúy phi nương nương ấy.

Tên vệ sĩ họ Ngụy nói :

– Được, ngươi nghe đây, tới chỗ hay rồi. Y hắng giọng một tiếng, làm ra dáng vẻ như người kể chuyện, nói :

– Lại nói Dương Qúy phi vừa tắm xong, người khoác một tấm the mỏng, da ngực thấp thoáng, chỗ vải trước ngực trễ xuống, hơi lộ đôi vú, hoàng thượng nhìn thấy, luôn miệng khen:

Thật là tuyệt diệu! Lại ngâm một câu thơ:

Thơm mềm rất giống thịt đầu gà. Đại soái chúng ta cũng góp vui, lại đọc tiếp một câu:

Trơn mịn còn hơn bơ sữa ngựa. Tên vệ sĩ gầy cười chảy cả nước mắt, ôm bụng nói :

– Thật là không nhận ra, đại soái chúng ta lại làm được một câu thơ đối lại rất chỉnh.

Tên vệ sĩ họ Ngụy nói :

– Lúc ấy hoàng thượng cũng ôm bụng cười bò ra giống hệt ngươi, chỉ vào đại soái chúng ta nói :

– Trẻ Hồ cũng biết chuyện bơ trơn!. Hô hô, chuyện đại soái chúng ta làm thế nào mà biết được Qúy phi nương nương :

– Trơn mịn còn hơn bơ sữa ngựa., thì hoàng thượng lại không hề nghĩ tới chút nào!.

Hai người cười một lúc, tên vệ sĩ họ Ngụy nói tiếp :

– Qúy phi nương nương vừa bước ra, đại soái chúng ta bèn khấu đầu nói với bà:

Thần nhi chúc mẫu thân ngàn tuổi. Hoàng thượng cười nói:

Lộc Sơn, lễ số của ngươi sai rồi, lại lạy mẹ trước cha. Đại soái chúng ta khấu đầu tâu:

Thần vốn là người Hồ, theo phong tục người Hồ thì mẹ trước cha sau. Hoàng thượng rất vui vẻ nói y ngay thẳng đáng yêu. Sau đó đại soái chúng ta trò chuyện, nói ba hôm trước là sinh nhật của y, Qúy phi nương nương liền nói:

Người ta sinh được con, qua ba ngày theo lệ phải tắm con, ngươi nhận ta là mẹ, ta còn chưa tiến hành nghi thức tắm cho ngươi. Hôm nay vừa khéo sau ngày sinh nhật của ngươi ba hôm, ta phải theo lệ tắm con. Lúc đó nhân lúc tửu hứng, bèn gọi bọn thái giám cung nữ xúm lại cởi hết quần áo của đại soái chúng tara, lấy lụa quấn toàn thân lại, giống như tã lót, rồi kết một chiếc kiệu màu, cho đại soái lên khiêng đi, bọn cung nữ lốc nhốc theo sau diễu hành trong cung. Tới chỗ nào thì chỗ ấy tiếng cười vang lên ầm ầm, hoàng thượng và Qúy phi cũng ngồi chung một chiếc xe nhỏ di phía sau, rất là vui vẻ.

Đoàn Khuê Chương bên cạnh nghe trộm được, không ngừng lắc đầu nghĩ thầm :

– Thật là chuyện vô cùng hoang đường?. Chỉ nghe tên vệ sĩ họ Ngụy nói :

– Lão Trương, ngươi nói có hoang đường không nào?

Nhưng lại có chuyện hoang đường hơn, hoàng thượng lại cho đại soái chúng ta trên gấm thêm hoa, cho y kiêm luôn chức Tiết độ sứ Hà Đông, vả lại không đợi đến sáng mai, mà tối nay đã phái khâm sứ đại nhân đem tới rất nhiều châu báu, gọi là :

– Tiền tắm con. ban cho đại soái! Vị khâm sứ đại nhân ấy hiện còn đang uống rượu mừng với đại soái của chúng ta.

Tên vệ sĩ gầy nói :

– Chẳng trách tối nay lại tăng cường canh gác, họ thì uống rượu vui vẻ, chúng ta thì đứng ngoài này hớp gió. Lại phải đến canh năm mới đổi ban. Tên vệ sĩ béo nói :

– Ngươi oán thán cái gì?

Đây chính là chức sai sử mong còn chưa được, đại soái thăng quan tiến tước, lại vớ được một món hoạnh tài, sáng mai nhất định sẽ có ban thưởng, tối nay chúng ta canh gác, biết đâu còn được một hai phần.

Đoàn Khuê Chương trong lòng rúng động, nghĩ thầm :

– Mình đang buồn không có cách nào cứu được Sử đại ca, bây giờ An Lộc Sơn đang bồi tiếp khâm sứ uống rượu, hai người này mình chỉ cần bắt được một là có thể uy hiếp An Lộc Sơn thả Sử đại ca ra.

Nên biết sở dĩ Đoàn Khuê Chương ngần ngừ không dám động thủ, là sợ rút dây động rừng, bây giờ nghe hai tên vệ sĩ nói phải đến canh năm mới đổi ban, y lập tức nghĩ ra chủ ý.

Hai tên vệ sĩ đang nói chuyện tới lúc cao hứng, đột nhiên trước ngực tê rần, muốn kêu cũng không kêu lên được, hai người đồng thời ngã lăn xuống đất. Nguyên là Đoàn Khuê Chương đã dùng Thiết liên tử đánh trúng huyệt Toàn cơ trước ngực họ. Đoàn Khuê Chương bước tới cạnh hai tên vệ sĩ, một chưởng đập xuống, bùng một tiếng đập một tảng đá lớn vỡ thành bốn năm mảnh, trầm giọng nói :

– Muốn sống thì nghe ta nói đây!. Rồi lập tức giải khai huyệt đạo cho họ, hai tên vệ sĩ sợ tới mức hồn phi phách tán, run giọng nói :

– Xin, xin nghe lão gia sai bảo.

Đoàn Khuê Chương nói với tên gầy :

– Ta mượn bộ quần áo của ngươi. Tên vệ sĩ kia đâu dám không vâng lời, vội cởi quần áo ra, thân hình y suýt soát Đoàn Khuê Chương, chỉ là hơi chật một chút nhưng cũng có thể mặc vào. Đoàn Khuê Chương lập tức điểm vào á huyệt của y, ném y vào bụi cỏ rậm. Tên vệ sĩ kia hoảng sợ ngẩn ra, Đoàn Khuê Chương nói :

– An Lộc sơn và viên khâm sứ kia ở chỗ nào?

Dắt ta tới đó. Tên vệ sĩ run bần bật không nói nên lời, Đoàn Khuê Chương nói :

– Ngươi chỉ biết An Lộc Sơn chứ không sợ ta phải không?

Nếu không nghe lời, thì ngươi cũng như tảng đá kia, ta không tin là ngươi cứng hơn nó đâu!. Tên vệ sĩ béo vội nói :

– Xin vâng lời, xin vâng lời. Đoàn Khuê Chương cùng y sóng vai cùng đi, chưởng tâm đặt lên huyệt Du khí của y, dặn :

– Nếu có người đi tuần tra, thì ngươi cứ nói là tạm thời đổi ban. Tên vệ sĩ nói :

– Nếu có người nhìn thấy chỗ sơ hở thì sao?.

Đoàn Khuê Chương nói :

– Nếu có người tới gần tra hỏi, thì ta tự có cách ứng phó, không cần ngươi phải lo. Tên vệ sĩ ngấm ngầm kêu khổ, nhưng huyệt Du khí của y đã bị Đoàn Khuê Chương khống chế, chỉ cần nhả chưởng lực ra thì y khó mà giữ được tính mạng, vì thế tuy ngấm ngầm kêu khổ nhưng không dám không vâng lời!

Họ từ cổng sau đi vào hoa viên, Đoàn Khuê Chương kéo sụp mũ xuống, che kín nửa mặt. Khu hạ viên này xây dựng theo hình thế núi non, chiếm một khoảng đất khá rộng, đình đài lầu gác rải rác lố nhố, trong hoa viên tuy có vệ sĩ đi tuần nhưng không thể rải ra mọi nơi, ngay tên vệ sĩ cũng sợ có người phát hiện ra nên chỉ đi vào những chỗ vắng vẻ ít người, dọc đường cũng có vài tên vệ sĩ nhìn thấy họ, nhưng trong đêm tối không nhìn rõ mặt, thấy họ mặc quần áo giống mình, chỉ cho là người nhà, nên cũng không hỏi han gì.

Tên vệ sĩ dắt Đoàn Khuê Chương đi qua một hòn giả sơn, nhìn thấy một gian phòng, bên trong để lửa sáng rực, tên vệ sĩ nói :

– An Tiết độ sứ và vị khâm sứ đại nhân kia đang uống rượu trong phòng, lão nhân gia người không cần tôi dẫn đường nữa chứ?.

Đoàn Khuê Chương đang định trả lời, chợt thấy một cái bóng đen đi về phía y, từ xa đã cao giọng quát lớn :

– Là Ngụy lão tam phải không?. Tên vệ sĩ nói :

– Không sai, là ta đây, tạm thời đổi ban. Người kia càng lúc càng tới gần, Đoàn Khuê Chương một tay nắm hai quả Thiết liên tử, chỉ cần người kia tới trước mặt là sẽ phóng ám khí vào đầu y.

Trong khoảnh khắc, người kia đã tới còn cách không đầy một trượng, Đoàn Khuê Chương đang sắp phóng Thiết liên tử ra, chợt cảm thấy giọng nói của người kia rất quen, chỉ nghe y lạnh lùng nói :

– An đại soái đang cùng khâm sứ đại nhân uống rượu ở đây, không cho kẻ không có phận sự tới gần, nếu đã đổi ban thì về mà nghỉ ngơi cho sớm, còn đi lung tung trong hoa viên làm gì? Làm kinh động khâm sứ đại nhân thì coi chừng cái đầu của ngươi đấy. Tên vệ sĩ vội vàng nói:

– Vâng, vâng. Người kia nói xong mấy câu cũng không đếm xỉa gì tới y nữa, lại bước qua một lối rẽ. Đoàn Khuê Chương lúc ấy đã nhìn thấy rõ ràng, người kia chính là :

– Nhiếp tướng quân. mới rồi che giấu cho mình, ngẫm nghĩ kỹ mấy câu của y, rõ ràng là cảnh báo cho mình, khuyên mình nên đào tẩu cho mau, không được hành sự lỗ mãng, xem ra cũng là một phen có ý tốt. Đoàn Khuê Chương lòng đầy nghi ngờ, hỏi tên vệ sĩ :

– Người ấy là ai?. Tên vệ sĩ nói :

– Là tướng quân Nhiếp Phong Phó tướng thân quân của đại soái. Đoàn Khuê Chương nhớ lại Trác Châu lão kiếm khách Nhiếp Bằng ở Phạm Dương có một con trai, dường như cũng tên Nhiếp Phong, nghĩ thầm :

– Té ra là y. Chỉ là mình trước nay chưa gặp y, sao y lại năm lần bảy lượt ngấm ngầm giúp đỡ? Còn có một điểm đáng ngờ nữa, tuy y không thể coi là hiệp khách nhưng tiếng tăm trong võ lâm cũng không xấu, sao lại đi làm Phó tướng thân quân cho An Lộc Sơn?.

Tên vệ sĩ lau mồ hôi lạnh trên trán, nói :

– May là gặp Nhiếp tướng quân, y đối xử với mọi người rất tốt, không hay sinh sự. Nếu gặp phải Tiết tướng quân Chánh Thống lĩnh thân quân thì không xong rồi. Ờ, lão nhân gia người giơ cao đánh khẽ, cho ta về nghỉ ngơi đi. Đúng là:

Thử xem khách hiệp nghĩa anh hùng,

Một chuyến tới đầm rồng hang cọp.

Muốn biết chuyện sau thế nào, xin nghe hạ hồi phân giải.

Chương 7: Hổ dực đều run nhìn ánh kiếm – Long tuyền muốn chém đứa gian tà

Đoàn Khuê Chương nói :

– Được, ngươi cứ nghỉ ngơi ở đây., vung ngón tay xỉa một cái, điểm vào Ma huyệt và á huyệt của tên vệ sĩ, để y đã không thể nói năng cũng không sao động đậy, đặt y vào trong hang dưới hòn giả sơn, cười nói :

– Ngụy lão tam, xin lỗi đã làm ngươi khó chịu, ngươi chịu khó một chút, sau hai giờ huyệt đạo sẽ tự giải khai.

Phía trước gian phòng ấy có một cây tùng, cành lá rậm rạp, Đoàn Khuê Chương xử trí tên vệ sĩ xong, lập tức phi thân lên cây, từ ngọn cây cúi nhìn vào, xem xét tình hình trong phòng.

Chỉ thấy An Lộc Sơn và một viên quan vóc dáng cao lớn đang ngồi trên Hồ sàng, hai bên có bốn viên võ quan, Tiết Tung cũng trong số đó. Đoàn Khuê Chương nghĩ thầm :

– Viên quan này chắc là khâm sứ đại nhân gì đó, xem ra không giống một viên thái giám.

Theo lệ trong cung đình, nếu ban thưởng cho đại thần tin thường sai thái giám mang tới, nên Đoàn Khuê Chương thấy viên khâm sứ kia không phải thái giám cũng hơi kinh ngạc, nhưng cũng không nghi ngờ gì lắm.

Chỉ nghe viên khâm sứ kia cười nói :

– An đại nhân, hôm nay lúc ngươi tới, Qúy phi nương nương đang tức giận, may là ngươi tới làm nương nương khuây khỏa. An Lộc Sơn hỏi :

– Tại sao Qúy phi nương nương lại tức giận?. Viên khâm sứ nói :

– Vì mấy bài thơ của Lý Học sĩ. An Lộc Sơn ngạc nhiên nói :

– Tại sao Lý Bạch lại chọc giận Qúy phi nương nương?.

Đoàn Khuê Chương nghe họ nhắc tới Lý Bạch, đặc biệt lưu tâm, chỉ nghe viên khâm sứ nói :

– Trước lúc ngươi vào cung, hoàng thượng và nương nương thưởng mẫu đơn ở gác Trầm Hương, hoàng thượng nhất thời cao hứng, tuyên triệu Lý Học sĩ vào làm thơ, y đã uống say khướt ở tửu lâu, bọn Lý Quy Niên rất khó khăn mới kéo y về được.

An Lộc Sơn nói :

– Qúy phi nương nương là giận y vô lễ à?. Viên khâm sứ nói :

– Không phải. Họ đã quen thấy thái độ ngông nghênh của lý Bạch rồi, hoàng thượng còn đích thân dùng tay áo lau nước dãi cho y, sau đó lại bảo Qúy phi nương nương đích thân nấu thang cho y uống để tỉnh rượu. An Lộc Sơn lắc lắc đầu nói :

– Loại ngông cuồng vô lễ ấy, hoàng thượng và nương nương quả thật cũng quá nuông chiều y. Viên khâm sứ nói :

– Về sau Lý Học sĩ tỉnh rượu, hoàng thượng bảo y làm thơ, vị Lý Học sĩ này cũng rất giỏi, lập tức viết luôn ba bài Thanh bình điệu. An đại nhân, ba bài thơ ấy quả thật rất có ý tứ ta đọc cho ngươi nghe nhé. An Lộc Sơn cười nói :

– Ta là một kẻ thô kệch, chẳng biết thơ văn gì đâu. Viên khâm sứ nói :

– Ba bài thơ này ca ngợi Qúy phi nương nương, rất là dễ hiểu, nhưng điều làm nương nương tức giận, cũng chính là ba bài thơ này. An Lộc Sơn nói :

– Chuyện này mới kỳ quái đây, đã là khen ngợi nương nương tại sao lại làm nương nương tức giận? Chuyện này thì ta rất muốn nghe.

Viên khâm sứ đọc :

– Bài đầu tiên trong ba bài Thanh bình điệu mà lý Học sĩ làm là thế này:

Mây giống xiêm y mặt tựa hoa, Giờ xuân tới cửa móc la đà. Nếu không tiên tử trên non ngọc, Thì cũng Hằng Nga dưới nguyệt tà. Hoàng thượng rất cao hứng, liền bảo Lý Quy Niên và bọn đệ tử Lê Viên lập tức đem bài thơ ấy phổ thành bài hát mới, Lý Quy Niên thổi Khương địch, Hoa Nô đánh trống yết cổ, Hạ Hoài Trí đánh hưởng hưởng, Trịnh Quan Âm gảy tỳ bà, Trương Dã Hồ thổi tất lật, Hoàng Phan Xước gõ phách, nhất tề hòa âm quả nhiên nghe rất hay. An Lộc Sơn nhe răng ra cười nói :

– Ta nghe ngươi đọc cũng cảm thấy quả nhiên rất hay.

