Chương 15: Bốn mươi tám lộ hoa quyền

Hai người sóng vai đứng trong bóng tối lặng lẽ hồi lâu. Bỗng nghe trên mái ngói có tiếng động lách cách. Hồ Phỉ cả mừng, cho là Viên Tử Y đi rồi trở lại. Trong lúc nhất thời chàng không tự chủ được, buột miệng la lên:

– Cô… cô nương quay trở lại đó ư?

Bỗng nghe thanh âm nam tử ở trên nóc nhà nói vọng xuống:

– Hồ đại gia, xin quá bộ ra ngoài nói chuyện.

Hồ Phỉ nghe giọng nói đúng là giọng võ quan họ Nhiếp, kẻ quý kiếm như tính mạng.

Chàng đáp:

– Nơi đây trừ tại hạ cùng nghĩa muội ra, chẳng có người ngoài nào hết. Mời Nhiếp huynh vào đây uống chung rượu đã.

Tên võ quan họ Nhiếp này tên gọi Nhiếp Việt. Bữa trước Hồ Phỉ không hủy thanh kiếm của hắn, hắn vẫn đem lòng cảm kích. Lúc Viên Tử Y tỷ đấu cùng Tần Nại Chi, Vương Kiếm Anh, Chu Thiết Tiêu, hắn thấy Hồ Phỉ ngấm ngầm có ý bênh vực nàng nên thủy chung hắn không lên tiếng. Bây giờ nghe Hồ Phỉ nói vậy liền từ trên nóc nhà nhảy xuống nói:

– Hồ đại ca, một người bạn cũ của đại ca sai tiểu đệ đến mời đại ca qua đó nói chuyện.

Hồ Phỉ lấy làm lạ, hỏi:

– Bạn cũ của tại hạ ư? Ai vậy?

Nhiếp Việt đáp:

– Tiểu đệ đã vâng lệnh không được tiết lộ. Xin đại ca lượng thứ cho. Đại ca thấy mặt y sẽ biết ngay.

Hồ Phỉ liếc mắt nhìn Trình Linh Tố, nói:

– Nhị muội, muội ở đây chờ. Tiểu huynh thế nào cũng trở về trước khi trời sáng.

Trình Linh Tố xoay mình lấy thanh đơn đao xuống, hỏi:

– Đại ca có đem theo binh khí không?

Hồ Phỉ thấy Nhiếp Việt không đeo bảo kiếm, liền khẽ đáp:

– Đã là bạn cũ mời gặp, cũng chẳng cần phải mang binh khí.

Hai người theo cửa lớn mà đi. Ngoài cửa đã có cỗ xe song mã chờ sẵn. Cỗ xe mạ vàng, buông rèm sa, trông rất sang trọng.

Hồ Phỉ bụng bảo dạ:

– Chẳng lẽ đây lại là quỷ kế của Phụng Thiên Nam? Chuyến này mà chạm trán thì dù tay không cũng phóng chưởng đánh chết hắn.

Hai người lên xe, xa phu vung roi một cái, hai con tuấn mã cất vó chạy đi. Tiếng vó ngựa nện xuống đường phố lớn lát đá xanh vang lên lộp cộp, giữa đêm khuya yên tĩnh nghe càng rõ rệt. Nguyên trong thành Bắc Kinh ban đêm có lệ cấm không cho xe ngựa chạy, thế mà bọn binh đinh đi tuần vừa nhìn thấy ngọn đèn lồng màu hồng không để chữ treo trước cỗ xe ngựa đã vội nghiêng mình tránh sang bên đường, để cho xe vượt qua. Đi chừng nửa giờ, cỗ xe dừng lại trước một bức tường trắng rất lớn. Nhiếp Việt nhảy xuống trước, dẫn Hồ Phỉ tiến vào theo con đường nhỏ lát đá trứng ngỗng, đi tới một vườn hoa. Khu vườn này quy mô rộng lớn, cây cỏ rậm rạp, hoa lá xinh tươi, nào đình các, hành lang, nào giả sơn, ao hồ, xem không chán mắt. Giữa các tòa lâu các còn có treo đèn lồng phủ sa.

Hồ Phỉ ngấm ngầm lấy làm lạ, nghĩ bụng:

– Thằng cha Phụng Thiên Nam quả là thần thông quảng đại. Khu vườn này ít ra là phải vài trăm vạn lạng mới mua nổi. Hắn đã bóp nặn bóc lột ở trấn Phật Sơn được không ít tiền.

Rồi chàng lại chuyển ý, tự hỏi:

– Chỉ e đây vị tất đã là tên gian tặc họ Phụng. Hắn bất quá chỉ là một tên thổ hào ác bá ở Quảng Đông, thì làm sao lại sai khiến được một vị võ quan địa vị như Nhiếp Việt?

Chàng còn đang ngẫm nghĩ, Nhiếp Việt đã dẫn chàng qua tòa giả sơn lên cây cầu gỗ, tiến vào một tòa thủy các. Trong các có thắp hai ngọn đèn hồng trên bàn bày sẵn trà nước và bánh kẹo.

Nhiếp Việt hô:

– Quý hữu đã tới. Tiểu nhân xin chờ ở cửa ngoài.

Hắn nói rồi trở gót ra khỏi cửa. Hồ Phỉ thấy cách trần thiết trong tòa thủy các rất tinh vi thanh nhã, đầy vẻ phú quý. Tòa viện ở ngoài cửa Tuyên Võ đã hoa lệ rồi, nhưng so với căn tiểu các này thì hãy còn kém xa một trời.

Trên tường mé tây treo một bức “Thuyết Kiếm” của Trang Tử viết lối chữ khải, thự danh là Thanh Thân Vương, con trai Càn Long hoàng đế. Thiên văn tự này là ngụy tác của đời sau, không phải do Trang Tử viết. Hồ Phỉ không biết nhiều, bèn ngồi chờ. Được một lúc, buồn ngủ quá không biết làm gì, chàng bèn lầm nhẩm đọc. Nhờ văn tự đơn giản nên ý nghĩa cũng rõ ràng dễ đọc:

“Ngày trước Triệu Văn Vương thích kiếm, trong nhà thường có trên ba ngàn kiếm sĩ, tỷ đấu suốt ngày đêm, mấy trăm người bị thương…”

Chàng đọc tới đoạn:

“- Kiếm của thần đây: mười bước giết một người, ngàn dặm không dừng bước.

Nhà vua hài lòng, phán:

– Thiên hạ vô địch rồi vậy.

Trang Tử nói:

– Phàm kẻ học kiếm thì lấy chỗ trống để phô bày, dùng lợi để mở ra, phát ra sau mà đến trước…”

Hồ  Phỉ thẩm nhủ:

– Trang Tử tự xưng “mười bước giết một người, ngàn dặm không dừng bước” mà đã cho là thiên hạ vô địch thì e rằng hơi khoác lác. Nhưng các câu “lấy chỗ trống để phơi bày, dùng lợi đế mở ra, phát ra sau trà đến trước” thì đúng là tinh nghĩa của võ học. Không chỉ có kiếm thuật mới thế mà cả đao pháp, quyền pháp cũng có khác gì?

Bỗng nghe sau lưng có tiếng bước chân nhè nhẹ, mùi hương thoang thoảng đưa vào mũi. Hồ Phỉ quay đầu nhìn lại thấy một thiếu phụ dung nhan xinh đẹp, mình mặc áo sa màu lục nhạt, mỉm cười đang đi tới. Chính là Mã Xuân Hoa.

Hồ Phỉ chợt tỉnh ngộ:

– Té ra đây là phủ đệ của Phúc Khang An. Sao ta lại không nghĩ ra?

Mã Xuân Hoa tiến lại chúc câu “Vạn phúc”, cười nói:

– Hồ huynh đệ! Không ngờ chúng ta lại gặp nhau ở chốn kinh sư. Mời huynh đệ an tọa.

Nàng nói rồi tự tay rót nước, lại mở hộp mấy thứ bánh kẹo đặt ở trước mặt chàng, nói tiếp:

– Ta được tin Hồ huynh đệ cũng tới Bắc Kinh, lại càng mong nhớ muốn được gặp ngay để đa tạ ơn đức huynh đệ đã bảo vệ ta.

Hồ Phỉ thấy nàng cài trên mái tóc một bông nhung trắng chắc là để tang Từ Tranh, nhưng y phục lộng lẫy, vẻ mặt vui tươi, chẳng có vẻ gì là một quả phụ vừa mới mất chồng. Chàng hững hờ đáp:

– Thực ra là tiểu đệ đa sự. Nếu sớm biết Phúc đại soái phái người đến đón Từ đại tẩu thì không cần một phen kinh hãi ở trong thạch thất.

Mã Xuân Hoa nghe chàng gọi mình là “Từ đại tẩu”, thì hơi đỏ mặt lên, hỏi:

– Dù sao nghĩa khí thâm trọng của Hồ huynh đệ cũng khiến cho ta muôn vàn cảm kích.

Rồi nàng cất tiếng gọi:

– Vú nuôi ơi, vú đưa công tử gia ra đây.

Trong cửa phía đông, hai mụ bộc phụ vâng dạ rồi dắt hai đứa nhỏ ra. Hai đứa nhỏ nhìn Mã Xuân Hoa gọi:

– Má má!

Chúng chạy tới đứng tựa bên nàng. Hai đứa nhỏ này mặt mũi giống nhau, nước da trắng trẻo, trông rất khả ái. Chúng lại mặc áo gấm, đeo xâu chuỗi ngọc, càng làm tăng thêm vẻ xinh đẹp quý phái. Mã Xuân Hoa mỉm cười bảo chúng:

– Các ngươi còn nhận được Hồ thúc thúc không? Hồ thúc thúc đã giúp đỡ chúng ta trong khi đi đường, mau dập đầu trước Hồ thúc thúc.

Hai đứa nhỏ lạy phục xuống trước chàng, miệng hô:

– Hồ thúc thúc!

Hồ Phỉ đỡ chúng đứng dậy bụng bảo dạ:

– Bây giờ các ngươi hô ta một tiếng bằng “thúc thúc”, nhưng chẳng bao lâu nữa các ngươi sẽ trở nên những vị hoàng thân quốc thích oai phong hiển hách, làm sao còn nhớ một kẻ thảo mãng như ta?

Lại nghe Mã Xuân Hoa nói:

– Hồ huynh đệ, ta có một việc thỉnh cầu, chẳng hay huynh đệ có ưng thuận chăng?

Hồ Phỉ đáp:

– Đại tẩu! Ngày ấy ở Thương gia bảo, tiểu đệ bị Thương Bảo Chấn đánh đập, đại tẩu đã hết lòng cầu xin, ơn đó tiểu đệ vẫn luôn canh cánh bên lòng, chẳng bao giờ quên. Bữa trước ở trong thạch thất tuy tiểu đệ đã vì đại tẩu ra sức chống chọi quần đạo, nhưng cái đó chẳng qua là hành động của kẻ bộp chộp hồ đồ, không bõ làm trò cười cho người khác. Dù sao trong lòng tiểu đệ cũng coi đó là một phen báo đáp ơn đức. Nếu bữa nay tiểu đệ biết trước là đại tẩu mời gặp thì tiểu đệ đã không đến. Từ đây trở đi, chúng ta sang hèn khác biệt, chẳng còn liên can gì với nhau nữa.

Mấy lời rắn rỏi tỏ ra rất bất mãn với Mã Xuân Hoa.

Nàng thở dài nói:

– Hồ huynh đệ! Mã Xuân Hoa này tuy chẳng tử tế gì, nhưng cũng không phải là hạng người xu viêm phụ nhiệt. Câu “nhất kiến chung tình” quả là duyên nghiệt kiếp trước…

Nàng nói mỗi lúc một nhỏ đi, đầu từ từ cúi xuống. Hồ Phỉ nghe tới bốn chữ “nhất kiến chung tình” chợt nghe khơi dậy nỗi lòng, những mối bất mãn trong lòng giảm đi rất nhiều. Chàng hỏi:

– Đại tẩu muốn yêu cầu tiểu đệ làm việc gì? Thật ra, Phúc đại soái còn có việc gì không làm nổi mà đại tẩu phải cần đến tiểu đệ?

Mã Xuân Hoa đáp:

– Chỉ vì hai đứa nhỏ này mà ta cầu xin huynh đệ, mong huynh đệ nhận chúng làm đồ nhi để truyền thụ cho chúng một chút võ nghệ.

Hồ Phỉ cười ha hả, hỏi:

– Hai vị công tử gia đã vinh hoa phú quý thì còn học võ nghệ làm chi?

Mã Xuân Hoa đáp:

– Luyện cho thân thể tráng kiện cũng là một điều hay.

Nàng nói tới đây bỗng nghe ngoài các có thanh âm một người đàn ông cất lên hỏi:

– Xuân muội! Bây giờ mà còn chưa ngủ ư?

Mã Xuân Hoa mặt hơi biến sắc, trỏ vào tấm bình phong bên cạnh phòng, Hồ Phỉ liền ẩn mình vào sau đó. Chàng nghe tiếng giày lẹp xẹp, rồi một người tiến vào.

Mã Xuân Hoa hỏi:

– Sao Phúc đại soái cũng chưa ngủ? Không đi bầu bạn với phu nhân còn tới đây làm chi?

Người kia cầm lấy tay nàng, cười đáp:

– Hoàng thượng mời ta vào thương nghị quân vụ, cho đến bây giờ mới xong. Nàng trách ta đêm nay đến chậm quá phải không?

Hồ Phỉ nghe nói biết là Phúc Khang An, liền tự nhủ:

– Ta ẩn ở đây thật là dơ dáng. Hai người họ nói chuyện tình tứ với nhau cứ lọt vào tai mình, không muốn nghe cũng không được. Huống chi tình hình trước mắt giống như mình lén lút tới gặp Mã Xuân Hoa tại phòng riêng, nếu bị phát giác thì cả ta lẫn Mã Xuân Hoa còn chi là mặt mũi?

Chàng liền quan sát tình thế xung quanh để tính kế thoát thân.

Bỗng nghe Mã Xuân Hoa nói:

– Khang ca! Tiện thiếp giới thiệu một người với Khang ca. Người này Khang ca đã từng gặp rồi nhưng e rằng Khang ca đã quên mất.

Đoạn nàng cất tiếng gọi:

– Hồ huynh đệ! Huynh đệ ra tham kiếm Phúc đại soái đi!

Hồ Phỉ đành xoay mình bước ra, nhìn Phúc Khang An vái chào. Phúc Khang An không ngờ phía sau bình phong lại có nam nhân ẩn nấp. Hắn giật mình kinh hãi, ấp úng hỏi:

– Đây… đây… là…

Mã Xuân Hoa cười, đáp:

– Vị huynh đệ đây là Hồ Phỉ. Tuy y nhỏ tuổi nhưng võ công trác tuyệt. Các võ sĩ thủ hạ của Khang ca không có ai bằng y đâu. Chuyến này Khang ca phái người đón tiện thiếp về kinh, Hồ huynh đệ đã giúp đỡ thiếp rất nhiều. Vì thế tiện thiếp mời y tới. Khang ca tiếp đãi y bằng cách nào?

Phúc Khang An sắc mặt biến đổi, nghe Mã Xuân Hoa nói xong mới định thần lại, đáp:

– Ồ! Nên tạ ơn lắm! Nên tạ ơn lắm!

Rồi nhìn Hồ Phỉ vẫy tay nói:

– Người cứ về đi, vài hôm nữa ta sẽ triệu kiến.

Giọng nói có vẻ không bằng lòng. Giả tỷ không ở trước mặt Mã Xuân Hoa thì hắn đã trách mắng chàng về tội vô lễ dám tự tiện vào phủ đệ mà không quỳ xuống bái kiến.

Mã Xuân Hoa nói:

– Hồ huynh đệ…

Hồ Phỉ tức đầy ruột, trở gót ra ngay, miệng lẩm bẩm:

– Tự dưng vô cớ nữa đêm tới đây để phải một phen nhục nhã.

Nhiếp Việt đứng ngoài cửa chờ đợi, thè lưỡi ra khẽ hỏi:

– Phúc đại soái vừa vào, đại ca đã thấy chưa?

Hồ Phỉ đáp:

– Mã cô nương giới thiệu tại hạ và yêu cầu Phúc đại soái tạ ơn gì đó.

Nhiếp Việt vui mừng nói:

– Chỉ cần Mã cô nương nói cho một lời tất Phúc đại soái phải nhìn Hồ huynh bằng con mắt khác. Ngày sau tiểu đệ được theo chân Hồ đại ca thực hay biết chừng nào!

Hắn rất khâm phục võ công và nhân cách của Hồ Phỉ. Mấy câu này hắn nói thật lòng. Hai người theo đường cũ đi ra. Vừa tới bên ao sen cách đại môn chưa xa, bỗng nghe tiếng bước chân vang lên, mấy người chạy nhanh đuổi theo, miệng hô:

– Xin Hồ đại gia hãy dừng bước!

Hồ Phỉ ngạc nhiên đứng lại, nhìn thấy bốn tên võ quan. Người đi trước tay cầm một cái hộp gấm dâng lên, nói:

– Mã cô nương đưa lễ vật này đến tặng Hồ đại gia. Xin đại gia thu nhận cho.

