Chương 94: Phủ Kim Bình, Ngươn Dạ xem đèn – Cầu Kim Ðăng, Ðường Tăng bị bắt

Nói về bốn thầy trò đi đặng ít lâu bình an vô sự.

Xảy thấy thành trì trước mặt, nhơn dân đông đảo, phố xá hẳn hoi, có nhiều kẻ du côn thả rễu theo đường du hí du thực, tánh hay kêu ngạo vô cùng.

Thấy ba người dị hình liền theo coi có dọc, song chặng dám lại gần.

Ði một đổi, Tam Tạng thấy có chùa cao lớn, trước cửa đề: Từ Vân tự.

Tam Tạng biểu ba trò vào chùa nghỉ.

Tôn Hành Giả nói:

– Xong lắm, xong lắm!

Khi ấy bốn thầy trò vào cửa chùa, thấy một Hòa Thượng ra nghinh tiếp, bái Tam Tạng mà hỏi rằng:

– Lão sư ở đâu đến đây?

Tam Tạng thưa rằng:

– Ðệ tử ở Trung Hoa, vâng chỉ Ðại Ðường thiên tử qua Tây Phương lạy Phật thỉnh kinh.

Hòa Thượng nghe nói liền lạy, Tam Tạng đở dậy hỏi rằng:

– Viện chủ, vì cớ nào mà phải lạy, là cớ chi vậy?

Hòa Thượng bạch rằng:

– Chúng tôi tu hành tại đây cứ tụng kinh thường và niệm Phật, cầu khẩn kiếp sau đầu thai về Trung Hoa, nay thấy lão sư hình dung minh mẩn, y phục nghiêm trang, nên biết kiếp trước Lão sư tu đã dày công, nên nay mới đặng như vầy. Tôi trọng đức hạnh nên phải lạy mừng.

Tam Tạng cười rằng:

– Bần tăng có đức chi mà dám chịu khen ngợi. Ðệ tử là sải đi đường, chưa hưởng phước thanh nhàn, sao bằng viện chủ là người đã được an nhàn, hưởng phần khoái lạc!

Ðoạn hòa thượng rước Tam Tạng vào chùa.

Tam Tạng liền ra ngoài kêu và ngoắt ba người đệ tử.

Hòa Thượng ngó thấy ba ngườidị tướng, liền chắp tay bái Tam Tạng và hỏi rằng:

– Gia gia ôi! Ba vị cao đồ sao diện mạo hung hăng dữ vậy?

Tam Tạng nói:

– Tuy là tướng dữ mà lòng lành, lại có phép lực nữa. Bần tăng cũng nhờ ba anh em nó bảo hộ, nên mới đi đặng tới đây.

Nói rồi lên chùa lạy Phật.

Khi Tam Tạng lạy Phật rồi, xuống phương trượng đàm đạo, xảy có các hòa thượng khác chạy ra hỏi rằng:

– Lão sư ở Trung Hoa, nay đến đây có chuyện chi?

Tam Tạng nói:

– Tôi vưng chỉ Ðường thiên tử qua Tây Phương lạy Phật thỉnh kinh, nay đi ngang qua đây, gặp bửu tự càng mừng lắm, nên ghé vào mà lạy Phật, và hỏi thăm đây là xứ chi, rồi dùng càn hương, sẽ lên đường kẻo trể.

Các sải nghe nói mừng rỡ, hối nhau dọn cơm.

Hai ba Hòa Thượng xuống nhà trù kêu mấy sải khác mà dặn rằng:

– Mau mau ra phương trượng mà coi người Trung huê, té ra là trung huê cũng có người tốt kẻ xấu. Người thì lịch sự nhu tranh vẽ, kẽ thì mặt quá sơn đen, người thời như Thái tuế Lôi Công, kẻ lại giống Ngưu đầu Mã điện!

Mấy sải kia nghe nói lấy làm lạ, thừa dịp bưng trà ra mà coi thử cho rõ ràng.

Viện chủ mời TamTạng uống. Tam Tạng uống rồi hỏi thăm rằng:

– Chẳng hay đây là xứ chi?

Các sải nói:

– Ðây là quận Thiên trúc, gọi là phủ Kim Binh.

TamTạng hỏi:

– Từ phủ này cách núi Linh Sơn chừng bao nhiêu dặm?

Các sải nói:

– Từ đây tới kinh đô hơn hai ngàn dặm, chúng tôi thường đi nên biết chừng, chớ thuở nay chúng tôi chưa đi tới núi Linh Sơn, không biết còn cách bao xa nên không dám nói bướng.

Kế dọn sơm chay đãi bốn thầy trò xong xả, Tam Tạng tạ ơn và giã từ.

Các sải đồng cầm rằng:

– Xin Lão sư ở nán lại vài bửa mà coi hội nguơn tiêu, rồi sẽ đi cũng không trể.

TamTạng giựt mình nói rằng:

– Ðệ tử mảng lo đi mà quên hết ngày tháng, chẳng hay còn mấy bữa nữa tới tiết nguơn tiêu?

Các sải cười và nói rằng:

– Lão sư có lòng thỉnh kinh, nên không nhớ ngày tháng. Chớ nay là ngày mười ba tháng giêng rồi. Nên tối nay thử đèn, ngày mai dọn dẹp xong xả, khuya lại thắp đèn khắp nơi cho tới mười tám, mười chín mới mản hội. Bởi tục lệ xứ này vua vui chơi lắm, quan Thái thú lại thương dân như con đỏ, nên thắp đèn khắp một phủ không bỏ chỗ nào, thiệt là ở với bá tánh cong bình lắm! Vã lại đời xưa có lưu truyền cái Kim Ðăng kiều, đến nay xinh tốt hơn hết, xin lão sư nán lại coi ít bữa cho vui, chúng tôi đủ sức phụng dưởng.

Tam Tạng cùng chẳng đã phải ở nán lại.

Ðến tối, nghe trên chùa chuông trống vang đầy, ấy là lối xóm đem dưng đèn cúng Phật.

Bốn thầy trò ra trước chùa mà xem đèn, rồi trở lại phương trượng mà nghỉ ngơi.

Bữa sau cơm nước xong xả, bốn thầy trò đi ngoạn kiểng sau vườn, ăn cơm chiều rồi rủ nhau đi dạo ngoài chùa coi đèn giàng vừa đủ, coi đến canh hai mới trở lại chùa mà ngủ.

Bữa rằm Tam Tạng nói:

– Ðệ tử có lời nguyện, gặp tháp thì quét tháp. Nay gặp tiết thượng nguơn, xin viện chủ mở cửa cho tôi quét.

Các sải y lời mở cửa tháp, và đưa chổi mới cho Tam Tạng.

Tam Tạng lên chùa thắp hương lạy Phật, vái rồi cầm chổi đi quét tháp; quét tới chiều mới rồi.

Cơm nước xong thì đã tôi, các sải nói:

– Hai đêm nay chúng ta coi đèn tại xóm không lấy làm vui, đêm nay chánh nguơn tiêu, hãy đếnthành mà xem đèn mới thú!

Tam Tạng y lới, bốn thầy trò đồng đi với các sải vào thành. Ngó thấy đèn nhiều như sao mọc, đêm sáng như ban ngày, bởi đêm ấy quan Kim ngô không cấm nên trai gái già trẻ đều đi chơi. Trên thì thắp đèn, dưới thì hát bội, tốp thì múa rối, tốp thì cởi voi, tốp thì mang lớp thú mà nhào, tốp đội mặt yêu mà nhảy, bên này lấn lại, bên kia lấn qua, bốn thầy trò coi đả mản nhản. Tam Tạng chen lấn tớ cầu Kim Ðăng, thấy trên chong ba ngọn đèn vàng rất lớn, sức bằng cái mát: Trên ba ngọn đèn ấy có mành mành bằng vàng, làm có tua như lâu đài rực rở, hơi đầu bay ra thơm ngát, ba ngọn đèn sáng tới chơn thành.

Tam Tạng hỏi thăm các sải rằng:

– Chẳng hay thắp dầu chi mùi thơm lạ lắm?

Các sải nói:

– Bởi lão sư chưa rõ, trong phủ này có huyện Mân thiên, huyện ấy rộng tới một trăm bốn chục dặm, cọng nội huyện làhai trăm bốn mươi nóc gia lớn chịu bạc mua dầu, mỗi nhà phải đậu hai trăm lượng bạc dầu mà thắp đèn ấy, song dầu này là dầu tô diệp không phải dầu thường, giá một lượng dầu tới hai lượng bạc! Thì một cân dầu tới ba mươi hai lượng, nên hai trăm bốn mươi nhà giàu, mỗi nhà chịu hai trăm lượng bạc, cọng bốn muôn tám ngàn lượng bạc, mà mau có một ngàn năm trăm cân dầu, đủ đồ đầy ba mái ấy, vì mỗi mái đựng năm trăm cân dầu, Phủ huyện còn ráng ra chủ khác đậu thêm hai ngàn lượng bạc mà sắm các vật phục tùng, tính cọng là năm muộn lượng bạc mới đủ hội này, song sở phí thì lớn mà thắp có ba đêm!

Tôn Hành Giả hỏi rằng:

– Lẽ nào thắp ba đêm hết bấy nhiêu dầu ấy?

Các sải nói:

– Mỗi mái dầu tới bốn chục tim đèn, tim đèn ấy bó tim bức với bông vải, kết bằng chỉ tơ, lớn bằng cái trứng gà, hể cháy hết tím này thì thay tim khác Thắp hai đêm trước với đêm nay là ba, thì Phật giáng thế hiện hình mà chứng minh, thì đêm mai dầu khô rom, thắp không cháy nữa!

Khi ấy Bát Giới đứng gần đó, nghe nói cười rằng:

– Có khi Phật thâu mới thô rom như vậy.

Các sải nói:

– Phải, xưa nay lưu truyền cũng nói như vậy, nếu thấy khô dầu thì nói Phật Tổ thâu dầu rồi, chắc năm nay đặng mùa. Nếu năm nào còn thì năm ấy thất mùa, vì nắng mưa không thuận. Nên ai nấy đều van vái cho Phật thâu dầu.

Giây phút nghe gió thổi vo vo, những người coi đèm đều tứ tán.

Các Hòa Thượng nói:

– Lão sư đi về cho mau, gió thổi tới thì có Phật giáng hạ.

Tam Tạng hỏi:

– Sao biết chắc Phật giáng hạ?

Các sải nói:

– Năm nào cũng vậy, đền rằm tháng giêng hết canh hai thì gió lớn, thì các Phật giáng hạ xem đen và thâu dầu, nên ai nấy nghe gió thì biết chừng đều lui về hết.

Tam Tạng nói:

– Ðệ tử là người đi tìm Phật mà thỉnh kinh, lẻ nào ẩn mặt, nay có Phật giáng thế thì tôi ở lại lạy mừng.

Các sải biểu hoài không đặng, đều kéo nhau về.

Giây phút ba vị Phật ở trên mây bay xuống, ngồi trên bàn ngay mấy ngọn đèn.

Tam Tạng lòng mừng bước lên cầu làm lễ.

Tôn Hành Giả coi rõ kêu rằng:

– Sư phụ, trở xuống cho mau. Ấy là yêu tinh giả Phật đó?

Nói chưa dứt lời thấy đèn tắt hết, nghe hú một tiếng, Tam Tạng mất xác và hồn! Ấy là yêu tinh thuở nay giả Phật, đem đồ đến tắt đèn mà lấy dầu, sẳn gặp Tam Tạng lên cầu nên nó thỉnh luôn về động.

Khi ấy Sa Tăng, Bát Giới và kêu thầy và kiếm dáo dác.

Tôn Hành Giảnói lớn rằng:

– Anh em đừng kêu gọi làm chi?Bởi thầy hết vui tới buồn, đã bị yêu tinh bắt rồi, còn đâu mà kiếm!

Mấy sải nghe nói kinh hải, trở lại nói rằng:

– Sao gia gia biết yêu tinh bắt rồi?

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Té ra các ngươi là phàm phu, mấy năm nay bị yêu gạt, ngỡ là Phật giáng hạ mà chứng đền này! Chớ ta mới coi rõ ba vị Phật ấy thiệt là yêu tinh hóa ra. Bởi thầy ta không biết, mới lên cầu mà lạy, bị yêu tắt đèn trút dầu hết, lại bắt thầy ta theo; bởi ta chập chưn, nên nó trốn khỏi.

Sa Tăng hỏi:

– Sư huynh ôi! Như vậy biết tính làm sao?

Tôn Hành Gỉa nói:” Chẳng trể nải, hai đứa bây về chùa với mấy thầy, coi giữ đồ hành lý. Ðể Lão Tôn cứ ngọn gió mà duổi theo.

Nói rồi nhảy lên mây, đánh hơi gió tanh, bay theo hướng Ðông Bắc.

Theo đến sáng mới hết gió, thấy non cao chớn chở, Tôn Hành Giả ngó xung quanh, thấy bốn người đuổi ba con dê, miệng la:

– Khai thái.