Viên khâm sứ cười nói :

– Đủ thấy An đại nhân cũng là một người biết âm luật. An Lộc Sơn vốn là một kẻ người ta nói thế nào thì mình nói theo thế ấy, được y khen một câu, vô cùng cao hứng, hỏi:

– Bài thứ hai bài thứ ba lại nói những gì?. Viên khâm sứ nói tiếp:

– Hoàng thượng nghe xong bài một, nói với Lý Bạch:

Bài thơ mới của khanh rất tuyệt diệu, nhưng tiếc vừa nghe tới lúc hay thì đã hết. Học sĩ đại tài, nên vì ta viết thêm hai bài nữa. Lý Bạch nhân cơ hội ấy bắt hoàng thượng phải ban rượu ngon cho y, hoàng thượng cố ý nói:

Ngươi vừa mới say rượu tỉnh lại, tại sao lại đòi uống rượu? Không phải trẫm bủn xỉn, chỉ là sợ ngươi uống rượu say rồi thì làm sao làm thơ?

Rượu ấy ngươi cứ làm xong thơ hãy uống. Lý Bạch sốt ruột, bèn cao giọng nói:

Thơ của thần có câu Rượu khát mưu tu biển, Thơ cuồng muốn tới trời, uống rượu càng say thi hứng càng hào. Hoàng thượng cả cười nói:

Chẳng trách người ta gọi ngươi là Tửu trung tiên. Bèn sai nội thị đem rượu ngon bồ đào Lương Châu tiến cống ra, ban cho y một đấu, lại sai lấy nghiên mực xoan Khê ngự dụng ra, bảo Qúy phi nương nương đích thân mài mực, xin Học sĩ làm thơ. An Lộc Sơn hừ một tiếng, nói :

– Thật là tâng bốc y lên tận trời. Viên khâm sứ cười nói :

– Y vốn tự xưng Thơ cuồng muốn tới trời mà!. Y ngừng lại một chút rồi nói tiếp :

– Lý Bạch uống sạch đấu rượu bồ đào không còn một giọt, quả nhiên thi hứng đại phát, lại lập tức viết thêm hai bài Thanh bình điệu, bài thứ hai là:

Một cành hạnh đỏ mớc ngưng hương, Ân ái non Vu luống đoạn trường, Thử hỏi Hán cung ai được thế? Đáng thương Phi Yến dựa đài gương. Bài thứ ba là:

Hoa thơm người đẹp thảy hân hoan, Thường được quân vương mỉm miệng khen. Man mác gió xuân tình bát ngát, Trầm Hương sau gác dựa lan can. Hoàng thượng đọc xong, lại càng vui vẻ, khen:

Thơ này tả vẻ hoa mặt người đều tới mức đỉnh cao, tuyệt diệu không sao nói được! Bèn sai nhạc công đồng thanh hát, hoàng thượng đích thân thổi sáo ngọc, lại bảo Qúy phi nương nương đích thân gảy đàn tỳ bà để họa, ồn ào suốt nửa ngày, sau đó lại sai Lý Quy Niên lấy ngự mã đưa Lý Bạch về Hàn lâm viện.

An Lộc Sơn có một việc không thông, hỏi :

– Cả hoàng thượng cũng khen thơ ấy hay, thì Qúy phi nương nương còn tức giận chuyện gì?.

Viên khâm sứ cười nói :

– Lúc đầu Qúy phi nương nương cũng rất cao hứng, lui vào hậu viện rồi, vẫn đọc đi đọc lại ba bài. Thanh bình điệu mà Lý Bạch viết. Lúc ấy Cao Lực Sĩ đang ở bên cạnh, nhìn quanh thấy không có ai, liền tâu với nương nương:

Lúc đầu lão nô nghĩ nương nương nghe xong thơ này của Lý Bạch, nhất định sẽ hận y thấu xương, bây giờ nương nương lại cao hứng, thật là điều làm lão nô bất ngờ. Nương nương bèn hỏi y:

Có chỗ này đáng trách? Cao Lực Sĩ nói:

Y nói Đáng thương Phi Yến dựa đài gương là ví Qúy phi với Triệu Phi Yến. Qúy phi nương nương nghe thấy, đột nhiên biến sắc, quả nhiên căm hận Lý Bạch thấu xương.

An Lộc Sơn ngạc nhiên nói :

– Triệu Phi Yến là ai?. Viên khâm sứ nói:

Triệu Phi Yến là hoàng hậu của Hán Thành để. An Lộc Sơn nói:

– Đem so bà ta với hoàng hậu tính ra cũng không phải là làm nhục gì.

Viên khâm sứ nói :

– An đại nhân có chỗ không biết, Triệu Phi Yến là mỹ nhân nổi tiếng, thân thể nhẹ nhàng, thường sợ bị gió thổi đi.

Hoàng thượng có lần nói đùa với Qúy phi nương nương:

Như nàng thì tha hồ cho gió thổi. Lúc Mai phi tranh sủng với bà ta, cũng từng nói bà là :

– Con tiện tỳ mập. Qúy phi nương nương làm sao không tức giận?. An Lộc Sơn cười nói :

– Té ra là thế., theo ta thấy, nữ nhân mập chút lại càng dễ coi!.

Viên khâm sứ kia cười khẽ một tiếng, tron nụ cười có mấy phần bí ẩn, An Lộc Sơn nói :

– Sao?.Ta nói không đúng à?. Viên khâm sứ kia nói nhỏ vài câu, An Lộc Sơn đột nhiên biến sắc, đập bàn mắng:

– Gã Lý Bạch này quả thật đáng ghét, chẳng trách gì nương nương căm giận y!.

Nguyên Triệu Phi Yến từng tư thông với quan nô là Yến Xích Phong, là một dâm hậu nổi tiếng thời Hán, Cao Lực Sĩ gièm pha với Dương Qúy phi, nói bài thơ của Lý Bạch so sánh Dương Qúy phi với Triệu Phi Yến, quả thật :

– Ngấm ngầm châm chọc việc riêng của nương nương., Dương Qúy phi tư thông với An Lộc Sơn, Cao Lực Sĩ lại nói như thế, chính đụng vào chỗ bà ta kiêng sợ, vì thế bà ta căm hận Lý Bạch thấu xương.

Viên khâm sứ cười nói :

– An đại nhân không cần tức giận. Lý Bạch chọc giận Qúy phi nương nương thì y còn đứng trong triều đình được à, tuy y được hoàng thượng sủng ái, nhưng vẫn không thể hơn được Qúy phi nương nương. Cao Lực Sĩ quả thật lợi hại, có một chút thù oán cũng đã báo phục.

An Lộc Sơn hỏi :

– Cao Lực Sĩ có thù oán với Lý Bạch à? Viên khâm sứ nói :

– Ngươi còn không biết sao? Năm trước sứ thần nước Bột Hải tới trình quốc thư, thư viết bằng chữ Phiên, cả triều không ai biết, sau nhờ Hạ Tri Chương tiến cử Lý Bạch, y không những hiểu được văn tự nước Phiên mà còn dùng loại văn tự Phiên bang ấy viết một lá thư trả lời, khiển trách Khả hãn Bột Hải vô lễ, nhờ thế mới bảo toàn được thể diện nhà Đại Đường. Lúc ấy Lý Bạch cũng đã uống rượu say khướt, lúc y say viết bài :

– Sạ Man thư. ấy bắt Dương Quốc Trung phải mài mực cho y, Cao Lực Sĩ phải cởi giày cho y. Cao Lực Sĩ đã sớm muốn bới móc lỗi lầm của y rồi.

An Lộc Sơn nói :

– Được, ngày mai ta cũng nên đưa một phần lễ vật tới biếu Cao công công. Đột nhiên nói qua chuyện khác, hỏi Tiết Tung :

– Nghe nói hôm nay các ngươi đại náo ở tửu lâu, người giúp đỡ họ Nam tướng mạo ra sao?.

Tiết Tung miệng nói tay vạch kể lại một lúc, An Lộc Sơn trầm ngâm không nói gì, viên khâm sứ hỏi kỹ Tiết Tung người đối địch với y dùng kiếm pháp gì, Đoàn Khuê Chương ở ngoài nghe trộm, nghe y hỏi rõ ràng như bậc hành gia, ngấm ngầm ngạc nhiên.

An Lộc Sơn trầm ngâm hồi lâu, đột nhiên đập bàn kêu lên :

– Ta không tin y lại can đảm tới mức ấy!. Câu nói chưa dứt, đột nhiên vù vù hai tiếng ám khí xé gió vang lên, một bóng người như tên bắn vọt vào phòng, bọn thị vệ cùng bật tiếng la hoảng.

Đoàn Khuê Chương dùng công phu ám khí đả huyệt phóng ra hai quả Thiết liên tử, một đánh vào huyệt Toàn cơ trước ngực An Lộc Sơn, một đánh vào huyệt Xảo âm sau tai viên khâm sứ, định đánh ngã họ xong sẽ lập tức ra tay bắt sống một người làm con tin. Công phu ám khí của y bách phát bách trúng, lại nghĩ cho dù An Lộc Sơn có thể tránh được, thì viên khâm sứ đại nhân kia cũng nhất định không sao tránh khỏi.

Nào ngờ chuyện kỳ quái đột nhiên phát sinh, hoàn toàn ra khỏi sự dự liệu của y, viên khâm sứ kia lại là một cao thủ nhất lưu thân hoài tuyệt kỹ. Hai quả Thiết liên tử tuy không to hơn hạt đậu vàng, nhưng Đoàn Khuê Chương dùng Kim cương chỉ búng ra, kình lực lại không phải tầm thường, văng vẳng có tiếng ì ầm như tiếng sấm.

Không ngờ viên khâm sứ quát lớn một tiếng :

– Giỏi., tiện tay chụp một đôi đũa ngà voi lên, cặp lấy một quả Thiết liên tử như gắp một viên thịt, nói thì chậm chứ lúc ấy rất mau, quả Thiết liên tử thứ hai lại bay tới như chớp, viên khâm sứ kia vung đôi đũa một cái, hai quả Thiết liên tử bắn vào nhau, cùng rơi xuống đất. Nhưng kế lại nghe một tiếng rắc, đôi đũa ngả trong tay y cũng gãy luôn ở giữa, biến thành bốn đoạn. Nguyên là tuy y cặp được quả Thiết liên tử, nhưng đôi đũa ngà không phịu nổi luồng kình lực quá mạnh ấy!

Viên khâm sứ :

– a. một tiếng, rồi lập tức hôhô cười rộ nói :

– U Châu kiếm khách quả nhiên danh bất hư truyền, đêm nay quả là ta được mở rộng tầm mắt!.

Nguyên viên khâm sứ ấy chính là Vũ Văn Thông một trong ba đại cao thủ trong đại nội, chức vị của y ngang với hai người Tần Tương, Uất Trì Bắc, đều là được phong là Long kỵ đô úy, nhưng Tần Tương và Uất Trì Bấc đều là con cháu công thần, tuy hoàng đế đối xử với ba người không hề phân biệt, nhưng y lại tự thẹn mình môn hộ không bằng, danh tiếng không bằng, vẫn cảm thấy hoàng đế dường như thân cận với hai người kia hơn một chút, vì vậy tuy ba người cùng làm việc với nhau nhưng hành sự lại rất không như nhau, Tần Tương, Uất Trì Bắc không thích luồn lọt kẻ quyền quý còn Vũ Văn Thông trong cung thì phụng thừa Dương Qúy phi, ngoài cung thì kết giao với An Lộc Sơn, một công đôi việc để củng cố địa vị của mình. Việc sai y đưa :

– Tiền tắm con. của hoàng đế và Dương Qúy phi tới biếu An Lộc Sơn hôm nay là do Dương Qúy phi nài nỉ giúp y. Tuy trước nay y chưa từng gặp Đoản Khuê Chương, nhưng đã sớm nghe ngóng biết Đoàn Khuê Chương và An Lộc Sơn có thù oán với nhau, vừa tiếp hai quả Thiết liên tử xong, lại nhìn thấy kiếm thuật Đoàn Khuê Chương sử dụng, đương nhiên có thể lập tức đoán ngay người này chính là U Châu kiếm khách Đoàn Khuê Chương.

Lúc ấy Tiết Tung và ba tên vệ sĩ khác đã vây quanh Đoàn Khuê Chương, đánh nhau ngay trong phòng. Vũ văn Thông là thân phận khâm sứ, nhất thời không tiện xuất thủ. An Lộc Sơn đột nhiên bị tập kích, kế lại thấy là Đoàn Khuê Chương, vô cùng hoảng sợ, nhưng đến khi Vũ Văn Thông đánh rơi hai quả Thiết liên tử xuống, y lại bình tĩnh trở lại, nghĩ thầm :

– Cho dù Đoàn Khuê Chương ngươi bản lĩnh có cao cường hơn, thì một mình ngươi cũng không chống nổi chư tướng dưới trướng ta, huống hồ còn có Vũ Văn Đô úy ở đây!. Y đã có chỗ nương tựa, bèn đứng lên hô hô cười rộ nói :

– Ta tưởng là ai, té ra là bạn cũ tới! Có gì cứ nói, cần gì vừa thấy mặt đã động đao động kiếm?

Chẳng lẽ ngươi không nghĩ chút gì tới tình cố cựu, lại vọng tưởng muốn lấy mạng ta sao?.

Đoàn Khuê Chương roạt roạt hai kiếm bức Tiết Tung lùi lại mấy bước, lại gạt ngọn Hộ thủ câu của một tên võ quan khác ra, cao giọng đáp :

– An Lộc Sơn, ngươi tiểu nhân đắc chí, một cái lườm một cái nguýt cũng báo thù, cần gì phải làm ra vẻ tình nghĩa? Hừ, ngươi muốn hại ta thì cũng thôi, tại sao lại hãm hại cả bằng hữu của ta?.

An Lộc Sơn cười nói :

– Đó là một sự hiểu lầm, nhưng hiểu lầm cũng có chỗ hay của hiểu lầm, nếu không bắt lầm bạn của ngươi thì làm sao mời được đại giá của ngươi tới đây? Vả lại ta cũng không muốn làm khó y, ngươi tới đây rất hay, ngươi nên khuyên y cùng ở đây làm việc cho ta. Đoàn Khuê Chương nói :

– Hừ, làm việc cho ngươi à?. An Lộc Sơn cười lớn nói :

– Ta thân kiêm Tiết độ sứ ba trấn Bình Lô, Phạm Dương, Hà Đông, ngươi làm việc cho ta chẳng lẽ lại là điều nhục nhã sao?. Đoàn Khuê Chương lại bật tiếng cười lớn nói :

– Trong con mắt ta, trước đây ngươi là một tên lưu manh, bây giờ cũng là một gã vô lại, có điều còn làm nhiều điều xấu xa hơn trước kia, trước kia chẳng qua chỉ là lừa gạt lương dân, bây giờ thì đúng là hại nước hại dân rồi!

Hô hô, ngươi cho rằng ngươi làm Tiết độ sứ gì đó thì ta coi trọng ngươi à?.

An Lộc Sơn vốn định làm như mèo bắt chuột, đoán là Đoàn Khuê Chương đã không thể thoát khỏi tay y, trước hết đùa giỡn một phen cho hả giận trong lòng, nào ngờ lại bị Đoàn Khuê Chương không hè nể mặt, chửi mắng một trận tàn tệ, lại nói toạc ra y chẳng qua chỉ là một tên lưu manh vô lại, quả thật tức giận tới cực điểm, lập tức sa sầm mặt, cao giọng quát :

– Thật không biết lễ độ, các ngươi giết y cho ta!. Đoàn Khuê Chương cười lớn nói :

– Ta đã dám tới chỗ ngươi, vốn không tính còn sống để trở ra đâu. Nhưng nếu các ngươi giết ta, chỉ e cũng không phải dễ!. Y miệng nói thao thao bất tuyệt nhưng tay chân vẫn không hề lơi lỏng, cười rộ không ngớt, chỉ nghe soạt một tiếng, một tên vệ sĩ bị trúng kiếm trước ngực, máu phun ra như suối, vội vàng nhảy ra khỏi vòng chiến.