Hồ Phỉ trong lòng đang bực bội liền đáp:

– Tại hạ vô công không dám thụ lộc, không dám nhận lãnh.

Người kia nói:

– Mã cô nương đã có thịnh ý, Hồ đại gia bất tất phải khách khí làm chi.

Hồ Phỉ đáp:

– Nhờ ông bạn về trình lại Mã cô nương món hậu ý của cô, Hồ  mỗ xin tâm lãnh.

Dứt lời chân trở gót đi ngay. Tên võ quan kia chạy theo, lộ vẻ bồn chồn, nói:

– Hồ đại gia! Đại gia mà không chịu thu nhận, nhất định Mã cô nương trách tội tiểu nhân. Nhiếp đại ca! Xin đại ca khuyên Hồ đại ca dùm cho. Tiểu đệ vâng lệnh của Mã cô nương…

Hồ Phỉ bụng bảo dạ:

– Coi gã này chân bước mau lẹ, bộ pháp ổn định hiển nhiên là một tay cao thủ. Tội gì vì mấy chữ công danh lợi lộc mà lại cam tâm làm nô tài cho kẻ khác?

Nhiếp Việt đón lấy cái hộp gấm ở trong tay tên võ quan. Hắn nhấc thấy cái hộp rất nặng thì chắc là bên trong dựng những món quý báu, liền tươi cười nói:

– Hồ đại ca! Những lời người anh em đây nói đều là tình thực. Nếu y bị Mã cô nương quở trách về vụ này thì rất nguy hại đến tiền đồ. Đại ca làm phước thu nhận để y về phúc trình.

Hồ Phỉ tự nhủ:

– Nể mặt ngươi, ta thu nhận món này để chu cấp cho kẻ nghèo cũng tốt.

Chàng liền mở hộp xem, thấy trong tấm đoạn hồng vuông vắn gói một vật gì đó, bốn góc có hai sợi dây buộc.

Chàng cau mày hỏi:

– Cái gì thế này?

Tên võ quan đáp:

– Tiểu nhân không rõ.

Hồ Phỉ tự hỏi:

– Phải chăng món lễ này là nguyên một khối?

Chàng liền thò tay cởi giây buộc. Đột nhiên nghe đánh “cách” một tiếng, nắp hộp đậy mạnh lại, kẹp chặt lấy hai tay Hồ Phỉ. Chỉ trong chớp mắt, Hồ Phỉ đã thấy đau thấu ông bà ông vải, xương cổ tay cơ hồ sắp gãy rời ra. Nguyên hộp này đúc bằng thép ròng, bên trong giấu một cái lưỡi gà cực mạnh và rất tinh xảo. Ngoài hộp bọc gấm nên không thể nhận ra được.

Nắp hộp xiết mỗi lúc một chặt thêm. Hồ Phỉ vội vận khí ra cổ tay để chống chọi. Nếu nội lực chàng kém một chút thì e rằng cả hai cổ tay đều bị gãy cả rồi. Hồ Phỉ chỉ còn cách nín hơi vận khí không dám lơ là.

Bốn tên võ quan thấy Hồ Phỉ trúng kế lập tức rút chủy thủ ra. Hai mũi dí vào trước ngực, hai mũi dí vào sau lưng.

Nhiếp Việt kinh hãi đến ngẩn người, vội hỏi:

– Làm… làm gì thế này?

Tên võ quan đứng đấy đáp:

– Phúc đại soái có lệnh tróc nã tên gian đồ Hồ Phỉ.

Nhiếp Việt hỏi:

– Hồ đại ca là khách quý do Mã cô nương mời đến, sao lại đối đãi bằng cách này?

Tên võ quan kia cười lạt, nói:

– Nhiếp đại ca, ngươi đi mà hỏi Phúc đại soái. Bọn ta là kẻ đương sai làm sao biết được nhiều chuyện?

Nhiếp Việt sửng sốt nói:

– Hồ đại ca cứ yên tâm, vụ này bên trong tất có sự hiểu lầm. Tại hạ chạy đi báo cho Mã cô nương hay, nhất định cô sẽ tìm cách cứu đại ca.

Tên võ quan kia vội quát:

– Dừng lại! Đây là mật lệnh của Phúc đại soái, không được tiết lộ phong thanh cho Mã cô nương hay biết. Ngươi có được mấy cái đầu?

Nhiếp Việt trán toát những giọt mồ hôi to bằng hạt đậu. Hắn nghĩ bụng:

– Cái hộp gấm này do ta tự tay đưa tới Hồ đại ca, hóa ra ta thành kẻ tiểu nhân gian trá? Nhưng đây là mật lệnh của Phúc đại soái thì làm sao kháng lệnh được?

Tên võ quan khẽ đưa lưỡi chủy thủ vào một chút, mũi đao đâm rách áo Hồ Phỉ vào đến da thịt. Hắn quát lớn:

– Hãy đi theo bọn ta!

Cái hộp sắt kia là do một tên thợ Tây dương khéo tay chế ra, bên trong đặt lò xo cực kỳ tinh xảo. Lớp gấm hai bên hộp vừa bóc ra liền chia lưỡi đao rất sắc. Nguyên hai bên nắp hộp là hai thanh lợi đao.

Nhiếp Việt thấy Hồ Phi tay chảy máu tươi sắp tổn thương đến gân cốt, liền nghĩ bụng:

– Dù Hồ đại ca phạm tội tày đình cũng thể dùng thủ đoạn đê hèn này để đối phó được.

Hắn đối với Hồ Phỉ vẫn một lòng kính ngưỡng, mà bây giờ trông thấy thảm trạng do chính mình gây ra thì rất xấu hổ. Đột nhiên, hắn lách ngón tay vào khe hộp, dùng lực cạy mạnh một cái, nắp hộp mở ra, hai tay Hồ phỉ được tự do.

Tên võ quan cầm đầu thấy thế liền đâm mũi chủy thủ tới. Võ công Nhiếp Việt còn cao thâm hơn tên võ quan, nhưng vì hai tay hắn còn kẹt trong hộp sắt nên không có cách nào tránh được. Lưỡi đao đâm sâu vào ngực, Nhiếp Việt rú lên một tiếng thê thảm rồi lập tức ngã lăn ra chết.

Trong khoảng thời gian chớp nhoáng này, Hồ Phỉ hít một hơi chân khí hóp bụng co lưng vào mấy tấc rỏi nhảy vọt lên. Ba thanh chủy thủ đâm thẳng xuống. Hai lưỡi đưa vào quãng không. Còn một lưỡi đâm trúng đùi bên phải chàng thành một lằn máu. Giữa lúc tính mạng lâm nguy trong tích tắc, Hồ Phỉ còn khoan dung thế nào được? Chân phải chàng đá về phía trước, chân trái móc đằng sau. Người chàng còn lơ lửng trên không đã đá chết hai tên võ quan.

Tên võ quan đâm chết Nhiếp Việt không chờ Hồ Phỉ hạ mình xuống đất đã ra chiêu “Kinh Kha hiến đồ” đâm vào bụng Hồ Phỉ nhanh như chớp. Chiêu thức cực kỳ lợi hại. Hồ Phỉ vung chân trái ra, đằng sau đá ngược lên trúng vào ngực đối phương. Tên võ quan rớt bõm xuống ao sen, gân cốt đều gãy nát chắc không thể sống nổi.

Còn tên võ quan nữa thấy tình thế không ổn liền la hoảng “Ối cha!” rồi xoay người toan bỏ chạy. Hồ Phỉ tung mình rượt theo, nắm lấy cổ hắn nhấc bổng lên. Chàng vung chưởng toan đập xuống đỉnh đầu hắn, nhưng dưới ánh trăng chàng thấy khóe mắt hắn lộ vẻ van xin thì không khỏi mềm lòng nghĩ bụng:

– Hắn với ta không thù không oán, chẳng qua hắn vâng lệnh Phúc Khang An mà thôi. Ta hà tất phải giết hắn làm chi?

Chàng nắm cổ hắn lôi đến phía sau hòn giả sơn, khẽ quá:

– Tại sao Phúc Khang An lại muốn bắt ta?

Tên võ quan sắc mặt lợt lạt, ấp úng đáp:

– Thực… thực tình tiểu nhân không rõ.

Hồ Phỉ lại hỏi:

– Bây giờ hắn ở đâu?

Võ quan đáp:

– Phúc đại soái… ở trong thủy các của Mã cô nương đi ra… đại soái truyền lệnh cho bọn tiểu nhân rồi lại… lại quay vào.

Hồ Phỉ điểm vào á huyệt hắn, rồi bảo:

– Ta tha mạng cho ngươi. Sáng mai có người hỏi tới, ngươi hãy nói là gã họ Nhiếp do ta hạ sát. Nếu ngươi tiết lộ vụ này để liên lụy đến gia đình y, ta sẽ giết sạch toàn gia nhà ngươi không chừa một mống.

Tên võ quan không nói được, chỉ gật đầu lia lịa.

Hồ Phỉ ôm thi thể Nhiếp Việt giấu vào trong một hốc đá của hòn giả sơn. Chàng quỳ lạy bốn lạy, rồi đá hai xác chết kia vào trong bụi cỏ rậm. Chàng lại xé vạt áo buộc vết thương hai cổ tay và trên bắp chân. Vết thương trên đùi tuy không nặng lắm nhưng rất dài khiến Hồ Phỉ không nén được giận, liền lượm một thanh chủy thủ đi tới thủy các.

Hồ Phỉ biết trong phủ Phúc Khang An rất đông thị vệ, không dám coi thường. Chàng để ý nhìn sau gốc cây lớn, trong hòn giả sơn và những bụi hoa không thấy bóng người nào mới lướt nhanh tới đầu cầu. Chàng bỗng thấy hai ngọn đèn lồng đi trước dẫn đường. Tám tên vệ sĩ theo Phúc Khang An đi tới. May mà trong vườn hoa rất nhiều hang hốc có thể ẩn mình được. Hồ Phỉ co mình lại ẩn vào phía sau mõm đá.

Bỗng nghe Phúc Khang An nói:

– Ngươi đi thẩm vấn tên gian đồ họ Hồ xem gã quen biết Mã cô nương trong trường hợp nào? Mối giao tình làm sao? Vì lẽ gì nửa đêm lẻn vào phủ của ta? Vụ này ngươi không được tiết lộ ra ngoài, tra hỏi rõ ràng lập tức trở về báo cáo. Còn tên gian đồ đó thì đêm nay giết chết ngay đi. Việc này về sau không được nhắc tới nữa.

Một người đi đằng sau hắn đáp:

– Tiểu nhân hiểu rồi.

Phúc Khang An lại dặn:

– Nếu Mã cô nương có hỏi tới thì cứ nói là ta đã cho ba ngàn lạng bạc và bảo gã về nhà rồi.

Người kia lại vâng dạ.

Hồ Phỉ càng nghe càng tức giận, nghĩ thầm:

– Té ra thằng cha này chẳng qua chỉ nghi ngờ ta có tư tình với Mã cô nương mà hạ độc thủ, làm liên lụy Nhiếp Việt phải uổng mạng.

Giả sử lúc này Hồ Phỉ muốn nhảy ra đâm chết Phúc Khang An là giết hắn được ngay, nhưng dù trong lòng phẫn nộ vẫn không dám hành động lỗ mãng, vì chàng mới tới kinh sư, chưa hiểu rõ mọi việc, mà Phúc Khang An lại nắm giữ binh quyền cả nước, uy thế lừng lẫy, nên chàng không dám mạo muội ra tay hành thích. Chàng đành ẩn phía sau mỏm đá, chờ cho bọn Phúc Khang An đi xa.

Tên thủ hạ vâng lệnh đi khảo vấn Hồ Phỉ, miệng khẽ hát một bài hát ngắn chân lăng xăng đi tới. Hồ Phỉ vươn tay điểm vào hông gã một cách đột ngột. Gã chưa kịp nhìn rõ địch nhân là ai thì người đã nhũn ra, té huỵch xuống đất. Hồ Phỉ lại điểm huyệt hai chỗ khuỷu chân gã rồi bước mau rượt theo Phúc Khang An. Từ phía xa xa, chàng nghe hắn hỏi:

– Đêm khuya thế này, lão thái thái còn kêu ta đến có việc gì? Những ai ngồi với lão nhân gia?

Một tên thị vệ đáp:

– Bữa nay công chúa tiến cung, khi về phủ rồi vẫn ngồi bên lão thái thái.

Phúc Khang An “à” một tiếng, rồi không nói gì nữa. Hồ Phỉ thấy hắn xuyên qua dãy hành lang tiến vào một căn nhà xung quanh có thông xanh vây bọc. Bọn thị vệ tùy tùng canh giữ bên ngoài. Hồ Phỉ đi vòng ra sau nhà, chui qua bụi cây thấy cửa sổ mặt Bắc có ánh đèn hắt ra. Chàng len lén lần tới dưới cửa sổ, thấy cửa sổ bị che bởi một lớp sa mỏng phết hồ màu xanh lục. Hồ Phỉ chợt nghĩ ra điều gì, liền khẽ bẻ mấy cành thông nhỏ che trước mặt để nhìn vào trong, xuyên qua các kẽ lá.

Trong nhà, ngồi chính giữa là hai người quý phụ lối ngoài ba chục tuổi. Phía dưới là một lão phụ trên sáu chục tuổi. Bên trái lão phụ còn có hai phụ nhân nữa. Cả năm người đàn bà khắp mình đeo ngọc ngà châu báu, mặc toàn the lụa lượt là. Phúc Khang An quỳ gối xuống, hướng về phía hai quý phụ ngồi giữa nói lời thỉnh an, rồi quay về phía lão phụ, cất tiếng hô:

– Mẫu thân!

Còn hai phu nhân nữa thấy hắn tiến vào liền đứng dậy.

Nguyên phụ thân của Phúc Khang An là Phó Hằng, em ruột của Hiếu Hiền hoàng hậu, vợ của đương kim hoàng đế Càn Long. Vợ Phó Hằng là người đẹp nổi tiếng ở Mãn Châu. Mụ vào cung triều kiến Càn Long hoàng đế, cả hai liền nảy sinh tư tình và sinh ra Phúc Khang An. Phó Hằng vì ba tầng quan hệ về chị gái, vợ, con trai mà được nhà vua sủng ái, ra ngoài làm tướng võ, vào triều làm tướng văn. Lão giữ ngôi tể tướng yên ổn suốt hai mươi ba năm. Bây giờ lão đã tạ thế.

Phó Hằng sinh hạ bốn người con trai. Trưởng tử là Phúc Linh An được phong là Đa La ngạch phụ, từng theo Triệu Huệ đi đánh đất Hồi Cương lập nên công trạng và được thăng chức Phó đô thống đạo Bạch Kỳ ở Mãn Châu. Người này cũng đã qua đời. Con thứ hai là Phúc Long An lấy Hòa Gia công chúa, con gái vua Càn Long, được phong Hòa Thạc ngạch phụ, làm đến Binh bộ thượng thư, Công bộ thượng thư và được phong tước Công. Con thứ ba là Phúc Khang An. Hai anh hắn đều làm phò mã, hắn lại được vua Càn Long yêu quý hơn hết dù hắn không lấy công chúa. Những người không hiểu nội tình đều lấy làm lạ. Thực ra hắn là cốt nhục của Càn Long, thì còn làm nữ tế của hoàng đế thế nào được? Hiện giờ hắn giữ chức Binh bộ thượng thư, tổng quản các quan thần trong nội vụ phủ, gia hàm Thái tử thái bảo. Con thứ tư là Phúc Trường An làm Hộ bộ thượng thư, về sau được phong đến tước Hầu. Thế là toàn gia họ Phó phú quý đến cực phẩm, cả triều đình không ai bì kịp.

Những quý phụ ngồi trong nhà này là các công chúa, chị dâu của Phúc Khang An. Nhị tẩu của hắn là Hòa Gia công chúa, con gái thứ tư của vua Càn Long, đã khéo nói lại biết chiều ý người nên được vua Càn Long sủng ái từ thuở nhỏ. Cứ cách mấy ngày là nhà vua lại triệu nàng vào cung nói chuyện giải muộn. Giữa nàng và Phúc Khang An tuy là huynh muội nhưng nghĩa lại là thần quân nên Phúc Khang An thấy nàng liền thỉnh an hành lễ. Còn hai người đàn bà nữa thì một là Hải Lan thị, vợ của Phúc Khang An và một người là vợ của Phúc Trường An.

Phúc Khang An ngồi xuống cái phế phía tây rồi hỏi:

– Hai vị công chúa cùng mẫu thân sao đêm đã khuya rồi mà các vị còn chưa đi nghỉ?

Lão phu nhân đáp:

– Hai vị công chúa nghe nói ngươi đã có con trai nên mừng rỡ khôn xiết, nóng lòng muốn xem mặt hai đứa nhỏ.

Phúc Khang An liếc mắt nhìn Hải Lan thị, mỉm cười đáp:

– Nữ nhân đó là người Hán chưa học lễ nghi, vì thế không dám để nàng đến khấu bái công chúa và mẫu thân.