Tôn Hành Giả coi rõ là bốn vị Công Tào, là Trị Niên Công Tào, Tri Ngoạt CôngTào, Trị Nhựt Công Tào, Trị Thời công tào.

Tôn Hành Giả nổi giận rút thiết bảng giá mà hăm rằng:

– Các ngươi đừng mà con mắt ta, đố chạy đâu cho khỏi?

Tứ trị công tào kinh hãi hiện hình thiệt, bái mà thưa rằng:

– Xin Ðại Thánh thứ tội cho chúng tôi.

Tôn Hành Giả nói:

– Bấy lâu ta không sai tới chúng bây, nên ở không sanh sự làm biếng, chẳng hề đến ra mắt ta? Sao không bảo hộ Ðường Tăng, đi chuyện chi đó?

Tứ trị công tào thưa rằng:

– Tôn Sư ham vui nên mắc nạn, hết vui thì phải tới buồn. Tuy bị yêu bắt mặc lòng, song có Hộ pháp và Dà lam phò hộ, chúng tôi e Ðại Thánh chưa biết đường đi vào núi, nên đón mà báo tin.

Tôn Hành Giả hỏi:

– Các ngươi đi báo tin thì phải lắm, sao lại giả hình mà ó ré và rượt dê làm chi?

Tứ trị công tào nói:

– Dùng ba con dê ấy mà tỉ chử Tam dương khai thái, mà giải các vạn bỉ của Tôn Sư.

Tôn Hành Giả hỏi rằng:

– Hòn núi này có phải chổ yêu tinh ở chăng?

Tứ trị cong tào nói:

– Phải, ấy là núi Thanh Long, trong núi ấy có động Huyền Anh, trong động ấy có ba con yêu: Con yêu lớn hiệu là Tịch Hàng đại vương, con yêu thứ nhì hiệu là Tịch Thử đại dương, con yêu thứ ba hiệu là Tịch Trần đại vương, bầy yêu ấy ở đây đã ngàn năm, chúng nó từ nhỏ đến lớn hảo uống dầu tô điệp, nên chúng nó ở đây hay giả làm hình Phật, gạt quân dân tại Phủ Kim Bình, thắp đèn Nguơn tiêu bằng dầu tô điệp, năm nào đến nữa tháng này, chúng nó giả hình Phật mà đi thâu dầu. Năm nay thấy Tôn Sư biết là thánh tăng, nên nó bắt về động; không bao lâu chúng nó sẽ xắt thịt Tôn Sư chiên dầu tô diệp mà ăn tiệc. Ðại Thánh phải hết lòng hết sức mà đi cứu cho mau.

Khi ấy Tôn Hành Giả nghe nói rồi, liền bảo Tứ trị công tào về phò hộ Sư phụ. Còn mình đi qua hòn núi mà kiếm động yêu.

Ði ít dặm, xảy thấy dưới hòn núi có khe, dựa khe có động đá một cánh cửa; dựa cửa động có dựng một tấm bia đá vòng nguyệt, đề sáu chử: Thanh Long sơn, Huyền Anh động.

Tôn Hành Giả dám xông vào, đứng ngoài kêu lớn rằng:

– Bớ yêu quái, mau trả thầy cho ta!

Nghe trong động mở cửa, có con Ngưu đầu tinh nhảy ra, hăm hở hỏi rằng:

– Ngươi là ai, dám đến đây kêu réo?

Tôn Hành Giả nói:

– Ta là học trò của Ðường Tam Tạng ở tại Ðông Ðộ đi thỉnh kinh, thầy ta coi đèn tại phủ Kim Bình, bị chúa yêu bắt về động, mau mau trả lại cho ta, thì còn tánh mạng.

Ngưu đầu tính liền vào báo lại.

Khi ấy ba con chúa yêu đương bảo tiểu yêu lột quần áo Tam Tạng, tắm rửa cho sạch, đặng xách nhỏ chiên dầu tô diệp có họa!

Chúa yêu hỏi:

– Chuyện chi?

Ngưu đầu tinh nói:

– Có một Hòa Thượng mặt có lông như khỉ, mõ nhọn như Thiên Lôi, đứng trước cửa động hành hung, bảo trả thầy cho nó.

Chúa yêu nghe báo giựt mình nói rằng:

– Hồi nãy bắt sải ấy chưa kịp hỏi họ tên cội rễ. Vậy thì mấy đứa nhỏ đem quần áo cho sải ấy bận vào, rồi dẫn nó vào đây cho ta hỏi thử?

Các tiểu vưng lịnh, dẫn Tam Tạng đến.

Tam Tạng hãi kinh run lặp cặp, quì xuống thưa rằng:

– Xin đại vương dung mạng.

Ba chúa đồng hỏi rằng:

– Ngươi là hòa thượng ở sứ nào, sao thấy Phật mà không tránh, dám đón đường ta?

Tam Tạng lạy và thưa rằng:

– Tôi là sải ở Ðông độ, vưng chỉ đi qua chùa Lôi âm mà thỉnh kinh. Bởi ghé phủ Kim Bình chùa Từ Vân mà ăn nhờ một bữa. Nhờ ơn các sải chùa ấy cầm ở nán mà coi đèn Nguơn tiêu. Thấy Ðại vương hiện hình Phật, tôi là thai phàm mắt thịt, thấy Phật thì lạy, không dè xúc phạm Ðại vương.

Chúa yêu hỏi rằng:

– Từ xứ Ðông Ðộ đến đây xa lắm, ngươi đi một lũ là mấy người, khai tên họ cho rõ, nói thiệt thì ta tha.

Tam Tạng thưa rằng:

– Bần tăng họ Trần, pháp danh la Huyền Trang, hiệu là Ðường Tam Tạng. Tôi có ba đệ tử, thứ nhứt là Tôn Ngộ Không hiệu là Tôn Hành Giả, nguyên trước là Tề Thiên đại thánh quy y.

Các yêu nghe nói tên ấy, giựt mình hỏi rằng:

– Phải la Tề Thiên đại thánh năm trăm năm trước phản Thiên cung đó chăng?

Tam Tạng nói:

– Phải! Còn người thứ nhì là Trư Bát Giới vốn thiệt Thiên Bồng nguyên soái đầu thai. Còn người thư ba là Sa Ngộ Tịnh, vốn thiệt Quyện Liêm đại tướng quân xuống phàm.

Ba chúa yêu nghe nói đều kinh hải nói:

– May là chưa ăn thịt nó. Phải ăn lở thì khó lòng. Thôi chúng bây đem nó mà xiềng lại phía sau, đợi bắt đặng ba người học trò sẽ ăn thịt luôn thể.

Nói rồi điểm một lũ Ngưu tinh cầm binh khí ra cửa động dàn binh phất cờ gióng trống.

Còn ba chúa yêu nai nạt xong xả, cầm khí ra động nạt rằng:

– Ai ó ré trước cửa ta đó?

Tôn Hành Giả ngó thấy ba con yêu, một con cầm búa đồng, một con cầm siêu đao, một con vác hèo mây.

Còn bao nhiêu tiểu yêu là Ngưu tinh hết thảy! Ðứa thì vác gậy, có ba đứa cầm cây cờ lớn, cờ thứ nhứt đề:

– Tịch Hàng đại vương, cờ thứ nhì đề: Tịch Thử đại vương; cờ thứ ba đề:Tịch Trần đại vương. Tôn Hành Giả bước tới hét lớn rằng:

– Yêu tặc, biết Lão Tôn hay chăng?

Chúa yêu nạt rằng:

– Ngươi là Tôn Ngộ Không làm phản thiên cung, chúng ta nghe đồn mà chưa thấy mặt; nay thấy mặt hổ thẹn quá chừng! Té ra ngươi là con khỉ nhỏ mà dám nói lơn lối!

Tôn Hành Giả nổi giận hét lớn rằng:

– Chúng bây là lũ yêu quái ăn vụng dầu, đừng có nói bậy. Mau trả lại thầy cho ta.

Nói rồi huơi thiết bảng đập đại. Ba chúa yêu đưa khí giái ra đở; đánh một trăm năm chục hiệp, mặt trời gần lặn, mà chưa thấy hơn thua.

Khi ấy Tịch Trần đại vương cầm gậy mây nhảy trái rung cờ, lũ Ngưu tinh thấy rung cờ, đồng hè xốc tới vây Hành Giả bịt bùng, đứa cầm giáo mà đâm, đứa vác hèo mà đập.

Tôn Hành Giả nhắm thế không lại, hú một tiếng nhảy lên mây mà chạy. Chúa yêu không đuổi theo, liền thâu binh về động.

Còn Tôn Hành Giả về chùa Từ Vân, thuật chuyện với Sa Tăng, Bát Giới.

Bát Giới nói:

– Chắc chỗ ấy là thành Phong đô.

Bát Giới cười rằng:

– Ðại ca nói binh nó là quỷ Ngưu đầu, nên ta biết đó là Ðịa ngục.

Tôn Hành Giả nói:

– Không phải đâu, ta coi bộ con yêu ấy chắc là con tây thành tinh.

Bát Giới nói:

– Nếu quả nó là con tây thành tinh, thì mình bắt nó cưa lấy u mà bán, cũng đặng bạc ít chục.

Ba anh em đương nói chuyện, kế các sải dọn cơm chiều, ăn uống xong xả.

Tôn Hành Giả nói:

– Thôi, sửa soạn đi ngủ cho khỏe, để sáng chúng ta đồng đi đánh lũ yêu mà cứu sư phụ.

Sa Tăng nói:

– Anh ôi! Lời tục thường nói rằng:

– Ðể trể thì sanh chuyện. Nếu đem nay lũ yêu không ngủ, nó ăn thịt sư phụ, thì mới làm sao? Chi bằng đi bây giờ, thì chúng ta trở tay không kịp, chắc cứu thầy mới đặng. Nếu chậm trễ thì khó lòng.

Bát Giới nghe rõ chuyển lực nói rằng:

– Sư đệ nói phải lắm. Vậy thì chúng ta thừa dịp sáng trăng đi đánh yêu quái.

Tôn Hành Giả nói:

– Vậy thì mấy thầy giữ gói đồ và coi giùm con ngựa, đặng chúng tôi đi bắt yêu đem về nộp cho quan, cắt nghĩa rõ: Yêu giả phật mà thâu dầu, thì cứu dân khỏi sự tổn phí.

Các sải đều khen phải và vưng lời, rồi ba anh em đồng bay riết.

Chương 95: Hành Giả biết yêu, trừ Ngọc Thố – Thiên Bồng nhớ tật, níu Hằng Nga

Tôn Hành Giả thấy thầy có nết như vậy, thì khen thầm rằng:

– Ðáng ông hòa thượng lắm, tuy tai phàm mắt thịt mà thấy sắc không mê, chẳng mến giàu sang không tham lợi lộc! Ta phải ráng cứu kẻo tội nghiệp thầy.

Xảy thấy Hoàng Hậu dắt Công Chúa lại gần, lạy chúc vạn tuế.

Tam Tạng run cằm cặp hồn vía lên mây!

Tôn Hành Giả coi rõ trên đầu Công Chúa có một điểm khí yêu, song không dữ cho lắm. Liền bay lại nói nhỏ bên tai Tam Tạng rằng:

– Thầy ôi! Công Chúa giả.

Tam Tạng nói nhỏ lại rằng:

– Biết là giả, làm sao cho nó hiện hình.

Tôn Hành Giả nói:

– Ðể tôi hiện hình bắt nó?

Tam Tạng nói:

– Không đặng, không đặng, chẳng nên kinh giá, để Hoàng đế và Hoàng Hậu lui ra rồi sẽ hay.

Tôn Hành Giả tánh nóng nảy đợi không đặng, hiện nguyên hình nhảy lại chụp Công Chúa và hét lớn rằng:

– Nghiệt súc, ngươi cả gan lộng giả thành chơn còn chưa vừa ý, lại muốn hại tới thầy ta.

Khi ấy vua Thiên Trúc thất kinh chết đứng.

Hoàng Hậu về bò càng, cung nga thế nữ chạy mất hết!

Còn Tam Tạng vừa run vừa ôm vua Thiên Trúc mà tâu rằng:

– Xin Bệ Hạ đừng kinh hãi. Ấy là đệ tử tôi hiện hình, mà bắt Công Chúa giả.

Khi ấy con tinh biết lậu sự rồi, nó vùng khỏi Hành Giả liền cởi áo và bỏ đồ nữ trang chạy ra miếu Thổ Ðịa lấy cái chày đâm thuốc như đoản côn.

Tôn Hành Giả đuổi theo, náo quay lại đánh một chày.

Tôn Hành Giả giựt thiết bảng ra đở.

Hai người đánh tại vườn hoa.

Giây phút nó nhảy lên nữa lừng.

Tôn Hành Giả liền nhảy theo đánh.