An Lộc Sơn mắng :

– Ăn hại, ăn hại! Mau gọi thêm vài người đắc lực vào đây!. Tiết Tung là bại tướng dưới tay Đoàn Khuê Chương, trong lòng vốn sợ sệt, nhưng nghe An Lộc Sơn mắng một câu như thế, lại bất giác hăng hái xông vào, Đoàn Khuê Chương quát :

– Tới rất hay!., bảo kiếm vung ngang ra chiêu Long Môn cổ lãng, uốn lượn như du long, kiếm quang giàn giụa, quả thật như sóng nước dâng trào, oai thế không thể chống, Tiết Tung sợ tới mức hồn siêu phách lạc, vội vàng lùi lại nhưng không tránh kịp, đột nhiên chỉ thấy trên vai tê rần một cái, đã bị bảo kiếm của Đoàn Khuê Chương rạch một vết dài.

May là tên võ sĩ dùng song câu không phải tầm thường, song câu vung lên giải khai thế công của Đoàn Khuê Chương, nếu không xương tỳ bà của Tiết Tung ắt đã bị bảo kiếm chém gãy, Tiết Tung lúc ấy đời nào còn dám khinh địch, liều mạng chịu cho đại soái chửi mắng, vung hờ một kiếm, đang định lùi ra.

Đoàn Khuê Chương căm hận y là một trong bọn người bắt Sử Dật Như, không tha cho y trốn chạy, quát lớn một tiếng, cước phải ra chiêu Khôi tinh tứ đẩu, một tên vệ sĩ đứng trước mặt bị đá tung ra bảo kiếm vung lên, lại bức bách tên vệ sĩ dùng song câu lui lại, kiếm quang chớp lên, thân hình vọt lên như tên rời cung, trong chớp mát đã tới sau lưng Tiết Tung, nhìn thấy mũi kiếm sáng loáng đã sấp đâm thủng hậu tâm của Tiết Tung thành một cái lỗ, Đoàn Khuê Chương đang định tiến lên một bước, phóng kiếm đâm vào đại huyệt trên bối tâm của Tiết Tung, đột nhiên nghe sau lưng có tiếng gió rít lên, thế tới rất mau, Đoàn Khuê đưa mắt nhìn bốn phía, tai nghe tám phương, lập tức biết có cường địch tập kích, vả lại một đao này lại nhắm đúng vào đại huyệt trên bối tâm y.

Giống như bọ ngựa bắt ve sầu, chim sẻ rình phía sau, đòn tập kích bất ngờ ấy chính là đánh vào chỗ địch nhân phải cứu, Đoàn Khuê Chương trong lòng lạnh buốt không ngờ trong bọn vệ sĩ của An Lộc Sơn lại có loại nhân vật thế này?., không rảnh mà tấn công Tiết Tung nữa, phải quay lại đối phó với địch nhân sau lưng trước.

Kiếm thuật của Đoàn Khuê Chương đã đạt tới cảnh giới lô hỏa thuần thanh, tâm niệm vừa dộng, kiếm chiêu đã lập tức đánh ra, lật tay đánh trả một kiếm, thân hình chưa thay đổi, giống như sau lưng mọc ra một con mắt, mũi kiếm đâm thẳng vào mạch môn của địch nhân, lập tức hóa giải chiêu số tập kích của y.

Đoàn Khuê Chương xoay người nửa vòng, thuận thế ra chiêu Hoành vân đoạn phong, kiếm thế lướt ngang ra, người kia tựa hồ sợ thanh bảo kiếm trong tay y, không dám để đao chạm vào, nhưng lại trở sống đao đập xuống, chỉ nghe keng một tiếng, tia lửa bắn tung tóe, người kia nhảy chếch ra ba bước, Đoàn Khuê Chương cũng không kìm được loạng choạng một cái.

Vũ Văn Thông khen :

– Đao pháp lạ kì, kiếm thuật càng diệu? Hai người đều giỏi, giỏi, giỏi. Trong tiếng khen ngợi, Đoàn Khuê Chương đã xoay người lại đưa mắt nhìn kỹ, nhìn thấy rõ mặt mũi địch nhân, bất giác sửng sốt.

Người ấy chính là Nhiếp Phong từng hai ba lần che giấu cho y khuyên y trở về, đúng là rất bất ngờ đối với Đoàn Khuê Chương.

Tên vệ sĩ dùng song câu tên Trương Trung Chí, võ công suýt soát Tiết Tung, cũng là một viên võ quan thủ hạ đắc lực của An Lộc Sơn, nhân cơ hội sấn vào, song câu chớp chớp cuốn đất ngoặc tới, đánh mau vào hạ bàn Đoàn Khuê Chương, Đoàn Khuê Chương vừa ngẩn người ra, hơi sơ ý, vù một tiếng, cho dù y lập tức bước tránh ra, nhưng ống quần cũng bị móc rách một mảng lớn.

Nhiếp Phong quát :

– Thiên đường có lối ngươi không chịu đi, địa ngục không cửa ngươi lại muốn vào? Đã sắp chết tới nơi, còn dám hung dữ đả thương người à?. Nghe ngữ khí thì rất hung dữ, nhưng Đoàn Khuê Chương đã hiểu được hàm ý trong câu nói của y, tựa hồ còn muốn khuyên y bỏ chạy. Đoàn Khuê Chương nghĩ thầm :

– Y là Phó tướng thân quân của An Lộc Sơn, chẳng trách gì phải ra sức cho An Lộc Sơn, chỉ là y có vẻ thương tiếc cho mình, không biết là vì sao?.

Nhiếp Phong quả thật có ý thương tiếc Đoàn Khuê Chương, nhưng trước mặt An Lộc Sơn hoàn toàn không dám để lộ chút sơ hở nào, vả lại mới rồi thử qua hai chiêu, y đã phát giác bản lĩnh của Đoàn Khuê Chương quả thật cao hơn y, vì thế động thủ thật sự, giở hết tài nghệ của mình ra, một thanh đơn đao múa lên như gió táp.

Nhưng Đoàn Khuê Chương không muốn đả thương y, nên có mấy chiêu sát thủ cực kỳ lợi hại vẫn không dám sử dụng, như thế y lấy một địch hai, lại dần dần rơi vào thế hạ phong. Vũ Văn Thông nhìn một lúc, nghĩ thầm :

– Đoàn Khuê Chương tuy kiếm pháp tinh diệu, có thể tính là nhất lưu cao thủ trên đời hiện nay, nhưng tựa hồ vẫn không thần kỳ tới mức như võ lâm đồn đại vế y.

Không bao lâu Điền Thừa Tự và mấy tên võ quan khác được tin chạy vào, thấy Đoàn Khuê Chương đã rơi vào thế hạ phong, mọi người đều muốn tranh công, nhất tề xông vào. Nhất là Điền Thừa Tự, để trả thù mối nhục trên tửu lâu hôm nay, đao nào cũng chém vào chỗ yếu hại của Đoàn Khuê Chương. Y biết thanh kiếm của Đoàn Khuê Chương lã bảo kiếm, nên đặc biệt chọn một món binh khí nặng, là một thanh Trảm sơn đao sống dày nặng ba mươi ba cân, thanh bảo kiếm của Đoàn Khuê Chương tuy sắc bén nhưng cũng không sao chém đứt được. Đoàn Khuê Chương ra sức đấu với sáu cao thủ, lại hiển lộ bản lĩnh, đang lúc kịch chiến chợt nghe choang một tiếng lớn, đao kiếm chạm nhau, thanh đại đao của Điền Thừa Tự bị Đoàn Khuê Chương khéo léo đẩy ra một bên, nhưng thanh bảo kiếm của y cũng bị hất ra, chiêu ấy của y vốn có ba thức, đồng thời ứng phó với ba món binh khí công kích, thanh kiếm vừa lệch đi, song câu của Trương Trung Chí lập tức thừa thế đánh tới, soạt một tiếng, lại móc rách một mảng trên áo y, mũi câu lướt qua, trên bắp tay lập tức hiện ra một vết thương. Cũng cùng lúc ấy, thanh đơn đao của Nhiếp Phong cũng đang ra chiêu Bạch xà thổ tín, mũi đao lấp loáng đâm vào cổ họng y.

Đoàn Khuê Chương ra chiêu Đại loan yêu tà tháp liễu, xoay người đi nửa vòng, đột nhiên một kiếm chém ngược trở lại chỉ nghe ái chà một tiếng, Nhiếp Phong đã trúng kiếm, máu chảy như suối, nhảy chếch ra ngoài, sau đó lập tức ngã xuống, vòng vây bị hở một chỗ.

Một kiếm ấy của Đoàn Khuê Chường vốn định gạt đơn đao của Nhiếp Phong ra, nhưng kết quả lại làm Nhiếp Phong bi trọng thương, quả thật là điều y không ngờ tới. Y làm sao biết Nhiếp Phong vốn có ý thả cho y chạy, Nhiếp Phong vừa thấy tư thế phóng kiếm của Đoàn Khuê Chương đã biết mũi kiếm của y đâm vào chỗ nào, nếu luận vế bản lĩnh chân thực của hai người, thì tuy Nhiếp phong còn kém Đoàn Khuê Chương một bậc, nhát đao ấy của y chém xuống, tuy nhất định sẽ bị Đoàn Khuê Chương gạt ra, nhưng y chỉ cần nhảy lùi ra để tránh thì không đến nổi bị thương, nhưng y muốn thả Đoàn Khuê Chương nên không tiếc mình bị trọng thương, cố ý nhảy vào mũi kiếm của Đoàn Khuê Chương, vì thế mới bị Đoàn Khuê Chương đâm trúng bụng dưới.

Đoàn Khuê Chương lúc thất thế đánh trả chiêu ấy quả vô cùng tinh diệu, kiếm thế hư thực khó biết, nên tuy Nhiếp Phong cố ý nhường y, người bên cạnh cũng không nhận ra, có điều Đoàn Khuê Chương là một đại hành gia võ học, lúc đầu tuy hơi kinh ngạc, nhưng lập tức hiểu ngay, nghĩ thầm :

– Nếu mình không chết, về sau phải trả ơn người này, chỉ là ngươi một phen có ý tốt, nhưng ta không thể nhận được. Nếu không cứu được Sử đại ca, thì ta còn mật mũi nào bỏ chạy để thoát thân một mình?.

Đoàn Khuê Chương đã từ chỗ hở của vòng vây đánh ra, nhưng lại không chịu cướp cửa bỏ chạy mà xông vào An Lộc Sơn. Bọn Điền Thừa Tự cả kinh, vội vàng sấn lên ngăn cản, đúng lúc họ đang tay chân luống cuống, đột nhiên Vũ Văn Thông hô hô cười rộ nói :

– Nhìn thấy kiếm pháp tinh diệu của Đoàn tiên sinh, ta cũng hơi ngứa nghề.

Các vị tạm thời dừng tay, để ta khoe cái dở nào!. Tiếng tới ngươi tới, hai tay trống không, vạt áo phất phơ, câu nói chưa dứt, y đã đứng chặn trước mặt Đoàn Khuê Chương!

Bọn Điền Thừa Tự vừa thấy Vũ Văn Thông xuất thủ đều thở phào một tiếng, họ biết Vũ Văn Thông cực kỳ cao ngạo, không chờ y sai bảo, đã nhao nhao tránh ra nhường chỗ. Đoàn Khuê Chương thấy oai thế của y như vậy, cũng không kìm được hơi hoảng sợ :

– Té ra Yị khâm sứ đại nhân này cũng là một cao thủ nhất lưu.

Vũ Văn Thông đứng trước mặt Đoàn Khuê Chương, song quyền nắm chặt, ngạo nghễ ra vẻ nghênh ngang nói :

– Đoàn đại kiếm khách, mới rồi không phải ngươi có ý bắt sống ta sao? Bấy giờ ta đã đứng trước mặt ngươi, sao ngươi chưa động thủ?. Đoàn Khuê Chương nói:

– Ngươi đã theo quy củ võ lâm đơn đả độc đấu với ta, ta há có thể chiếm phần thuận lợi, rút binh khí ra đi!.

Vũ Văn Thông cười lớn nói :

– Đoàn tiên sinh không thẹn là kiếm khách thành danh, không hề sai với lời người ta đồn đại. Có điều ngươi không cần lo lắng cho ta, tuy ngươi cầm một thanh bảo kiếm nhưng chưa chắc đã làm Vũ Văn Thông ta bị thương được đâu!.

Vũ Văn Thông tự báo tên họ, Đoàn Khuê Chương lúc ấy mới biết y là một trong ba đại cao thủ trong đại nội, tiếng tăm sánh ngang Tần Tương và Uất Trì Bắc. Đoàn Khuê Chương nhất sinh chưa từng bị người ta coi thường như thế, đột nhiên trong lòng nổi giận :

– Ngươi tưởng ngươi là một trong ba cao thủ đại nội thì có thể áp đảo ta à? Ta không tin công phu Không thủ nhập bạch nhận của ngươi lại cao hơn cả Uất Trì Bắc. Nên biết nếu nói về công phu Không thủ nhập bạch nhận thì Uất Trì Bắc chính là thiên hạ đệ nhất, hôm ấy Đoàn Khuê Chương lúc ban ngày đã so tới với Uất Trì Bắc trên tửu lâu, vẫn hơi chiếm thượng phong, nên y mới dám mắng thầm Vũ Văn Thông ngông cuồng.

Lúc ấy Đoàn Khuê Chương lạnh lùng nói :

– Thật không? Được rồi, vậy thì xin mời ngươi chỉ giáo trước~. Y tuy vô cùng tức giận, nhưng nhìn thấy đối phương tay không, vẫn nhất định không chịu chiếm ưu thế mà động thủ trước. Vũ Văn Thông nói :

– Được, cung kính không bằng phụng mạng, để ý đỡ nhé!., song quyền cùng khua lên, lập tức chém tới giữa mặt, Đoàn Khuê Chương vừa nhìn, thấy y không dùng Cầm nã thủ, cũng không phải chiêu số La Hán thần quyền lợi hại mà chỉ là Bắc phái trường quyền bình thường, bất giác vô cùng kinh ngạc, nghĩ thầm :

– Chẳng lẽ y cậy vào bộ quyền thuật bình thường này mà dám đối phó với bảo kiếm của mình sao? Y có hiệu là một trong ba đại cao thủ trong đại nội, không thể tin là y không có nhãn lực như thế.. Đoàn Khuê Chương tâm niệm vừa động, tay quyền to tướng của Vũ Văn Thông đã đánh tới, Đoàn Khuê Chươngvung kiếm quét ngang, Vũ Văn Thông song quyền giương ra, đột nhiên keng một tiếng, tia lửa bắn tung tóe, nguyên là Vũ Văn Thông hoàn toàn không ngông cuồng, ngược lại lại cực kỳ khôn ngoan. Trong tay y giấu một cặp Phán quan bút cực ngắn, trước đó không hề nói rõ, để Đoàn Khuê Chương cho rằng y tay không đối địch, có ý làm cho Đoàn Khuê Chương khinh địch. Đến lúc Đoàn Khuê Chương một kiếm quét ra, y song quyền giương ra, cặp Phán quan bút giấu sẵn đột nhiên vươn ra, vừa khéo đỡ vào sống kiếm của Đoàn Khuê Chương, nói thì chậm chứ lúc ấy rất mau, ngọn bút bên trái của y dựng lên, ngọn bút bên phải lập tức di động, nhân lúc thanh kiếm của Đoàn Khuê Chương đã hết đà không kịp rút về, lập tức ra sát thủ, ngọn Phán quan bút nhanh như chớp điểm tới huyệt Du khí dưới nách Đoàn Khuê Chương, quả thật vô cùng âm độc, vô cùng tàn ác!

May mà Đoàn Khuê Chương là người gan dạ mà cẩn thận, tuy y không biết trong tay quyền của Vũ Văn Thông ngầm giấu binh khí, nhưng nhìn thấy y chỉ sử dụng một chiêu trong Bắc phái trường quyền bình thường, đã sớm nghi ngờ, vì vậy hoàn toàn không phải như Vũ Văn Thông tính toán, y không những không hề khinh địch, mà ngược lại còn đặc biệt cẩn thận, chiêu thứ nhất chỉ vung hờ một nhát, chưa hề dùng lực.

Đúng chớp mắt tia lửa đang bắn tung tóe ấy, thân hình hai người đều mau lẹ cực điểm, Vũ Văn Thông một bút điểm vào huyệt Du khí dưới nách Đoàn Khuê Chương, mũi bút còn chưa chạm tới áo y, đột nhiên thấy kiếm quang chớp lên, mũi kiếm của Đoàn Khuê Chương đã chỉ vào bụng dưới y, chiêu này là đánh vào chỗ địch nhân phải cứu, Vũ Văn Thông chỉ đành nghiêng ngọn Phán quan bút đỡ gạt, lập tức nhảy vọt lên, nửa công nửa thủ mới hóa giải được kiếm chiêu lợi hại của Đoàn Khuê Chương. Người ngoài nhìn vào, chỉ thấy bóng hai người sấn vào nhau rồi phân khai, một người uốn lưng, một người nhảy lên chứ không biết rằng trong một chiêu ấy, hai đại cao thủ đã sừ dụng tuyệt học bình sinh, qua lại với nhau một đòn sông chết.