Hòa Gia công chúa cười nói:

– Khang lão tam xem đã vừa mắt thì còn sai trật thế nào được? Chúng ta không cần gặp người đàn bà đó, ngươi mau sai người đem hai đứa nhỏ đến đây coi. Phụ hoàng bảo mấy bữa nữa sẽ gọi ta đưa chúng vào cung bệ kiến đấy.

Phúc Khang An ngấm ngầm đắc ý, nghĩ bụng:

– Hai đứa nhỏ đẹp như ngọc. Hoàng thượng mà nhìn thấy tất nhiên hoan hỷ cưng chiều.

Hắn liền sai tên nha hoàn ra bảo người tùy tùng bồng hai vị tiểu tử đến ngay lập tức.

Hòa Gia công chúa lại nói:

– Bữa nay ta tiến cung, mẫu hậu bảo Khang lão tam hành động lén lút bên ngoài, sinh con mấy năm không đưa về, cố ý giấu giếm tất cả mọi người. Coi chừng phụ hoàng sẽ lột da lão tam đó.

Phúc Khang An cười đáp:

– Vụ hai đứa nhỏ này hạ thần cũng mới biết hơn một tháng nay.

Hắn nói tới đây thì hai người vú bồng hai đứa nhỏ sinh đôi tiến vào. Phúc Khang An bảo hai đứa nhỏ lại dập đầu lạy công chúa, lão thái thái, cùng các quý phụ. Hai đứa nhỏ nghe nói xong, dầu mắt còn đang ngái ngủ, chúng cũng y theo lời khấu đầu hành lễ. Mọi người thấy hai đứa nhỏ giống hệt nhau, khuôn mật tròn trĩnh, mi thanh mục tú.

Hòa Gia công chúa vỗ tay, cười nói:

– Khang lão tam, hai đứa nhỏ này giống ngươi như đúc. Dù ngươi có muốn chối cãi cũng không được đâu!

Hải Lan thị đối với vụ này chẳng thích thú gì, nhưng thấy hai đứa nhỏ song sinh này rất khả ái liền bồng chúng vào lòng, ra chiều rất thân thiết. Lão phu nhân cùng mấy vị công chúa đều cho lễ vật. Hai mẹ vú không ngớt dập đầu tạ ơn ban thưởng.

Hai vị công chúa cùng bọn Hải Lan thị trò chuyện một hồi rồi xin cáo từ.

Lão phu nhân cùng Phúc Khang An bồng hai đứa nhỏ tiễn ra tận cửa rồi mới quay vào.

Lão phu nhân gọi đứa a hoàn đứng hầu sau lưng, bảo:

– Mi đến báo cho Mã cô nương hay là lão thái thái rất thích hai đứa nhỏ nên lưu chúng ở lại ngủ chung, bảo y đừng chờ hai anh em chúng nữa.

Đứa a hoàn vâng dạ.

Mụ đưa tay kéo hộc bàn, lôi một cái bình bằng vàng nạm đầy bảo thạch. Mụ đặt cái bình trên bàn, rồi nói:

– Mang món sâm thang trong bình đến thưởng cho Mã cô nương, nói rằng lão thái thái nhất định sẽ chiếu cố cho hai đứa nhỏ, bảo y cứ yên tâm!

Phúc Khang An đang cầm chén trà, nghe lời nói đó thì sắc mặt đại biến, hai tay run bần bật, khiến nước trà văng ra thấm ướt cả áo. Y kinh hãi, một hồi lâu không nói tiếng nào.

Đứa a hoàn cầm bình vàng bỏ vào trong một cái hộp vàng rồi bưng đi.

Lúc này hai đứa nhỏ đã buồn ngủ, miệng không ngớt gọi:

– Má má! Má má! Má má đâu?

Lão phu nhân dỗ:

– Cháu ngoan đừng khóc nữa. Ở đây với bà rồi bà cho kẹo nhé!

Hai đứa nhỏ khóc ầm lên:

– Không cần kẹo! Không cần bà! Chỉ cần má má thôi!

Lão phụ nhân sa sầm nét mặt, vẫy tay ra lệnh mụ vú bế hai đứa nhỏ đi, rồi đưa mắt ra hiệu cho đám a hoàn lui cả ra ngoài. Trong phòng chỉ có hai mẹ con Phúc Khang An. Cả hai cùng ngồi yên chẳng nói gì. Lão phu nhân đưa mắt nhìn con chăm chú, còn Phúc Khang An thì nhìn đi chỗ khác, không dám nhìn thẳng vào mắt của mẹ.

Qua một hồi lâu, Phúc Khang An mới thở dài, nói:

– Mẫu thân, vì sao người không tha cho cô ta?

Lão phu nhân đáp:

– Ngươi còn hỏi vậy ư? Cô gái đó là người Hán ắt sẽ sinh lòng phản trắc. Huống chi thị lại xuất thân từ chốn tiêu cục, sử đao múa kiếm, võ nghệ đầy mình. Trong phủ ta có hai vị công chúa, sao có thể để hạng người đó ở chung được? Mười năm trước đây, hoàng thượng gặp cơn đại hiểm cũng chỉ vì một mỹ nữ dị tộc, chẳng lẽ ngươi quên rồi sao? Để loại đàn bà độc như rắn rết đó sống cận kề bên người, chúng ta không cách gì ăn ngon ngủ yên được.

Phúc Khang An thưa:

– Lời của mẫu thân dĩ nhiên là không sai. Thoạt đầu hài nhi không nghĩ đến việc cho cô ta vào phủ mà chỉ sai người đi tìm để tặng cô ta ít tiền. Ngờ đâu cô ta lại sinh hạ hai đứa nhỏ. Đó là cốt nhục của mình sao lại bỏ đi được?

Lão phu nhân gật đầu, đáp:

– Ngươi năm nay đã gần tứ tuần, lại không có con, nay có được hai đứa nhỏ đó dĩ nhiên là quá tốt. Ta nuôi dưỡng cho chúng lớn khôn, sau này được phong hầu tập tước, hưởng vinh hoa phú quý thì mẫu thân chúng cũng yên lòng.

Phúc Khang An trầm ngâm một lúc rồi khẽ nói:

– Theo ý của hài nhi thì nên đưa cô ta một vùng châu quận xa xôi ngoài biên tái, vĩnh viễn không gặp lại nữa. Cái đó cũng tốt, chẳng hay mẫu thân…

Lão phu nhân sa sầm nét mặt, ngắt lời:

– Ngươi ngồi ở chức vị cao thật là uổng, Những chỗ nguy hiểm bên trong đã nghĩ tới chưa? Hai đứa con của ngươi còn ở trong phủ, há thị lại không sinh sự ư? Bọn gái giang hồ tứ chiếng đó có điều gì mà không dám làm.

Phúc Khang An khẽ gật đầu. Lão phu nhân lại nói tiếp:

– Ngươi cứ sai người hậu táng cho, là xem như đã hết lòng rồi…

Phúc Khang An lại gật đầu vâng dạ.

Hồ Phỉ đứng ngoài càng nghe càng kinh hãi. Ban đầu chàng còn chưa hiểu rõ ý tứ cầu chuyện của hai mẹ con, sau nghe đến chữ “hậu táng”, chàng giật nảy mình biết không phải là chuyện nhỏ, bèn nghĩ bụng:

– Té ra hai người bày âm mưu độc kế đoạt con, tất nhiên phải giết Mã cô nương. Vụ này rất khẩn cấp, không thể chần chừ được nữa. Chi bằng nhân lúc hai mẹ con chưa kịp thi hành độc kế, ta chạy đi báo cho Mã cô nương biết và cứu cô ra khỏi phủ ngay đêm nay.

Chàng liền len lén theo đường cũ chạy về thủy các. May mà đêm khuya yên tĩnh, trong vườn không người qua lại. Cả những tên thị vệ bị hạ sát cũng chưa ai phát giác. Hồ Phỉ trong lòng nóng nảy nên chạy thật nhanh, nhưng rồi lại trù trừ, thầm nghĩ:

– Mã cô nương một dạ chung tình với Phúc Khang An. Hai người ly biệt lâu ngày nay mới được trùng phùng, tình ái đắm say, làm sao có thể chịu nghe lời ta trốn đi khỏi phủ? Ta biết nói cách gì để cô tin lời đây?

Chàng còn đang ngẫm nghĩ bất giác đã đến trước thủy các. Hồ Phỉ thấy bên ngoài có bốn tên thị vệ đứng gác, liền nhủ thầm:

– Hừ, bọn chúng đã đặt người canh giữ để đề phòng cô đào tẩu!

Chàng không dám kinh động, liền đi vòng ra phía sau, vọt qua ao nước ở ngoài thủy các. Trong nhà ánh đèn chưa tắt, chàng ghé mắt nhìn qua khe cửa bất giác ngẩn người. Mã Xuân Hoa nằm lăn dưới đất, ôm bụng rên la, đầu tóc rối bù, sắc mặt không còn chút máu. Những a hoàn bộc phụ hầu hạ cô đi đâu hết cả, chẳng còn một ai ở bên cạnh.

Hồ Phỉ vừa nhìn thấy tình trạng này, lập tức tỉnh ngộ:

– Trời ơi! Hỏng rồi! Cuối cùng ta đã chậm một bước.

Chàng vội xuyên qua cửa sổ vào trong. Lúc cúi xuống nhìn Mã Xuân Hoa chàng thấy cô thở hổn hến, da mặt xám ngắt, cặp mắt đỏ mọng cơ hồ chảy máu.

Mã Xuân Hoa vừa thấy Hồ Phỉ, nàng lắp bắp nói nhát gừng:

– Ta… ta… đau bụng lắm… Hồ huynh đệ… ngươi…

Nói đến đó thì cô kiệt lực không nói được nữa. Hồ Phỉ ghé tai cô khẽ hỏi:

– Vừa rồi cô nương ăn uống gì?

Mã Xuân Hoa đưa mắt nhìn cái bình vàng nạm đầy bảo thạch để trên kỷ trà, mà không nói được. Hồ Phỉ nhận ra cái bình kia chính là vật đựng sâm thang mà mẹ Phúc Khang An đã sai a hoàn đem đến cho Mã Xuân Hoa uống

Chàng thầm nghĩ:

– Mụ già đó tâm kế rất độc. Mụ định giết Mã cô nương, chỉ giữ lại hai đứa nhỏ, nên sai người đem chúng đi trước rồi mới đưa thang sâm tới. Nếu không thì Mã cô nương cầm lấy chén sâm thang tất nghĩ đây là thuốc cực bổ, nhất định sẽ cho chúng uống mấy hớp.

Chàng lại nghĩ:

– Ồ! Phúc Khang An vừa thấy người bưng chén sâm thang đi liền biến sắc đánh vãi cả nước trà ra áo. Lúc đó, hiển nhiên y đã biết trong sâm thang có chất độc, vậy mà không tìm cách cản trở, cũng không đến cứu. Vậy thì hắn tuy không tự tay hạ độc cũng chẳng khác gì chính hắn ra tay.

Bất giác chàng lẩm bẩm:

– Lòng dạ thật tàn độc!

Mã Xuân Hoa miệng lẩm bẩm:

– Hồ huynh đệ… mau đi báo cho… Phúc đại soái hay để y mời đại phu…đến khám…

Hồ Phỉ nghĩ bụng:

– Nếu bảo Phúc đại soái sai người mời đại phu thì chẳng khác gì cho cô nương uống thêm thuốc độc. Hiện giờ chỉ còn cách nhờ nhị muội tìm phương cứu chữa.

Chàng liền lấy tấm đệm ghế bọc cái bình vàng, chén đựng sâm thang đút vào bọc. Chàng nghe ngoài thủy các không có động tĩnh gì liền bồng Mã Xuân Hoa dậy, mở cửa sổ chuồn ra ngoài. Mã Xuân Hoa cả kinh, kêu lên:

– Hồ…

Hồ Phỉ vội đưa tay bịt miệng nàng, khẽ nói:

– Chớ có lên tiếng. Tại hạ đưa cô nương đi mời y sinh cứu chữa.

Mã Xuân Hoa hỏi:

– Còn con ta…

Hồ Phỉ không kịp giải thích, ôm nàng nhảy qua ao toan tìm đường trốn chạy, bỗng nghe phía sau có tiếng vạt áo phất gió. Rồi hai người chạy tới quát hỏi:

– Ai?

Hồ Phỉ tiếp tục chạy nhanh về phía trước. Hai người kia đề khí rượt theo.

Hồ Phỉ đang chạy nhanh đột nhiên dừng bước. Hai người kia không ngờ chàng dừng lại một cách đột ngột nên cứ theo đà tiếp tục lao tới vọt qua mặt chàng. Hồ Phỉ vọt lên không, vung hai chân đá trúng vào huyệt “Thần đường” sau lưng chúng. Hai gã chưa kịp rú lên một tiếng đã té nhào. Nhìn y phục cũng biết chúng là vệ sĩ trong phủ đến gác ngoài thủy các.

Hồ Phỉ thấy hành tung đã bị bại lộ, chẳng thể giấu giếm được nữa, liền chạy thẳng về phía ngoài cổng phủ. Bỗng nghe những tiếng hô hoán của bọn thị vệ vang lên:

– Có thích khách! Có thích khách!

Lúc tiến vào, Hồ Phỉ đã lưu tâm nhận rõ đường nên lúc này chàng vẫn theo lối đá lát đá trứng ngỗng, dẫn ra phía cửa nhỏ, rồi nhảy qua bức tường tây. Cỗ xe ngựa vẫn còn chờ ở ngoài cổng. Hồ Phỉ đặt Mã Xuân Hoa vào trong xe, miệng quát:

– Quay về!

Tên xa phu đã nghe tiếng người la ó trong phủ, lại thấy Hồ Phỉ thần sắc có điều khác lạ toan hỏi cho biết rõ. Hồ Phỉ liền phóng chưởng đánh gã té nhào nghe “binh” một cái.

Giữa lúc ấy trong phủ đã có bốn tên vệ sĩ đuổi tới. Hồ Phỉ ngồi cầm dây cương quất roi cho ngựa chạy. Bọn vệ sĩ trượt theo mấy chục trượng không kịp liền hô ầm ĩ:

– Lấy ngựa, lấy ngựa!

Hồ Phỉ giục ngựa chạy nhanh, nhưng mới hơn một dặm đã nghe tiếng ngựa dồn dập phía sau, hơn hai chục tên phóng ngựa đuổi theo. Ngựa của bọn truy binh toàn là tuấn mã nên chạy rất nhanh.

Hồ Phỉ bồn chồn trong dạ, nghĩ thầm:

– Đây là đất kinh thành, dưới chân thiên tử chứ đâu phải chỗ tầm thường, vụ náo loạn này khiến binh mã tuần thành đuổi theo vây bắt, thì dù ta có thể thoát thân cũng không có cách nào cứu được Mã cô nương.

Trong bóng tối, những người rượt theo đều cầm đuốc trong tay. Mã Xuân Hoa nằm trong xe lúc đầu còn rên rỉ, hiện giờ không thấy động cựa gì nữa.

Hồ Phỉ lo ngại, cất tiếng hỏi:

– Mã cô nương! Cô còn đau bụng không?

Chàng hỏi liền mấy câu không thấy Mã Xuân Hoa lên tiếng liền quay đầu nhìn lại, phía sau đuốc sáng rực. Truy binh đã tiến tới gần thêm. Đột nhiên nghe gió vút một tiếng, có người ném trái phi hoàng thạch tới, nhằm đánh vào sau lưng Hồ Phỉ. Hồ Phỉ vươn tay trái đón lấy rồi xoay tay ném trở lại. Bỗng nghe tiếng rú “úi chao” rồi tiếng người ngã ngựa.

Diễn biến này khiến Hồ Phỉ chợt hiểu rằng hay hơn hết là cứ ném ám để đẩy lui truy binh. Nhưng trong mình chàng lại không mang theo ám khí. Bọn vệ sĩ đuổi theo cũng khôn ra không ném ám khí nữa.

Hồ Phỉ nóng nảy nghĩ thầm:

– Đường về đến ngoài cửa Tuyên Võ hãy còn xa, đang lúc canh khuya mà bọn truy binh cứ tiếp tục kêu réo ầm ĩ thì làm sao khỏi động đến quan binh?

Đột nhiên chàng nhớ tới cái bình vàng trong bọc liền lôi ra vận kình lực móc các viên bảo thạch khảm trên đó, làm rớt xuống tám, chín mảnh. Dưới ánh đuốc sáng rực, tay phải chàng cầm mấy viên bảo thạch ném ra từng viên một. Tám mảnh bảo thạch đánh trúng năm tên vệ sĩ. Mấy mảnh bảo thạch tuy nhỏ, nhưng thủ kình Hồ Phỉ rất mạnh nên khi ném trúng đầu cũng gây đau đón phi thường. Bọn võ sĩ không dám đuổi theo nữa.