Bá tánh xem thấy vở mật, nội trào coi cũng hết hồn, Tam Tạng kêu và nói lớn rằng:

– Ai nấy đừng hãi kinh, ấy là yêu tinh giả hình Công Chúa, để học trò tôi bắt nó, thì biết cội rễ rõ ràng.

Còn mấy bà Quý Phi lấy trâm nĩa áo dưới đất đưa cho Hoàng Hậu xem rồi phán rằng:

– Thiệt y phục của con ta. Song nó đã để mình trần mà đánh với hào thượng trên mây, chắc là loài yêu quái mới đằng vân đặng.

Vua Thiên Trúc nói phải, quan quân xét lại mới tỉnh hồi, đồng coi hai người hổn chiến trên mây, hơn nữa ngày không phân thắng bại, ai nấy đều lấy đầu!

Còn Tôn Hành Giả giận quá, quăng thiết bảng lên, bảo:

– Biến biến.

Thiết bảng liền biến ra cả trăm cái, đánh đập tứ bề, con tinh hóa gió lên mây.

Tôn Hành Giả bay lên đuổi mãi, đu thét tới Tây Thiên Môn, thấy cờ xí phất phơ, Tôn Hành Giả kêu lớn nói rằng:

– Mấy người giữ Tây Thiên Môn phải đón yêu tinh lại, đừng để nó chạy qua!.

Khi ấy Hộ Quốc Thiên Vương nghe kêu, liền dẫn tứ Nguơn soái, đem binh cản lại. Con tinh đi tới không đặng, tức mình trở lại đánh liều mạng với Hành Giả.

Tôn Hành Giả coi lại thấy đoản côn của con yêu, một đầu lớn, một đầu nhỏ, coi như cái chày đâm thuốc, liền nực cười hỏi rằng:

– Nghiệt súc, ngươi cả gan dám lấy chày mà cự với thiết bảng của Lão Tôn!

Con tinh nghiến răng trẹo trẹo mà nói rằng:

– Ngươi không biết binh khí của ta, hãy nghe cho rõ, vốn nó bằng ngọc, ở tại thiềm cung, quết thuốc TSnh; không biết mấy ngàn trăm mà kể, có sợ chỉ thiết bảng của ngươi, đánh nhằm một chày thì hồn về chín suối.

Tôn Hành Giả nghe nói cười rằng:

– Nghiệt súc ôi! Ngươi đã ở Cung Thiềm, thì biết danh Lão Tôn lắm, sao còn dám cực địch với ta. Mau mau hiện nguyên hình ta dung tánh mạng.

Con yêu nói:

– Ta cũng biết ngươi là Bật mả ôn, năm trăm năm trước phá tới Thiên cung, đáng lẽ nhịn ngươi mới phải. Ngặt vì ngươi phá việc vợ chồng, cũng như là cứu cha mẹ, nên tức lòng ta lắm, quyết một đòn một mất với ngươi.

Tôn Hành Giả nghe nói tới Bật mả ôn, liền nổi hành hung hổn chiến.

Nói vừa đánh vừa chạy cửa Nam thiên, đánh ráng ít hiệp rồi nó hóa ra hào quang sáng giới, bay xuống hướng Nam, Tôn Hành Giả theo đuổi tới hòn núi kia, hào quang nhập vào núi, Tôn Hành Giả kiếm không đặng sợ nó trở về hại thầy nên nhìn hòn núi cho nhớ, rồi liền bay trở lại.

Lúc ấy nhằm giờ thân, vua Thiên Trúc và Hoàng Hậu đương nghi ngại, xảy thấy Tôn Hành Giả ở trên mây nhảy xuống kêu rằng:

– Thầy ôi! Tôi đã về đây.

Tam Tạng nói:

– Ngộ Không đứng lại vững vàng, chẳng nên làm kinh giá. Ta hỏi ngươi: Vậy chớ chuyện công chúa giả ra thể nào?

Tôn Hành Giả chắp tay đứng ngoài cung Chi Thước thưa rằng:

– Ðệ tử đánh nữa ngày nó đã đại tẩu tôi đuổi theo tới núi hướng nam, kiếm hoài không đặng nó. Nên tôi sợ nó biến hóa về cung mà hại thầy, phải trở lại xem thử.

Vua Thiên Trúc nghe nói, liền níu Tam Tạng mà hỏi rằng:

– Như giả Công Chúa là yêu, chớ chơn công chúa ở đâu, xin cắt nghĩa cho rõ.

Tôn Hành Giả nói hớt rằng:

– Ðợi Lão Tôn bắt gả công chúa xong, tự nhiên có chơn công chúa.

Khi ấy Hoàng Hậu nghe nói rất mừng, hết lòng nghi sợ, liền bước tới lạy Hành Giả mà nói rằng:

– Xin thánh đặng cứu chơn công chúa về đây, tôi sẽ đền ơn trọng thể.

Tôn Hành Giả nói rằng:

– Chốn này là cung cấm, tôi chẳng lẽ nói chuyện lâu, xin nương nương an lòng về cung. Còn Bệ Hạ và thầy tôi ra đền, tôi sẽ nói chuyện lâu mới đặng.

Hoàng Hậu y lời về cung.

Còn vua Thiên Trúc đi với TamTạng và Hành Giả ra đến truyền chỉ dọn tiệc thiết đãi. Tôn Hành Giả nói:

– Xin mời hai vị sư đệ tôi đến đây bảo hộ thầy tôi, phòng khi yêu nó hiện về làm hại, thì tôi mới vững bụng đi bắt yêu tinh.

Vua Thiên Trúc y lời thỉnh Sa Tăng, Bát Giới tới, Tôn Hành Giả thuật chuyện lại. Rồi dặn rằng:

– Hai em phải rán sức giữ gìn thầy cho lắm, đặng ta đi bắt yêu tinh đem về, sẽ lo tìm công chúa thiệt.

Dặn rồi nhảy thót qua núi nam, kiếm một hồi không thấy cửa động!

Tôn Hành Giả nổi nóng, bắt ấn niệm chú thâu Sơn thần, Thổ Ðịa đến hỏi rằng:

– Núi này tên chi, có bao nhiêu yêu quái, phải khai thiệt, kẻo ta đập chết bây giờ?

Sơn thần, Thổ Ðịa quỳ thưa rằng:

– Núi này tên là Mao Ðỉnh, trong núi có ba cái hang nhỏ chớ không có yêu quái, từ xưa đến nay gọi là Phước Ðịa, nếu đại thánh muốn kiếm yêu quái, xin đi theo ngỏ lên Tây Phương, chớ đây thiệt không có yêu quái.

Tôn Hành Giả nói:

– Ta mới đuổi một con yêu đến núi này, không biết nó chốn ngỏ nào, kiếm hoài không đặng! Thổ Ðịa, Sơn Thần nghe nói hồ nghi yêu tinh chung xuống hang thỏ mà trốn, nên dẫn Hành Giả đến ba cái hang thỏ mà kiếm, mới tới hai cái hang dưới chơn núi, thỏ thất kinh chạy vở cả bày, coi lại là hang trống không có chi hết.

Ðoạn dẫn lên chót núi tới hang thỏ lớn đã thầy lấp rồi, coi lại tấm đá lớn đậy miệng hang.

Thổ Ðịa nói:

– Chắc yêu tinh bị đuổi nột, nên chun xuống hang này.

Tôn Hành Giả lấy thiết bàng xeo tấm đá lên, con yêu ở dưới hang hú một tiếng nhảy lên mắng rằng:

– Ai bảo Sơn Thần làm khôn, Thổ Ðịa mách miệng, đem cừu nhơn tới ổ kiếm ta?

Vừa mắng Thổ Ðịa, Sơn Thần, vừa đánh với Hành Giả. Thổ Ðịa, Sơn Thần rút lui.

Còn Tôn Hành Giả ráng sức bình sanh, đánh con yêu ấy trở tay không kịp, nó và đánh và rút lui cho tới trời tối.

Tôn Hành Giả ráng sức đuổi theo, con yêu ấy chắc mười phần phải chết, vì đã đuối sức rồi.

Xảy nghe trên mây có tiếng kêu lớn rằng:

– Ðại Thánh khoan đánh đã.

Tôn Hành Giả ngó ngoái lên, thấy Thái Âm Tinh Quân đi với Hằng Nga tiên nữ, đã bay xuống trước mặt Tôn Hành Giả giựt mình không dám đánh nữa, liền bái mà hỏi rằng:

– Chẳng hay bà giáng hạ có chuyện chi?

Thái Âm Tinh Quân nói:

– Con yêu đánh với ngươi đó, là con Ngọc Thố của ta, nó thuở nay ở tại cung Quảng Hàn đâm thuốc huyền sương là TSnh dược. Bởi nó ăn cắp chìa khóa mở cửa cung mà trốn, dã một năm nay. Ta đánh tay biết bữa nay nó bị nạn mà chết, nên xuống đây mà cứu nó. Xin Ðại Thánh vị mặt ta, tha nó làm ơn.

Tôn Hành Giả nói rằng:

– Hèn chi nó đánh với Lão Tôn bằng cái chày đâm thuốc! Bởi bà không rõ, ngở nó là hiền, chớ nó xuống phàm bắt công chúa nước Thiên Trúc mà hưởng phú quý, nay nó gieo cầu nhằm thầy tôi, quyết chăm làm Phò Mã, thiệt là hai, ba án không lẽ thứ tay.

Quan Âm Tinh Quân nói:

– Ðại Thánh không rõ, chớ Công chúa không phải người phàm, nguyên trước là Tố Nga ở tại cung Quảng Hàn, cách hai mươi năm có đánh Ngọc Thố một vã. Sau lại sanh tâm muốn việc trần tục, mới lén xuống đầu thai mà làm công chúa nước Thiên Trúc. Còn Ngọc Thố oán Tố Nga vã nóp một cái, nên sau lén xuống báo cứu, mới bắt Tố Nga quăng ra ngoài đồng cho bỏ ghét, rồi hiện hình ở thế trong cung, tội ấy đáng giết. Song sanh sự chấm Bần Tăng làm Phò Mã, tôi ấy không dung. Tuy vậy mà chưa động phạm tới Ðường Tăng, xin Ðại Thánh vị tình mà tha tội cho nó, ta sẽ đem nó về cung Quảng Hàn.

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Như vậy thì sự nhơn quả một vay một trả cũng vừa, Lão Tôn cũng oán cứu chi mà nghịch ý chỉ. Song còn một điều này bất tiện lắm: Nếu bà thâu Ngọc Thố về cung, chắc Lão Tôn thuật chuyện lại vua Thiên Trúc không tin, vì chẳng có bằng cớ! Vậy thì xin bà chịu phiền đi với Lão Tôn đem Ngọc Thố tới đền vua Thiên Trúc mà làm chứng cho tôi. Một là rõ thần thông của Lão Tôn, hai là cắt nghĩa cho rõ sự nhơn quả của công chúa.

Thái Âm Tinh Quân nghe nói liền chỉ con yêu mà nạt rằng:

– Sao ngươi chưa hiện nguyên hình, còn đợi chừng nào nữa?

Con yêu ấy liền nhào xuống, hiện nguyên hình là con thỏ ngọc, lông trắng như sương.

Thái Âm Tinh Quân lấy dây cột cổ nó mà dắt đi, truyền Hằng Nga đằng vân theo mình đi qua đền vua Thiên Trúc với Hành Giả.

Lúc ấy đã chạng vạng, trăng mọc tỏ rõ.

Vua Thiên Trúc, Tam Tạng đương ngồi ngắm đền, xảy thấy hướng nam có một vừng mây đỏ sáng chói như ban ngày, bay lần tới trước điện.

Lại nghe Tôn Hành Giả kêu lớn rằng:

– Bệ Hạ nghe cho rõ: Hãy mời Hoàng Hậu ra đây mà xem.

Vua Thiên Trúc y lời, vợ chồng và các Quý Phi đồng ra ngoài đền mà làm lễ.

Khi ấy Tôn Hành Giả và cắt nghĩa rằng:

– Bà đây là Nguyệt Cung Hoàng Hậu Thái Âm Tinh Quân, còn cô này là Hằng Nga trong cung Nguyệt, còn con thỏ mầy là Ngọc Thố nó giả làm công chúa trót năm.

Vua Thiên Trúc và Hoàng Hậu với các Quý Phi đồng thắp hương quì lạy. Tam Tạng, Sa Tăng, Bát Giới và bá văn võ cũng lạy mừng.

Có thiên hạ cũng đặt bàn hương án; lạy và niệm phật.

Khi ấy Bát Giới thấy Hằng Nga đứng sau lưng Thái Âm Tinh Quân, trực nghĩ nhớ chuyện cũ, Bát Giới nhảy bổ lên nửa lừng, nắm tay áo Hằng Nga mà cười rằng:

– Nàng ôi, ta với nàng là tình cũ nghĩa xưa, cũng vì nàng mà ta phải đọa ra thân ông chản, xin nàng xét chuyện cũ mà thương tình ở chơi một lát với tôi kẻo tội nghiệp!