Nói thì chậm chứ lúc ấy rất mau, hai người vừa phân khai lại sấn vào nhau. Đoàn Khuê Chương vạch ra một bông kiếm hoa soạt soạt soạt liên hoàn ba kiếm như mưa sa gió táp hung dữ tấn công, kiếm thế cực mau, chỉ thấy kiếm quang, không thấy bóng người, giống như mười mấy thanh bảo kiếm từ bốn phương tám hướng đánh tới, kiếm khí giàn giụa kiếm quang lóa mắt, thụp xuống toàn thân Vũ Văn Thông, bọn võ sĩ đứng ngoài quan sát trận chiến thấy hoa cả mắt, người nào cũng tim đập thình thịch.

Vũ Văn Thông có hiệu là một trong ba đại cao thủ trong đại nội, võ công quả thật thành tựu kinh người, về cặp Phán quan bút điểm huyệt, võ học có câu :

– Ngắn một tấc thì hiểm một tấc., phán quan bút bình thường dài hai trước tám tấc, cặp Phán quan bút của y lại chỉ có bảy tấc, quả thật ngắn tới mức không thể ngắn hơn, vì thế đánh chiêu nào cũng phải nghiêng người sấn vào, hung hiểm muôn phần, bất kể ứng phó phía nào mà không phù hợp, thì chắc chắn phải mất mạng lập tức.

Đoàn Khuê Chương kiếm sau nối theo kiếm trước, nhìn thấy đã nắm phần thắng, nhưng đang kịch chiến chợt nghe cách một tiếng, cặp phán quan bút trong tay Vũ Văn Thông đột nhiên dài ra thêm bảy tấc, vốn là cặp Phán quan bút của y có bốn đốt, mỗi đốt dài bảy tấc, ấn nút thì từng đốt từng đốt sẽ giương ra, giương ra hết sẽ dài như Phán quan bút bình thường.

Cao thủ tỷ đấu, chỉ trong ly tấc, hiện hai người đang lúc đứng sát nhau, cặp Phán quan bút của Vũ Văn Thông đột nhiên dài ra thêm bảy tấc, cho dù Đoàn Khuê Chương bản lĩnh có cao cường hơn cũng khó mà tránh được, vừa nghe cách một tiếng, ngọn Phán quan bút của Vũ Văn Thông đã xuyên thủng vạt áo Đoàn Khuê Chương đâm vào bụng dưới y, bọn võ sĩ đứng cạnh đều reo lên như sấm.

Nhưng tiếng reo chưa dứt, Vũ Văn Thông đột nhiên lại ái chà một tiếng, nghiêng người nhảy chếch ra một trượng, mọi người vừa nghe thấy tiếng, lúc nhìn kỹ lại, mới thấy trên vai y có một mảng màu đỏ.

Nguyên là Đoàn Khuê Chương không những kiếm thuật tinh diệu mà nội công cũng đã đạt tới mức rất tinh thâm, lúc ngọn Phán quan bút của Vũ Văn Thông đâm rách vạt áo y, y hóp ngực phình bụng, bụng dưới đột nhiên phình ra ba tấc mũi nhọn của ngọn Phán quan bút vừa chạm vào da bụng y, còn chưa đâm tới, kình lực chưa phát hết, không đâm vào được nữa, kiếm pháp của Đoàn Khuê Chương cực kì mau lẹ, đã trong chớp mắt đối phương thất thế, chưa kịp vận lực biến chiêu ấy, mũi kiếm nghiêng đi một cái chém đứt một đường trên vai Vũ Văn Thông.

May là Vũ Văn Thông cũng là một đại hành gia võ học, vừa cảm thấy không hay, lập tức thu bút bật người nhảy ra, nếu không chỉ e xương tỳ bà đã bị thanh bảo kiếm chém gãy.

Biến hóa ấy xảy ra đột ngột, bọn võ sĩ cả kinh thất sắc, tiếng reo hò lập tức im bặt. Vũ Văn Thông mới rồi khoe khoang miệng lưỡi, nói bảo kiếm của Đoàn Khuê Chương không thể làm y bị thương, nào ngờ chưa tới ba mươi chiêu đã lộ cái xấu tại đương trường, tuy chỉ bị thương nhẹ ngoài da thịt, nhưng y kiêu ngạo đã quen, giữa chỗ mọi người chăm chăm nhìn vào thì nhát kiếm ấy của Đoàn Khuê Chương không khác gì rạch lên mặt y, khiến y vừa thẹn vừa giận.

Lúc ấy y cả giận quát lớn :

– Họ Đoàn kia, nếu đêm nay ta để ngươi chạy thoát thì Vũ Văn Thông ta không làm người!., song bút một ngang một dọc khai triển chiêu số, thủ pháp Phán quan bút điểm huyệt của y là một độc chiêu, quả thật oai lực rất lớn, lúc ấy hai người đã giống như cùng liều mạng, không ai dám khinh thị đối phương nữa.

An Lộc Sơn nói :

– Đúng, nếu bắt sống được thì tốt, các ngươi còn đứng ngẩn ra đó làm gì, còn không mau xông vào giúp Vũ Văn Đô úy trói thằng giặt kia đi?.

Bọn Điền thừa Tự và Trương Trung Chí mới rồi không dám xông vào giúp đỡ, một vì biết tính nết kiêu ngạo tự đại của Vũ Văn Thông, hai là vì họ biết rõ bản lĩnh của Vũ Văn Thông, cho rằng tuy Đoàn Khuê Chương kiếm pháp tinh kỳ, nhưng đã đánh nhau hồi lâu, với bản lĩnh của Vũ Văn Thông thì nắm chắc phần thắng không còn nghi ngờ gì. Nào ngờ sự tình lại khác hẳn với dự liệu của họ, người bị thương lại không phải là Đoàn Khuê Chương mà là Vũ Văn Thông, hiện An Lộc Sơn đã ra lệnh, họ không còn kiêng dè nữa, lập tức sấn vào vây đánh. Vũ Văn Thông lúc ấy đã biết mình không phải là đối thủ của Đoàn Khuê Chương, đối với việc mọi người xông vào giúp đỡ, cũng không cản trở nữa.

Bản lĩnh của Vũ Văn Thông và Đoàn Khuê Chương chênh nhau không bao nhiêu, lại được bọn Điền Thừa Tự và Trương Trung Chí giúp đỡ, lập tức xoay chuyển tình thế. Chỉ thấy kiếm quang bay lượn, đao quang như tuyết, song câu chớp chớp, bút ảnh trùng trùng, một trường ác chiến này quả thật kinh tâm động phách, khiến bọn vệ sĩ đứng ngoài nhìn cơ hồ đều nín thở.

Đánh nhau một lúc, vòng kiếm quang của Đoàn Khuê Chương càng lúc càng thu hẹp lại, An Lộc Sơn mới thở phào một hơi, chợt nghe Đoàn Khuê Chương quát lớn một tiếng, kiếm quang uốn lượn như du long, đột nhiên vọt khỏi vòng vây bắn ra, Điền Thừa Tự đầu gối đã bị trúng một kiếm, loạng choạng lùi ra mấy bước, kế soạt một tiếng, Trương Trung Chí cũng bị nhặt đứt một ngón tay. Vũ Văn Thông một bút đâm tới Đoàn Khuê Chương vừa chém đứt ngón tay Trương Trung Chí chưa kịp xoay kiếm thu người, tay nắm kiếm quyết đột nhiên thu về, lật chưởng vỗ ra phía sau một cái, xoảng một tiếng, ngọn Phán quan bút của Vũ Văn Thông rơi xuống đất!

Chiêu Đoàn Khuê Chương dùng chưởng đập bút quả thật vô cùng nguy hiểm, kết quả tuy ngọn Phán quan bút ấy của Vũ Văn Thông bị y đánh rơi, nhưng mạch Thốn Quan Xích trên cổ tay trái của Đoàn Khuê Chương đã bị mũi bút rạch qua, cũng rạch đứt một đường dài, mạch Thốn Quan Xích bị thương, cánh tay ấy đã không còn vận lực được nữa.

Vũ Văn Thông thấy y dùng lối đánh mà cả hai đều thiệt hại như thế ngấm ngầm hoảng sợ, nhưng chiêu ấy y đã đánh một cánh tay của Đoàn Khuê Chương bị thương, đã chiếm được phần tiện nghi. Một tên vệ sĩ đứng ngoài nhặt ngọn Phán quan bút ấy lên ném tới cho y, Vũ Văn Thông chụp được bút, lập tức quát :

– Thằng đầy tớ này chỉ còn dùng được một cánh tay thôi, có hung dữ cũng không làm gì được, mau mau bắt sống y, đừng để y tháo chạy?.

Đoàn Khuê Chương hú một tiếng dài, lạnh lùng nói :

– Cao thủ đại nội giỏi thật, quả nhiên bản lĩnh cao cường, oai phong lẫm liệt!

Không những là người đắc lực của hoàng đế, mà còn làm con chó giữ nhà cho An Lộc Sơn! Hừ, ngươi sợ ta chạy à? Ta đã bước vào nơi này, vốn đã không định sống mà trở ra đâu, ngươi yên tâm đi?. Vũ Văn Thông bị y mỉa mai, khuôn mặt đỏ bừng, quát :

– Ta không đấu khẩu với ngươi, xem bút đây!. Thanh bảokiếm của Đoàn Khuê Chương đã chém tới, lập tức hai người lại lăn xả vào nhau.

Lúc ấy Vũ Văn Thông, Đoàn Khuê chương, Trương Trung Chí, Điền Thừa Tự bốn người đều đã ít nhiều bị thương, mà Đoàn Khuê Chương bị thương nặng nhất, kế là Điền Thừa Tự, đầu gối y bị chém rách một mảng, đi đứng không linh hoạt, nhưng vẫn cùng bọn Vũ Văn Thông vây đánh Đoàn Khuê Chương.

Đoàn Khuê Chương tuy một cánh tay bị thương, nhưng y đã bất kể mạng sống, kiếm chiêu càng đánh ra càng lợi hại, trong bọn thủ hạ của An Lộc Sơn thì người võ công cao cường nhất là Điền Thừa Tự, Tiết Tung, Nhiếp Phong, Trương Trung Chí bốn người, hiện Nhiếp Phong, Tiết Tung trước sau đã bị trọng thương, chỉ còn hai người Điền Trương giúp Vũ Văn Thông, còn những vệ sĩ khác võ công chênh lệch quá nhiều. mấy kẻ cùng xông vào đều bị Đoàn Khuê Chướng đâm bị thương, người chưa bị thương cũng chẳng giúp đỡ được gì, mà còn làm vướng tay vướng chân. Vũ Văn Thông tức giận tới cực điểm, cao giọng quát :

– Các ngươi đi mà bảo vệ đại soái, đừng bước tới đây nữa. Bọn vệ sĩ ấy reo lên một tiếng lùi ra, kết quả chỉ còn hai người Điền Trương giúp y.

Đang lúc kịch chiến chợt nghe một tiếng soạt, Điền Thừa Tự bộ pháp không linh hoạt, trên người lại trúng thêm một kiếm, may mà không phải chỗ yếu hại nhưng cũng đau đớn không sao chịu nổi. Vũ Văn Thông nhân lúc thanh kiếm của Đoàn khuê Chương đang đâm Điền Thừa Tự, liền ấn nút, cặp Phán quan bút lại dài ra thêm một đốt nữa, lần này Đoàn Khuê Chương đã sớm đề phòng, nhảy vọt lên tránh, nhưng lúc y nhảy lên bụng dưới lại bị mũi câu sắc nhọn của Trương Trung Chí móc rách một mảng da thịt.

An Lộc Sơn nhìn thấy vô cùng run sợ, sợ bọn Vũ Văn Thông không phải là đối thủ, Đoàn Khuê Chương đánh sấn tới, thì y khó mà giữ được tính mạng, nhưng khâm sứ đại nhân đang ra sức trấn áp kẻ thù của y, y làm sao có thể lui vào hậu đường để ẩn núp? Đúng lúc trong lòng rối loạn chợt thấy Tiết Tung quát lớn một tiếng, dắt theo mấy tên vệ sĩ, đẩy một người vào!

Đoàn Khuê Chương kêu lên thất thanh :

– Sử đại ca!. Nguyên người bị Tiết Tung đẩy vào chính là Sử Dật Như! Chỉ thấy y thân hình gầy gò, mặt mũi vàng vọt, đã bị hành hạ tới mức không còn ra con người.

Tiết Tung cầm trường kiếm kề vào hậu tâm y quát lớn :

– Đoàn Khuê Chương, ngươi đứng lại cho ta, ngươi mà bước tới thêm một bước, ta sẽ giết vị Sử đại ca này của ngươi lập tức.

Đoàn Khuê Chương vừa tức vừa giận, trong lòng đau như dao cắt, nhưng ném chuột sợ vỡ đồ quý, cũng chỉ đành dằn lửa giận xuống, dừng bước lại, vung kiếm che ngang trước bụng, phong tỏa thế công của Vũ Văn Thông, rồi nhìn qua An Lộc Sơn quát :

– Kẻ thù của ngươi là ta, họ Sử có dính líu gì vào đây? Muốn giết muốn mổ thì tùy ý ngươi, ngươi cứ tha họ Sử ra đi!. An Lộc Sơn lúc ấy mới thở phào, hô hô cười nói :

– Được, ngươi buông bảo kiếm xuống thì ta có thể tha chết cho họ Sử.

Đoàn Khuê Chương cười nhạt nói :

– Ngươi coi ta như đứa nhỏ ba tuổi, có thể tùy tiện lừa gạt à? Muốn ta buông kiếm xuống cũng không khó, ngươi cứ để ta tiễn Sử đại ca ra ngoài mười dặm sau đó sẽ quay lại với người của ngươi, lúc ấy ta sẽ tình nguyện buông kiếm xuống cho ngươi trói.

An Lộc Sơn cười nói :

– Ngươi không tin ta, tại sao bắt ta phải tin ngươi? Buông kiếm xuống trước rồi mới thả người sau, không có ra giá trả giá gì cả.

Đoàn Khuê Chương hai mắt đổ lửa, trong lòng ngần ngừ, lú ấy ba người Vũ Văn Thông, Trương Trung Chí, Điền Thừa Tự đều đã đứng vào phương vị có lợi, ba món binh khí đã nhắm vào chỗ yếu hại trên người Đoàn Khuê Chương.

Sử Dật Như chợt nói :

– Cho ta nói vài câu với Đoàn đại ca. An Lộc Sơn nói :

– Được, ngươi khuyên y đầu hàng đi, ta trọng ngươi là một người đọc sách, nhất định không làm khó ngươi, ngươi muốn làm quan thì được làm quan, ngươi không muốn làm quan ta cùng sẽ lập tức thả ngươi, cho gia đình ngươi đoàn tụ. Đoàn Khuê Chương là bạn cũ của ta, tuy y bất kính với ta, nhưng ta cũng sẽ tha thứ cho y, ngươi có thể không cần lo lắng cho bạn ngươi.

Sử Dật Như nghe An Lộc Sơn nói tới người nhà của y, trên mặt lúc xanh lúc đỏ, vừa căm hận vừa đau xót, y mấp máy môi mấy cái, đột nhiên hai hàng lông mày nhướng lên, tâm ý đã quyết, cao giọng gọi :

– Đoàn đại ca, giữ ta sống để trả thù không bằng giữ ngươi sống để trả thù! Để người ta khỏi uy hiếp ngươi, ta đi trước một bước đây!., rồi đột nhiên thúc mạnh người về phía sau một cái, thanh trường kiếm của Tiết Tung đang chĩa vào hậu tâm y, có nằm mơ cũng không ngờ y mượn kiếm để tự sát, muốn rút tay lại đã không còn kịp, cái thúc ấy của Sử Dật Như đã dùng hết khí lực toàn thân, thanh trường kiếm đâm suốt qua từ sau ra trước hậu tâm y.

Biến cố ấy xảy ra đột ngột, ngay cả An Lộc Sơn và Tiết Tung cũng hoảng sợ ngẩn ra, cũng trong chớp mắt ấy, Đoàn Khuê Chương giận dữ gầm lớn một tiếng, giống như con sư tử bị thương, hai mắt đỏ ngầu, vung kiếm xông tới.