Hồ Phỉ thở dài một tiếng, đưa tay vào trong xe xem chừng hơi thở của Mã Xuân Hoa. May sao hơi thở cô vẫn còn, nhưng da mặt đã lạnh toát. Hồ Phỉ không dám chần chờ, vung roi quất ngựa phi nước đại. Xe ngựa chạy mãi đến một ngã ba. Khách điếm Hồ Phỉ ở nằm về hướng đông, nhưng chàng lại rẽ ngựa về hướng tây. Đến một khúc quanh, Hồ Phỉ liền bế Mã Xuân Hoa lên, tay vung roi ngựa quất liền mấy cái rồi tung người nhảy lên nóc nhà. Chiếc xe ngựa tiếp tục lao về phía tây, bọn vệ sĩ đuổi theo dồn dập.

Hồ Phỉ chờ cho bọn chúng đi xa rồi, mới nhảy xuống vào nhà. Vừa bước vào đến tường vây đã nghe Trình Linh Tố lên tiếng:

– Đại ca đã về đấy ư? Có người đuổi theo đại ca không?

Hồ Phỉ đáp:

– Mã cô nương trúng chất kịch độc, nhị muội xem thử.

Chàng bế Mã Xuân Hoa đi vào trong phòng.

Trình Linh Tố thắp đèn lên, nhìn thấy mặt Mã Xuân Hoa trắng nhợt, không còn huyết sắc. Cô bóp thử mấy ngón tay cũng không còn phản xạ đàn hồi, liền lắc đầu hỏi:

– Cô ta trúng phải chất độc gì?

Hồ Phỉ móc chiếc bình vàng trong người ra, nói:

– Trúng chất độc của sâm thang trong chiếc bình này.

Trình Linh Tố mở nắp bình ra ngửi, rồi nói:

– Chất độc lợi hại quá. Chính là “Hạc đỉnh hồng”.

Hồ Phỉ vội hỏi:

– Liệu có thể cứu được không?

Trình Linh Tố không đáp, chỉ đưa tay nghe nhịp tim của Mã Xuân Hoa rồi nói:

– Nếu không phải là nhà đại phú quý thỉ chẳng thể nào có được cái bình vàng trân quý này.

Hồ Phỉ hằn học đáp:

– Đúng vậy! Người hạ độc là phu nhân của tể tướng, lại là mẫu thân của quan binh bộ thượng thư.

Trình Linh Tố hỏi:

– Ủa! Trong chúng ta sao lại hiện ra nhân vật phú quý như vậy.

Hồ Phỉ thấy cô bất động thanh sắc, tựa hồ Mã Xuân Hoa tuy trúng chất độc rất nặng, nhưng còn có cơ cứu vãn, nên chàng mới vững dạ đôi chút. Trình Linh Tố vạch mí mắt Mã Xuân Hoa lên xem, bỗng cô “ồ” lên một tiếng.

Hồ Phỉ vội hỏi:

– Gì vậy?

Trình Linh Tố đáp:

– Trong sâm thang ngoài “Hạc đỉnh hồng” còn có chất “Phiên mộc miết”.

Hồ Phỉ không dám hỏi “Còn cứu được không?” mà lại hỏi:

– Cứu y bảng cách nào?

Trình Linh Tố chau mày, đáp:

– Hai thứ độc dược này phối hợp khiến mình mất thời gian đây.

Cô trở gót vào nhà, mở rương lấy hai viên thuốc màu trắng cho Mã Xuân Hoa uống, rồi nói:

– Cần tìm một nơi mật thất thanh tĩnh, dùng kim châm vào mười ba huyệt đạo để mở đường cho thuốc giải chạy vào nội tạng. Nếu dùng phép châm cứu ngay thì có thể chữa được. Có điều trong khoảng thời gian mười hai giờ không được di động người cô.

Hồ Phỉ nói:

– Bọn vệ sĩ của Phúc Khang An chỉ trong chớp mắt sẽ tìm đến, không thể châm cứu ở đây được. Chúng ta tìm vào nơi hoang vắng trong thôn xóm.

Trình Linh Tố đáp:

– Vậy phải lên đường ngay. Hai viên thuốc vừa rồi chỉ kéo dài mạng sống của cô thêm được một giờ

 Cô thở dài nói tiếp:

– Vị tể tướng phu nhân tuy lòng dạ thâm hiểm nhưng thủ đoạn hạ độc còn kém. Hai chất độc trộn với nhau, lại hòa tan trong nước sâm thang thành ra độc tính phát tác chậm lại. Nếu chỉ dùng một loại thì Mã cô nương còn chi tính mạng?

Hồ Phỉ vội vàng thu thập mấy thứ cần dùng rồi nói:

– Trên cõi đời này còn ai qua được thần kỹ của Độc Thủ Dược Vương nữa?

Trình Linh Tố từm tỉm cười toan trả lời, bồng nghe tiếng vó ngựa từ xa chạy đến gần nhà.

Hồ Phỉ rút đơn đao ra, nói:

– Cùng lắm đành phải chém giết một trận.

Nhưng trong dạ chàng bồn chồn, tự nhủ:

– Địch nhân nhất định mỗi lúc một nhiều. Đến lúc nguy cấp ta đành chiếu cố cho nhị muội, chứ không phải cứu Mã cô nương.

Trình Linh Tố nói:

– Ở đất kinh sư e rằng không được hành động lỗ mãng. Đại ca! Đại ca hãy khuân bàn ghế chất thành một cái đài cao.

Hồ Phỉ dù không hiểu ý, nhưng biết cô lắm mưu nhiều kế, mà tình thế lại cấp bách nên chàng không hỏi nữa, cứ theo lời chất đống bàn ghế lên.

Trình Linh Tố trỏ thân cây lớn ngoài cửa sổ, nói:

– Đại ca đem Mã cô nương lên cây đi.

Hồ Phi tra đao vào vỏ, ôm Mã Xuân Hoa đến gốc cây bên cửa sổ rồi tung người giấu Mã Xuân Hoa vào chỗ cành lá rậm rạp.

Lại nghe tiếng bước chân vang lên. Mấy tên vệ sĩ vượt tường vào trong, từ từ tiến gần lại. Quản gia họ Toàn chạy ra hỏi, liền bị bọn vệ sĩ lớn tiếng quát mắng.

Trình Linh Tố thổi tắt ngọn đèn, rồi lấy một cây nến ra thắp lên, cắm vào đế đèn. Cô đóng kín cửa lại rồi mới ra ngoài, nhặt lấy một cục đá, nhảy lên cây ngồi bên cạnh Hồ Phỉ.

Hồ Phi khẽ nói:

– Tất cả có mười bảy tên!

Trình Linh Tố đáp:

– Sức thuốc đủ dùng rồi!

Bỗng nghe bọn vệ sĩ lùng sục bốn phía, trong đó có cả khẩu âm của Ân Trọng Tường. Bọn vệ sĩ úy kỵ Hồ Phỉ võ công lợi hại, lại tưởng có cả Viện Tử Y nên chẳng dám lùng sục loạn xạ, mà cũng chẳng dám đi một mình. Chúng hợp thành từng tốp ba, bốn người để đi lục soát.

Trình Linh Tố đưa cho Hồ Phỉ hòn đá, khẽ bảo:

– Ném xuống đống bàn ghế!

Hồ Phỉ cười đáp:

– Tuyệt diệu!

Hòn đá bay ra chạm mạnh vào một cái bàn, chồng bàn ghế cao ngất lập tức đồ sập xuống ầm ầm.

Bọn vệ sĩ hô hoán:

– Ở đây rồi! Ở đây rồi!

Bọn chúng ỷ đông người, tranh nhau xông vào đại sảnh thì chỉ thấy bàn ghế ngả đổ ngổn ngang, tựa hồ vừa trải qua một trường ác đấu mà chẳng thấy bóng người nào. Bọn vệ sĩ còn đang ngơ ngác đột nhiên đầu óc choáng váng, chân đứng không vững, ngã lăn cả ra.

Hồ Phỉ nói:

– “Thất tâm hải đường” lại lập được kỳ công!

Trình Linh Tố rón rén tiến vào sảnh đường, cô thổi tắt ngọn nến cất vào trong bọc, rồi nhìn Hồ Phỉ vẫy tay, nói:

– Mau chạy đi thôi!

Hồ Phỉ cõng Mã Xuân Hoa vượt tường ra ngoài. Chàng chuyển qua một ngõ hẻm bất giác kêu khổ, vì thấy trước mặt ngoài đầu đường đèn lồng cùng đuốc sang rực như ban ngày. Một đội quan binh đang đi tuần tra. Chàng vội rẽ về phía nam, đi chưa đầy nửa dặm lại gặp quan binh tuần tiễu đi tới. Chàng tự nhủ:

– Vụ thích khách đột nhập vào trong phủ Phúc đại soái chắc đã truyền đi khắp kinh thành, nên bây giờ chỗ nào cũng tuần tra nghiêm mật. Mình có muốn nhân cơn hỗn loạn để chuồn ra nơi vắng vẻ ở ngoại thành xem ra cũng chẳng dễ dàng gì.

Lại nghe tiếng người huyên náo ở phía sau. Một đội quan binh nữa kéo tới. Hồ Phỉ thấy hai mặt đều có địch, không còn đường thoái lui liền đưa tay ra hiệu cho Trình Linh Tố rồi tung mình vượt tường, nhảy vào trong một căn nhà lớn bên cạnh. Trình Linh Tố cũng nhảy theo vào.

Chỗ hạ chân xuống rất mềm mại, thì ra là một lùm cỏ rậm. Trước mắt đèn đuốc sáng rực, bóng người lố nhố. Hồ Phỉ và Trình Linh Tố đều giật mình kinh hãi vì không ngờ trong này cũng có quan binh. Lại nghe tiếng bước chân ngoài tường vang lên. Hai đội quan binh tụ hợp vào một chỗ. Chàng biết tình thế không thể vượt tường mà ra được nữa. Bỗng Hồ Phỉ thấy một hòn giả sơn ở mé trái, phía trước hòn giả sơn là bụi hoa che kín. Hồ Phỉ liền cõng Mã Xuân Hoa ẩn vào phía sau hòn núi này.

Đột nhiên sau hòn núi có người nhoài mình đứng lên. Bạch quang lấp loáng, một cây thương phóng tới đâm vào ngực Hồ Phỉ. Hồ Phỉ không ngờ cả tòa giả sơn này cũng có địch nhân mai phục, tập kích đột ngột không một tiếng động. Chàng đành đặt Mã Xuân Hoa xuống, tay trái đỡ khuỷu tay địch nhân, tay phải vung quyền đánh tới. Người kia thủ cước cũng mau lẹ phi thường. Hắn xoay nghiêng khuỷu tay để tránh rồi tạt ngang thanh chủy thủ, tay phải thi triển thành hình móc câu chộp lấy cổ tay Hồ Phỉ, hóa giải thoi quyền của chàng. Điêu vô cùng kỳ lạ là ở chỗ địch nhân che mắt bằng tấm vải vàng, và thủy chung không nói nửa lời.

Hồ Phỉ nhủ thầm trong bụng:

– Ngươi không lên tiếng thì còn gì hay bằng!

Bọn quan binh hiện đang ở ngoài tường, hắn mà hô lên một tiếng thì tình thế sẽ vô cùng bất ổn. Hai người đánh giáp lá cà đều phát huy những chiêu sát thủ. Hồ Phỉ nhận ra võ công đối phương chuyên về trường quyền. Hắn ra chiêu vừa hiểm ác vừa dữ dội, bản lãnh chẳng kém gì bọn Tần Nại Chi, Chu Thiết Tiêu. Huống chi trong tay hắn còn có binh khí, nên chiếm thêm phần tiện nghi.

Sau khi chiết giải đến chiêu thứ chín, Hồ Phỉ tiến sát vào, vung tay điểm trúng huyệt “Cưu vĩ” ở trước ngực đối phương. Người kia cực kỳ kiêu dũng, dù bị điểm huyệt rồi mà vẫn còn phóng chân phải đá tới. Hồ Phỉ lại điểm vào huyệt “Trung đô” trên đùi hắn, hắn mới té xuống không nhúc nhích được nữa.

Trình Linh Tố hích vào vai Hồ Phi, trỏ về phía đèn sáng, khẽ nói:

– Dường như họ đang diễn tuồng.

Hồ Phỉ ngửng đầu nhìn thấy một hý đài rất lớn dựng trên khu đất trống. Dưới đài lố nhố người ngồi, đèn đuốc sáng rực. Trên đài, các diễn viên vẫn chưa ra sân khấu.

Hiện nay đang thời Càn Long thịnh trị, trong thành Bắc Kinh, những nhà quan có bất kỳ cuộc liên hoan yến ẩm nào cũng đều bày trò hát xướng thâu đêm suốt sáng liền mấy ngày là chuyện bình thường, chẳng có chi là lạ.

Hồ Phỉ thở phào một cái, kéo tấm khăn vàng che mặt hán tử, thoáng thấy tướng mạo thô hào, ước chừng bốn mươi tuổi. Chàng khẽ nói:

– Hán tử này nhân lúc người ta có việc vui mừng định mò vào cắp gà trộm chó nên không dám lên tiếng.

Trình Linh Tố gật đầu, khẽ đáp:

– E rằng gã không phải là loại trộm vặt.

Hồ Phỉ mỉm cười, nói:

– Bọn trộm vặt ở kinh sư bản lãnh cũng không phải tầm thường.

Nhưng chàng lại lẩm bẩm trong bụng:

– Coi thân thủ người này quyết chẳng phải phường bắt gà trộm chó bình thường. Nếu không phải hắn có ý gây ra án mạng thì cũng đến tầm cừu giết người. Gã gặp vận xúi quẩy nên vô tình bị ta tóm được.

Trình Linh Tố khẽ nói:

– Chi bằng chúng ta tìm vào phòng chứa củi vắng vẻ trong nhà này, hoặc một lầu các nào để giấu gã mười hai giờ.

Hồ Phỉ đáp:

– Tiểu huynh thấy chỉ còn cách này. Bên ngoài bọn chúng tuần tra gắt quá làm sao mà ra được?

Giữa lúc ấy sân khấu mở màn, có một người tiến ra. Người này vẫn mặc quần áo vải thông thường, mặt không hóa trang. Y đứng trước sân khấu chắp tay thi lễ, dõng dạc lên tiếng:

– Kính chào các vị sư bá sư thúc, cùng các vị sư huynh, sư đệ, sư tỷ, sư muội.

Hồ Phỉ nghe thanh âm của y vang dội, mà vẻ mặt tựa hồ không phải là diễn tuồng.

Hán tử nói tiếp:

– Lúc này trời đã sắp sáng rồi, chớp mắt lại hết một ngày. Chỉ còn ba ngày nữa là đến kỳ đại hội các chưởng môn nhân khắp thiên hạ. Thế mà phái Tây Nhạc Hoa Quyền chúng ta cho đến bây giờ vẫn chưa suy cử xong một vị chưởng môn. Vụ này không nên kéo dài nữa. Cần phải làm thế nào xin những vị tiền bối trong các chi phái chỉ thị cho.

Trong đám đông dưới khán đài, một lão già khoác áo choàng màu đen đứng lên ho hắng mấy tiếng, rồi nói:

– “Hoa Quyền Tứ Thập Bát, Nghệ Thành Hành Thiên Hạ Nhai”. Phái Tây Nhạc Hoa Quyền chúng ta trải qua ba trăm năm chia làm năm chi phái: phái chữ Nghệ, phái chữ Thành, phái chữ Hành, phái chữ Thiên, phái chữ Nhai. Đã ba trăm năm nay, vẫn không có một vị tổng chưởng môn. Tuy rằng năm phái đều hưng vượng cả, nhưng các vị sư huynh, sư đệ hãy còn có thành kiến về môn hộ. Người thì bảo: “Ta ở chi phái chữ Nghệ”, kẻ lại nói: “Ta thuộc chi phái chữ Thành”, chứ chưa thấy ai nói mình ở Tây nhạc Hoa quyền môn cả. Không ai nghĩ tới bọn võ sư phái khác chẳng lý gì đến chữ Nghệ, chữ Thành mà chỉ gọi chung chúng ta là môn hạ Tây Nhạc Hoa Quyền môn. Môn phái ta số người đông đảo, kể từ khi lão tổ truyền thụ cho đến nay, võ công đâu phải tầm thường, cớ sao phải chịu thua xa những phái Thiếu Lâm, Võ Đương, Thái Cực, Bát Quái, không vang danh như họ? Há chẳng phải vì chúng ta phân chia thành năm chi, lực lượng phân chia thành ra yếu kém, còn nói sao được nữa?

Lão già nói đặc giọng miền Giáp Bắc, lão nói tới đây lại ho mấy tiếng, rồi thở dài nói tiếp:

– Nếu không phải Phúc đại soái mở cuộc đại hội chưởng môn khăp thiên hạ thì không biết đến ngày nào Tây Nhạc Hoa Quyền môn chúng ta mới có chưởng môn nhân. May gặp thịnh hội này, cần phải gấp rút suy cử tổng chưởng môn. Bữa nay lão hủ chỉ muốn nói một câu: chứng ta suy cử vị tổng chưởng môn không những chỉ để tranh hùng trong cuộc đại hội sắp tới mà còn mong chỉnh đốn lại môn phái. Từ đây năm chi hợp nhất để cùng nhau đồng tâm hiệp lực chỉnh đốn uy phong cho Hoa Quyền môn trong võ lâm, làm tăng thêm hào khí.