Tôn Hành Giả thấy gay con mắt, liền bước lại xách tay Bát Giới, vã miệng vài cái và mắng rằng:

– Ngươi còn thói rừng, không biết lễ nghĩa. Chỗ này không phải chỗ chơi mà dám trêu hoa ghẹo nguyệt?

Bát Giới nói:

– Giữa chốn này ta làm chi đặng mà ngại, bất quá giả ngộ cho vui kẻo buồn.

Khi ấy Thái Âm Tinh Quân và Hằng Nga đồng bay về cung Nguyệt.

Còn Tôn Hành Giả kéo cổ Bát Giới xuống.

Vua Thiên Trúc mời Hành giả vào đền, hỏi thăm rằng:

– Trẫm nhờ ơn Ðại Thánh trổ tài hoa phép trừ đặng yêu tinh, song không biết công chúa thiệt ở đâu, xin cắt nghĩa cho rõ?

Tôn Hành Giả nói:

– Chơn công chúa không phải cốt phàm. Vốn thiệt Tố Nga trong cung Nguyệt, bởi hai mươi lăm trước Tố Nga bạt tai Ngọc Thố một cái, rồi sanh tâm muốn xuống phàm trần, mới lên đầu thai vào Hoàng Hậu. Còn Ngọc Thố nhờ tiền cứu, năm ngoái trốn xuống bắt Tố Nga bỏ lại đồng hoang, rồi biến hình công chúa vào cung mà ở. Sự nhơn quả ấy là Thái Âm Tinh Quân cắt nghĩa rõ ràng như vậy. Nay Thái Âm Tinh Quân đã thâu Ngọc Thố về cung Thiềm, mai Bệ Hạ giàng giá đi tìm công chúa.

Vua Thiên Trúc nghe rõ, rơi lụy than rằng:

– Con ôi! Từ khi trẫm lên ngôi đến nay, không đi ra khỏi cửa thành, nay biết con ở đâu mà kiếm cho đặng!

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Bệ Hạ đừng phiền não làm chi, chơn công chúa bây giờ ở tại chùa Bố Kim, bữa nay đã tối, hãy nghỉ ngơi, mai Lão Tôn sẽ đem công chúa lại.

Khi ấy bá quan nghe nói, đồng quì tâu rằng:

– Xin Bệ Hạ hãy an lòng, chớ phiền muộn mà kém hao vóc ngọc. Thần tăng biết việc đằng vân giá vụ thì càng thông quá khứ vị lai. Mai Bệ Hạ cậy thần tăng dẫn đường, thì tìm ra công chúa.

Vua Thiên Trúc y tấu, lau nước mắt phán rằng:

– Ðiển Thiện quan, dọn yến tại Lưu xuân đình đãi bốn vị thánh tăng cho xứng đáng.

Khi ấy quan Ðiển Thiện vưng chỉ, dọn yến rồi, mời bồn thầy trò ăn uống xong xả, liền dọn phòng nghỉ ngơi.

Còn đêm ấy Vua Thiên Trúc và Hoàng Hậu, mảng nhớ con nên vợ chồng than khóc, không ngủ đặng chút nào. Tuy vậy mặc lòng mà yêu tinh đi rồi, nên Vua Thiên Trúc và Hoàng Hậu đều tiêu hết hơi đen trên mặt, tinh thần mạnh mẽ, trí hóa minh mẫn như xưa.

Rạng ngày Vua Thiên Trúc lâm triều, bá quan văn võ chầu chực chúc tụng xong xả. Vua Thiên Trúc cho mời bốn thầy trò vào đền, truyền nhắc bốn cái túi đôn mời ngồi tử tế.

Vua Thiên Trúc bước xuống ngai phán rằng:

– Hồi hôm Ðại Thánh nói rằng: Chơn công chúa bây giờ ở tại Bố Kim tự, Hòa Thượng thuật chuyện rằng: Năm ngoái đương tham thiền trong lúc ban đêm, nghe tiếng khóc văng vẳng ngoài cửa sau, bước ra nền Kỳ Viên, ngó thấy một người quốc sắc, ngồi một mình than khóc. Lão Hòa Thượng nghi là yêu quái, mới hỏi căn do: Nàng ấy nói mình là công chúa nước Thiên Trúc đi ngoạn kiểng bị gió lớn thổi bay tới đây.

Lão Hòa Thượng lập thế mà nuôi, vì sợ ác tăng khuấy phá, nên lấy xiềng mà xiềng nàng ấy trong phòng rồi đóng cửa chắc chắn, đục một lỗ đúc chén cơm, nói gạt các sải rằng:

– Mới bắt đặng yêu tinh xiềng tại phòng ấy, sợ xuống hại lê dân, song cứ mỗi ngày đem cơm nước cho nó ăn mà làm phước. Các sải cũng tin, và nàng ấy cũng biết ý, nên ban ngày giả điên nói xàm, con ban đêm kêu cha mẹ mà khóc! Lão Hòa Thượng muốn dưng cho Bệ hạ, song chẳng nghe tin mất công chúa, nên chẳng dám dưng vì sợ có tội. Khi Bần tăng đến chùa ban đêm nghe tiếng khóc, mới hỏi thăm Lão Hòa Thượng có thiệt như vậy, cũng hồ nghi yêu tinh giả hình công chúa mà ở trong cung, mới ân cần dặn Bần Tăng, đến đổi điệp thì dò tin cho rõ, nếu quả có mất công chúa gieo sầu, mới bị vấn vương mất bữa!

VuaThiên Trúc nghe rõ liền cất tiếng khóc vang.

Khi ấy Tam cung lục viện nghe vua khóc lớn, thất kinh đồng chạy đến hỏi thăm.

Nghe thuật chuyện lại vân vân, ai nấy cũng động lòng rơi lụy.

Giây phút vua Thiên Trúc bớt khóc, liền hỏi thăm rằng:

– Chẳng hay chùa Bố Kim cách bao nhiêu dặm?

Tam Tạng tâu rằng:

– Cách đến chừng hơn sáu chục dặm.

VuaThiên Trúc phán rằng:

– Vậy thì thái sư coi thế việc Triều đình cho trẫm, đặng cho trẫm với chánh cung Hoàng Hậu dẫn bá quan theo Ðại Thánh đến chùa Bố Kim mà rước công chúa.

Bá quan vưng chỉ giàng giá theo phó.

Tam Tạng và Sa Tăng, Bát Giới dẫn lộ.

Tôn Hành Giả dùn mình một cái đã tới chùa Bố Kim.

Các sải thấy Tôn Hành Giả ở nữa lừng sa xuống?

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Ta lên trời cũng đặng, hạ xuống nữa lừng! Chẳng hay có lão sư ở trong chùa hay chăng? Bảo ra đặt bàn hương án tiếp giá. Vì VuaThiên Trúc và Hoàng Hậu bá quan đi với thầy ta gần tới cửa núi. Các sải nghe nói kinh hãi, không hiểu cớ gì! Liền vào bạch với thầy như vậy như vậy.

Khi ấy lão Hòa Thượng ra mắt Tôn Hành Giả, rồi quỳ lạy rằng:

– Lão gia gia ôi! Chuyện công chúa ra thể nào?

Tôn Hành Giả thuật hết các việc.Lão Hòa Thượng lạy tạ ơn.

Tôn Hành Giả hối rằng:

– Dọn bàn hương án, mà tiếp giá cho mau!

Các sải nghe rõ đầu đuôi, mới biết nàng ấy là công chúa, không phải yêu tinh, ai nấy nữa mừng nữa sợ.

Liền mặc áo cá sa, đặt bàn hương án, dộng chuông đánh trống vang tai!

Giây phút vua Thiên Trúc ngự đến cửa núi, các sải đồng quỳ lạy tiếp giá.

Vua Thiên Trúc thấy Hành giả đứng trong chùa!

Vua Thiên Trúc phán hỏi rằng:

– Ðại Thánh tới đây hồi nào vậy?

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Lão Tôn vung vai một cái, đã tới cửa chùa, sao ai nấy đi quá lâu, sao bây giờ mới tới? Nhắm chừng cũng có nữa ngày!.

Khi ấy Tam Tạng thỉnh vua vào chùa, đến sau liêu, nghe công chúa còn giả điên, nói xàm inh ỏi!

Tam Tạng chỉ và nói rằng:

– Công Chúa ở trong phòng đó.

Lịnh truyền mở khóa phá cửa, Hoàng Hậu bước vào, liền ôm con mà khóc!

VuaThiên Trúc cũng tiếp theo! Sáu tròng đều ôm lụy khóc một hồi, rồi truyền hâm nước cho công chúa tắm rửa thay y phục như xưa, liền đỡ lên kiệu, khiêng về cung lập tức.

Còn Tôn Hành Giả chắp tay bái vua Thiên Trúc mà tâu rằng:

– Xin Bệ Hạ y tâu?

VuaThiên Trúc đáp lễ hỏi rằng:

– Ðại Thánh muốn bảo chuyện chi, trẫm cũng vưng lời cả thảy.

Tôn Hành Giả tâu rằng:

– Tên núi này là Bá Cước, bởi Bá Cước là trăm cẳng nên nhiều loài rít thành tinh, đón bộ hành mà cắn, xin Bệ Hạ truyền chỉ cho một ngàn con gà cồ, thả vào trong núi, cho nó ăn những ngò công, thì mới tuyệt loài ấy, và sửa tên núi lại cho tốt. Còn chùa này có ơn nuôi công chúa, cũng nên sùng tu lại, và phong tặng cho thầy cả mà đền ơn.

VuaThiên Trúc phán rằng:

– Phải lắm phải lắm.

Liền cải tên núi ấy lại là Bửu Hoa Sơn, ban chỉ tuyển gà trừ rít, và truyền chỉ quan công bộ cất chùa lại, phong lại là:

– Sắc kiến Bửu Hoa Sơn Cấp Cô Bố Kim Tự.

Phong lão Hòa Thượng làm chức Báo Quốc Tăng Quan, cứ mỗi tháng cấp lương ba mươi sáu thạch gạo trắng, tiền Bảo Quốc Tăng Quan có tạ thế, cũng chọn một vị đệ tử làm chứa ấy ăn lộc luôn luôn, mấy đời cũng vậy, các sải mừng rở tạ ơn; rồi đưa vua về nước.

Ðoạn Vua Thiên Trúc về đền, dọn tiệc đoàn viên đãi rất trọng thể, công chúa tạ ơn bốn thầy trò, thờ tại Trấn Hoa các, Tam Tạng từ giả đi thỉnh kinh, VuaThiên Trúc cầm hoài, đãi tiệc luôn tám bữa.

Tam Tạng vào đền tạ từ nữa, VuaThiên Trúc biết cầm lâu không đặng, truyền đem bạc vàng hai trăm đính, châu báu một mâm mà tạ ơn.

Bốn thầy trò không chịu lãnh. Vua Thiên Trúc truyền dọn bốn cổ xe, đưa bốn thầy trò cách trọng thể chúa tôi ngồi kiệu đi đưa.

Còn các sải chùa Bố Kim cũng muốn qua Tây Phương nên đi theo mãi.

Khi ấy Tôn Hành Giả sợ các sải theo báo hại, trể nải ngày giờ, nên làm phèp hóa một trận dông, các sải sợ cát vô con mắt đều nhắm lại!

Bốn thầy trò đi mới đặng xa, lặng giông các sải mở mắt ra, không thấy dạng bốn vị, bơ ngơ ngáo ngát phải trở về chùa.

Chương 96: Khấu Viên ngoại ưa đãi thầy tu Ðường Trưởng lão chẳng màn của cúng

Nói về bốn thầy trò, từ khi Tôn Hành Giả hóa gió cho các sải trở về đi đặng thong thả.

Lúc này hết Xuân qua Hè, đi đặng nữa tháng, tuy là không gặp yêu tinh, khỏi mắc tai nạn, song ăn sương nằm tuyết lại lên ải xuống đèo người ngựa cũng mỏi mệt.

Ngày kia thành trì trước mặt, Tam Tạng hỏi rằng:

– Chỗ nào đó vậy?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

– Không biết không biết.

Bát Giới cười rằng:

– Anh là người dạo khắp bầu trời, đi cùng trái đất, lẽ nào lại không biết? Chắc là cố ý mà khuấy chúng tôi chăng?

Tôn Hành Giả nói:

– Thằng khùng không biết xét lẽ, ta tuy qua lại đường này cũng nhiều lần, bất quá bay theo mây gió, chẳng hề bước chơn xuống đất, không hỏi thăm là xứ gì! Bởi cớ ấy nên không biết thiệt tình, nào cố tình nói mật.

Lúc đến thành Tam Tạng xuống ngựa, dắt qua khỏi thành, thấy hai ông già ngồi dựa hàng ba nói chuyện.

Tam Tạng nói:

– Ðồ đệ hãy đứng ngoài đường mà đợi, để ta bước vào mái hiên, hỏi thăm một chút.