Trương Trung Chí đứng chỗ ấy. Đoàn Khuê Chương một kiếm dồn hết công lực toàn thân, Trương Trung Chí làm sao cản nổi? Chỉ nghe keng một tiếng, một ngọn Hộ thủ câu của Trương Trung Chí đã bị bảo kiếm của y chém làm hai đoạn.

Vũ Văn Thông lại ấn nút, đốt cuối cùng của cặp phán quan bút vọt ra, Đoàn Khuê Chương một kiếm chém đứt Hộ thủ câu của Trương Trung Chí, lập tức phi thân vọt tới, nhảy xổ vào An Lộc Sơn, vốn với bản lĩnh của y, muốn tránh chiêu ấy của Vũ Văn Thông cũng không phải khó, nhưng lúc ấy y lửa giận bừng bừng, dốc lòng muốn giết An Lộc Sơn để trả thù cho bạn, một bút của Vũ Văn Thông điểm tới, y như không hề hay biết.

Ngọn bút ấy của Vũ Văn Thông điểm trúng vào hậu tâm y may mà người học võ bị tập kích, tuy thần trí đang mê man nhưng cũng có thể lập tức nảy sinh phản ứng, Vũ Văn Thông định điểm vào huyệt Trung phủ sau lưng y, ngọn bút vừa chạm vào, chợt cảm thấy bị một luồng lực đạo hất lại ngọn bút trượt qua một bên, vốn là trong chớp mắt ấy, Đoàn Khuê Chương đã phong bế huyệt đạo toàn thân, sử dụng nội công thượng thừa Tiêm y thập bát diệt, hất mũi bút của Vũ Văn Thông qua một bên.

Nhưng công lực của Vũ Văn Thông cũng đã đạt tới cảnh giới của cao thủ nhất lưu, không thua kém Đoàn Khuê Chương bao nhiêu, tuy mũi bút bị trượt qua một bên nhưng y cũng tiện tay đẩy một cái, trên xương sống của Đoàn Khuê Chương lập tức xuất hiện một vết thương, bụng dưới y vốn đã bị câu thương, một cái vọt ấy lại dùng sức quá nhiều, lại bị Phán quan bút của Vũ Văn Thông đả thương Đới mạch trên xương sống, dù y công lực phi phàm cũng không sao chịu nổi, đúng lúc Trương Trung Chí bị y hất ngã, y cũng loạng choạng ngã xuống.

Vũ văn Thông cả mừng, ngọn Phán quan bút trong tay trái lập tức phóng xuống, lúc Đoàn Khuê Chương hụt chân loạng choạng, trong lòng đột nhiên nghĩ :

– Mối thù của đại ca chưa trả, mình không thể chết được, không thể chết được!. Cũng không biết khí lực từ đâu ra, y đột nhiên quát lớn một tiếng, ra chiêu Lý ngư đả đỉnh lật người vừa đúng lúc ngọn bút của Vũ Văn Thông đâm tới, Vũ Văn Thông bị tiếng quát của y chấn động ù cả tai, bất giác ngẩn người ra, nói thì chậm chứ lúc ấy rất mau, Đoàn Khuê Chương ra chiêu Cử hỗa liệu thiên, thanh bảo kiếm theo ngọn phán quan but rọc tới, Vũ Văn Thông la lớn một tiếng, hổ khẩu rách toạc, mũi nhọn của ngọn Phán quan bút cũng bi bảo kiếm hớt đứt.

An Lộc Sơn sợ tới mức mặt không còn chút máu, kêu lên :

– Mau, điều, điều Cung tiễn thủ và Nhiêu câu thủ tới đây!. Vũ Văn Thông rốt lại vẫn là người quen chiến trận, lúc ấy đã thấy Đoàn Khuê Chương chẳng qua chỉ là dùng hơi sức tối hậu để liều mạng như con thú sa bẫy mà thôi, lập tức quát lớn :

– An đại soái yên tâm, thằng giặc này tuy hung dữ, cũng không còn trì được lâu nữa đâu. Này, mọi người dùng lối Di động du đấu, không cần trực diện đỡ đòn của y.

Đoàn Khuê Chương tay chân vai lưng đều đã bị thương, toàn thân đầy máu, di chuyển đã không còn nhanh nhẹn, bọn Vũ Văn Thông vây chặt lấy y, lại dùng lối Di động du đấu, lập tức hãm y vào giữa vòng vây! Nhưng Đoàn Khuê Chương vẫn quát lớn đánh hăng, mạnh mẽ như sư tử!

Đúng là:

Để báo thù sâu cam một chết,

Khí xông Ngưu Đẩu hận khôn bình.

Muốn biết chuyện sau thế nào, xin nghe hạ hồi phân giải.

Chương 8: Dị cái cứu anh hùng gặp nạn – Truy binh theo tuyệt kỹ đánh lui

Điền Thừa Tự và Trương Trung Chí đều bị Đoàn Khuê Chương cho nếm mùi đau khổ, Trương Trung Chí chỉ còn một ngọn Hộ thủ câu, Điền Thừa Tự đầu gối mới rồi bị Đoàn Khuê Chương chém mất một mảng da thịt, cơn đau chưa giảm, Đoàn Khuê Chương quát lớn đánh hăng, tuy họ vây chặt y vào giữa vòng vây, nhưng vẫn cảm thấy trong lòng sợ sệt, Tiết Tung vốn bị thương không nhẹ, lúc ấy cũng bị bức bách theo hai viên võ quan cùng đi xông vào vòng chiến, Tiết Tung là Thống lĩnh thân quân của An Lộc Sơn, hai viên võ quan kia là phó tướng của y, võ công hơi kém hơn Trương Trung Chí, nhưng dưới trướng An Lộc Sơn, là thủ hạ giỏi thứ năm thứ sáu.

Không bao lâu, một đội Nhiêu thương thủ đã kéo tới, tất cả có mười hai người, nhiêu câu dài hơn một trượng, mười hai tên Nhiêu câu thủ chia đứng bốn phía vung trường câu ra, móc vào hai chân Đoàn Khuê Chương.

Đoàn Khuê Chương quát lớn một tiếng, một kiếm chém đứt hai thanh nhiêu câu, nhưng nhiêu câu từ bốn phương tám hướng phóng tới, không sao chém hết, rốt lại cũng bị một thanh móc vào bắp chân.

Đoàn Khuê Chương đùng một tiếng ngã ngồi xuống đất, Điền Thừa Tự cả mừng vung đao chém xuống, chợt nghe Khuê Chương quát lớn một tiếng, tiếng quát vang rền, lại chém thanh nhiêu câu ấy đứt hai đoạn, mũi câu còn móc trong chân y, nửa mũi câu máu chảy ròng ròng bị y giật được, sau tiếng quát phóng thẳng vào Điền Thừa Tự, Điền Tự Tự hoảng sợ ngẩn ra, Tiết Tung vội một chưởng hất y ra, chỉ nghe vù một tiếng, nửa ngọn nhiêu câu bay lướt qua đỉnh đầu Điền Thừa Tự, xé rách một mảng da đầu của y, thế vẫn chưa giảm, tên Nhiệu câu thủ phóng câu đả thương Đoàn Khuê Chương lại vừa khéo bị nửa ngọn câu do mình phóng ra đánh trúng giữa ngực, lập tức ngã chổng bốn chân lên trời.

Đoàn Khuê Chương giật lưỡi câu bị chém ra, toàn thân đầy máu, ngồi trên mặt đất, thần oai lẫm liệt, điên cuồng vung kiếm, chỉ nghe một tràng tiếng chặt vàng chém ngọc vang lên, chấn động khiến mọi người ù cả tai, lại thêm ba ngọn nhiêu câu bị y chém đứt.

An Lộc Sơn nhìn thấy trong lòng run sợ, nói :

– Ta thân trải trăm trận mà chưa thấy người nào hung hãn thế này!. Tiết Tung đã sớm lui ra, lúc ấy đứng cạnh An Lộc Sơn, nói :

– Y đã không thể đi lại được nữa, cứ điều Cung thủ tiễn tới bắn, y sẽ lập tức mất mạng. An Lộc Sơn gật gật đầu nói :

– Cũng chỉ có cách ấy! Tại sao Cung thủ tiễn còn chưa tới?. Liền sai một tên thủ hạ đi thúc giục, lại gọi :

– Vũ Văn Đô úy, không cần liều mạng với y nữa, Cung thủ tiễn sẽ tới ngay bây giờ.

Bọn Vũ Văn Thông tập hợp sức lại vẫn chưa bắt được Đoàn Khuê Chương, cảm thấy rất mất mặt, lúc ấy trong sáu người mới rồi vây đánh Đoàn Khuê Chương cũng chỉ có một mình y chưa lui ra.

Đoàn Khuê Chương lại bị thêm hai vết câu thương, Vũ Văn Thông nghiến nghiến răng, đang định hăng hái xông vào bắt sống y, nhưng đúng lúc ấy, chợt nghe phía ngoài tiếng người ầm ĩ, có người thét, có người chạy, An Lộc Sơn lúc đầu còn cho là Cung tiễn thủ đã tới, nhưng vừa nghe thấy tiếng thét, tiếng chạy hỗn loạn, đang kinh nghi bất định, chợt nghe một viên võ quan giữ cửa la lên :

– Không xong, không xong? Cháy rồi, cháy rối!.

An Lộc Sơn vừa giật mình đã nghe có mấy người đồng thời kêu lên :

– Bắt thích khách, bắt thích khách!. Đúng lúc ấy, đám vệ sĩ giữ cửa đột nhiên như bị một làn sóng lớn xô tới, cùng bật tiếng la thét, nhao nhao lùi lại, có vài kẻ không kịp tránh, đã bị đám người xô ngã.

Phía ngoài có hai người xông vào, một người mặc y phục võ quan người kia là một thiếu niên khoảng mười sáu mười bảy tuổi, hai người này xông vào, ai chống là ngã! An Lộc Sơn vừa nhìn thấy viên võ quan, trong lòng hơi yên tâm, quát :

– Có chuyện gì mà lại hoảng hốt xông bừa vào thết?. Câu nói chưa dứt, chợt nghe viên võ quan kia quát lớn một tiếng, giống như tiếng sét :

– An Lộc Sơn, ngươi dám hại Đoàn đại ca của ta, ta phải lấy mạng ngươi?. Tiếng tới người tới, y gấp gáp không kịp đánh tan bọn vệ sĩ, liền nhảy vọt lên, vù một tiếng bay qua đầu bọn vệ sĩ, mấy tên nhiêu câu thủ đang phóng trường câu ra, bị y từ trên không chụp xuống, đao quang chớp lên, một tràng tiếng chặt vàng chém ngọc vang lên điếc tai, mấy ngọn nhiêu câu đồng thời bị chém đứt! Thiếu niên kia tướng mạo không có gì hơn người nhưng thân thủ cũng không kém, đao chém, chưởng đánh, chân đá, thi triển hết tài năng, trong chớp mắt đã đánh tan tác bọn vệ sĩ đứng gần, còn có mấy tên Nhiêu câu thủ bị y đá ngã.

Điền Thừa Tự kêu lên thất thanh :

– Nam Tễ Vân, ngươi to gan thật!. Hai người kia chính là Nam Tễ Vân và Thiết Ma Lặc! Đoàn Khuê Chương vì không muốn bạnbê bị liên lụy, nên giấu chuyện không nói cho Nam Tễ Vân biết, nhưng Thiết Ma Lặc lại là một đứa nhỏ khôn ngoan, đã sớm ghi nhớ địa chỉ của Nam Tễ Vân, y ngoài miệng hứa với Đoàn Khuê Chương là đêm ấy không ra khỏi chùa, chờ Đoàn Khuê Chương trở về, nhưng Đoàn Khuê Chương vừa đi xong, y đã rón rén tới tìm Nam Tễ Vân.

Nam Tễ Vân hôm ấy có hẹn với Lý Bạch sau buổi chiều sẽ tới nhà Hạ Tri Chương gặp nhau, Thiết Ma Lặc tìm tới chỗ trọ của Nam Tễ Vân thì đã gần canh ba, y vẫn còn chưa về, Thiết Ma Lặc chỉ dành để lại vài chữ trong phòng y, lại tới nhà Hạ Tri Chương để tìm, thì ra y và Lý Bạch uống rượu trò chuyện, đang rất cao hứng, quên hết thời gian. Thiết Ma Lặc tới nhà họ Hạ, họ tửu hứng đang nồng, Lý Bạch đã quen với hành vi của hiệp sĩ giang hồ, Thiết Ma Lặc mặc quần áo dạ hành đột nhiên xông vào, y cũng không hề sợ hãi, còn kéo Thiết Ma Lặc ngồi vào uống rượu. Thiết Ma Lặc còn lòng dạ nào mà uống rượu, vội vảng kể lại chuyện cho Nam Tễ Vân, Nam Tễ Vân vừa nghe xong, lập tức tỉnh rượu, liền cáo từ Lý Bạch, ba bước chỉ đi hai bước, vội vàng đi cứu người, đáng tiếc vẫn chậm một bước, Sử Dật Như đã tự sát thân vong, Đoàn Khuê Chương đã bị trọng thương.

Điền Thừa Tự đã bị Nam Tễ Vân đánh đến mất mật, vừa nhìn thấy y, tuy ngoài mặt quát tháo để tăng thêm can đảm nhưng thật ra không dám tiếp chiến, vừa quát tháo, vừa liên tiếp lùi lại, lúc ấy An Lộc Sơn cũng đã không còn nghĩ gì tới lễ nghi với khâm sứ đại nhân, cũng không nghĩ gì tới thể diện đại soái, vội vàng kéo tay Điền Thừa Tự, nhờ y bảo vệ, vội vội vàng vàng lùi vào hậu đường.

Tiết Tung cũng đã bị Nam Tễ Vân đánh cho sợ mất mật, nhưng y không sớm thấy việc như Điền Thừa Tự, lại vì bị thương khá nặng, lúc ấy vẫn chưa lui lại, Nam Tễ Vân quát :

– Họ Tiết kia, trận đánh nhau trên tửu lâu còn chưa đã tay, nào, lại đây!. Tiếng tới người tới, vung bảo đao lên chém vào giữa mặt y. Tiết Tung lúc bấy giờ cho dù không bị thương cũng không dám đón đỡ nhát đao ấy, vội đâm hờ một kiếm, xoay người định chạy, Trương Trung Chí sấn vào giải cứu, nghiêng người vung câu, Nam Tễ Vân ra chiêu Nhạn hàng bài không vung đao chém ngang ra, cặp Hộ thủ câu của Trương Trung Chí đã bị Đoàn Khuê Chương chém đứt một ngọn, chỉ nghe choang một tiếng, ngọn Hộ thủ câu còn lại lại bị Nam Tễ Vân chém làm hai đoạn, hai tay trống không, không sao chống cự, Nam Tễ Vân thấy trên người họ có vết máu, đột nhiên kìm thanh đao lại, quát :

– Bảo đao của ta không giết người bị thương!., một chiêu Uyên ương song phi cước đá ra, cước trái phóng vào lưng Tiết Tung, cước phải đá vào hông Trương Trung Chí, Tiết Tung bị y đá bay tung ra một trượng, Trương Trung Chí thì như một cái hồ lô lăn lông lốc trên mặt đất.

Vũ Văn Thông trong lúc hỗn loạn định giết Đoàn Khuê Chương trước rồi sẽ tính, y bút trái hất thanh bảo kiếm của Đoản Khuê Chương qua, bút phải đang định đâm xuống, chợt nghe tiếng gió rít lên, thanh đao của Nam Tễ Vân đã chém tới lưng y, Vũ Văn Thông dùng thân pháp Bàn long nhiễu bộ xoay người, lật tay ra chiêu Hoành đả kim chung, đao bút chạm nhau, tia lửa bắn tung tóe, cặp Phán quan bút của Vũ Văn Thông là sắt tốt đúc thành, nhưng bị thanh bảo đao chêm xuống cũng mẻ một miếng lớn, cánh tay tê rần, bất giác huỵch huỵch huỵch lùi lại ba bước liên tiếp, tiếc là Đoàn Khuê Chương đã không thể di động, Vũ Văn Thông lùi bước qua cạnh người y, Đoàn Khuê Chương một kiếm phạt ngang, chỉ cách ba tấc chứ không chém trúng đầu gối y.