Mọi người dưới đài đều nổi tiếng hoan hô, lại có nhiều người vỗ tay cổ võ.

Hồ Phỉ nghĩ bụng:

– Té ra nơi đây là chốn tụ hội của Tây Nhạc Hoa Quyền môn.

Chàng căng mắt nhìn quanh để tìm một nơi khuất vắng, nhưng chỗ nào cũng đèn lửa sáng trưng. Trong vườn tụ hội đến hơn hai trăm người, nếu bước ra ắt sẽ bị phát hiện ngay. Chàng khẽ nói:

– Chỉ mong cuộc đề cử chưởng môn của bọn họ kết thúc mau lẹ. Tây Nhạc Hoa quyền cũng hay mà Đông Nhạc Thái quyền cũng được, miễn sao giải tán càng sớm càng tốt.

Lại nghe trên đài người kia lên tiếng:

– Những lời của Thái sư bá toàn là kim thạch lương ngôn. Vãn bối ở về chi chữ Nghệ xin mạo muội thay mặt toàn thể anh em bản chi nói một câu là khi đề cử xong chưởng môn nhân, toàn thể chi phái thuộc chi chữ Nghệ sẽ toàn tâm toàn ý nghe lời vị chưởng môn nhân. Lão nhân gia nói sao nghe vậy, chi phái chữ Nghệ quyết không một lời dị nghị.

Mọi người dưới đài đều hô lớn:

– Hay lắm!

Tiếng hô kéo dài, giống như người hát trên sân khấu, khán giả ở dưới khen hay, bên trong rõ ràng có pha lẫn ý chế giễu, châm chọc.

Người đứng trên đài mỉm cười hỏi:

– Còn các chi phái khác có ý kiến gì không?

Những người dưới đài nhao nhao đứng dậy, mỗi người nói một câu:

– Chi phái chữ Thành quyết không vị bội lời nói của chưởng môn nhân.

– Lão nhân gia bảo sao, chi phái chữ Hành nhất định làm đúng như vậy.

– Chi phái chữ Thiên cũng xin tuân theo hiệu lệnh, không dám trái lời.

– Bọn đàn em chữ Nhai xin tuân theo các vị đại ca.

Người trên đài lại nói:

– Hay lắm! Các chi phái đều đồng tâm nhất trí, vậy là quá tốt, không còn điều chi bàn cãi nữa. Hiện giờ các vị chi trưởng, các bậc tiền bối sư bá, sư thúc đều hiện diện đông đủ, chỉ còn thiếu Cơ sư bá ở chi phái chữ Thiên không tới. Lão nhân gia đưa tin đã phái lệnh lang là Cơ sư huynh phó hội, nhưng chờ tới giờ này Cơ sư huynh vẫn chưa thấy đâu. Không chừng y đã đến từ sớm, nhưng không hiểu còn ẩn chỗ nào…

Gã nói tới đây thì cả trên lẫn dưới khán đài đều cười rần cả lên.

Hồ Phỉ cúi xuống ghé tai, hỏi hán tử:

– Phải chăng ông bạn họ Cơ?

Hán tử gật đầu. Mắt lộ vẻ ngơ ngác vì không hiểu Hồ Phỉ và Trình Linh Tố thuộc phe phái nào.

Người trên đài lại nói tiếp:

– Chỉ một mình Cơ sư huynh chưa tới, chúng ta đợi y suốt đêm là hết lòng rồi. Sau này Cơ sư bá cũng chẳng thể phiền trách chúng ta được. Xin các vị tiền bối sư bá sư thúc chỉ cho biết lựa chọn chưởng môn theo cách nào?

Mọi người chờ đợi suốt đêm chính là để coi màn kịch suy cử chưởng môn nhân, nên khi nghe tới đây tất cả đều cao hứng nhao nhao lên đáp:

– Cứ dựa vào võ công mà quyết định.

– Chẳng vị nào phục vị nào, nếu không dựa vào quyền cước hoặc khí giới thì còn biết căn cứ vào cái gì?

– Ai dùng thực lực bằng đao thương hay quyền cước khiến mọi người phải tâm phục thì dĩ nhiên người đó sẽ được làm chưởng môn.

Lão họ Thái lại đứng lên ho mấy tiếng, rồi nói:

– Xưa nay chức chưởng môn nhân cần dựa vào đức chứ không dựa vào lực. Bọn hậu sinh tiểu tử dẫu võ nghệ có cao minh đến đâu cũng không thể vượt qua những bậc tiền bối đức cao vọng trọng.

Lão dừng lại một chút, đảo mắt nhìn khắp mọi người một lượt, rồi nói tiếp:

– Nhưng lần này tình thế khác hẳn. Cuộc đại hội chưởng môn nhân trong thiên hạ là chỗ anh hùng tụ hội, dĩ nhiên mọi người phải phô trương tài nghệ. Giả tỷ Tây Nhạc Hoa Quyền môn chúng ta mà cử một lão già kém võ công đi phó hội thì thử hỏi có ai khen một câu “Lão đầu Hoa Quyền môn đức cao vọng trọng, già mà không chết” không?

Mọi người nghe nói đến đó đều cười rần cả lên.

Trình Linh Tố bất giác bĩu môi, cười thầm:

– Lão già này đến đây để nói chuyện tiếu lâm.

Lão họ Thái cất cao giọng nói tiếp:

– “Hoa Quyền Tứ Thập Bát, Nghệ Thành Hành Thiên Nhai”. Mấy trăm năm nay, bốn mươi tám đường quyền cước và khí giới của Hoa Quyền môn chẳng một ai dám nói là mình tinh thông hết được. Còn việc bữa nay, chỉ cần vị nào có tài cao nhất là lên chấp chưởng bản môn.

Mọi người vừa nghe tới đây bỗng từ cửa sau có tiếng trống nổi lên ầm ầm như sấm đậy.

Đang lúc sửng sốt, có người nói:

– Cơ sư huynh tới rồi đây!

Một người đi tới mở cửa. Một đội quan binh cầm đèn lồng sáng rực đi vào.

Hồ Phỉ tay phải nắm chặt chuôi đao, tay trái cầm tay Trình Linh Tố. Hai người nhìn nhau mỉm cười. Dù trong lúc nguy cấp trước mắt mà cả hai vẫn tâm ý tương thông.

Nhưng mới nhìn nhau, Trình Linh Tố bỗng cúi đầu xuống, thì ra cô chợt nhớ tới Viên Tử Y: “Ta và đại ca cùng chết nơi đây. Chẳng hay Viên cô nương có biết gì không?” Trong lòng cô cho rằng Hồ Phỉ cũng đang nghĩ tới Viên Tử Y và đang nhủ thầm: “Ta cùng nhị muội cùng chết ở đây. Chẳng hay Viên cô nương có biết gì không?”

Viên võ quan chỉ huy bước tới đám đông hỏi vài câu. Khi nghe nói phái Tây Nhạc Hoa Quyền môn đang chọn chức chưởng môn ở đây thì thái độ của y trở nên mười phần khách khí. Nhưng y vẫn giơ lồng đèn lên nhìn mặt từng người, rồi đi quanh vòng người tuần tra.

Hồ Phỉ và Trình Linh Tố nấp trong hòn giả sơn, nhìn thấy ánh đèn lồng đi xa dần thì liền thầm nhủ:

– Không hiểu tên võ quan đó hên hay xui? Giả như cầm đèn soi vào hòn giả sơn này thì có lẽ cái đầu của y đã ăn một lưỡi đao rồi!

Bỗng nghe người trên đài hô:

– Vị nào vô công cao nhất sẽ nắm quyền chưởng môn. Câu này các vị đều nghe rõ cả. Vậy xin các vị sư bá sư thúc, sư huynh sư đệ, sư tỷ sư muội lần lượt lên đài phô trương tuyệt nghệ.

Tiếng hô vừa dứt, trước mắt mọi người bỗng sáng lên. Một thiếu phụ mặc áo màu hồng nhạt nhảy lên đài, nói:

– Đệ tử là Cao Vân ở phái chữ Hành, xin lĩnh giáo các vị tiền bối, sư bá, sư huynh.

Mọi người thấy thiếu phụ thi triển khinh công tư thế rất ngoạn mục, tà áo phất phới, tướng mạo lại xinh đẹp, bất giác nổi tiếng reo hò ầm ỹ.

Dưới đài liền có một thiếu niên nhảy lên, nói:

– Đệ tử là Trương Phục Long ở phái chữ Nghệ, xin Cao sư tỷ chỉ giáo.

Cao Vân đáp:

– Trương sư huynh bất tất phải khách khí.

Mụ soạc chân phải ra, duỗi chân trái về phía trước, tay phải để ngang thành chưởng, tay trái thành móc câu. Chính là chiêu thứ nhất trong Hoa quyền, gọi là “Xuất thế khóa hổ Tây nhạc truyền”. Trương Phục Long đưa gối lên, đáp lại bằng chiêu “Thương dương đăng thị cước độc huyền”. Hai nguời đều thi triển quyền chiêu của bản môn để khai diễn cuộc đấu.

Sau hơn hai chục chiêu, Cao Vân sử chiêu “Hồi đầu vọng nguyệt phượng triển xí” lạng người tới, phóng chưởng đánh Trương Phục Long rớt xuống đài.

Tên võ quan miệng không ngớt lớn tiếng khen ngợi:

– Tuyệt quá! Tuyệt quá!

Dưới đài lại một đại hán nhảy lên nói mấy câu khách khí rồi cùng Cao Vân động thủ. Lần này Cao Vân sẩy chân bị hán tử đẩy ngã lăn đi.

Tên võ quan lại tặc lưỡi:

– Thật đáng tiếc! Thật đáng tiếc!

Gã mất hứng không muốn đứng xem nữa, bèn dẫn đám quan binh đi tuần tra tiếp.

Trình Linh Tố thấy đám quan binh đi rồi mới thở phào nhẹ nhõm. Trên hý đài kẻ lên người xuống tiếp tục tỷ đấu hoài, không hiểu còn mất bao lâu nữa mới lựa chọn được chưởng môn. Trình Linh Tố nhìn lại Hồ Phỉ, thấy chàng vẫn ngưng thần theo dõi hai người tỷ đấu trên đài. Cô nghĩ bụng:

– Quyền cước hai người này tuy hiểm độc nhưng chưa phải là hạng cao minh, mà sao đại ca cứ nhìn đăm đăm xuất thần đến thế?

Cô khẽ nói:

– Đại ca! Đã mất nửa giờ rồi, cần mau nghĩ đến biện pháp nào mới được. Nếu không nhanh chóng châm cứu thì không kịp đâu.

Hồ Phi ừ hử một tiếng, mắt vẫn chăm chú nhìn lên đài không chớp.

Chẳng mấy chốc một người thua nhảy xuống, người khác lại vọt lên tỷ thí với kẻ thắng. Tuy đây là cuộc so tài giữa đồng môn, nhưng hai người tỷ thí dĩ nhiên là môn đồ hai chi phái khác nhau, nên dù không đến nỗi kẻ sống người chết, nhưng cuộc thắng bại lại quan hệ đến sự vinh nhục cho chi phái, nên người nào cũng dốc toàn lực tỷ đấu. Đến lúc này, những tay cao thủ chân chính vẫn chưa chịu lên đài. Những người trước mắt chưa chắc đã tranh nổi chức chưởng môn.

Nguyên năm chi phái Hoa Quyền môn lâu nay vẫn đấu tranh với nhau, khi công khai, khi lén lút, bây giờ gặp cơ hội, họ giải quyết những chuyện xích mích cũ ở ngay trên đài, nên cuộc tỷ đấu thực sự náo nhiệt.

Trình Linh Tố thấy Hồ Phỉ đứng coi tựa hồ đến mức ngây cả người ra, bèn tự nhủ:

– Đại ca bản tính hiếu võ. Y mãi coi cuộc tỷ thí thành ra quên hết mọi chuyện.

Cô khẽ đẩy vai chàng, nói nhỏ:

– Tình thế trước mắt rất cấp bách. Chúng ta hãy mau rời khỏi nơi đây rồi sẽ tính. Những người này toàn là hảo hán võ lâm, mang nghĩa khí giang hồ, chắc họ không thèm đi báo quan phủ làm chi.

Hồ Phỉ lắc đầu, khẽ đáp:

– Chuyện khác thì còn bỏ qua được, nhưng đây là việc Phúc đại soái thì khi nào họ chịu bỏ qua? Đây chính là cơ hội tốt để họ lập công.

Trình Linh Tố nói:

– Nếu chúng ta mạo hiểm để Mã cô nương ở đây mà cho uống thuốc, thì đến lúc trời sáng tất cũng bị người ta phát giác.

Thanh âm cô tỏ ra rất đỗi bồn chồn. Cô vốn là người bình tĩnh, nếu chẳng phải là việc cấp bách tất đã không thúc giục luôn miệng như thế. Hồ Phỉ lại ừ một tiếng mà mắt vẫn theo dõi cuộc tỷ võ trên đài không chớp.

Trình Linh Tố buông tiếng thở dài, khẽ nói:

– Đợi đến khi không cứu được Mã cô nương, đại ca đừng trách tiểu muội.

Hồ Phỉ vội đáp:

– Được rồi, nếu không coi hết thì mình phải mạo hiểm tỷ thí một phen.

Trình Linh Tố ngơ ngác hỏi:

– Đại ca bảo sao?

Hồ Phỉ đáp:

– Tiểu huynh lên đoạt chức chưởng môn Tây Nhạc Hoa Quyền môn. Nếu lòng trời phù hộ cho mình thành công, thì bọn họ nhất định phải nghe theo hiệu lệnh của tiểu huynh.

Trình Linh Tố cả mừng, lắc tay chàng mấy cái, nói:

– Đại ca, những người này đâu thể là đối thủ của đại ca. Nhất định thành công rồi! Nhất định thành công rồi!

Hồ Phỉ đáp:

– Khó là ở chỗ ta phải dùng quyền pháp của họ. Trong lúc nhất thời đâu nhớ được bao nhiêu? Đối phó hạng tầm thường thì chẳng khó gì, nhưng lát nữa những tay cao thủ lên đài, sử mấy món quyền pháp tầm thường kia nhất định không được và mình tất phải lộ mặt. Nếu bọn họ biết mình không phải đệ tử bản môn, thì dù có thắng, họ cũng không chịu suy tôn làm chưởng môn.

Chàng nói tới đây bỗng nhớ đến Viên Tử Y. Dường như võ công các phái, các nhà nàng đều tinh thông. Nếu nàng có mặt ở đây ra tay thì bên mình nắm vững phần thắng hơn nhiều. Thực ra, trong lòng chàng nghĩ nếu có Viên Tử Y ở đây thì chàng cũng chẳng cần đoạt chức chưởng môn của Hoa Quyền môn làm gì?

Bỗng nghe một tiếng “úi chao”, một người bị hất xuống đài.

Tiếp theo có người dưới đài cất tiếng thóa mạ:

– Con mẹ nó! Sao lại nặng tay thế?

Người khác cãi lại:

– Đã động thủ thì còn kể gì nặng với nhẹ? Ngươi có giỏi thì lên tỷ đấu!

Người kia xẵng giọng:

– Được rồi! Bọn ta sẽ lên tỷ thí.

Người khác lảm nhảm:

– Ta không phải là đối thủ của chưởng môn nhân mười tám đời nhà mi, chẳng dám qua chiêu với “lão nhân gia”.

Hồ Phỉ đứng lên, nói:

– Lát nữa nếu tiểu huynh không tranh được chức chưởng môn thì thị muội cứ cho thuốc và châm cứu cho Mã cô nương. Chúng ta làm được tới đâu hay đó.

Nói rồi, chàng lột cái khăn Vàng của gã hán tử bịt lên mặt mình.

Trình Linh Tố “ồ” một tiếng, mỉm cười nói:

– Người ta làm tổng chưởng môn của chín nhà rưỡi, chẳng lẽ đại ca không làm nổi chưởng môn một nhà?

Cô nói câu này rồi lại đâm ra hối hận:

– Sao ta cứ nghĩ đến Viên cô nương hoài, lại còn nhắc nhở Hồ đại ca khiến y cũng sao quên được cô ta.

Bỗng thấy Hồ Phỉ ngang nhiên bước ra khỏi hòn giả sơn, cô nhìn bóng lưng chàng, tự nhủ:

– Dù ta không nhắc nhở, chẳng lẽ đại ca lại có lúc quên được y ư?

Cô nhìn Hồ Phỉ sải bước tiến về võ đài, bất giác trong lòng cảm thấy vừa ngọt ngào, lại vừa cay đắng.

Hồ Phỉ vừa bước đến trước võ đài, bỗng thấy một người tranh vọt lên trước. Chính là đại hán vừa cãi nhau với người khác.

Chàng lẩm bẩm:

– Chờ hai người này phân thắng bại thì cũng phải mất thời gian. Mình chần chờ khắc nào là Mã cô nương càng thêm nguy hiểm khắc đấy.

Chàng vội vọt theo, người đang lơ lửng trên không đã nắm lấy lưng đại hán, nói:

– Sư huynh hãy khoan! Xin nhường cho tiểu đệ đánh trước!