Dặn rồi liền bước lại chắp tay thưa rằng:

– Bần Tăng kính chào hai vị thí chủ.

Khi ấy hai ông đang ngồi đàm đạo, nói sách nói chuyện lăng xăng:

– Nghĩ thương anh hùng đời xưa, bây giờ cũng ra tro ta đất.

Xảy thấy Tam Tạng chắp tay chào hỏi.

Hai ông đáp lễ hỏi rằng:

– Trưởng lão ở đâu tới đây?

Tam Tạng nói:

– Bần Tăng ở phương xa, đi thỉnh kinh Tây Phương đem về Ðông Ðộ. Nay đến dây không biết quý sứ tên chi? Và chẳng hay có nhà nào lòng nhân từ, đến hóa trai một bủa? Xin hai ông làm ơn dạy chỉ giùm.

Ông già kia nói rằng:

– Ðây là phủ Ðông Ðài, sau phủ có một huyện gọi là huyện Ðịa Linh. Còn trưởng lão đừng đi hoa trai làm chi, cứ đi thẳng theo dãy này, có cái nhà lầu trở cửa qua hướng đông, trước cửa có tượng hình bạch hổ, ấy là Khấu Viên Ngoại, trước cửa có treo tấm bảng, đề rằng: Vạn Tăng bất trở, chẳng hề bỏ sót sải nào. Nếu thấy thầy ở phương xa tìm tới, chắc là hậu đãi mười phần, thôi đi đi đừng làm cắt đức chuyện của chúng tôi, tội lắm!

Tam Tạng tạ tử trở lại thuật chuyện với Hành Giả, bốn thầy trò đi lần tới chợ, thiên hạ lấy làm lạ, và coi và nói nhỏ với nhau.

Tam Tạng dặn ba trò đừng sanh sự.

Ba anh em nghe lời cúi mặt mà đi một cách nhu mì.

Giây phút tới chợ, thấy một tòa lầu lớn, trước có treo tấm bảng bốn chử: Vạn tăng bất trở.

Tam Tạng khen rằng:

– Cảnh Tây Phương thiệt là đất phật!

Bát Giới muốn đi vô.

Tôn Hành Giả cản rằng:

– Khoan đã, khoan đã! Ðể coi có ai ra đây hỏi tới rồi sẽ đi vào.

Kế có một đứa gia đình bước ra, tay cầm một cái cân, tay xách một cái giỏ, đi tới ngó thấy ba người đi tướng, thất kinh liệng cân quăng giỏ, chạy vào nhà báo rằng:

– Ông ôi! Có bốn sải dị hình, đứng ngoài cửa ngỏ.

Khấu Viên Ngoại dương chống gậy đứng tại nhà cầu và niệm phật.

Xảy nghe gia đình vào báo.

Khấu Viên Ngoại bước ra mời vào, nói rằng:

– Các nhà lớn này là chỗ tiếp đãi cao tăng; còn cái nhà nhỏ kia chỗ tôi ở.

Tam Tạng thấy từng trên có thờ Phật, liền khen ngợi nhiều lời. Rồi mặc áo cà sa, bước lên lạy Phật, rồi trở xuống cởi áo cà sa, đàm đạo với Viên Ngoại.

Tam Tạng nói:

– Thế chủ thờ phượng nghiêm trang lắm!

Khấu Viên Ngoại hỏi:

– Chẳng hay trưởng lão ở đâu đến đây?

Tam Tạng nói:

– Bần Tăng ở nước Ðại Ðường vưng lịnh Thiên Tử, qua Tây Phương lạy Phật thỉnh kinh. Nghe đồn Viên Ngoại háo thiện trai tăng, nên thầy trò tôi vào nhờ một bữa rồi đi Linh Sơn kẻo trể.

Khấu Viên Ngoại hối gia tướng coi dọn cơm mà đãi bốn thầy, và đem ngựa ra sau cho ăn cỏ mà lúa. Rồi mời bốn thầy trò ngồi trà nước.

Tam Tạng hỏi thăm việc nhà.

Khấu Viên Ngoại nói:

– Ðệ tử họ Khấu tên Hồng, tự là Ðại Khoan, năm nay sáu mươi bốn tuổi, đến nay mới đây hai mươi bốn năm mà đãi mới đặng chín ngàn chín trăm mười sáu thầy, nay còn thiếu bốn vị nữa mới là viên mản, nay trời khiến bốn vị đến, thì đủ số rồi, xin bốn thầy cho biết hiệu đặng đem vào sớ viên mãn, và xin nán lại chừng một tháng, đợi làm hội viên mản xong rồi, để tử sắm sửa kiệu và ngựa, đưa bốn vị đến núi Linh Sơn. Vì tại đây đến núi ấy không lấy làm xa, cách chừng tám trăm dặm.

Tam Tạng nghe nói gần tới Lôi Âm thì mừng lắm.

Lúc ấy gia đình hối dọn cơm om sòm.

Bà Viên Ngoại nghe mới hỏi rằng:

– Vậy chớ sải ở đâu mới tới, mà các ngươi lo dọn cơm chay?

Gia đình thưa rằng:

– Nghe bốn thầy ấy nói ở nước Ðại Ðường vưng thánh chỉ qua Tây Phương thỉnh kinh. Gia Gia nói với chúng tôi, chắc bốn thầy đó ở trên trời xa xuống, không lẽ người phàm mà đi đặng tới xứ mình, nên Gia Gia hối dọn cơm chay mà đãi.

Bà Viện Ngoại nghe nói cũng mừng, truyền a huờn lấy áo rộng mặc vào, sẽ ra xem bốn sải cho biết.

Gia đình thưa rằng:

– Có một thầy tử tế dễ xem, còn ba sải dữ tợn xấu xa thiệt có coi lắm.

Bà Viên Ngoại nói:

– Nhứt là tốt người, nhì là dị tướng, đều không phải là bực tầm thường đâu? Chúng bây hãy ra thưa cho ông hay trước rằng bà sẽ ra mắt cao tăng, cho biết người Trung Hoa.

Khi ấy gia đinh vâng lời bước ra thưa lại. Khấu Viên Ngoại gật đầu, Tam Tạng nghe nói, liền đứng dậy bước xuống.

Bà Viên Ngoại đã tới nơi, ngó thấy Tam Tạng xinh tốt, coi lại ba người đệ tử dữ dằn!

Bà Viên Ngoại biết không phải là người phàm, bền cúi đầu làm lễ.

Tam Tạng đáp lễ nói rằng:

– Cám ơn nữ Bồ Tát kính lâm.

Bà Viên Ngoại hỏi chồng rằng:

– Sao bốn vị sư phụ không ngồi chung?

Khấu Viên Ngoại không kịp trả lời.

Bát Giới cúi mặt nói lớn rằng:

– Ba anh em tôi là đệ tử.

Tiếng nói ồ ề như cọp rền, bà ấy nghe mọc ốc.

Xảy có hai người Tú tài nhỏ, bước tới lạy Tam Tạng.

Tam Tạng vội vã xuống đáp lễ, Khấu Viên Ngoại kéo Tam Tạng lại mà nói rằng:

– Hai đứa ấy là con của tôi, đứa lớn là Khấu Lương, đứa nhỏ là Khấu Ðống. Hai đứa nó đọc sách trong thơ phòng, mới ăn cơm trưa, hay Lão gia đến đây, nên chúng nó ra mắt.

Tam Tạng khen rằng:

– Hay lắm. Phải lắm! Lời cổ ngữ có nói: Con cháu muốn nên, cho đọc sách, cửa nhà đặng phước, bởi làm lành. Lời ấy thiệt không lầm, con nên tại cha mẹ khéo dạy, cho học thì chúng nó biết nhơn nghĩa lễ trí tín luôn luôn.

Khi ấy hai Tú tài nhỏ hỏi Khấu Viên Ngoại rằng:

– Thưa cha, chẳng hay lão gia ở đâu mới đến đây?

Khấu Viên Ngoại cười rằng:

– Ở xa lắm, tại Nam Thiện bộ châu, vưng chỉ Ðại Ðường hoàng đế đến Linh Sơn cầu Phật Tổ mà thỉnh kinh.

Hai tú tài nói:

– Chúng tôi có coi sách Sự Tâm quản ký, thứ sách ấy có nói, xứ này là Tây Ngưu hạ châu. Nhằm chừng Nam Thiện bộ châu đến đây, đi cũng nhiều năm lắm?

Tam Tạng cười rằng:

– Bần tăng bị trễ nải lắm, thiệt đi không đặng sóng, trăm đắng ngàn cay, gặp mưu mắc nạn, tính đi mười bốn năm tới đây, thiệt một năm đi chừng bốn tháng!

Khấu Lương, Khấu Ðồng khen rằng:

– Thiệt là sải thần, rõ là thầy thánh!

Kế gia đinh dọn tiệc chay xong xả, Khấu Viên Ngoại bảo vợ con vào phòng, còn mình ngồi ăn cầm khách, ép Tam Tạng xới cơm, còn ba người học trò khỏi nài nỉ, nhứt là Bát Giới cứ và một chén một miếng, chúng đơm cơm xớt đà không kịp.

Rồi đồ ăn cũng liền vô!

Bát Giới làm như con trốt hốt đồ, cồng cộc nuốt cá.

Ðoạn tiệc rồi, Tam Tạng đứng dậy, từ tạ xin lui.

Khấu Viên Ngoại can rằng:

– Xin sư phụ ở rán ít ngày, lời tục rằng: Ban đầu con dễ, lâu ngày càng khó. Xin thầy nán lại đợi làm xong hội viên mãn, tôi sẽ đưa thầy ngoài mười dặm mới an.

Tam Tạng thấy Viên Ngoại có lòng, nên phải vì tình nán lại.

Cách bảy ngày, Khấu Viên Ngoại thỉnh các sải ở sở tại cọng hai mươi bốn thầy đặng lo làm đám viên mãn.

Các sải ấy viết sớ và sửa soạn cuộc tiệc, ba bốn bữa mới xong.

Rồi coi ngày lành, vào đám viên mãn, tụng kinh ba ngày ba đêm mới xong đám ấy. Khấu Viên Ngoại công đức an bài rồi.

Còn Tam Tạng nóng việc đi Lôi Âm, nên giả từ Khấu Viên Ngoại.

Khấu Viên Ngoại nói:

– Mấy bữa rày tôi mắc lo đám viên mãn, nên thất lễ cúng thầy, nên thầy không bằng lòng ở lâu, mới vội đi như vậy chăng?

Tam Tạng nói:

– Bần Tăng đàng việc hậu đãi, trả ơn không đặng, có chuyện chi mà chẳng bằng lòng. Song tôi nóng việc đi thỉnh kinh lắm, vì khi trước tôi mới từ giã, Thiên Tử đưa khỏi thành, phán hỏi rằng:

– Ngự đệ đi Tây Phương, khoảng chừng nào về tới? Bần Tăng ngỡ là đi ngựa cũng mau, nên tâu rằng: Khoảng chừng ba năm. Chẳng ngờ đường xá gập ghình, yêu tinh ngăn trở, đến nay mười bốn năm trời, chưa thấy mặt Phật, không biết thỉnh đặng kinh hay chăng? May mà thỉnh đặng kinh, trở về cũng có mười hai mười ba năm nữa! Tội khi quân vì chí nặng biết chừng nào? Vậy xin Viên Ngoại cho Bần tăng đi thỉnh kinh xong, rồi sẽ trở lại ghé thăm ít bữa.

Khi ấy Bát Giới sợ mất món ăn, liền nói lớn rằng:

– Sư phụ không biết vị tình, Viên Ngoại đã có lòng thành cầm ở, là có ý trai tăng, bởi Viên Ngoại không phải túng rối chi, nay đã làm viên mãn rồi, không còn lo đãi ai nữa mà sợ, dẫu một năm cũng vô can, một hai cũng đi vội làm cho. Ðây sẳn trai tăng lại không dùng, để đi xin chổ khác! Có ông bà thân thiết ở đàng trước hay sao, nên mới nóng lòng như vậy?

Tam Tạng nổi giận mắng rằng:

– Ngươi là đứa thô tục, cứ biết một việc ăn, chắc cốt trước ngươi là một vật chi của người ta nuôi, nên quên tánh như vậy? Thôi thôi ngươi muốn ở lại thì cứ ở, mai ta sẽ lên đường, đi thỉnh kinh kẻo trể.

Còn Tôn Hành Giả thuở nay thấy thầy cưng Bát Giới, nên mình không dám động đến, bây giờ thấy Tam Tạng trở mặt.

Tôn Hành Giả cũng hùa gió bẻ măng, đè cổ Bát Giới xuống đánh một hồi và mắng rằng:

– Một mình ngươi ham ăn mà chọc thầy giận, cũng tại tiếng nói bất thông, rằng ông bà thân thiết ở đàng trước, ngươi nói ông bà ai đó, làm cho sư phụ nổi giận mắng chung với chúng ta, ấy là một người làm xấu cả bọn mang nhơ, nếu ta không nói ra thì thầy cũng nghi ta ý như vậy.