Nam Tễ Vân không rảnh nhìn tới Vũ Vân Thông, vội bế Đoàn Khuê Chương lên, kêu :

– Đại ca!. Đoàn Khuê Chương hai mất mở to, kêu lên :

– Nam huynh đệ, là ngươi!., đột nhiên phun ra một ngụm máu tươi, lập tức ngất đi! Y lấy ít địch nhiều, kịch chiến hơn một giờ, đã bị thương khắp người, hoàn toàn kiệt sức, chẳng qua chỉ dựa vào nột hơi thở, cố gắng duy trì mà thôi, y vừa nhìn thấy Nam Tễ Vân, tinh thần vừa buông lỏng, chân khí lập tức tiêu tan, cho dù người bằng sắt cũng không giữ nổi nữa.

Vũ Văn Thông là tay kì cựu kinh nghiệm phong phú, thấy Nam Tễ Vân cứu Đoàn Khuê Chương, trong lòng mừng thầm, nghĩ bụng:

– Ngươi cõng một người trên lưng thì ta càng không sợ ngươi!., nhấc bút sấn vào, hai bút chia ra, bút trái đâm ngang điểm hờ vào ba huyệt Trung phu, Khúc trì, Thiếu phủ trên mạch Thủ Thiếu dương của Nam Tễ Vân, bút phải lại đâm vào huyệt Địa hộ trên mu bàn chân Đoàn Khuê Chương. May là Nam Tễ Vân một lòng một dạ lo bảo vệ cho Đoàn Khuê Chương, hoàn toàn không nghĩ gì tới sự an nguy của mình, hư chiêu Vũ Văn Thông tấn công y, y căn bản không đón đỡ, mũi đao chém xuống hất ngọn bút của Vũ Văn Thông ra, đến khi Vũ Văn Thông định biến chiêu tấn công y từ hư thành thực, Nam Tễ Vân đã xông ra được vài bước.

Vũ Văn Thông đời nào chịu bỏ, như bóng theo hình, đuổi sát theo sau, Nam Tễ Vân quát :

– Ngươi tàn độc thật!., mũi chân điểm xuống đất một cái, đột nhiên nhảy vọt lên, Vũ Văn Thông song bút đâm lướt qua dưới chân y, nói thì chậm chứ lúc ấy rất mau, thanh đao của Nam Tễ Vân đã chém xuống.

Chiêu ấy vô cùng hung hiểm, Vũ Văn Thông không ngờ Nam Tễ Vân trên lưng cõng một người vẫn dám nhảy bật lên ra chiêu Lực phách Hoa Sơn chém xuống, bất giác giật nảy mình, vội vàng móp người tránh qua lưỡi đao, song bút đang tấn công cũng rút lại, mũi bút vừa khéo chỉ còn cách lưỡi đao ba tấc, suýt nữa đã bị chém đứt.

Nam Tễ Vân một đao ấy vô cùng cương mãnh, Vũ Văn Thông không chống nổi thần lực của y, chỉ đành dùng chiêu số trong Yến Thanh thập bát cổn lăn tròn ra ngoài, tuy không thảm hại như Tiết Tung mới rồi, nhưng cũng biến thành một cái hồ lô dính đầy đất cát.

Nam Tễ Vân thân hình chưa rơi tới đất, song cước đã đá ra, bình bình hai tiếng lại đá tung hai tên vệ sĩ, cao giọng quát :

– Tránh ta thì sống, chống ta thì chết!., thanh bảo đao vung lên thành một màn ngân quang, cướp cửa chạy ra, bọn vệ sĩ thấy y dũng mãnh như thế, ai dám cản trở, trong chớp mắt y đâ xông tới cửa.

Lúc ấy cả bầu trời đều sáng rực ánh lửa, nguyên là do Thiết Ma Lặc đốt. Thiết Ma Lặc lớn lên giữa đám cường đạo, rất thông thạo ngón nghề hắc đạo, trong người mang hỏa tập lúc lén vào phủ đệ của An Lộc Sơn, cứ cách ba bốn chỗ lại đốt một chỗ, để dễ nhân lúc hỗn loạn tháo chạy.

Lúc ấy bọn vệ sĩ bận rộn cứu hỏa, phủ đệ hỗn loạn. Đội Cung tiễn thủ tuy đã tới nơi, nhưng trong vườn dầy bóng người chạy loạn xạ, bọn Cung tiễn thủ sợ bắn phải người mình nên chỉ dám giương cung, không dám phát tên.

Thiết Ma Lặc hô hô cười rộ nói :

– Tối nay tuy không giết được An Lộc Sơn, nhưng cũng được một phen hả giận. Vũ Văn Thông cả giận, một bút điểm tới y, Thiết Ma Lặc lật tay lại một đao, đao ấy là chiêu số kiếm thuật y học được của Đoàn Khuê Chương, rất là cổ quái, Vũ Văn Thõng võ công tuy cao hơn y nhiều cũng không ngầm giật mình, không dám khinh địch, chuyển mũi bút qua, đón đỡ thanh đao, chênh chếch đánh vào nách Thiết Ma Lặc. Nhát đao ấy của Thiết Ma Lặc có thể thực có thể hư vừa thấy Vũ Văn Thông lấy thủ làm công, lập tức thu đao về nghiêng người nhảy ra chụp một tên vệ sĩ ném vào Vũ Văn Thông. Vũ Văn Thông không dám đả thương thủ hạ của An Lộc Sơn, chỉ đành đón tên vệ sĩ ây nhẹ nhàng đặt xuống. Chỉ thấy Thiết Ma Lặc như một làn khói đã sớm xuyên vào đám đông, cười rộ không dứt chạy theo Nam Tễ Vân. Vũ Văn Thông tức giận tới mức cực điểm, đuổi riết không tha.

Nào ngờ một nắm lửa ấy của Thiết Ma Lặc có lợi nhưng cũng có hại, đám vệ sĩ canh gác trên Ly Sơn nhìn thấy ánh lửa, nhao nhao kéo xuống, hai người Nam Thiết vừa thoát ra khỏi vòng vây, lại chạm trán một bọn vệ sĩ.

Nam Tễ Vân kêu lên :

– Các ngươi tới rất đúng lúc, mau vào cứu hỏa, bên trong còn có mấy tên thích khách vẫn chưa bắt được!. Y mặc trang phục võ quan, bọn vệ sĩ kia nhất thời bị hù dọa đứng khựng lại, chưa dám lập tức động thủ, Nam Tễ Vân thân pháp mau lẹ, chuyển hướng về phía có ít vệ sĩ, lập tức lao đi. Mấy tên vệ sĩ ấy còn đang kinh ngạc, chợt nghe giọng của Vũ Văn Thông và Lệnh Hồ Đạt cùng quát lớn :

– Hai tên ấy chính là thích khách!. Vũ Văn Thông từ phía sau đuổi tới, Lệnh Hồ Đạt từ trước mặt cản lại. nguyên là tối hôm ấy tới phiên y tuần tiễu ở Ly cung, bọn vệ sĩ kia là do y dẫn đầu.

Nam Tễ Vân tay lên đao xuống, chém ngã hai tên vệ sĩ, chạy tới dốc núi, vọt vào rừng cây. Thiết Ma Lặc lại bị một tên vệ sĩ đuổi theo, tên vệ sĩ này tinh thông Địa đường đao pháp, lại đột nhiên từ trên dốc hẹp lăn xuống tới trước mặt Thiết Ma Lặc, song đao chớp chớp, cuốn đất xông tới, chém vào chân Thiết Ma Lặc.

Thiết Ma lặc võ công tuy không kém, nhưng kinh nghiệm lâm địch còn ít, không biết ứng phó với Địa đường đao pháp thế nào, nhất thời bị y níu kéo, không sao thoát thân, nói thì chậm chứ lúc ấy rất mau, hai tên vệ sĩ bên cạnh đã đuổi tới, một người vung thiết chùy, một người dùng song giản, đều là binh khí nặng.

Nam Tễ Vân vừa xông vào trong rừng, quay đầu nhìn lại, thấy Thiết Ma Lặc bị nguy hiểm, quát lớn một tiếng :

– Ma Lặc, cho ngươi thanh bảo kiếm đây!., rồi rút thanh bảo kiếm của Đoàn Khuê Chương ra, trở tay ném một cái, thanh bảo kiếm biến thành một ngọn cầu vồng, soạt một tiếng, đâm từ sau lưng tên vệ sĩ sử dụng song giản xuyên ra trước ngực.

Thiết Ma Lặc đã sớm chuẩn bị, nhún người vọt lên, nhân lúc tên vệ sĩ kia ngã xuống, đã từ trên không lật người một cái, đầu dưới chân trên vươn tay chụp thanh bảo kiếm, rút thanh kiếm ra, bấy nhiêu động tác ấy của y liền lạc một hơi, mau như ánh chớp, khiến tên vệ sĩ sử dụng thiết chùy thoáng thấy kiếm quang phóng tới, sợ tới mức toàn thân lạnh buốt, làm sao còn dám tranh bảo kiếm với y.

Thiết Ma Lặc giật được bảo kiếm, tinh thần phấn chấn, cúi móp người xuống, tiện tay vung lên, tên vệ sĩ sử dụng Địa đường đao pháp vừa chém tới bị thanh bảo kiếm của y vung ra, song đao biến thành bốn đoạn, Thiết Ma Lặc xoay kiếm lại phóng ra, lại điểm trúng cổ tay tên vệ sĩ sử dụng thiết chùy, thịch một tiếng, quả thiết chùy lớn đã rơi xuống, lăn tròn xuống dốc.

Nam Tễ Vân quát lớn :

– Lệnh Hồ Đạt, ngươi không tiếc mạng thì cứ đuổi theo!., tiếng quát chấn động khiến lá rừng ào ào rơi xuống, chim chóc hoảng ợ bay lên, Lệnh Hồ Đạt trong lòng hoảng sợ, lập tức giống như phụng thánh chỉ dừng ngay lại, Vũ Văn Thông phía sau quát :

– Các ngươi xông lên!. Lệnh Hồ Đạt giật cung tên trong tay một vệ sĩ, giương cung lắp tên, bắn vào Nam Tễ Vân. Y vẫn sợ sệt, ngón tay run rẩy, phát tên ấy nói là bắn Nam Tễ Vân cũng chỉ là theo lệnh của Vũ Văn Thông mà thôi, mũi tên bắn ra xiên xiên xẹo xẹo, làm sao bắn trúng.. Vũ Văn Thông lúc ấy đã đuổi tới, thấy thế cá giận, giật cung tên trên tay Lệnh Hồ Đạt, đích thân phát tên, công lực của y cao hơn Lệnh Hồ Đạt rất nhiều, dây cung vừa bật, tên cứng bay ra, mang theo tiếng gió rít rất mạnh. Thiết Ma Lặc đang định đuổi theo Nam Tễ Vân, nghe tiếng gió rít, y sợ Nam Tễ Vân trên lưng cõng người, né tránh bất tiện, bèn nhảy bật lên vung thanh bảo kiếm đỡ tên cho y.

Nào ngờ mũi tên ấy của Vũ Vãn Thông kình lực mạnh mẽ dị thường, kết quả tuy bị y gạt ra, nhưng hổ khẩu của Thiết Ma Lặc cũng bị chấn động tê rần.

Vũ Văn Thông tức giận nói :

– Được, thằng tiểu tặc nhà ngươi vướng tay vướng chân, cứ giết ngươi trước đã. Vù một tiếng, mũi tên thứ hai lại phóng ra, bắn thẳng vào Thiết Ma Lặc.Thiết Ma Lặc lúc ấy đã đứng cạnh bờ vực, phía trước không có đường, chợt gầm lớn một tiếng, lăn tròn luôn xuống dưới.

Nam Tễ Vân giật nảy mình, nói thì chậm chứ lúc ấy rất mau, mũi tên thứ ba của Vũ Văn Thông lại bắn tới y, Nam Tễ Vân lật tay chém lại một đao gạt mũi tên ra, bước chân hơi chậm lại, Vũ Văn Thông đã tiến tới vài bước, cười nhạt nói :

– Họ Nam kia, ngươi còn muốn trốn à?

Cho dù ngươi trốn thoát, thì họ Đoàn kia cũng quyết không sống được đâu? Nghĩ giúp cho ngươi, thì mau mau đặt họ Đoàn xuống, ta nể mặt ngươi là một hảo hán, có thể mở một mặt lưới cho ngươi.

Nam Tễ Vân cả giận nói :

– Vũ Văn Thông, ngươi lên đây, ta với ngươi quyết một trận tử chiến. Vũ Văn Thông cười nói :

– Ta cần gì phải liều mạng với quân phản tặc cùng đường như ngươi! Được, lời ta khuyên nhủ mà người không chịu nghe, thì chỉ còn cách bù thêm tính mạng của họ Đoàn thôi! Xem tên!., mũi tên thứ tư, thứ năm liên tiếp bắn ra. Nam Tễ Vân cõng một người trên lưng, không sao triển khai công phu tránh né, vả lại y không thể chỉ lo cho mình, mà còn phải chiếu cố cho Đoàn Khuê Chương, Vũ Văn Thông phát tên nào cũng nhắm vào Đoàn Khuê Chương trên lưng y, lập tức khiến Nam Tễ Vân chân tay luống cuống. Tên liên châu của Vũ Văn Thông hết phát này tới phát khác liên tiếp bắn ra, tới phát thứ chín, mũi tên ấy bắn vào bàn chân Đoàn Khuê Chương đang buông xuống, Nam Tễ Vân uốn lưng gạt ra, Vũ Văn Thông thừa thế lại tiễn thêm một phát, Nam Tễ Vân một tay phải giữ Đoàn Khuê Chương, biết rõ mũi tên này bắn tới trước mặt, nhưng không sao né tránh, chỉ vung tay lên, dùng thế chữ:

– hoạt., mũi tên vừa chạm vào da thì trượt đi rạch mất một mảnh da trên cánh tay y.

Lúc ấy, Nam Tễ Vân cũng đã bị bức bách lùi tới sát bờ vực bọn Cung tiễn thủ cũng đã nhao nhao đổ tới, nếu y lập tức buông Đoàn Khuê Chương xuống, thì một mình có thể mở ra được một con đường máu, nhưng Nam Tễ Vân thuộc hạng người mà ngay cả ý nghĩ ấy cũng không nghĩ tới, đúng lúc vô cùng nguy hiểm ấy, y nghiến răng một cái, trong lòng kêu lên :

– Đoàn đại ca, chúng ta cùng sống cùng chết, hai cái mạng này giao cho ông trời thôi!.

Tâm niệm vừa động, chỉ nghe tiếng dây cung của Vũ Văn Thông bật lên, liên tiếp ba mũi tên bắn ra, Nam Tễ Vân gầm lớn một tiếng, tay trái ôm chặt Đoàn Khuê Chương, tay phải bảo đao múa lên che đầu, theo vết Thiết Ma Lặc, cũng nhảy xuống vực.

Chuyện ấy khiến Vu Văn Thông hoàn toàn bất ngờ, y chạy tới bờ vực nhìn xuống, chỉ thấy phía dưới đen ngòm, không biết sâu cạn thế nào, Vũ Văn Thông lúc ác đấu với Đoàn Khuê Chương, cũng đã bị mấy vết kiếm thương, tuy thương thế không nặng, nhưng đứng trước vực sâu, lại không có can đảm nhảy xuống, trong lòng nghĩ thầm :

– Y cõng một người nhảy xuống, chắc chắn có chín phần là phải chết.

Nam Tễ Vân giữa chỗ chết tìm cái sống như vậy, quả thật vô cùng nguy hiểm, may là y có một thanh bảo đao, dùng bảo đao đâm vào vách núi, liên tiếp ba lần, cuối cùng đã đạp chân xuống được mặt đất.

Có điều tuy Nam Tễ Vân thoát hiểm, nhưng vực này vách núi dựng đứng, đá nhọn lởm chởm như đao, lúc y trôi xuống, đã bị thương hơn mười mấy chỗ, cũng may là y, cứ nếu là người khác, thì đã sớm chỉ còn thở thoi thóp.

Nam Tễ Vân đứng vững chân lập tức kêu lên :

– Ma Lặc, Ma Lặc!.

Tiếng kêu chưa dứt, chỉ nghe trong bụi cỏ tranh tối om có một bóng đen bò ra khẽ đáp một tiếng, kế lại có hai tiếng rên đau đớn.

Nam Tễ Vân biết Thiết Ma Lặc là một thiếu niên vô cùng quật cường, nghe y rên không kìm được giặt nẩy mình, vội hỏi :

– Ma Lặc, ngươi có sao không? Bị thương nặng lắm phải không?. Thiết Ma Lặc cắn răng đáp :

– Khôngcó gì, chẳng qua tay chân đều bị trậc khớp. Đoàn thúc thúc có bị sao không?.