Hồ Phỉ thi triển công phu “Đại cầm nã thủ” gia truyền của chàng. Ngón tay cái bấm vào huyệt “Cân xúc” là đốt thứ chín ở xương sống đại hán, ngón tay út thọc vào đốt thứ năm là huyệt “Thần đao”. Đại hán tuy vóc người to lớn nhưng lúc này còn cử động làm sao được? Hồ Phỉ thuận đà nhảy lên đứng trên võ đài, tiện tay ném đại hán xuống, để hắn rơi nhẹ nhàng vào cái ghế trống.

Hồ Phỉ phô trương võ công thượng thừa một cách đột ngột khiến tất cả mọi người dưới đài đều kinh dị, đến nửa số người đứng lên để nhìn. Họ thấy Hồ Phỉ che mặt bằng khăn vải vàng, nên không ai hiểu là người đã đã già hay còn trẻ. Có điều sau lưng chàng buông rủ bím tóc đen láy thì hiển nhiên chưa nhiều tuổi. Tuổi nhỏ mà võ công thần diệu như vậy, khiến những tay cao thủ càng biết nhiều hiểu rộng lại càng kinh dị.

Hồ Phỉ nhìn người trên đài, chắp tay nói:

– Tại hạ là Trình Linh Hồ, đệ tử chi phái chữ Thiên, xin sư huynh chỉ giáo.

Trình Linh Tố ngồi ở sát sau hòn giả sơn, nghe rõ chàng tự xưng là Trình Linh Hồ thì không khỏi mỉm cười, nhưng lập tức cô lại thấy chua chát trong lòng:

– Giả tỷ y là anh ruột ta thì đỡ được biết bao nhiêu phiền não.

Hán tử trên đài thấy thanh thế Hồ Phỉ đã bở vía rồi. Gã kính cẩn đáp lễ nói:

– Tiểu đệ học nghệ chưa tinh, xin Trình sư huynh nhẹ đòn cho.

Hồ Phỉ đáp:

– Không dám! Không dám!

Chàng không khách sáo nữa, chân phải co lại một nửa, chân trái duỗi ra, tay phải để ngang thành chưởng, tay trái thành móc câu, chính là chiêu “Xuất thế khóa hổ Tây nhạc truyền”. Người kia xoay mình, co gối duỗi tay, đáp lại bằng chiêu “Bạch viên thâu đao bái thiên đình”. Chiêu này thủ nhiều, mà công ít, tỏ vẻ toàn lo tự vệ.

Hồ Phỉ bước tới, phóng chiêu “Ngô vương thí kiếm phách ngọc chuyên” đánh ra. Người kia vẫn không dám tiếp chiêu, liền ra chiêu “Triệt thân đao bộ nhất lưu yên”. Hồ Phỉ không muốn mất nhiều thì giờ, liền sử chiêu “Tà thân lạn môn sáp thiết soan”. Chiêu này đứng theo thế “cung tiễn bộ”, tả chưởng biến thành quyền vươn thẳng ra rồi đánh mạnh xuống, hữu quyền đánh tiếp ra. Người kia thấy quyền thế của đối thủ trầm trọng vội đưa tay chống đỡ. Hồ Phỉ vận nội lực vào tay phóng ra rồi lại thu về, nhẹ nhàng đẩy gã xuống đài.

Bỗng nghe dưới đài có người gầm lên một tiếng. Chính là đại hán vừa bị Hồ Phỉ ném xuống. Gã dợm nhảy lên đài, quát lớn:

– Tổ bà nó! Ngươi là cái thá gì…

Hồ Phỉ bước tới, sử chiêu “Kim bằng triển xí đình trung thiếp”, hai cánh tay giơ ngang ra, khiến đại hán không nhảy lên dài được. Gã bị tý lực của Hồ Phỉ đẩy xuống. Lần này Hồ Phỉ giận gã ăn nói vô lễ, vận động ba phần kình lực. Bỗng nghe “rắc” một tiếng, gã đại hán kia ngã đè lên hai cái ghế trước đài làm cho gãy tan.

Chàng đả bại luôn hai người khiến quần hùng phía dưới đài tới tấp chụm đầu ghé vai, xì xầm hỏi bọn đệ từ phái chữ Thiên xem người này là môn hạ của ai, nhưng đệ tử chi phái này cũng không biết gì.

Một vị tiền bối phái chữ Nghệ lên tiếng:

– Người này chưa thuần thục võ công bản môn. Hiển nhiên y đã học nghệ từ trước rồi mới đầu sư. Mười phần hết chín, chắc là đồ đệ mới thu nạp của Cơ lão tam.

Một lão già phe chữ Thành đáp:

– Thế thì Cơ lão tam có chỗ không phải rồi. Lão phái môn đồ đã học nghệ từ trước đến tranh đoạt chức chưởng món há chẳng là phản lại võ công bản môn?

Nguyên Cơ lão tam là người đứng đầu phái chữ Thiên, võ công thuộc hạng đệ nhất ở Tây Nhạc Hoa Quyền môn, nhưng hai chân lão bị tê bại từ mười năm trước. Hiện nay, dù lão đi đứng không dễ dàng, mà uy danh vẫn rất lớn. Sư huynh đệ đồng môn nhắc tới ba chữ “Cơ lão tam” đều có lòng úy kỵ. Mọi người thấy vị “Trình Linh Hồ phe chữ Thiên” võ công cao thâm, mà người con trai được Cơ lão tam phái đến là Cơ Hiểu Phong thủy chung vẫn chưa thấy lộ diện, nên ai nấy đều tưởng chàng là môn đồ của Cơ lão tam. Họ có biết đâu Cơ Hiểu Phong đã bị Hồ Phỉ điểm huyệt đang nằm sau hòn giả sơn. Bản lãnh Cơ lão tam rất cao cường, tính tình kiêu ngạo, chẳng coi bạn đồng môn vào đâu. Sau khi hai chân tê bại, lão đóng cửa tạ khách, đem hết võ công truyền thụ cho con.

Chuyến này các cao thủ năm chi phái quần tụ ở Bắc Kinh, căn cứ vào võ công để quyết định chức chưởng môn. Cơ Hiểu Phong lập chí giành cho bằng được chức chưởng môn này. Võ công gã đã học được đến chín thành của phụ thân, nhưng về tư cách lại kém bề quang minh lỗi lạc. Gã lén lút nấp sau hòn giả sơn để nhìn rõ hư thực của mọi đối thủ, sau đó chỉ cần đánh một đòn là trúng ngay. Không ngờ ma đưa lối quỷ dẫn đường gã lại bị Hồ Phỉ kiếm chế. Cơ Hiểu Phong cho rằng đây là âm mưu của chi phái khác, ngấm ngầm mai phục cao thủ để đối phó mình. Vừa rồi gã đã cùng Hồ Phỉ chiết giải mấy chiêu, liền bị chàng điểm trúng huyệt đạo khiến cho gã một thân võ công mà không còn cơ hội để thi triển, kế hoạch của phụ thân gã chỉ trong chớp mắt đã trôi theo dòng nước. Trong lòng tức giận đến cực điểm, Cơ Hiểu Phong chỉ muốn nhảy lên đài quyết một trận sống mái với Hồ Phỉ.

Bây giờ gã thấy chàng lên đài rồi, đả bại hết mọi cao thủ các chi phái, tưởng chừng như không còn ai kiềm chế được chàng, nên gã hết sức vận khí xung phá huyệt đạo, mong chân tay mau trở lại tự do. Những Hồ Phỉ điểm huyệt gã bằng tuyệt kỹ tổ truyền khác hẳn những điều sở học của Cơ Hiểu Phong. Gã bình tâm tĩnh trí ngầm vận nội lực cũng chẳng thể tự giải khai được, huống chi lúc này gã lại đang cơn cuồng nộ? Sau khi miễn cưỡng vận nội lực, đột nhiên chân khí đi vào đường rẽ, gã lập tức ngất xỉu. Nên biết Cơ lão tam luyện công, cũng vì nóng lòng cầu tiến vượt mức mà bị tẩu hỏa nhập ma, nên dẫn đến hai chân tê bại. Bây giờ Cơ Hiểu Phong lại bước theo vết xe đổ của phụ thân, cơn nguy hiểm còn hơn thế nữa.

Trình Linh Tố để hết tinh thần theo dõi cuộc tỷ đấu trên đài giữa Hồ Phỉ cùng người khác. Cô thấy mỗi chiêu mỗi thức của chàng quả nhiên toàn là Tây Nhạc Hoa quyền vừa mới học được, liền nhủ thầm:

– Đại ca đối với võ học dường như sinh ra đã biết. Những chiêu thức Tây Nhạc Hoa quyền phức tạp là thế mà y chỉ cần xem người ta chiết chiêu là đã học được rồi.

Giữa lúc ấy bỗng nghe đại hán bên cạnh khẽ rú lên một tiếng, thanh âm ra chiều khác lạ. Cô quay đầu lại thấy gã hai mắt nhắm nghiền, lưỡi thè ra ngoài miệng bị răng cắn đến chảy máu tươi, toàn thân run bần bật như người lên cơn sốt rét. Trình Linh Tố biết gã vì gượng vận nội lực xung phá huyệt đạo đến nỗi chân khí đi vào đường rẽ. Nếu không cứu trị ngay thì nặng là tâm thần hoảng loạn, phát điên phát khùng, nhẹ cũng thành tàn phế, mất hết võ công. Cô tự nhủ:

– Giữa bọn mình với gã vốn không thù oán thì hà tất vì cứu một người mà lại hại một người.

Cô liền lấy kim ra châm vào bốn đại huyệt “Liêm tuyền” “Thiên đột”, “Kỳ môn”, “Đại hoành” trong mạch “Âm duy” của gã. Sau một lúc, Cơ Hiểu Phong dần dần hồi tỉnh, thấy Trình Linh Tố đang châm kim cứu trị cho mình, liền nói khẽ:

– Đa tạ cô nương!

Trình Linh Tố đưa tay ra hiệu cho gã đừng lên tiếng.

Bỗng nghe Hồ Phỉ ở trên đài dõng dạc hô:

– Ngôi chưởng môn cần quyết định mau chóng, nếu cứ đấu kiểu này thì biết bao giờ cho kết thúc? Các vị sư bá sư thúc, sư huynh sư đệ muốn chỉ giáo thì mời cả ba, bốn vị thượng đài cùng một lúc. Đệ tử có thất bại cũng quyết không có lời oán trách

Mọi người nghe nói đều cho là gã tiểu tử này ngông cuồng. Nếu lấy một chọi một thì không ai dám nhảy lên, bây giờ họ đều nhao nhao muốn liên thủ hợp lực tỷ đấu. Thực ra chiêu số mới học của Hồ Phỉ rất hạn chế, nếu còn đấu nữa thì tất bị lòi đuôi. Bằng nhiều người hợp thủ quần công đánh loạn xà ngầu thì có dùng tiểu xảo người ngoài cũng khó lòng nhận ra. Hơn nữa cuộc xa luân chiến tiếp diễn, nội lực chàng dầu có sung mãn bao nhiêu đi nữa cũng sẽ hao dần cho đến lúc kiệt sức. Mặt khác, việc cứu Mã Xuân Hoa lại khẩn cấp, nên chàng phải nghĩ tới cách tốc chiến tốc thắng.

Hồ Phỉ huy động chưởng lực, trong chớp mắt đã đánh ngã mấy người rớt xuống đài.

Trong năm phái ở Tây Nhạc Hoa Quyền môn, chỉ có đệ tử phái chữ Thiên đều cho là chàng vâng lệnh Cơ chi trưởng tới đây nên không ai lên đài giao thủ. Còn bốn chi phái kia, những tay hảo thủ trẻ tuổi đã bị loại hết. Chỉ một số ít cao thủ lớn tuổi tự lượng không nắm được phần thắng, lại muốn bảo toàn thanh danh mấy chục năm nên không chịu lên đài khiêu chiến.

Về sau, các tay cao thủ tráng niên trong các phái chữ Nghệ, chữ Thành, chữ Hành liên thủ thượng đài, nhưng chỉ trong vòng mười hiệp là đã thua liểng xiểng phải lui xuống. Đến lúc này, các vị danh túc tiền bối cũng như thanh niên đệ tử trong bổn phái đều ngơ ngác nhìn nhau, không ai dám thượng đài nữa.

Bỗng thấy lão họ Thái khoác áo choàng màu đen đứng lên nói:

– Trình sư huynh, bản lãnh của sư huynh rất cao cường khiến cho ai nấy đều bội phục. Nhưng lão hủ xem ra thì quyền chiêu của sư huynh tựa hồ có điểm giống với võ công sở truyền của bản môn mà thực ra không phải.Chà chà! Có thể nói là “hình tự nhi thần phi”, tuy về hình thức thì có giống, nhưng về tinh thần thì tựa hồ không phải. Vụ này… vụ này quả có chỗ không ổn rồi đây.

Hồ Phỉ trong lòng run lên, nghĩ thầm:

– Nhãn quang của lão này quả nhiên lợi hại. Tuy ta sử quyền Tây Nhạc Hoa quyền, nhưng khi hất người té xuống thì vẫn dùng nội kình khác hẳn với Hoa quyền của bọn họ.

Nên biết Tây Nhạc Hoa Quyền môn nổi danh thiên hạ về võ công ngoại môn, thì chỗ tinh vi ảo diệu bên trong Hồ Phỉ đâu có thể chỉ coi mấy người chiết chiêu một lúc mà hiểu được? Huống chi chàng chưa được nhìn những tay cao thủ phái này ra chiêu, dĩ nhiên chỉ học được cái vỏ bên ngoài.

Giữa lúc căng thẳng, chàng đành liều miễn cưỡng đáp:

– “Hoa Quyền Tứ Thập Bát, Nghề Thành Hạnh Thiên Nhai”. Nếu không phải sở ngộ của mỗi người khác nhau thì sao bản môn lại chia thành năm chi phái? Đạo võ học nguyên không có phép tắc nhất định. Chi phái chữ Thiên của đệ tử hiểu về quyền lý có chỗ khác người, cũng là lẽ ấy.

Chàng chắc được bọn đệ tử ở phái chữ Thiên ủng hộ mình không đến nỗi bị cô lập. Quả nhiên bọn đệ tử phe chữ Thiên nghe chàng đề cao bản phái trong lòng rất khoan khoái. Có kẻ đứng dưới lớn tiếng phụ họa.

Lão họ Thái lắc đầu hỏi Hồ Phỉ:

– Trình sư huynh! Sư huynh có phải là môn hạ của Cơ lão tam không, hay sau khi đã mang tuyệt nghệ mới vào đầu sư? Lão hủ chưa đến nỗi mắt kém, coi công phu của sư huynh mười phần có đến chín không phái là công phu bản môn.

Hồ Phỉ đáp:

– Thái sư bá nói vậy, đệ tử không đám tán đồng bừa. Trong cuộc đại hội chưởng môn, nếu bản môn muốn tranh hùng với những phái lớn như Thiếu Lâm, Võ Đang, Thái Cực, Bát Quái để nêu cao uy phong của Tây Nhạc Hoa Quyền môn thì cần phải dung hội quán thông, canh tân đổi mới. Sở học của đệ tử về nội kình đều là công phu của sư phụ gần mười năm bế môn suy ngẫm mới sáng tạo ra, dĩ nhiên phải có chỗ độc đáo. Nếu Thái sư bá cho rằng đệ tử không đúng thì xin mời thượng đài chỉ điểm cho một chiêu

Lão già họ Thái ngần ngừ đáp:

– Bản môn có nhân tài kiệt xuất như lão đệ đây để làm rãng rỡ tông môn, lão hủ vui mừng còn không hết, lẽ nào lại có chuyện dị nghị? Nhưng trong lòng có chỗ hoài nghi chẳng thể không nói ra. Bây giờ làm thế này quách. Xin Trình lão đệ biểu diễn một bài Hoa quyền. Đó có phải là công phu của bản môn hay không thì mười mấy vị lão huynh đệ mắt sáng như đuốc ở đây xem sẽ rõ. Nếu lão đệ tinh thông võ bản môn thì lão hủ là người thứ nhất hoan hô ủng hộ lão đệ làm chưởng môn.

Quả nhiên gừng càng già càng cay. Hồ Phỉ cùng người động thủ quá chiêu còn có thể mập mờ thi triển võ công của mình bằng những chiêu tương tự như Hoa Quyền môn, nhưng bảo chàng biểu diễn một bài quyền, trong lúc tay đấm chân đá thì giả thực đều hiện ra rõ ràng, làm sao có thể lập lờ được?

Huống chỉ những quyền chiêu chàng học lỏm được đều là cái vỏ hời hợt bên ngoài, không thành một bài quyền được, thì làm sao có thể biểu diễn quyền pháp trọn vẹn từ đầu chí cuối? Hồ Phỉ tuy là người lắm mưu nhiều kế, mà nghe lão ta nói vậy cũng không biết phải trả lời sao.

Chàng đang tìm cách thoái thác, bỗng nghe phía sau hòn giả sơn có người lên tiếng:

– Thái sư bá, sao sư bá lại gây khó dễ cho phái chữ Thiên của bọn tiểu điệt đến vậy? Trình sư huynh đây là đệ tử đắc ý nhất của gia phụ. Y nhập môn đã mười hai năm, chẳng lẽ lại không luyện hết được đường Hoa quyền?