Bát Giới tức mình đứng dậy thở dốc, không dám trả lời cứ ngó thầy mãi.

Khi ấy Khấu Viên Ngoại thất thầy trò giận hờn, biết Tam Tạng không chịu ở, liền cười mà nói rằng:

– Xin sư phụ đừng nóng, hãy ở nán một bửa, đặng tôi mời ít người thân quyến, sắm sửa cờ trống, mai sẽ đưa thầy đi.

Xảy thấy bà Ngoại Viên bước ra nói rằng:

– Chẳng hay lão sư phụ đến nhà tôi đã đặng mấy ngày Tam Tạng nói:

– Ðã được nữa trăng rồi.

Bà Viên Ngoại nói:

– Nữa tháng nay thuộc về phần viên ngoại tôi, tôi xin ra công nữa tháng may y phục cho bốn thầy bận.

Kế Khấu Lương, Khấu Ðồng bước tới thưa rằng:

– Gia phụ trai tăng hơn hai mươi năm mà chưa gặp cao tăng. Nay viên mãn thời may trời xuôi bốn vị giáng hạ, cha con tôi có phước vô cùng. Song anh em tôi còn thơ ngây, chưa biết nhơn quả, có nghe lóm câu kinh như vầy: Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, bất tu bất đắc. Chắc là nghĩa nói rằng: Ông tu ông đặng phước riêng, bà tu bà đặng phước riêng, ai chẳng tu thì nấy chẳng phước.Tiểu sanh từ lúc vào khoa, nhờ ơn tổ tiên, cám đức cha mẹ, đổ đặng phú tài, từ ấy đến nay mà dạy học mà học thêm, thiệt là giáo giả học chi báu, nên học trò đi qua thúc tu chút đỉnh, anh em tôi xin lấy ấy trai tăng nữa trăng, thiệt tình bắt chước cha mẹ tôi, xin thầy nhậm lễ.

Tam Tạng nói:

– Lịnh đường hậu đãi, chúng tôi có chẳng dám hứa thay! Tuy quý vị hậu tình thì cám ơn, chớ không dám chịu, vì sợ trể khâm hạn thì mắc tội với quân vương nên nhứt định ngày mai sẽ rời gót.

Ba anh em thấy Tam Tạng nói gắt như vậy, cũng phát rầu, hết thể ép uổng dắt nhau lui nghĩ.

Còn Khấu Viên Ngoại thấy chuyện như vậy, cũng chẳng dám cầm, liền viết thiệp cho bà con hay, định ngày mai đến đưa Tam Tạng; lại hối hầu bếp dọn tiệc, và sắm cờ mướn nhạc lăng xăng. Lại thỉnh đạo sĩ với thầy chùa, định ngày mai đến đưa cho rậm đám.

Kế dó đãi đằng xong xả, trời đã tối rồi.

Rạng ngày sửa soạn cuộc tiệc cho tới giờ tị mới xong, dọn tiệc tiến hành trọng thể, trên thì đãi tiệc, dưới thì xướng hát, đờn ca, ai nấy đều vui lòng hết thảy.

Ðến mãn tiệc bốn thầy trò tạ ơn xong xả, đồng đi ra khỏi cửa.

Khấu Viên Ngoại theo đưa, có kẻ cầm sờ đi trước, dạ nhạc theo sau, hai bên đường là Hòa Thượng với đạo sĩ đưa ra khỏi cửa thành cách mười dặm tới trường đình thấy có dọn tiệc sẳn tại đó.

Khấu Viên Ngoại rưng rưng nước mắt, bưng chén rượu rồi nói rằng:

– Sư phụ thỉnh kinh về, xin ghé tôi ít ngày, kẻo tấm lòng ao ước.

Tam Tạng tạ ơn nói rằng:

– Nếu Bần tăng đến Lôi Âm, thì trước tỏ việc đức hạnh Viên Ngoại, chừng trở về sao cũng ghé thăm.

Khi ấy Khấu Viên Ngoại theo đưa rán hơn ba dặm nữa.

Tam Tạng từ mãi, Khấu Viên Ngoại mới chịu từ biệt lui về.

Chương 97: Tam Tạng bị vụ ăn cướp – Ngộ Không cãi tử hồi sinh

Nói về mấy thầy trò đi đặng bốn chục dặm đường, thì trời đã tối.

Tam Tạng nói: “Trời tối rồi, biết ghé vào đâu mà tá túc?

Bát Giới vinh mặt nói rằng:

– Sẳn nhà tốt không ở, sẳn cơm ngon chẳng ăn, một hai đòi đi cho đặng, bây giờ trời tối mà không có chỗ ngủ, lại thêm đói nữa, nên trời mưa lớn thì mới tính làm sao?

Tam Tạng mắmg rằng:

– Nghiệt súc mắng ta phải chăng? Lời xưa có nói: Tuy trường an cảnh tốt, không phải là chốn nhà ta. Lẽ nào ở già đời tại nhà chúng? Như vậy thì là du thực chớ không phải thỉnh kinh về Ðông Ðộ, ta sẽ tâu với Thiên Tử, giao ngự trù cho ngươi ăn nứt ruột cho rãnh, sẽ thành báo quỷ cô hồn.

Bát Giới nghe nói cúi đầu cười ha hả!

Tôn Hành Giả ngó thấy xa xa một cái nhà tại bên đường, liền hối thầy đến đó mà nghĩ.

Khi đến nhà ấy coi lại thì miễu hư, thấy trên biểng có đề bốn chữ rằng:

– Hoa Quang Hành Viện.

Tam Tạng xuống ngựa nói rằng:

– Hoa Quang Bồ Tát là đệ tử Hỏa Diệm Ngủ Quang Phật, bởi trừ Ðộc Hỏa quỷ vướng mới giáng chức làm Ngủ Tiên linh quang, nay cũng nên vào miếu ngài mà tá túc.

Bốn thầy trò bước vào, kiếm không thấy đạo sĩ giữ miễu.

Bởi miễu hoang nên không có ông từ.

Coi lại thềm xiêu vách ngã, phía sau cây cỏ rậm rì!

Thầy trò sợ có yêu quái liền tháo trở ra.

Rủi bị trời mưa nên trở vào mà đụt. Sợ yêu tà có biết, không dám dỉ hơi cùng nhau kẻ đứng người ngồi, trọn đêm không nhắm mắt.

Nói về phủ Ðông Ðài, huyện Ðịa linh, có một đảng ăn cướp, chúng nó bàn luận với nhau rằng:

– Tính coi nhà nào khá mà đi đánh.

Lâu la nói:

– Tôi nhắm Khấu Viên Ngoại giàu lắm, chi bắng trời đêm nay trời mưa, nhà nào cũng ngủ, quân lýnh không tuần, áp tới làm hổn thì no lắm, vì trời mưa lớn, chi bằng thừa đêm nay trời mưa lớn, có la làng xóm cũng không nghe.

Ðứa lâu la khác thưa rằng:

– Không nên đâu! Hết chi nhà giàu bất nhơn, mà đánh nà lương thiện, ăn không đặng của mà mắc họa to!

Chánh đảng nói:

– Ðã ăn cướp là chết chưa chôn, sợ mắc hạo sao đặng. Nếu lựa nhà mà đánh thì chết đói còn gì? Lấy chi mà nuôi chúng bây cho đủ.

Nói rồi truyền kéo tới, động cửa Khấu Viên Ngoại rồi ao vô!

Khấu Viên Ngoại trốn lại cửa sau, vợ Viên Ngoại chạy chun xuống dưới sân.

Còn Khấu Lương, Khấu Ðồng và các gia đình đều chạy trốn tứ tán.

Khi ấy lũ ăn cướp bưng đèn vào, đào soái hết thảy, ăn hành nổi no nê mới chịu buồm!

Khấu Viên Ngoại tiếc của quá và chạy theo nói lớn rằng:

– Các cha ôi! Các cha lấy nữ trang vàng bạc chẳng nói làm chi, xin cho gói quần áo lại,. Vợ chồng tôi dưỡng già.

Nói về dứt lời, ăn cướp chạy lại đá một cái, mà nó đá nhằm chổ nhược!

Khấu Viên Ngoại ngã xuống nằm ngay!.

Lũ ăn cướp thấy tài gia ngã xuống, cũng nó dầm mưa nhắm hướng Tây mà đổ.

Ðoạn gia tướng thấy ăn cướp chạy xa, mới ra ngoài đỡ chủ dậy, coi lại đã chết rồi! Liền ré lên, và khóc và nói rằng:

– Trời ôi! Ăn cướp đánh chủ tôi chết rồi!

Ai nấy chạy ra khóc ngất.

Còn bà Viên Ngoại nghĩ thầm rằng:

– Bởi Tam Tạng không chịu ở lại nửa tháng cho mình trai tăng, muốn đi vội nên phải đưa cách trọng thể, lũ ăn cướp thấy vậy, biết mình nhiều của mới có chuyện này! Chi bằng nói xáng xả mà hại bốn thầy trò cho bỏ ghét.

Nghĩ rồi lại đỡ Khấu Lương dậy mà nói rằng:

– Con ôi, đừng khóc than làm chi! Tại cha con hay trai tăng nên viên mãn gặp sải tống mạng?

Khấu Lương nói rằng:

– Vì cớ nào cha mẹ gọi rằng gặp sải tống mạng?

Bà Viên Ngoại nói:

– Ăn cướp kéo vào đông lắm, mẹ sợ núp dưới sân. Thấy người bưng đèn là Tam Tạng, người cầm dao là Bát Giới, Sa Tăng gánh tài vật, Tôn Hành Giả trở lại đánh cha mi chết. Ấy là mẹ thấy rõ ràng.

Khấu Lương, Khấu Ðồng ngỡ thiệt, nổi giận nói rằng:

– Mẹ thấy quả như vậy thì phải lắm.Bởi bốn sải ấy ở trong nhà mình đã nữa trăng nên thuộc đường vô ngỏ ra, thấy nhiều của thì động lòng tham, thừa dịp mưa đêm mà ăn cướp, đã lấy của lại giết cha tôi, thiệt người độc quá! Ðể sáng chúng tôi sẽ vào đơn đi cáo chỉ danh bốn sải ấy cho quan chủ tập nã mà trị tội ăn cướp ác nhơn.

Khấu Ðồng nói:

– Anh đặt cáo trạng ra thể nào? Xin nói sơ lược nghe thử?

Khấu Lương nói:

– Cũng cứ nghe theo lời mẹ mà khai rằng:

– Tam Tạng bưng đèn, Bát Giới cầm mác, Sa Tăng gánh tang vật, Hành Giả giết tài gia.

Rạng đông bà Viên ngoại và gia tướng lo mau quan tài ẩn liệm Khấu Viên Ngoại, còn anh em Khấu Lương vào phủ quì đơn.

Quan Thứ sử phủ Ðổng đài tánh ở thanh liêm, việc làm công chánh, mới ra khách, thấy anh em quì dựng cáo và khóc và bẩm rằng:

– Chúng tôi cáo về sự cường đạo sát nhơn, xin quan lớn thẩm xét tập nã!

Quan Thứ Sử xem trạng liền hỏi Khẩu cung.

Anh em Khấu Lương cũng y như cáo trạng, vì trong cáo trạng nói rõ mọi điều.

Quan Thứ Sử sai lính khoái thủ lớp đi ngựa, lớp đi bộ, và điểm thêm dân tráng, hiệp cộng một trăm năm chục người, cầm khí giái và dây roi theo ngỏ Tây môn tập nã.

Nói về bốn thầy trò ở trong Miễu Hoa Quang tới sáng ra đi cũng bình an, đặng hai chục dặm đường, gặp lũ ăn cướp chia của tang tại kẹt núi.

Khi ấy lâu la đương chia của tang, ngó thấy bốn thầy trò đi gần tới, thì bàn luận với nhau rằng:

– Lũ thầy chùa này là Khấu Hồng đưa đón hôm qua!

Lâu la rộ lên rằng:

– Phải phải.

Chánh đảng cười rằng:

– Hay lắm, hay lắm! Chúng ta làm nghề này không kể trời đất. Còn sá gì thầy chùa, lũ sải này ở nhà Khấu Hồng đã lâu, rất đổi giàng gía mà đưa bề ngoài còn trọng thể, lẽ nào không đưa bạc vàng phí lộ hay sao? Chi bằng mình đón nó mà giựt lại, và lấy đồ hành lý, bắt con ngựa cũng đáng tiền, sẽ thêm với nhau mới đủ.

Ba chục lâu la vâng lời, đồng lấy khí giái ra đón đường, hét lớn rằng:

– Hòa Thượng đi đâu, mau nạp tiền mãi lộ? Bằng không thì chẳng còn đầu.

Tam Tạng hãi kinh ngồi run trên ngựa!

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Sư phụ đừng sợ, để Lão Tôn hỏi cho rành.

Nói rồi lại tới chắp tay hỏi rằng:

– Các ông làm gì vậy.