Nam Tễ Vân nói :

– Ngươi có mang hỏa tập trong người không?.

Thiết Ma Lặc nói :

– Có., rồi mò mò lấy ra, đánh lửa lên, đưa qua Nam Tễ Vân.

Dưới ánh lửa sáng, chỉ thấy Đoàn Khuê Chương sắc mặt vàng vọt, toàn thân đầy vết thương, máu vãn còn nhỏ xuống không ngớt. Nam Tễ Vân lòng đau như cắt, bế Đoàn Khuê Chương bước tới bên cạnh khe nước, xé một mảnh vạt áo, lau rửa vết thương cho y, rồi buộc thuốc kim sương (để trị thương) mang theo trong người.

Thiết Ma Lặc bò theo y, run giọng nói :

– Thế nào? Còn có thể cứu được không?. Nam Tễ Vân sắc mặt trầm trọng, nói :

– Chỉ là tạm thời cầm máu…. Thiết Ma Lặc không chờ được lại hỏi :

– Có bị nội thương không?. Qua hồi lâu, Nam Tễ Vân mới hạ giọng nói :

– May là Đoàn đại ca công lực thâm hậu, mạch đập hơi thở vẫn chưa đứt hẳn, chúng ta phải tìm đại phu cho y. Thiết Ma Lặc vừa nghe xong, lập tức ngồi bật lên, mở to hai mắt nói :

– Chuyện đó làm sao làm được, ở đây tìm đâu ra đại phu?. Nam Tễ Vân nói :

– Ngươi đừng sợ, dù sao cũng có cách, à mà, áo trong của ngươi còn sạch không, xé ra để ta buộc vết thương cho y.

Y và Thiết Ma Lặc lúc ấy đã toàn thân đầy máu, chỉ có áo lót bên trong là chưa dính máu. Vừa buộc vết thương cho Đoàn Khuê Chương xong, chợt thấy bờ vực trên đầu đến đuốc như sao, Nam Tễ Vân nằm phục xuống đất nghe ngóng, chỉ nghe có người quát :

– Ta không tin ba thằng đầy tớ ấy lại sống được, sáng mai hãy tới tìm xác chúng cũng không muộn. Một người khác lập tức mắng :

– Quân chết nhát, ngươi sợ trượt chân ngã xuống à? Ngươi bám chặt vào hông ta, từng bước leo xuống tới chứ gì!. Lại một gã khác nói :

– Đúng, ăn lộc của vua thì phải lo việc của vua, mau tìm ba cái xác ấy cho sớm, để đại soái chúng ta yên tâm. Nguyên có một toán vệ sĩ đang thòng dây leo xuống.

Nam Tễ Vân nói :

– Ma Lặc, hai chân ngươi đều bị thương à?. Thiết Ma Lặc nói :

– Không, chỉ là một chân bị trật khớp. Nam Tễ Vân kéo tay chân y, chỉnh lại khớp cho y rồi vung kiếm chặt một nhánh cây đưa y làm chống, hạ giọng nói :

– Ma Lặc, đây là lúc quyết định sinh tử, chạy mau lập!.

Nam Tễ Vân xốc Đoàn Khuê Chướng lên lưng, Thiết Ma Lặc nghiến răng chịu đau, hít vào một hơi, lò dò theo Nam Tễ Vân đi ra ngoài hang núi, hai người không dám dừng lại, đi một mạch hơn mười dặm, xa xa nhìn thấy bên đường có một ngôi miếu Thổ địa đứng chơ vơ.

Thiết Ma Lặc chống gậy đi một mạch gần hai mươi dặm, quả thật đã quá sức chịu đựng của y, Nam Tễ Vân nghe y càng lúc càng thở dốc, quay đầu lại nhìn, chỉ thấy y tập tà tập tễng, trên trán tứa mỗ hôi to bằng hạt đậu. Nam Tễ Vân cảm thấy thương xót, tập trung lắng nghe, phía sau hoàn toàn không có kỵ binh đuổi theo, nghĩ thầm:

– Bọn kia tìm kiếm khắp hang núi ít nhất cũng phải mất một giờ., liền nói với Thiết Ma Lặc :

– Tiểu huynh đệ, làm ngươi vất vả rồi, chúng ta tạm thời vào. ngôi miếu Thổ địa này nghỉ ngơi một lúc đi.

Ngôi miếu Thổ địa ấy chắc hương hỏa lạnh lùng, ngoài hiên trong góc đầy mạng nhện, nhưng điều làm họ bất ngờ là bên trong lại có một người đang ngáy khò khò, bên cạnh có một cái hồ lô sơn đỏ bốc ra mùi rượu, trên mặt đất có một đống lửa, ngọn lửa đã tắt, nhưng vẫn còn than lập lòe. Thiết Ma Lặc nói :

– Xem ra là một lão ăn mày lưu lạc giang hồ. Nam Tễ Vân ồ một tiếng, đưa mắt nhìn kỹ, thấy lão hán kia tuy quần áo rách rưới, vá chằng vá đụp, nhưng rất sạch sẽ, cây quải trượng đen bóng, tựa hồ không phải làm bằng gỗ.

Thiết Ma Lặc mệt không chịu nổi, bất chấp tất cả, lập tức ngồi phệt xuống, đáng thương hai chân y dã tê dại không còn cảm giác, vừa ngồi xuống xong, không sao động đậy nổi nữa.

Nam Tễ Vân ngần ngừ một lúc, nhưng cảm thấy Đoàn Khuê Chương thân thể càng lúc càng lạnh cứng thêm, cũng chỉ đành ngồi xuống. Thiết Ma Lặc nói :

– Đáng tiếc là đốnglửa này tắt mất rồi. Nam Tễ Vân nói :

– Để ta cho thêm vài cây củi :

– Bên cạnh người lão ăn mày có mấy thanh củi khô, Nam Tễ Vân bước tới cạnh y, nảy dạ hiếu kỳ, nhịn không được đưa ngón tay búng vào cây quải trượng của y, chỉ nghe có tiếng đùng đục, không phải sắt không phải đồng, cũng không phải gỗ, không biết là làm bằng gì!

Lão ăn mày kia đột nhiên trở mình, ngồi phắt ngay lên, mắng:

– Hóa tử đại gia ta đang ngủ ngon, tiểu tử kia, tại sao ngươi đánh động ta, ái chà! A! Ngươi, ngươi là ai?. Y chớp chớp mắt, mắng được nửa câu, mới phát hiện người đứng trước mặt y toàn thân đầy máu.

Nam Tễ Vân xin lỗi nói :

– Lão đại gia, không phải ta cố ý đánh thức ngươi dậy, bạn ta bị thương, mượn ngôi miếu này nghỉ ngơi một lúc. Lão ăn mày nói :

– Tại sao bị thương?.

Thiết Ma Lặc nói :

– Gặp phải cường đạo. Lão ăn mày hừ một tiếng, nói :

– Thế đạo thật càng lúc càng không ra sao, cách Trường An chỉ ba mươi dặm mà cũng có cường đạo đả thương người. Thiết Ma Lặc vốn biết nói như thế thì không dễ làm người ta tin, nhưng ngoài cách ấy ra, y còn biết nói thề nào? May là lão ăn mày cũng chỉ càu nhàu vài câu, chứ hoàn toàn không hỏi gì thêm.

Nam Tễ Vân lúc ấy cũng đã vô cùng nệt mỏi, xương cốt toàn thân đều rã rời, có điều còn khá hơn Thiết Ma Lặc một chút, y âm thầm để ý, chỉ thấy lão ăn mày kia hai mắt sáng rực có thần, hoàn toàn khác với đám ăn mày bình thường. Nam Tễ Vân ngấm ngấm hoảng sợ :

– Lão ăn mày này không biết là nhân vật thế nào, nếu là kẻ xấu xa thì mình thật không còn sức lực mà đánh nhau với y!. Lão ăn mày nhìn qua Đoàn Khuê Chương một cái, nói :

– Thương thế của quý hữu không nhẹ đâu!. Nam Tễ Vân nói :

– Đúng thế, bị bọn cường đạo táng tận lương tâm kia chém mười mấy đao. Lão ăn mày nói :

– Khí trời rất lạnh, quý hữu đã bị trọng thương, e càng nặng thêm. Ta giúp các ngươi đốt đống lửa này lên, mọi người sưởi ấm một chút. Nam Tễ Vân thấy y rất hòa hoãn, cũng hơi yên tâm, nói :

– Đa tạ lão trượng! Ta đang định hỏi mượn ngươi mấy thanh củi để dùng.

Lão ăn mày nói :

– Đôi bên đều là người gặp nạn, không cần khách khí., ngừng lại một chút rỗi cười nói :

– Mấy thanh củi này không đủ để dùng. Thổ địa công công chắc cũng phù hộ người tốt, chẳng bằng chúng ta mượn cái hương án của y mà dùng, chắc lão nhân gia người cũng không trách móc gì đâu!. Rồi nhấc cây quải trượng đen bóng lên, chát một tiếng, lập tức đập cái hương án vỡ tan tành. Thiết Ma Lặc nói :

– Lão nhân gia khỏe thật. Lão ăn mày cười nói :

– Già rồi, vô dụng rối, có điều cái hương án này chắc cũng rất lớn tuổi nên vừa gõ khẽ một cái, nó đã tan tành!.

Đống lửa được thêm củi khô, lách tách cháy lên, lão ăn mày nói:

– Ở đây ta còn nửa hồ lô rượu, mỗi người uống một hớp cho tỉnh!.

Nam Tễ Vân nói :

– Sao lại uống rượu của lão nhân gia người chứ. Lão ăn mày cười lớn nói :

– Ta suốt đời chỉ ăn không uống không của thiên hạ, nếu giữ gìn thật nghiêm ngặt như các ngươi thì cũng không cần làm ăn mày nữa, nào nào nào, uống hết thì lão khiếu hóa (lão ănmày) lại đi xin. Nam Tễ Vân đành cầm cái hồ lô sơn đỏ của y, mở nút ra ngửi một cái, y là người lão luyện giang hồ, ngửi thấy hoàn toàn không có mùi cay xộc vào mũi, đoán là không có vị thuốc gì, bên yên tâm hớp một hớp. Lão ăn mày cười nói :

– Rượu ngon không?. Nam Tễ Vân nói :

– Ngon, ngon? Thơm lắm, thơm lắm!. Thật ra không chỉ thơm mà thôi, uống vào xong, không đầy khoảnh khấc toàn thân đã ấm hẳn lên, còn công hiệu hơn rượu thuốc Thập toàn đại bổ, mà trên lưỡi lại không thấy có chút mùi thuốc nào, Nam Tễ Vân ngấm ngầm kinh ngạc, tinh thần đã khôi phục được vài phần, nghĩ thầm :

– Lão ăn mày này rốt lại là kẻ có lòng, mình ngờ oan cho y rồi.

Thiết Ma Lặc cũng hớp hai hớp, luôn miệng khen ngon. Lão ăn mày cười nói :

– Các ngươi đúng là kẻ biết người biết của. Đây là rượu ngon trăm năm, lão khiếu hóa ta khó khăn lắm mới lấy được đấy. Cho người bạn bị thương của các ngươi uống một hớp đi. Nam Tễ Vân lúc ấy đã biết công hiệu của rượu này, bèn nói :

– Đa tạ lão trượng ban rượu, chỉ là người bạn này của ta bị thương quá nặng, bây giờ còn hôn mê chưa tỉnh. Lão ăn mày nói :

– Chuyện đó dễ., rồi bóp khẽ vào hàm Đoàn Khuê Chương một cái khiến răng y hé ra, cầm hồ lô rượu róc vào miệng y.

Lão ăn mày khẽ vuốt vào lưng Đoàn Khuê Chương một cái, Đoàn Khuê Chương đột nhiên lật người lại, ọe một tiếng, phun ra một ngụm máu, máu đen như mực vô cùng hôi hám.

Thiết Ma Lặc bất kể hai chân tê dại, lập tức nhảy bật lên quát:

– Ngươi, ngươi làm gì thế. Nguyên là y đã nhìn thấy lão ăn mày là một dị nhân, lúc ấy thấy lão ăn mày vuốt vào lưng Đoàn Khuê Chương một cái, Đoàn Khuê Chương lập tức ọe máu bầm ra, nhất thời không kịp suy nghĩ, chỉ cho rằng lão ăn mày có ý không tốt, ngầm hạ độc thủ, vì thế mắng lớn, nhưng vừa nói một chữ :

– Ngươi., Nam Tễ Vân đã đưa mắt ra hiệu cho y im lặng, nên lập tức đổi câu mắng ra thành câu hỏi.. Nam Tễ Vân nói :

– Đa tạ lão trượng, máu bầm của y đã ọe ra được, thì không đến nỗi có nỗi lo về tính mạng. Thiết Ma Lặc lúc ấy mới biết lão ăn mày có ý cứu người, cảm thấy xấu hổ.

Nam Tễ Vân ôm chặt Đoàn Khuê chương, kề vào tai y gọi :

– Đại ca, tỉnh dậy, tiểu đệ Ở đây, huynh nghe thấy không?. Đoàn Khuê Chương lại ọe ra một búng máu, kêu lớn :

– Sử đại ca, Sử đại ca, ngươi đừng đi, chờ chờ ta với!. :

– An Lộc Sơn, An Lộc Sơn, ngươi, ngươi tàn ác lắm! Đoàn Khuê Chương ta có chết cũng biến thành quỷ bắt ngươi!. Nam Tễ Vân nghe thấy hốt hoảng, liên tiếp gọi :

– Đoàn đại ca, là ta đây, là ta đây..ngươi không nhận ra ta sao?. Đoàn Khuê Chương thanh âm nhỏ dần, lại đứt quãng gọi thêm mấy tiếng :

– Sử đại ca., mắng An Lộc Sơn, giống như người bị sốt cao nói mê.

Lão ăn mày nghe y mắng ra ba chữ An Lộc Sơn, kế lại nói tên họ ra mình, hai mắt đột nhiên phát ra tinh quang, trên mặt lộ vẻ kinh ngạc, chỉ vào bãi máu đen Đoàn Khuê Chương ọe ra nói :

– Máu đã bắt đầu có màu đỏ, không nên để y oẹ ra nữa, bây giờ nên để y ngủ ngon một giấc. Rồi xỉa ngón tay như mũi kích, nhè nhẹ điểm vào hai chỗ huyệt đạo trên người Đoàn Khuê Chương, câu nói mê của Đoàn Khuê Chương lập tức tắt ngang, bằn bặt thiếp đi trong lòng Nam Tễ Vân.

Lão ăn mày lúc ấy mới thở phào một hơi, cười nói :

– May mà còn nửa hồ lô rượu giúp y đẩy máu bầm ra, nếu không thì lão khiếu hóa ta cũng không sao chữa trị.

Nam Tễ Vân là một đại hành gia võ học, nhìn thấy thủ pháp điểm huyệt của lão ăn mày mới rồi tuy giống như nhẹ nhàng hời hợt, không hề dừng sức, nhưng thật ra đã ẩn chứa huyền công vô cùng hùng hậu, nên mới nắm bắt được đúng lúc Đoàn Khuê Chương đã phun hết máu bầm ra, sắp phun máu tươi thì lập tức cầm ngay lại.

Thần công điểm huyệt chỉ huyết ấy, Nam Tễ Vân tự thấy mình không sao bằng được.

Nam Tễ Vân lúc ấy không còn ngờ vực gì nữa, vội nói :

– Đa tạ lão tiền bối ra tay cứu giúp, còn xin lão tiền bối cho biết cao tính đại danh. Lão ăn mày cười nói :

– Ngươi không cần vội vàng hỏi tên họ lai lịch của ta. Để ta hỏi các ngươi trước, dường như kẻ thù của các ngươi không phải là cường đạo, mà là An Lộc Sơn phải không?.

Thiết Ma Lặc nói :

– Không sai, chính là con heo mập chết đâm chết chém ấy đã hại Đoàn thúc thúc của ta tới nông nỗi này. Đầu tiên ta không biết lão tiền bối là người thế nào nên bịa đặt như thế, xin lão tiễn bối tha tội. Lão ăn mày cười nói :

– Ngươi nói cũng không sai, An Lộc Sơn tuy là Tiết độ sứ ba trấn nhưng thật ra cũng chẳng khác cường đạo bao nhiêu.

Thiết Ma Lặc đang định cảm tạ, nhưng lúc ấy y đã thở ra một hơi, tinh thần không chi trì nổi, cảm thấy đầu gối đau buốt, nguyên là mới rồi y dùng sức nhảy bật lên, chỗ bị thương lại trặc khớp, đau tới mức suýt nữa bật tiếng kêu lớn.