Rồi thấy một người rảo bước đi tới trước đài. Chính là Cơ Hiểu Phong, một tay đệ tử nổi tiếng nhất ở chi phái chữ Thiên. Phàm những việc lớn nhỏ trong chi phái này thường do gã đại diện phụ thân để giải quyết và được coi như người chi trưởng, nên ai ai cũng nhận ra gã.

Cơ Hiểu Phong nhảy lên đài, chắp tay nói:

– Gia phụ đóng cửa ẩn cư, đem võ công bản thân truyền thụ hết cho Trình sư ca trong mười hai năm là để có ngày nay. Trình sư ca đây bản lãnh hơn đệ tử gấp mười lần. Các vị bá thúc đều thấy rõ, sao lại có lời dị nghị?

Mọi người nghe gã nói vậy thì không hoài nghi gì nữa. Ai cũng cho là Cơ lão tam bản tính quái dị, hiếu thắng. Lão lén lút rèn luyện một tên đồ đệ. Hành động này hợp với tính khí của lão. Hơn nữa, Cơ Hiểu Phong vốn là tay kiêu hùng mà cũng tâm phục Hồ Phỉ thì làm sao có thể giả trá được?

Lão họ Thái toan hỏi nữa thì Cơ Hiểu Phong đã dõng dạc nói ngay:

– Nếu Thái sư bá muốn khảo nghiệm vô công của phải chữ Thiên thì đệ tử xin thay mặt Trình sư ca đi một bài quyền để sư bá chỉ điểm cho.

Gã không đợi cho lão Thái trả lời đã đứng chụm chân lại, biểu diễn những chiêu “Hiểu tinh đương đầu tức tẩu quyền”, tiếp theo đến những chiêu “Xuất thế khóa hổ Tây nhạc truyền”, “Kim bằng triển xí đình trung thiên”, “Vi Đà hiến bảo tại hung tiền”, “Bả tý môn hoàng thiết soan”, “Khôn quỷ ngưỡng đẩu liên lục lan”. Hai tay gã làm thành chưởng, quyền, câu, trảo biến hóa theo mười hai thủ pháp: “Xung, Thôi, Tiệt, Thiết, Phách, Khiêu, Đinh, Giá, Sanh, Liêu, Xuyên, Dao”. Chân y bước thành “Cung tiễn bộ”, “Mã bộ”, “Phốc bộ”, “Đinh bộ” rồi biến thành “Hành bộ”, “Đảo bộ”, “Mại bộ”, “Thâu bộ”, “Đạp bộ”, “Kích bộ”, “Dược bộ”. Bộ pháp chỗ vững vàng trầm ổn thì như voi đứng hổ ngồi, lúc mau lẹ thì như chim ưng vồ thỏ.

Mọi người đứng dưới đài đều là bản môn đệ tử, chẳng ai là không thuộc lòng đường quyền pháp này, nhưng thấy bản lĩnh của Cơ Hiểu Phong thâm hậu như vậy, ai nấy đều thán phục. Cả những bậc tiền bối nổi danh các chi khác cũng không khỏi gật đầu.

Cơ Hiểu Phong biểu diễn đến những chiêu “Phụng Hoàng toàn oa hồi thân chuyển”, “Thoái đặng cửu thiên xung thiết quyền”, “Anh hùng đả hổ thu chiêu thế”, rồi đến chiêu cuối cùng là “Quyền bãi đình tiền ngũ canh thiên”, pháp độ mỗi chiêu lại càng nghiêm mật. Đúng là quyền thuật cao siêu!

Y biểu diễn xong thu tay về, dưới đài nổi lên tiếng hoan hô như sấm dậy.

Từ lúc Cơ Hiểu Phong lên đài, trong lòng Hồ Phỉ rất lấy làm lạ. Chàng không hiểu Trình Linh Tố đã dùng biện pháp gì ép được gã lên đài giải vây cho mình. Chàng coi gã luyện xong đường quyền, khen thầm trong bụng:

– Tây Nhạc Hoa Quyền quả nhiên không phải tầm thường, nếu người này bổ sung thêm phần nội lực là trở thành danh gia võ học.

Cơ Hiểu Phong đi xong nột bài quyền, lập tức hơi thở dồn dập, toàn thân run run như người bị bệnh nặng chưa khỏi, hay người bị trọng thương. Người dưới đài không ai phát giác nhưng Hồ Phỉ đứng ngay đằng sau gã nên thấy rõ mồn một. Chàng còn thấy vạt áo sau lưng gã ướt đẫm mồ hôi, điều không thể xảy ra với những tay võ công cao cường, trong lòng càng lấy làm quái lạ.

Cơ Hiểu Phong định thần lại, nói:

– Còn vị sư thúc sư bá, sư huynh sư đệ nào muốn tỷ thí với Trình sư ca xin mời thượng đài.

Y hỏi luôn ba tiếng không ai trả lời. Quần đệ từ ở chi phái chữ Thiên đều lớn tiếng hoan hô:

– Cung hỷ Trình sư ca vinh nhiệm chưởng môn phái Tây Nhạc Hoa Quyền!

Quần hào cũng hoan hô theo. Thế là vụ Hồ Phỉ lên chấp chưởng Hoa quyền môn đã định xong.

Cơ Hiểu Phong quay lại nhìn Hồ Phỉ, chắp tay nói:

– Cung hỷ! Cung hỷ!

Hồ Phỉ chắp tay đáp lễ, thấy nhãn quang y đầy vẻ oán độc, nhưng chàng đang lo về bệnh tình Mã Xuân Hoa, nên vội nói:

– Cơ sư đệ! Phiền sư đệ kiếm một gian tĩnh thất cho hai vị sư muội của chúng ta nghỉ ngơi.

Cơ Hiểu Phong gật đầu rồi nhảy xuống đài, hai chân y loạng choạng suýt té.

Hồ Phỉ đứng trước đài nói:

– Các vị đã tân khổ suốt đêm xin mời về nghỉ. Tối mai chúng ta lại thương nghị đại kế làm cho Hoa quyền môn chúng ta nổi danh thiên hạ trong cuộc đại hội chưởng môn sắp tới.

Chàng nói những lời này không phải là hoa ngôn, vì đối với Hoa quyền môn chàng thực sự có đôi phần cảm kích. Giữa lúc quan binh tróc nã, nếu không gặp được cơ duyên vượt tường nhảy vào đúng lúc họ đang suy cử chưởng môn thì chắc Mã Xuân Hoa bị chất độc phát tác làm cho chết, thây bỏ ven đường rồi. Nếu như có cơ hội tranh giành chút vinh hoa cho Hoa Quyền môn thì chàng tình nguyện hết lòng ra sức.

Quần đệ tử nghe nói tới tấp đứng dậy. Người nào cũng nghị luận võ công của Hồ Phỉ. Có kẻ ca tụng Cơ lão tam thâm mưu viễn lự, đánh một đòn làm mọi người đều kinh hãi. Có người khen đường quyền của Cơ Hiểu Phong rất cao minh. Nhất là bọn đệ tử chi phái chữ Thiên lại càng cao hứng phi thường. Mấy vị tiền bối muốn lại chuyện trò với Hồ Phỉ, nhưng chàng chắp tay thi lễ rồi theo Cơ Hiểu Phong vào nội thất. Trình Linh Tố bồng Mã Xuân Hoa trà trộn trong đám đông, bám gót theo sau.

Tòa đại trạch này là của một vị cao quan ở Hoa quyền môn đã về hưu. Nay Hồ Phỉ đã làm chưởng môn, dĩ nhiên chủ nhân đối đãi với chàng rất ân cần.

Hồ Phỉ thủy chung không cởi tấm khăn vàng che mặt. Chàng cùng Trình Linh Tố, Cơ Hiểu Phong đem Mã Xuân Hoa vào nội thất, bỏ tấm khăn che mặt ra, rồi nói:

– Cơ đại ca! Đa tạ đại ca! Ngôi chưởng môn này tiểu đệ nhường lại cho đại ca.

Cơ Hiểu Phong chỉ hắng giọng một tiếng chứ không nói gì.

Hồ Phỉ nhìn Mã Xuân Hoa thấy sắc mặt tím đen, đã hôn mê từ lâu, hơi thở đưa ra thì nhiều mà hít vô thì yếu, tính mệnh mong manh như sợi tợ. Trình Linh Tố bồng Mã Xuân Hoa đặt lên giường, lấy kim châm vào mười ba huyệt đạo qua lần áo mà vẫn chuẩn xác. Đuôi mỗi mũi kim đều quấn bông. Thủ pháp cô cực kỳ mau lẹ mà không hoang mang, vội vàng. Hồ Phỉ thấy thần sắc cô vẫn bình thường mới yên tâm đôi chút.

Sau khoảng thời gian chừng uống cạn tuần trà, đuôi kim từ từ cháy máu đen thấm vào miếng bông. Nguyên những mũi kim này rỗng ruột, dùng để hút chất độc ra.

Trình Linh Tố thở phào một cái, mỉm cười, cô lại lấy một viên thuốc xanh lục từ trong bình thuốc đưa cho Cơ Hiểu Phong, nói:

– Cơ đại ca, đại ca hãy về phòng nghỉ ngơi. Đại ca cứ uống mười viên thuốc này là chất độc trong người sẽ tiêu hết.

Cơ Hiểu Phong đón lấy bình thuốc, lẳng lặng ra khỏi phòng.

Bây giờ Hồ Phỉ mới hiểu Trình Linh Tố đã dùng bản lãnh chuyên môn của cô để bức bách Cơ Hiểu Phong phải nghe theo lệnh. Chàng cười, nói:

– Dược vương cô nương đi tới đâu được việc tới đó. Bản lãnh dùng độc của nhị muội chưa chắc tôn sư ngày trước đã bì kịp.

Trình Linh Tố mỉm cười không đáp. Thực ra lần này không phải cô dùng độc để bức bách Cơ Hiểu Phong, mà cô đả thông huyệt giải mạch cứu y khỏi bị tẩu hỏa nhập ma, và đưa thêm dược vật vào người gã. Dược vật này chỉ gây ngứa ngáy khó chịu, chứ chẳng tổn thương gì đến thân thể. Còn cô bảo gã uống mười viên thuốc giải, thì đó là thứ thuốc trị ngoại thương thông thường.

Cơ Hiểu Phong không bị ngoại thương thì có uống vào cũng như không uống. Nhưng gã làm sao hiểu được điều này? Gã nghe cô nói chất độc lợi hại vô tỷ nên phải cúi đầu tuân theo. Dù có nghi ngờ đi nữa thì gã cũng chẳng thể đem tính mạng mình mà thử coi chân hay giả.

Trình Linh Tố thường tự nhủ:

– Ta phát thệ trước mặt sư phụ suốt đời quyết không dùng độc dược hại người vô tội để cho thiên hạ biết Độc Thủ Dược Vương tuy thủ đoạn lợi hại, nhưng không làm việc tồi bại.

Cô lấy cái nhíp để gắp những mớ bông thấm máu độc bỏ đi, rồi khẽ nói:

– Đại ca! Đại ca cực nhọc cả đêm rồi, hãy lên giường nghỉ ngơi dưỡng thần một lúc. Đã có tiểu muội chiếu cố cho Mã cô nương, đại ca cứ yên lòng.

Hồ Phỉ quả đã mệt nhoài, chàng nằm ngay xuống giường.

Trình Linh Tố lại nói:

– Có một điều này xin chưởng môn lão sư phó phải lưu ý. Trong vòng mười hai giờ, đừng để người tiến vào quấy nhiễu Mã cô nương, cũng không cho cô mở miệng nói năng. Không thế thì nội khí chia rẽ, độc chất không hút hết ra được. Chỉ còn sót lại một tý thì bao nhiêu công lao từ trước đều thành công dã tràng cả đấy.

Hồ Phỉ cười đáp:

– Tây Nhạc Hoa Quyền chưởng môn nhân là Trình Linh Hồ kính cẩn vâng lệnh Thái thượng chưởng môn Trình Linh Tố, nhất nhất tuân theo, không dám trái lệnh.

Trình Linh Tố cười hỏi:

– Tiểu muội mà làm thái thượng chưởng môn của đại ca được ư? Cái đó…

Cô nói tới đây đột nhiên dừng lại, cúi xuống coi thương thế của Mã Xuân Hoa. Một lát sau cô quay đầu nhìn lại thấy Hồ Phỉ vẫn mở mắt không ngủ. Chàng ngơ ngẩn xuất thần nhìn ra ngoài cửa sổ. Cô liền hỏi:

– Đại ca nghĩ gì vậy?

Hồ Phỉ đáp:

– Tiểu huynh đang lo về chuyện ngày mai họ thấy chân tướng mình niên kỷ không đúng thì biết ăn nói làm sao đây? Còn may là mình chỉ ở lại mười hai giờ rồi phủi tay mà đi. Làm như vậy là có điều không phải với họ, lòng rất đỗi áy náy, nhưng sự thể đã đến nước này thì cũng đành phải…

Trình Linh Tố cười, đỡ lời:

– Đành phải làm chó nhảy qua tường mà chạy.

Hồ Phỉ cười đáp:

– Phải rồi! Có điều không ngờ nhảy tường vào, lại gặp chuyện kỳ quái.

Trình Linh Tố đăm đăm nhìn Hồ Phỉ một hồi, rồi lẩm bẩm:

– Hay lắm! Cứ làm như vậy đi.

Hồ Phỉ lấy làm lạ hỏi:

– Cứ làm như vậy là thế nào?

Trình Linh Tố đáp:

– Dọc đường chúng ta đã hóa trang làm tiểu hồ tử thì chuyến này giả làm một đại hồ tử (người đứng tuổi có râu). Tiểu muội gắn râu vào cho đại ca, nhuộm da mặt một chút cho già thêm hai chục tuổi nữa. Đại ca làm sư huynh của Cơ Hiểu Phong thì tuổi phải gần bốn chục mới được.

Hồ Phỉ vỗ tay cả mừng nói:

– Hay lắm! Tiểu huynh đang buồn phải chạm mặt Phúc Khang An, tưởng chừng không thể đến coi cuộc đại hội chưởng môn nhân. Nếu nhị muội hóa trang cho tiểu huynh giống hệt một gã đại hồ tử, thì Trình Linh Hồ ta sẽ đường đường chính chính dùng thân phận chưởng môn Tây Nhạc Hoa Quyền môn vào giữa cuộc đại hội mà quan sát.

Trình Linh Tố thở dài nói:

– Bất tất phải đi dự đại hội chưởng môn làm chi nữa. Chờ đến ngày mai Mã cô nương bình yên vô sự là xong việc. Còn việc dự hội đầy dẫy nguy cơ, đại ca chẳng nên mạo hiểm làm chi.

Hồ Phỉ hào khí bồng bột, hỏi:

– Nhị muội! Tiểu huynh chỉ hỏi một câu: Tiểu huynh giả làm người có râu được không?

Trình Linh Tố mỉm cười, đáp:

– Hóa trang thành người già, làm bộ râu giả thì có khó gì? Cái khó là ở chỗ cất tay nhấc chân, thái độ ăn nói phải đúng người già. Dù có là lão anh hùng tinh thần quắc thước, võ công cái thế đi nữa nhưng vẫn khác với người tuổi trẻ.

Hồ Phỉ nói:

– Tiểu huynh sẽ cố gắng hết sức, chỉ cần lừa được họ trong một lúc là xong.

Trình Linh Tố đáp:

– Hay lắm! Chúng ta cứ thử một phen. Lần này tiểu muội sẽ giả làm bà già đi theo đại ca dự đại hội chưởng môn nhân, để xem cuộc náo nhiệt.

Hồ Phỉ hứng chí cười ha hả, nói:

– Nhị muội! Hai lão huynh muội chúng ta sống đến bằng này tuổi đầu, đã sắp vào hòm rồi thì cuộc náo nhiệt đó vì lý do gì lại không tham dự?

Trình Linh Tố khẽ hạ giọng bảo nhỏ:

– Nói khẽ chứ!

Mã Xuân Hoa nằm trên giường đã cử động, may nàng chưa tỉnh giấc.

Hồ Phỉ thè lưỡi ra, co ngón tay khẽ gõ vào trán nói:

– Đáng chết lắm!

Trình Linh Tố lấy bao kim chỉ ra. Cô cầm con dao nhỏ cắt một mớ tóc đen nhánh.

Cô lại lấy một chút thuốc trong hộp hòa vào bát nước trong. Cô đặt mớ tóc vào bát nước nói:

– Đại ca nghỉ một chút đi, chờ cho những sợi tóc mềm này biến thành sợi râu cứng ngắc.

Hồ Phỉ liền nhắm mắt lại, trong lòng rất hoan hỷ về sự thông minh cơ trí của cô nghĩa muội.

Trong lúc mơ màng, chàng thấy Mã Xuân Hoa bị chất độc phát tác làm cho chết người, tình trạng coi rất khủng khiếp. Có lúc lại thấy túm được Phúc Khang An thống trách hắn lòng dạ tàn độc. Lại có lúc thấy mình bị bọn vệ sĩ bắt gặp, hết sức dãy giụa mà không sao thoát thân được.