Lâu la nạt rằng:

– Ngươi không có mắt, chẳng biết đại vương ta hay sao, nạp tiền mãi lộ thì chúng ta cho đi, bằng không thì chẳng tồn tánh mạng.

Tôn Hành Giả nghe nói cười rằng:

– Nói vậy thì chúng bây ăn cướp cạn!

Lâu la đồng hét rằng:

– Hòa Thượng này vô lễ lắm, đập chết nó đi!

Tôn Hành Giả làm bộ sợ nói rằng:

– Ðại vương ôi, tôi là sải nhà quê, ăn nói chưa sạch sẽ, xin tha tánh mạng cám ơn. Nếu Ðại vương muốn thâu tiền mãi lộ, thì cứ tôi đây, bởi tôi giữ bạc tiền hết thảy, chớ ba thầy kia lưng túc, không có vật chi. Người cỡi ngựa là thầy tôi, biết niệm phật và tụng kinh, chớ không có tiền bạc; còn người mặt đen là kẻ chăn ngựa cũng không có chi, còn người mỏ dài là kẻ đi gánh đồ mướn cho tôi, không có bạc vàng mà hỏi. Vậy thì mở vòng binh cho ba người ấy đi qua, tôi tình nguyện đưa hết tài vật.

Khi ấy lũ cướp khen rằng:

– Hòa Thượng này ăn nói thiệt thà, vậy thì ba người ấy để đồ xuống mà đi!

Tôn Hành Giả nháy Sa Tăng, Bát Giới để gánh đồ lại, rồi đi theo Tam Tạng.

Tôn Hành Giả làm bộ mở gói đồ liền hốt cát vãi lên, làm phép định thân.

Lũ ăn cướp đứng trơ trơ, cựa quậy không đặng.

Tôn Hành Giả kêu lớn rằng:

– Sư phụ trở lại đây cho mau!

Tam Tạng quay ngựa lại, hỏi chuyện chi?

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Ðố ai xô lũ ăn cướp cho ngã.

Bát Giới làm phách lại xô, thằng nào cũng cứng ngắt hết thảy! Liền hỏi rằng:

– Cường đạo! Sao chúng bây chết cứng cả bầy?

Hỏi hồi không nghe nói lại!

Khi ấy Tôn Hành Giả thấy Bát Giới không hiểu, liền cắt nghĩa rằng:

– Ta làm phép định thân chúng nó.

Bát Giới:

– Nếu anh không nói thì tôi tưởng chúng nó mang bịnh sĩ cả bầy!

Tôn Hành Giả nói:

– Vậy rhì thầy ngồi xuống đó, để Lão Tôn xử cái vụ này. Lời tục nói: Thà bắt lầm chẳng thà thả bậy, nên tôi phải tra vấn chúng nó một hồi.

Nói rồi nhổ lông hóa ra hơn ba chục sợi dây, bảo Sa Tăng, Bát Giới trói lâu la vào chánh đãng.

Khi Sa Tăng, Bát Giới trói mèo lũ ăn cướp rồi.

Tôn Hành Giả niệm chú giải phép định thân, chúng nó mới tỉnh hồn lại.

Tôn Hành Giả mời thầy ngồi giữa, ba anh em cầm binh trượng đứng hai bên.

Tôn Hành Giả hỏi rằng:

– Ðặng bây mấy đứa? Làm nghề này đã đặng bao lâu? Ðánh đặng mấy đám rồi? Sát nhơn mấy mạng? Bây giờ là sơ phàm hay là tích tặc? Phải cứ thiệt khai ngay. Nếu nói dối thì nát sọ.

Chánh đãng nói:

– Chúng tôi thuở nay làm ăn không biết nghề nghiệp này, bởi chúng tôi xài phí lớn lắm, bán hết ruộng đất của ông bà, túng tiền chịu cực không đặng phải nhập đãng đón chúng mà giựt đồ, nghe tin rõ Khấu Viên Ngoại là nhà giàu, nên thừa đêm trời mưa, vào làm oai lấy của. Nay lại gặp lão gia, biết là sải có tiền bạc, nhứt là thấy gáng đồ nặng nề, tưởng có tài vật, nên tíng kiếm thêm chút đỉnh mà chia cho đủ phần. Không dè lão gia thần thông, xin lấy lòng từ bi dung chúng tôi toàn nạng, chúng tôi tình nguyện dâng hết của tang.

Tam Tạng nghe nói kinh hãi, đứng dậy than rằng:

– Ngộ Không ôi! Khấu Viên Ngoại nhơn đức hiền lành, sao lại mắc họa lớn?

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Tại dùng lể vật trọng mà đưa chúng ta, nên lũ ăn cướp thấy nhiều mới sang sự ấy. Thôi may mình gặp mà thâu lại, thiệt số không mất đồ.

Tam Tạng nói:

– Chúng ta cám ơn Viên Ngoại hậu đãi không biết lấy chi mà đền đáp. Vậy thì đem của này về trả lại đền ơn, và tha lũ Lâu la làm phươc.

Tôn Hành Giả y lời. Truyền Sa Tăng, Bát Giới lấy quần áo gát lên lưng ngựa.

Còn vàng ngọc bạc tiền và nữ trang giao cho Bát Giới gánh.

Còn Sa Tăng gánh đồ hành lý của mình.

Ý muốn đập chết lũ ăn cướp, sợ thầy nói mình sát sanh, nên dùn mình thâu lông lại. Lũ ăn cướp khỏi trói, dậy chạy bon bon, còn mấy thầy trò trở lại.

Mấy thầy trở lại, không đặng hai dặm đường, thấy xa xa có người cấm khí giới kéo tới!

Tam Tạng kinh hãi hỏi rằng:

– Ðồ đệ binh đao trước mặt, chẳng biết điềm dữ hay lành?

Bát Giới:

– Không xong, không xong, mắc họa, ấy là lũ ăn cướp mình thả đi nên nó đón báo cứu đó!

Sa Tăng nói:

– Không phải ăn cướp, đại ca coi lại cho rõ.

Tôn Hành Giả nói nhỏ với Sa Tăng rằng:

– Sư phụ chưa hết tai nạn, chắc mắc họa rồi, ấy là quan binh bộ đạo.

Nói chưa dứt tiếng quân lính chạy tới phủ vây bốn thầy trò mà nói lớn rằng:

– Hòa Thượng tử tế lắm, đi ăn cướp của người ta, còn mặc sắc phục ấy mà! Không biết mắc cỡ.

Nói rồi kéo Tam Tạng xuống ngựa trói mèo lại.

Rồi bắt Tôn Hành Giả và Sa Tăng, Bát Giới cũng trói hết thảy xỏ đòn vào mà khiêng.

Kẻ thì gánh đồ tang vật, kẻ thì dắt ngựa điệu về thương hại Tam Tạng và run và khóc, Bát Giới cứ nhăn mặt cắn nhằn.

Sa Tăng cũng buồn hiu dứt bần.

Tôn Hành Giả cứ cười hoài.

Giây phút quân dân khiêng bốn thầy trò, và tang vật đến cửa phủ.

Quân vào báo rằng:

– Bẩm lão gia! Chúng tôi theo vây bắt đặng cường đạo bốn tên, và thâu tài vật về đó.

Quan Thứ Sử thưởng quân và dân tráng xong rồi, truyền Khấu Lương, Khấu Ðồng nhận của đem về.

Rồi bảo quân dẫn bốn tên cười đạo vào mà hỏi rằng:

– Ngươi xưng là Hòa Thượng ở Ðông Ðộ đi thỉnh kinh, té ra lũ ăn cướp.

Tam Tạng bẩm rằng:

– Xin đại nhơn cho bẩm rõ căn do. Bần tăng chẳng phải là ăn cướp, có điệp thông quan làm bằng chứng. Bởi Khấu Viên Ngoại đãi chúng tôi hết nữa tháng rất hậu tình nên tôi gặp ăn cướp lấy của người, mới lấy lại đem trả cho Viên Ngoại, có ý đền ơn không dè bị quân lýnh bắt lại vu oan là ăn cướp; xin đại nhơn xét lẽ kẻo oan.

Quan Thứ Sử nói:

– Chúng bây bị bắt, nên kiếm cớ chửa mình, nêu gặp ăn cướp sao không bắt chúng nó mà nạo cho quan? Té ra ăn cướp đâu không thấy, có bốn người cầm của tang mà chối sao cho đặng! Vã lại cáo trạng của Khấu Lương cáo đây thì là chỉ tên bốn người không phải nói trổng, hãy coi cho rành.

Nói rồi đưa cáo trạng cho Tam Tạng coi, Tam Tạng ngó thấy tọa danh thất kinh hồn vía, ngó Hành Giả mà hỏi rằng:

– Người ta khai xả cho mình, sao không kêu nài để mà chịu làm oan, ức lắm!

Tôn Hành Giả nói:

– Tang tích sờ sờ, kêu nài làm cho vô ích.

Quan Thứ Sử nói:

– Phải lắm! Quả tang, chánh án, mà còn chối cãi nổi gì? Quân, đem nỏ ra đây, đóng nỏ nó rồi sẽ tra khảo.

Tôn Hành Giả nghĩ rằng:

– Tuy là thầy ta mắc nạn mặc lòng, song chẳng nên để hành hạ khổ sở.

Xảy thấy lính đem nỏ ra, Tôn Hành Giả nói hớt rằng:

– Quan lớn đừng đóng nò hòa thượng ấy. Hồi hôm ăn cướp đánh nhà Khấu Viên Ngoại là tôi hết thảy: Tôi bưng đèn, tôi cầm mác, tôi lấy của, tôi giết người, đầu đảng là tôi, đánh khảo bao nhiêu cũng chịu hết, chớ ba người kia vô can, vô cớ, đừng đánh ức đánh oan. Cầm một mình tôi cũng đủ.

Quan Thứ Sử nghe nói, bảo đóng nỏ người đó trước.

Quân lính vâng lịnh tròng nỏ vào đầu Hành Giả, rán sức kẹp lại một cái bốp, coi lại đã đứt dây, cột dây kẹp nữa, đứt nữa, ba bốn bận như vậy, mà đầu không thấy lằn dấu chi hết.

Xảy nghe quân báo rằng:

– Bẩm lão gia có Trần Thiếu Bảo ở kinh đô mới đến, xin lão gia tiếp nghinh.

Quan Thứ Sử truỵền quân giam lại, giữ gìn cho nghiêm, đợi nghinh tiếp Thượng ti, rồi sẽ tra khảo.

Quân lính vâng lịnh. Ðem bốn thầy trò giam vào khám, Sa Tăng, Bát Giới gánh hành lý theo.

Tam Tạng nói:

– Ðồ đệ ôi, chịu sao cho nổi?

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Xin thầy hãy vào đây. Trong này không chó sủa ngầy ngà, mặc sức chơi giỡn.

Thương hại quân lính đè bốn thầy trò xuống gường cột tay chưn mà đánh!

Tam Tạng chịu không nổi hỏi:

– Ngộ Không tính làm sao? Chúng nó cứ lấy roi đánh xối!

Tôn Hành Giả nói:

– Họ đánh cho té tiền đó? Lời tục nói: Chuyện khổ phải nhờ tiền. Bây giờ phải chịu tiền mới đặng.

Tam Tạng nói:

Tiền mình ở đâu có?

Tôn Hành Giả nói:

– Nếu không tiền, thế y phục cũng vậy, đưa áo cà sa cho rồi.

Tam Tạng chịu đòn không nổi túng phải nói rằng:

– Ngộ Không ôi! Tự ý người muốn tính làm sao thì tính.

Tôn Hành Giả nói rằng:

– Các cậu đừng đánh khảo làm chi, trong hai gói của tôi, có áo cà sa giá đáng ngàn vàng, tôi xin dưng cho các cậu. Hãy mở ra mà lấy cho rồi.

Quân lính nghe nói, liền mở hai gói ra thấy có mấy cái áo vải, chẳng đáng bao nhiêu tiền, ngó thấy có một cái gói giấy dầu, mở ra nhiều lớp mới tới áo cà sa, hào quang sáng giới!

Mấy người áp lại dành coi, trầm trồ khen ngợi.

Khi ấy chúa ngục nghe rầy rà bước vào nạt lớn rằng:

– Các ngươi làm giống gì đây?

Quan lýnh quì bẩm rằng:

– Bẩm ông, bốn sải ăn cướp bị tra hồi nãy, chúng tôi mới đánh nó ít roi, nó chịu cho chúng tôi cái áo này, nếu xé manh mà chia cho nhau thì lấy làm uổng! Không phép một người lấy trọn, mất lẽ công bình! May có ông đến đây xin xử lẽ nào cho rõ?

Chúa ngục coi rõ là cái áo cà sa.

Lại mở túi lấy điệp thông quan mà xem, thấy có ấn vua các nước.