Lão ăn mày nói :

– Tiểu ca, đừng dộng đậy, lão khiếu hóa ta ngoài chuyện ăn uống cũng biết vài thủ thuật xoa bóp, nếu ngươi tin ta thì để ta giúp cho.

Thủ thuật xoa bóp của lão ăn mày quả nhiên rất thần kỳ, y nắm vào khớp chân Thiết Ma Lặc khẽ xoa bóp vài cái lại giúp y suy huyết quá cung, Thiết Ma Lặc quả nhiên hết hẳn đau đớn, Thiết Ma Lặc vươn tay duỗi chân hô hô cười rộ nói :

– Lão nhân gia người quả thật là diệu thủ hồi xuân, vô cùng linh nghiệm, bây giờ ta có thể tiếp tục đánh nhau được rồi.

Lão ăn mày lại vẻ mặt nghiêm trang, nói :

– Không được! Đừng nói không thể đánh nhau, mà cả cứ động cũng không thể cử động bừa bãi.

Hai người các ngươi bị thương không nhẹ, theo mạch tương mà xem, dường như các ngươi từ trên chỗ rất cao nhảy xuống, nội tạng đều bị chấn động, bây giờ ta chỉ có thể chữa trị ngoại thương cho các ngươi, còn nội thương thì các người phải tự mình điều trị. Ờ, tiểu ca, ngươi biết công phu Thổ nạp không?. Nam Tễ Vân nghe y nói giống như chính mắt nhìn thấy, ngấm ngầm khen lạ, lúc ấy mới biết lão ăn mày võ công cái thế, mà y thuật cũng thần kỳ. Y chỉ hỏi Thiết Ma Lặc có biết công phu Thổ nạp không, đó là vì đã sớm nhìn thấy Nam Tễ Vân là người có nội công thâm hậu.

Thiết Ma Lặc nói :

– Có biết một chut. Lão ăn mày nói :

– Được bây giờ các ngươi tinh thần đã khôi phục, có thể Thổ nạp một lúc. Cứ bình tâm tĩnh khí, bất kể phát sinh chuyện gì cũng mặc kệ, phải hít thở tới mức nhìn mà không thấy, lắng mà không nghe, được rồi, thời gian không còn nhiều nữa, các ngươi tự mình luyện công đi.

Nam Tễ Vân lúc ấy mới biết sở dĩ lão ăn mày không hỏi chuyện bọn y trải qua, cũng không chịu nói lai lịch của mình, vốn là muốn dành thời gian cho bọn y khôi phục công lực, xem ra cũng đã tính tới việc An Lộc Sơn sẽ cho truy binh đuổi theo.

Nam Tễ Vân nội công thâm hậu, ngồi Thổ nạp một lúc, kinh mạch đã thông suốt, lục phủ ngũ tạng đã phục hồi nguyên vị, đúng lúc ấy chợt nghe bên ngoài có tiếng người ngựa nhốn nháo, có người nói:

– Ngôi miếu này có ánh lửa, chúng ta vào xem thử.

Nam Tễ Vân tuy đã biết lão ăn mày kia là bậc dị nhân, nhưng lúc ấy cũng bất giác trong lòng rúng động, công lực của y còn chưa hoàn toàn khôi phục, không biết y có chống được họ không.

Ý nghĩ còn chưa dứt, bọn người kia đã bước vào cửa miếu, quả nhiên là truy binh của An Lộc Sơn, vả lại người dẫn đầu lại là Vũ Văn Thông và Lệnh Hồ Đạt!

Vũ Văn Thông ngoài việc gọi Lệnh Hồ Đạt cùng đi, còn dắt theo hai cao thủ trong đại nội, một người tên Ngưu Thiên Cân, một người tên Long Vạn Quân, tuy không bằng được ba đại cao thủ Vũ Văn Thông, Uất Trì Bắc và Tần Tương nhưng cũng được xếp vào Tứ đại Kim Cương trong nội đình, võ công còn cao cường hơn Lệnh Hồ Đạt.

Trong sơn cốc kia chỉ có một đường ra, theo đường đuổi tới, cuối cùng họ đã phát hiện ra dấu vết của Nam Tễ Vân và Thiết Ma Lặc.

Vũ Văn Thông một ngựa đi đầu, xông vào trong miếu, chợt nghe một giọng nói già nua mắng :

– Bọn khốn nạn ở đâu ra thế này, làm lão khiếu hóa ta trong ngôi miếu hoang này cũng không được yên tĩnh?.

Vũ Văn Thông cả giận, đang định phát tác, chợt thấy Lệnh Hồ Đạt mặt xám như tro, run rẩy ấp úng nói :

– Tiểu bối không biết đại giá của lão nhân gia người ở đây, tiểu bối thỉnh an người.

Lão ăn mày kia lông mày dựng ngược, lạnh lùng nói Thằng tiểu tử Lệnh Hồ Đạt ngươi run bắn cả người mà vẫn còn nhận ra ta à?., quải trượng chỉ ra môt cái, quát lớn :

– Tiểu tử ngươi đã nhận ra ta, chắc cũng nhớ được tính nết của ta, sao còn chưa cút đi cho mau.

Lệnh Hồ Đạt sợ tới mức trên mặt không còn chút sắc máu, luôn miệng nói :

– Vâng, vâng!., co cổ định chạy, Vũ Văn Thông tức giận không sao kìm được, chụp y lại, lúc ấy Lệnh Hồ Đạt mới sực nhớ ra bên cạnh có Vũ Văn Thông, vừa thẹn, vừa cuống, vừa kinh hoàng, đỏ bừng mặt nói :

– Vũ Văn đại nhân, vị lão tiền bối này là Tây Nhạc thần long Hoàng Phủ tiên sinh.

Câu ấy vừa buông ra, Vũ Văn Thông cũng không kìm được đột nhiên hoảng sợ. Nguyên lão ăn mày này tên Hoàng Phi Tung, thích du hý phong trần, được kể là một trong Gianghố thất quái, vì y là cao đồ phái Hoa Sơn, hành sự lại như con thần long thấy đầu mà không thấy đuôi, nên người ta gọi là Tây Nhạc thần long. Lệnh Hồ Đạt vốn xuất thân hắc đạo, đại khái hơn mười năm trước có lần y thêm sư phụ đánh cướp thương khách, sư phụ y lòng dạ độc ác thu đoạn tàn nhẫn, cướp xong tiền còn định giết người, lại vừa khéo đụng phải Hoàng Phủ Tung, sư phụ y bị đánh ba mươi trượng, lúc ấy y còn chưa có tiếng tăm gì, chỉ là nhân vật hạng hai trong hắc đạo, Hoàng Phủ Tung khoan hồng trách phạt chỉ đánh y năm trượng, nhưng tuy thế y cũng phải dưỡng thương mất nửa năm.

Vũ Văn Thông lúc ấy bước vào miếu, vừa đưa mắt qua một vòng đã nhìn thấy tất cả tình hình bên trong, thấy Nam Tễ Vân và Thiết Ma Lặc đang ngồi vận công, Đoàn Khuê Chương thì đang nằm dưới đất. Vũ Văn Thông tuy có chút sợ sệt Hoàng Phủ Tung, nhưng con mồi đang ở trước mắt, y lại há chịu buông tha? Trong lòng nghĩ thầm:

– Đoàn Khuê Chương sắp chết, Nam Tễ Vân xem ra cũng đã bị trọng thương, cho dù lão ăn mày này võ công cao cường thì mình và hai người Ngưu, Long liên thủ cũng không tin không đối phó được với y.

Huống hồ những truyền thuyết về võ công của y đều là lời đồn đại, chưa chắc đã lợi hại tới mức ấy.

Vũ Văn Thông là nhất lưu cao thủ, bọn Lệnh Hồ Đạt vốn không thể sánh được, tuy y bị tiếng tăm Tây Nhạc thần long làm cho rúng động nhưng cũng không sợ sệt gì lắm, lúc ấy lại bước tới một bước, ôm quyền nói :

– Hoàng Phủ tiên sinh, chúng ta nước giếng không phạm nước sông, tại hạ không có ý làm phiền lão nhân gia người, chỉ là phụng thánh chỉ tróc nã khâm phạm, không thể không tới, chỉ xin lão nhân gia người để cho tại hạ được hoàn thành sứ mạng. Vũ Văn Thông bình thời trong mắt không người, lần này quả thật là lần đầu trong đời y ăn nói khách khí với người khác.

Hoàng Phủ Tung lại không nhận món nhân tình ấy của y hai mắt trợn lên, cười nhạt nói :

– Ờ, chuyện này mới là lạ đây! Lão khiếu hóa ta tuy có lúc cũng không khỏi xin đểu, nhưng trước nay chưa từng làm những chuyện như xô đổ long sàng, giết chết thái tử, tại sao đột nhiên lại trở thành khâm phạm?.

Vũ Văn Thông cố nên giận nói :

– Không phải nói ngươi, ta là nói ba vị bằng hữu này. Họ phóng hỏa đốt nhà An Tiết độ sứ, lại sát thương rất nhiều nội đình thị vệ, ta làm Long kỵ đô úy, thống suất thị vệ trong cung, không thể không mời hai vị bằng hữu này về Bắc nha hỏi cho minh bạch.

Hoàng Phủ Tung gãi gãi đầu, nói :

– Thế này thì làm lão khiếu hóa lẫn lộn mất rỗi. Vũ Văn Thông nói :

– Ta nói rất rõ ràng, có gì mà lẫn lộn?. Hoàng Phủ Tưng nói :

– Ngươi nhìn xem, họ bị thương tới mức như thế, vị bằng hữu họ Đoàn kia không biết còn có giữ được tính mạng hay không nữa? Theo như họ nói, họ đã gặp phải một bọn cường đạo cướp của giết người, mới bị thương tới mức như thế. Ngươi lại nói họ là khâm phạm, họ chỉ là hai người lớn, một đứa trẻ, lại dám xông vào phủ An Lộc Sơn phóng hỏa giết người à? Hừ, chuyện này thì ta không thể tin được, trừ phi ngươi đưa thánh chỉ ra đây cho ta xem thử.

Vũ Văn Thông tức giận nói :

– Ta thấy ngươi là một bậc tiền bối võ lâm mới khách khí với ngươi ba phần, ngươi lại còn lằng nhằng với ta? Vụ án này là họ vừa gây ra tối nay, trong lúc vội vàng, làm sao xin được thánh chỉ? Ngươi cứ nhìn lại y phục của ta. chẳng lẽ ta là Long kỵ đô úy giả à?.

Hoàng Phủ Tung cười nhạt nói :

– Khó nói lắm, khó nói lắm! Thời buổi bây giờ có rất nhiều cường đạo giả làm quan phủ, huống hỗ mới rồi ngươi nói là có thánh chỉ, bây giờ lại không sao lấy ra, rõ ràng là bịa đặt. Ngươi đã bịa đặt một lần, lão khiếu hóa không tin ngươi được.

Vũ Văn Thông tức giận tới mức bảy khiếu phun khói, nhưng rốt lại vẫn biết đối phương là người có thân phận, đang định chiếu theo quy củ giang hồ khiêu chiến, hai cao thủ đại nội đi theo đã không nén được nữa, Hoàng Phủ Tung mười năm nay lại không lộ mặt trên giang hỗ, hai người này căn bản không biết tới tiếng tăm của y.

Hoàng Phủ Tung nói chưa dứt, hai người đã rút binh khí ra, Ngưu Thiên Cân sử dụng Tuyên hoa đại phủ, Long Vạn Quân thì sử dụng Kim đao sống dày, nhất tề quát lớn :

– Lão ăn mày ngươi cũng có tư cách xem thánh chỉ à? Ha ha, ngươi muốn thánh chỉ, thì thánh chỉ đây!.

Hoàng Phủ Tung vung ngang quải trượng ra, chỉ nghe tiếng choang choang vang rền ù tai, Hoàng Phủ Tung quát :

– Loại thánh chỉ này không dùng được?. Chỉ thấy giữa tia lửa bắn ra tung tóe, thân hình to như con trâu nước của Ngưu Thiên Cân và Long Vạn Quán đã bị hất tung ra ngoài cửa miếu!

Vũ Văn Thông vô cùng hoảng sợ, nên biết hai người Ngưu, Long là đại lực sĩ nổi tiếng, luyện tập công phu ngoại gia tới mức cực kỳ cương mãnh, ngọn Tuyên hoa phủ của Ngân Thiên Cân nặng tới năm mươi sáu cân, thanh Kim đao sống dày của Long Vạn Quân hơi nhẹ hơn, nặng bốn mươi ba cân, loại binh khí trầm trọng ấy chém xuống lại không làm quải trượng của Hoàng Phủ Tung sứt mẻ chút nào, mà ngược lại đều bị mẻ một miếng lớn, vả lại chẳng qua chỉ trong một chiêu mà hai người Ngưu, Long không những binh khí bị sứt mẻ mà cả thân hình cũng bị hất ra ngoài cửa miếu! Vũ Văn Thông lúc ấy mới biết Tây Nhạc thân long quả nhiên danh bất hư truyền, không những cây quải trượng của y là một bảo vật, mà thủ pháp mượn lực đả lực y vừa bộc lộ cũng đã đạt tới cảnh giới thượng thặng!

Vũ Văn Thông sắc mặt xám xanh, đưa cánh tay ra, trầm giọng nói :

– Bội phục, bội phục! Gặp phải lão tiền bối, món giao tình này Vũ Văn Thông ta xin nhận vậy.

Hoàng Phủ Tung ném quải trượng xuống, cười nói :

– Đa tạ thịnh tình của Vũ Văn Đô úy., thản nhiên đưa tay ra. Vũ Văn Thông là đà hành gia điểm huyệt, song chưởng vừa chạm nhau, y đã dùng thủ pháp Điểm huyệt độc môn đưa kình lực lên đầu tay, ngón trỏ; ngón giữa và ngón vô danh cùng hạ xuống, điểm trúng ba mạch Thốn, Quan, Xích trên cổ tay Hoàng Phủ Tung! Hoàng Phủ Tung hững hờ cười nói :

– Không eần khách khí, xin mời. Vũ Vãn Thông lại cảm thấy chỗ ngón tay chạm vào lại như một tấm sắt nung đỏ rực, đau buốt tận tim, không kìm được bật lên một tiếng ái chà, vội vàng buông tay nhảy lùi ra cửa, kinh hoàng tháo chạy, có điều so với hai người Ngưu Long thì cũng ít thảm hại hơn.

Thiết Ma Lặc nhìn thấy mặt mày hớn hở, không kìm được kêu lên :

– Khoái thật, khoái thật! Đánh hay thật! Ối chao!., nguyên là căn bản nội công của y nông cạn, đang lúc tụ khí vào Đan điền, vì tâm tình khích động, chân khí đột nhiên rẽ đường, cơ hồ nghẹt thở.

Hoàng Phủ Tung nhướng mày lên, trách :

– Thằng nhóc nhà ngươi sao không nghe lời lão nhân gia ta, bảo ngươi đừng quản chuyện không đâu, ngươi lại cứ quản!., vừa trách móc vừa thi triển thủ thuật xoa bóp cho Thiết Ma Lặc, giúp y đưa chân khí về lại Đan điền.

Lúc ấy địch nhân đã chạy hết, ngôi miếu hoang hoàn toàn yên tĩnh, Hoàng Phủ Tung dùng cây quải trượng gạt gạt đống lừa, tựa hồ đang nghĩ ngợi chuyện gì đó, thỉnh thoảng nhìn nhìn ra cửa, chợt nói một mình :

– Sắp sáng hẳn rồi!.

Nam Tễ Vân lúc ấy đã khí thấu trùng quan, công lực đã sắp khôi phục hoàn toàn, nhìn thấy dáng vẻ Hoàng Phủ Tung có nét kỳ lạ, đang định nói chuyện vài câu với y, đột nhiên Hoàng Phủ Tung đứng thẳng người lên, trịnh trọng nói :

– Lát nữa bất kể là phát sinh chuyện gì, hai người các ngươi cũng không được dính vào đấy!. Y đã nói câu ấy một lần, bây giờ lại nói lại, nhưng giọng điệu còn nghiêm trọng hơn lần trước rất nhiều. Nam Tễ Vân trong lòng rúng động, nghĩ thầm :

– Tại sao y cứ dặn đi dặn lại thế ? Chẳng lẽ còn có chuyện gì bất ngờ phát sinh hay sao?.

Đúng là:

Truy binh vừa rút đang vui mừng,

Sóng trước chưa tan sóng sau tới.

Muốn biết chuyện sau thế nào, xin nghe hạ hồi phân giải.