Bỗng nghe một giọng nói ôn nhu vẳng bên tai:

– Đại ca! Đại ca đang nằm mơ gì vậy?

Hồ Phỉ đứng phắt dậy, dụi mắt ngưng thần hỏi:

– Để tiểu huynh chiếu cố Mã cô nương cho, nhị muội hay đi nghỉ một lát.

Trình Linh Tố đáp:

– Tiểu muội phải làm bộ râu giả cho đại ca xong mới yên tâm được.

Cô lấy những sợi tóc cứng ở trong bát nước ra làm, dùng nước kèn dán vào cằm Hồ Phỉ. Công việc này không mất nhiều thời gian, chỉ kéo dài gần một giờ. Khi những tia nắng hồng chiếu qua cửa sổ thì công việc đã xong.

Hồ Phỉ lấy giương soi thì không khỏi sửng sốt vì thấy bộ râu quai nón cứng đơ đâm tua tủa, chẳng những mặt mũi khác hẳn, mà còn tăng thêm phần uy võ. Trong lòng rất cao hứng, chàng cười nói:

– Nhi muội! Tướng mạo tiểu huynh bây giờ càng đẹp. Ngày sau tiểu huynh cứ để nguyên bộ râu này.

Trình Linh Tố muốn nói:

– Chỉ e ý trung nhân của đại ca không vừa lòng.

Nhưng lời nói ra tới cửa miệng cồ liền dừng lại.

Trình Linh Tố cực nhọc suốt đêm, lại thấy Mã Nuân Hoa đã yên ổn, cô không chống nổi nữa, phục xuống bàn ngủ thiếp đi.

Mười năm sau, Hồ Phỉ nhớ lại tình cảnh hôm nay, đã giữ bộ râu để làm kỷ niệm. Điều đó Trình Linh Tố không hề hay biết.

Hồ Phỉ lấy tấm chăn đơn đắp lên người cô, nhẹ nhàng bồng cô đặt nằm ngang trên giường. Chàng đắp chăn cho cô, lại lấy tấm khăn vàng bịt mặt mình, rồi tới ngoài phòng Cơ Hiểu Phong cất tiếng hỏi:

– Cơ huynh! Cơ huynh có ở trong nhà không?

Cơ Hiểu Phong đằng hắng một tiếng, hỏi lại:

– Ai đó? Có việc gì?

Hồ Phỉ đẩy cửa bước vào phòng.

Cơ Hiểu Phong đang ngồi trên ghế, vừa ngó thấy chàng liền “ủa” lên một tiếng rồi đứng dậy.

Hồ Phỉ nói:

– Cơ huynh! Tiêu đệ đến xin lỗi Cơ huynh.

Cơ Hiểu Phong vẫn đứng trơ không trả lời, khóe mắt lộ vẻ thù địch.

Hồ Phỉ lại nói:

– Có một điều tiểu đệ cần nói rõ cho Cơ huynh hay là tiểu đệ quyết không có ý đoạt chức chưởng môn quý phái. Chỉ vì cơ duyên ngẫu hợp, tiểu để lâm vào tình trạng bất đắc dĩ mà làm hư đại sự của Cơ huynh.

Đoạn chàng đem việc Mã Xuân Hoa trúng độc rồi bị quan binh vây bắt ra sao, chàng vượt tường trốn lánh thế nào, vì cứu người mà phải thượng đài tiến công, đều nhất nhất thuật lại. Chỉ có điểm Mã Xuân Hoa bị ai ám hại và người đuổi bắt chàng là bộ hạ của Phúc Khang An thì chàng chỉ đề cập lướt qua.

Cơ Hiểu Phong lẳng lặng nghe hết câu chuyện, vẻ mặt hắn hòa hoãn lại đôi chút nhưng gã chỉ “ồ” một tiếng chứ không tiếp lời.

Hồ Phỉ lại nói:

– Lời nói của bậc đại trượng phu coi nặng bằng non. Nếu trong vòng mười ngày mà tại hạ không nhường lại ngôi chưởng môn cho Cơ huynh sẽ chết dưới đao kiếm, ngàn thu để hảo hán giang hồ thóa mạ.

Người võ lâm chết dưới đao kiếm là chuyện thường tình nhưng để anh hùng thiên hạ phỉ nhổ là điều sỉ nhục vô cùng.

Cơ Hiểu Phong thấy chàng phát lời trọng thệ, liền đáp:

– Chức chưởng môn này các hạ bất tất phải nhường lại. Võ công các hạ hơn tại hạ gấp mười lần, điều đó tai hạ biết rõ. Có điều các hạ không phải người bản môn mà chấp chưởng môn hộ thì khiến lòng người bất phục.

Hồ Phỉ nói:

– Đúng thế! Chờ sau khi cuộc đại hội chưởng môn kết thúc, tiểu đệ sẽ đem sự thực trịnh trọng tuyên bố để tạ tội trước mặt các vị tiền bối của quý môn. Sau đó các đệ tử quý môn sẽ căn cứ vào võ công mà định ngôi chưởng môn. Như vậy có được không?

Cơ Hiểu Phong nghĩ thầm:

– Trong bản môn chẳng ai thắng được mình. Tranh chức chưởng môn so với việc để y nhường lại còn vinh quang hơn nhiều.

Trong lòng đã tính toán, hắn liền gật đầu đáp:

– Như vậy thì được, nhưng mà Trình đại ca…

Hồ Phỉ mỉm cười, ngắt lời:

– Tiểu đệ họ Hồ, tệ nghĩa muội mới là họ Trình.

Chàng nói rồi bỏ tấm khăn vàng che mặt ra.

Cơ Hiểu Phong thấy chàng râu quai nón đâm tua tủa, tướng mạo uy võ thì không khỏi khen thầm.

Gã nói:

– Hồ đại ca! Mấy vị tiền bối ở bản môn khó thuyết phục lắm. Ngày sau đại ca nói sự thực ra, chắc thế nào cũng xảy ra một trường sóng gió. Tuy cõ công đại ca rất cao minh chẳng sợ gì ai, nhưng dù là hảo hán cũng không địch nổi nhiều người. Tây Nhạc Hoa Quyền môn của tại hạ gặp phải đại sự trong môn hộ là chẳng khác gì âm hồn bất tán, cứ theo sát không thôi.

Hồ Phỉ cười đáp:

– Điều này tiểu đệ cũng đã nghĩ tới rồi. Trong cuộc đại hội chưởng môn sắp tới đây, tiểu đệ sẽ hết sức làm vẻ vang cho Tây Nhạc Hoa Quyền môn để đem công chuộc tội. Như vậy, tất cả các vị tiền bối chắc cũng lượng thứ cho.

Cơ Hiểu Phong khẽ gật đầu, thở dài nói:

– Đáng tiếc là trong mình tại hạ trúng phải chất kịch độc, chẳng dám làm hao tổn khí lực. Nếu không thì tiểu đệ đem quyền pháp của bản môn biểu diễn vài đường cho Hồ huynh coi. Hồ huynh nhớ kỹ vào lòng thì lúc lâm sự khỏi bị bại lộ hành tung.

Hồ Phỉ cười ha hả, xá dài Cơ Hiểu Phong một cái rồi nói:

– Cơ Huynh! Tiểu đệ xin thay mặt nghĩa muội bồi tội với Cơ huynh.

Cơ Hiểu Phong đáp lễ, trong lòng cực kỳ bất mãn, tự hỏi:

– Ta bị thị hạ độc, gã còn cười cái gì?

Trong lòng nghĩ như vậy, vẻ bất mãn lộ hẳn ra ngoài mặt.

Hồ Phỉ hỏi:

– Cơ huynh! Tệ nghĩa muội hạ độc vào mình Cơ huynh, vết thương ở chỗ nào?

Cơ Hiểu Phong vén ống tay áo bên trái lên. Cánh tay gã sưng lên một chỗ lớn bằng quả trứng gà, da thịt đen xạm lại. Miệng vết thương lớn bằng đầu ngón tay, máu đen cứ ri rỉ chảy, giống như bị trúng chất kịch độc.

Hồ Phỉ nghĩ bụng:

– Cách dùng thuốc của nhị muội quả thật thần kỳ. Không hiểu y dùng dược vật gì làm cho cánh tay gã biến thành thế này? Giả như ta mà bị một vết thương như vậy, ắt cũng không ăn ngon ngủ yên được.

Chàng liền hỏi:

– Cơ huynh thấy thế nào?

Cơ Hiểu Phong đáp:

– Chỗ thịt này tê dại không cảm giác gì nữa.

Hồ Phỉ nghĩ bụng:

– Té ra y đã dùng thuốc tê cực mạnh.

Chàng liền đưa tay nắm lấy tay hắn, đưa miệng vào vết thương mà hút mạnh.

Cơ Hiểu Phong cả kinh, la lên:

– Không được đâu! Không được đâu! Hồ huynh không muốn sống nữa chăng?

Nhưng hai tay gã bị chàng nắm chặt không nhúc nhích được, trong lòng kinh nghi tự hỏi:

– Chất kịch độc này ở cánh tay còn ghê gớm như vậy mà gã hút vào miệng há chẳng chết ngay ư? Giữa ta và gã vốn chẳng thân thích lại không quen biết, sao gã lại liều mạng để cứu ta?

Hồ Phỉ hút mấy hơi, nhổ xuống đất rồi cười khanh khách, nói:

– Cơ huynh bất tất phải kinh nghi. Độc dược này là thuốc giả đó.

Cơ Hiểu Phong không hiểu nói:

– Huynh đệ bảo sao?

Hồ Phỉ đáp:

– Tệ nghĩa muội với Cơ huynh vốn chưa từng quen biết thì khi nào y lại tùy tiện hạ độc thủ để gia hại Cơ huynh? Y muốn trêu chọc Cơ huynh, nên cho thứ thuốc tê vô hại mà thôi. Cơ huynh cứ coi tiểu đệ hút vào miệng được là cứ yên tâm.

Cơ Hiểu Phong tuy đã uống thuốc giải của Trình Linh Tố đưa cho, nhưng trong lòng vẫn lo âu, chẳng hiểu thuốc giải có công hiệu gì không? Dù chất độc giải trừ được nhưng liệu có để lại để lại hậu họa, làm tổn thương đến gân cốt hay không? Bây giờ gã thấy Hồ Phỉ nói vậy bất giác vừa kinh ngạc vừa mừng thầm, hỏi:

– Hồ huynh! Hồ huynh nói rõ cho tiểu đệ nghe… chẳng lẽ không sợ tại hạ không nghe theo lời nữa ư?

Hồ Phỉ đáp:

– Bậc đại tượng phu kết giao cốt ở sự thành tín. Tiểu đệ thấy Cơ huynh là người nghĩa khí, sao lại để Cơ huynh phải lo lắng thêm mấy ngày nữa?

Cơ Hiểu Phong cả mừng, vỗ bàn nói:

– Hay lắm! Tiểu đệ giao kết bằng hữu với Hồ huynh. Dù Hồ huynh có đắc tội với đương kim Thiên tử hay phạm tội tày trời, tiểu đệ cũng quyết vì Hồ huynh xuất lực, quyết chẳng chau mày.

Hồ Phỉ cười đáp:

– Đa tạ hậu ý của Cơ huynh. Tại hạ đắc tội với một người kia dù chẳng phải là đương kim Thiên tử nhưng quyền thế cũng chẳng kém gì. Cơ huynh! Đêm qua tiểu đệ thấy Cơ huynh đi một đường Hoa Quyền trong đó có chiêu xoay người lại, đưa gối lên đánh xuyên chưởng ra, bộ pháp sau khi tiến đánh thì mới nhảy lên; cớ sao bộ pháp Cơ huynh vừa mới nhảy lên lưng chừng lại biến đổi phương hướng?

Đây là Hồ Phỉ nói về chiêu “Dã mã hồi hương toản đề hành”. Động tác trong chiêu này rất phức tạp.

Cơ tiểu Phong nghe chàng hỏi vậy, nghĩ thầm:

– Nhãn quang của gã này quả nhiên lợi hại! Đêm qua ta tập trung tinh thần biểu diễn đường Hoa Quyền từ đầu đến cuối. Có một chiêu “Dã mã hồi hương toản đề hành”, ta vừa nhảy lên, rồi chợt nhớ tới cánh tay trúng phải kịch độc, không khỏi tâm thần tán loạn. Nếu ta mà cùng gã động thủ thì gã nắm được chỗ sơ hở này ngay.

Hắn đáp:

– Nhãn quang của Hồ huynh rất đỗi cao minh. Tiểu đệ vô cùng bội phục! Thực tình chiêu đó tiểu đệ biểu diễn không được thỏa đáng.

Thế rồi hắn sử lại một lần nữa.

Hồ Phỉ gật đầu nói:

– Như vậy mới đúng. Nếu không thế, Cơ huynh sử chiêu như đêm hôm qua thì e rằng sẽ bị địch nhân thừa cơ đánh vào.

Bây giờ Cơ Hiểu Phong đã biết mình chưa bị trúng độc, gã phấn khởi tinh thần liền đem mười hai bộ Tây Nhạc Hoa quyền biểu diễn lại hết.

Hồ Phỉ học đúng chiêu thức, tuy trong lúc nhất thời chẳng thể nào nhớ hết, nhưng cũng lĩnh hội được tinh nghĩa của mỗi lộ quyền.

Chàng nói:

– Quyền pháp của quý phái quả bác đại tinh thâm. Nếu dày công khổ luyện thì uy lực vô cùng. Tiểu đệ nhận thấy chỉ cần tinh thông được một trong mười hai lộ Hoa quyền này cùng đủ dương danh thiên hạ rồi.

Cơ Hiểu Phong nghe chàng tán tụng võ công bản phái, trong lòng rất cao hứng, đáp:

– Đúng thế! Trong bản môn có hai câu khẩu quyết là: “Hoa Quyền Tứ Thập Bát, Nghệ Thành Hành Thiên Nhai”. Công phu bốn mươi tám đường quyền chia ra làm mười tám đường quyền đăng đường, mười hai đường quyền nhật thất. Ngoài ra còn có mười tám đường công phu về lộ đao, thương, kiếm, kích, côn, bổng. Đệ tử của bản môn đừng nói đến hai chữ “Nghệ thành”. Trong bốn mươi tám đường công phu, học được hết quả không có mấy.

Hai người đàm luận võ công rất ý hợp tâm đầu, đã qua giờ ngọ từ lúc nào không hay.

Bọn người hầu của chủ nhân phái đến Hồ Phỉ mấy lần định mời chàng ra ăn cơm, nhưng thấy hai người đang say sưa luyện võ, nên chỉ đứng một bên, không dám lên tiếng.

Đến lúc Cơ Hiểu Phong sử chiêu “Hoàn phong cước” tung người nhảy lên không trung rồi đá tạt ngang, ngoài cửa sổ đột nhiên có tiếng người hoan hô:

– Chiêu “Phong quyền tích lịch thượng cửu thiên” thất là tuyệt diệu.

Hồ Phỉ nhìn ra thì chính là lão già họ Thái. Chàng vội niềm nở khoanh tay tiến lại chào hỏi.

—–

Ghi chú của Kim Dung:

Thứ nhất: đời Thanh, chuyện tướng quốc phu nhân hạ độc là có thật. Trong “Tùy viên thi thoại” của Viên Mai, quyển một có nói: “Người cô lớn của tôi làm dâu nhà họ Diêu. Mẹ của Diêu có tài làm thơ, ra ngoài đi dạy học. Vào đời Khang Hy, quang tướng quốc đem nghìn vàng làm lễ vật đến mời dạy cho An công tử. Đến phủ, vào vườn hoa thấy lầu son gác tía lộng lẫy phi thường. Có hai cô gái ra lạy chào, dung nhan tuyệt tục. Nói chuyện mới biết cả hai đều là người xứ Ngô, tuổi chừng mười sau, mười bảy học đàn, học thơ đều rất thông minh. Ban đêm cùng ngủ với thầy dạy, mới hay bao nhiêu năm làm thị nữ nhưng chưa phục vụ chăn gối cho tướng công.

Một đêm kia, cả hai đều ở nội phủ ra, mắt đỏ hồng. Hỏi thì đáp: “Phu nhân cho gọi đến ban thưởng rượu”, rồi thay áo mà đi ngủ. Chưa đến canh hai, cả hai đều chui ra khỏi màn, nằm lăn dưới đất kêu la, miệng ú ớ nói không rõ lời. Được một lúc, thất khiếu đều ra máu mà chết. Khi phu nhân ban rượu, đã bỏ thuốc độc vào đấy.

Mẹ họ Diêu liền lo thu thập hành lý, nửa đêm bỏ trốn về nhà.

Thứ hai: Phúc Khang An là người rất dâm ác. Trong “Tùy viên thi thoại” có nói: “Phúc Khang An cùng dâm cực ác, gây nghiệt chướng nặng nề, lưu độc cho con cháu, có thể lấy đó làm gương để răn đe”.

Nhưng lời phê chú trên đây được viết khoảng đời Gia Khánh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.