Chúa ngục nói rằng:

– May là ta thấy sớm, nên không thì các ngươi đã khuấy rối rồi! Hòa Thượng này không phải là cường đạo, đừng có động áo này mà khốn giờ? Ðợi ngày mai quan lớn xét lại, mới rõ đầu đuôi.

Quân lính nghe nói, liền gói áo lại như xưa, giao cho chúa ngục cất.

Tới canh một, quân canh đi tuần, tới canh tư chúng nó mới ngủ hết.

Tôn Hành Giả nghĩ thầm rằng:

– Thầy phải mắc nạn, bị cầm ngục một đêm, bởi cớ ấy nên Lão Tôn chẳng nói, và không làm phép. Nay đã quá canh tư, gần hết tai nạn, ta phải sửa soạn, sáng ra cho khỏi đề lao.

Nói rồi biến hóa mình nhỏ, chun ra khỏi gường, liền biến ra cào cào nhỏ, chun theo kẹt ngói mà bay ra, ngó thấy sao tỏ trắng rạng, liền nhắm chừng nhà Khấu Viên Ngoại, ngó thấy nhà phía Tây, đèn đuối sáng lòa, bay đến mà xem, là nhà nấu đậu hủ, có một ông già chụm lửa, bà già kia xách nước.

Ông già ấy nói:

– Bà ôi! Khấu đại quan có hào tử và hào tài, ngặt hào thọ nguơn không mấy lớn! Tôi với Khấu đại quan thuở nhỏ đi học một trường, tôi lớn hơn năm tuổi. Ông già Khấu đại quan là Khấu Minh, khi trước ruộng đất không tới một ngàn mẫu, cho chúng mướn ruộng thâu không đặng lúa. Ðến Khấu đại quan hai mươi tuổi, thì Khấu Minh đã thác. Khấu đại quan coi việc nhà cửa, vừa gặp vận đỏ rồi cưới con gái ông Trương Vượng gọi là nàng Xuyên Châm, từ ấy sắp sau, làm ruộng trúng mùa, cho vay sanh lợi, buôn may bán đắt, vốn một lời đôi, nên nay giàu có mười muôn sự nghiệp rân rát.Từ Khấu dại quan bốn mươi tuổi, thỉnh lòng niệm Phật, nguyện trai vạn tăng; hai người con trai đều đổ tú tài cả thảy; nay sáu mươi tuổi, lúc này hưởng phước về già, nào hay đêm hôm qua bị ăn cướp đá mà chết! Nghĩ lại làm lành mà chết không lành, thiệt là tội nghiệp quá!

Khi Tôn Hành Giả nghe rõ mọi điều, thì đã đầu canh năm, liền chạy vào nhà Khấu Viên Ngoại, thấy quan tài quàng chính giữa, đèn chong hương đốt trên đầu săn. Bà Viên Ngoại ngồi bên mà khóc! Hai đứa con, hai nàng dâu vợ thì bưng cơm mà cúng, chồng thì quỳ lạy khóc than.

Tôn Hành Giả đậu trên đầu săn, tằng hắng một tiếng.

Hai nàng dâu kinh hãi và bò và lết ra ngoài.

Hai anh em Khấu Lương mọp dài không dám ngó; đồng nói rằng:

– Xin cha đừng ngầy đừng quở, thứ tội cho các con!

Bà Viên Ngoại làm gan, vỗ săn nói lớn rằng:

– Ông sống lại hay sao mà tằng hăng đó?

Tôn Hành Giả nói:

– Ta chẳng hề sống lại.

Hai người con nghe nói hoảng hồn.

Bà Viên Ngoại làm gan hỏi rằng:

– Ông không sống lại, sao mà nói đặng như thường?

Tôn Hành Giả nói:

– Diêm vương sai quỷ xứ dẫn hồn ta về mà nói chuyện cho Xuyên Châm rõ, sao ngươi độc miệng, nói vu oan giá họa cho người lành?

Bà Viên Ngoại nghe kêu tên tộc, hãi kinh quỳ lạy nói rằng:

– Ông ôi! Tôi tuổi tác chừng này, ông còn kêu xách khóe, tôi nào nói vu oan giá họa cho ai!

Tôn Hành Giả nạt rằng:

– Vậy chớ ai bày đặt rằng: Tam Tạng cầm đèn, Bát Giới phá nhà, Sa Tăng lấy đồ, Hành Giả giết tài chủ. Bởi người nói vu oan như vậy, làm cho bốn vị lão sư phụ bị giam cầm đánh khảo nhiều phen! Rỏ ràng bốn vị sư phụ gặp ăn cướp dọc đường, đánh đuổi nó mà thâu của đem trả, lòng tốt biết chừng nào! Ngươi bày đặt cho con kiện thưa đến đổi thầy trò bị hành phạt. Thành Hoàng Thổ Ðịa báo đến Diêm Vương, nên Diêm Vương sai quỷ sứ dẫn hồn ta về, bảo vợ con phải xin cho bốn sải; nếu không thì ta phải ở lại một tháng phá nhà cửa tan hoang, giết hết nội nhà không chừa một con gà con chó.

Khi ấy Khấu Lương, Khấu Ðồng quỳ lạy vái rằng:

– Xin cha về quê cho tiêu diêu khoái lạc, đừng làm hại vợ con! Ðể sáng mai chúng con tới phủ dưng giải trạng, xin quan tha bốn sải đi thỉnh kinh, thì kẻ con người mất đều an cả.

Tôn Hành Giả nói:

– Thôi, đốt giấy cho ta đi?

Vợ con mừng rỡ đốt giấy.

Tôn Hành Giả bay về thì trời đã hừng đông, thấy Quan Thứ Sử mới dậy rữa mắt.

Tôn Hành Giả thấy trên gường thờ có treo một bức tượng: Vẽ ông quan cỡi ngựa, có quân lính xách ghế và che tàn, song chẳng biết hình ai đó.

Tôn Hành Giả thấy Quan Thứ Sử đứng khom lưng rửa mặt.

Tôn Hành Giả bay lên gường thờ, tằng hắng một tiếng!

Quan Thứ Sử ngó lại không thấy ai, thất kinh vào phòng mặc áo lớn, ra thắp hương quỳ lạy vái rằng:

– Bá Khảo Khương Công Càng Nhứt, xin chứng chiếu cho hiếu điệt là Khương Khôn Tam, cháu nhờ ơn phù hộ thi đổ thủ khoa nay đặng làm Thứ Sử, nên ngày đêm hương khói thờ phượng đền ơn. Chẳng hay vì cớ nào bữa nay lại ứng thinh tằng hắng! Xin đừng làm lộng mà nhát người nhà!

Tôn Hành Giả cười thầm rằng:

– Như vậy hình ông quan này là bác của Thứ Sử.

Liền rán cổ kêu lớn rằng:

– Khôn Tam hiền điệt, cháu trước nhờ âm đức mà đặng làm quan, sau lại thanh liêm chánh trực. Sao hôm qua làm việc lôi thôi, bắt thánh tăng gọi là cường đạo? Không biết xét lẽ phải quấy, truyền giam tại ngục hình, khiến cho sải thánh chịu hàm oan, cảm động tới Thành Hoàng Thổ Ðịa phí báo với Diêm Vương. Diêm Vương truyền quỷ sứ dẫn hồn bác về mà nói chuyện cho cháu rõ: Bảo cháu phải tha bốn vị thánh tăng lập tức, bằng không bắt hồn cháu xuống Âm phủ mà hầu tra.Thứ Sử nghe nói thất sắc vái rằng: Xin đại gia đi về, để tiêu điệt ra khách sẽ tha bốn thánh tăng lập tức.

Tôn Hành Giả nói:

– Thôi, cháu đốt giấy, đặng bác về tâu lại với Diêm Vương.

Khương Thứ Sử vâng lời đốt bạc vàng kạy tạ xong rồi, Tôn Hành Giả bay ra ngoài, thấy trời đã rực sáng.

Khi ấy Tôn Hành Giả bay tới cửa huyện Ðịa Linh, thì thấy quan huyện và các quan lại đã ra khách, đặng nghị luận vụ ăn cướp sát nhơn tại huyện mình.

Khi ấy Tôn Hành Giả nghĩ rằng:

– Trời đã sáng rồi, nếu để hình bồ cào mà nói giọng eo éo, thì chúng nó ngó thấy lậu sự khó lòng, chỉ bằng làm việc quỷ thần mới xong việc.

Nghĩ rồi liền hóa ra một ông thần mặt mày dữ tợn cao lớn dị thường; ở nữa lừng thòng một cái chơn đã chật sân, hét lớn như sấm rằng:

– Các quan nghe cho rõ? Ta là Lãnh đảng du thần, vưng chỉ thượng đế, xuống truyền lại cho các ngươi hay, tại quan phủ của các ngươi bắt bốn vị thánh tăng, nên náo động tới cõi trên, mới sai ta xuống bảo tha lập tức, nếu nghịch thánh chỉ, thì ta đập chết hết huyện này.

Các quan kinh hãi quỳ lạy thưa rằng:

– Xin Tôn thần lui về, chúng tôi không dám nghịch thánh chỉ, tức thời vào phủ bẩm lại, cho rõ sự hàm oan của bốn sải, lập tức phải tha. Xin Tôn thần miễn chấp.

Khi ấy Tôn Hành Giả biến ra bồ cào nhỏ bay về ngục, chun theo kẹt ngói mà vào, cũng nằm y chổ cũ.

Còn Khương Thứ Sử ra khách, anh em Khấu Lương vào dưng giải trạng.

Khương Thứ Sử xem qua nổi giận quở rằng:

– Hôm qua các ngươi dưng cáo trạng, bổn phủ đã sai bắt ăn cướp, các ngươi lãnh tang vật về rồi, sao nay lại dưng giải trạng, phải là đáng tội hay chăng?

Khấu Lương, Khấu Ðồng túng phải quì bẩm thiệt sự cha hiện hồn về nói vân vân, rồi bẩm rằng:

– Bởi cớ ấy nên chúng tôi rõ bốn vị thánh tăng mắc hàm oan, nên vào dưng giải trạng, xin quan lớn mở lượng biển, dung tội cho chúng tôi, tha bốn vị thánh tăng kẻo tội nghiệp.

Khương Thứ Sử nghe nói nghĩ thầm rằng:

– Cha chúng nó chết còn quang, hiện hồn về là phải, chớ Tiên bá phủ ta mất đã sáu năm, sao cũng hiện hồn về mách bảo! Thiệt chuyện này có bàn. Song xét lại: Nếu Hòa Thượng ấy ăn cướp thì trốn đi, hoặc chạy ra khỏi thành mới phải. Lẽ nào lại gánh tang vật mà đi trở lại thành, chắc là oan lắm.

Mãng còn nghĩ ngợi, xảy thấy các quan tại huyện Ðịa Linh chạy đến bẩm rằng:

– Lão đại nhơn ôi! Không xong rồi! Thượng Ðế mới sai Lãnh đảng du thần giáng hạ, chưn thần xuống chật sân, nói Hòa Thượng ấy là bốn sải thỉnh kinh, không phải là ăn cướp, bảo tha ra cho mau, nếu để trễ thì đạp huyện này và phủ này ra tro hết thảy!

Khương Thứ Sử hãi kinh thất sắc, truyền thơ lại viết bài, bảo quân đem bốn thầy trò ra mắt.

Khi mới mở cửa ngục, Bát Giới nhăn mặt than rằng:

– Không biết bữa nay đánh đòn hay là đóng nỏ khảo kẹp!

Tôn Hành Giả cười và nói nhỏ rằng:

– Không khi nào nó dám đánh một roi nữa, Lão Tôn đã lo lắng sắp đặt xong rồi. Nhứt là trước phủ, đừng ai quì hết. Ðể ta làm nhục nó lại cho ngươi coi?

Nói chưa dứt lời, quân vào dắt ra tới trước phủ, các quan lớn nhỏ đều bước xuống tiếp nghinh, và nói rằng:

– Thánh tăng đến hôm qua, thấy quả tang không kịp hỏi cho kỹ, và thượng đế ty đến nên cầm đỡ một đêm.

Tam Tạng chắp tay khai rõ tự sự.

Các quan đều khen phải mà phải chịu lỗi chịu lầm.

Tôn Hành Giả bước tới, trợn con mắt giộc hét lớn rằng:

– Trả ngựa và hành lý cho ta, bữa nay ta mới vấn tội các ngươi sao làm quan mập mờ, bắt người lành vu oan là ăn cướp?

Các quan thấy Hành Giả làm bộ dữ, ai nấy đều sợ run, liền hối đem hành lý và ngựa ra, trả lại minh bạch.

Ba anh em đều hung hăng, các quan đều đổ thừa cho Khấu Lương, Khấu Ðồng. Tam Tạng khuyên giải rằng:

– Ðồ đệ ôi! Tuy vậy chứ chưa lấy làm rõ ràng, chúng ta phải qua nhà họ Khấu, một là đi biếu, hai là đôi chối cho rõ ràng hỏi thử người nào thấy chúng ta ăn cướp?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

– Nói như vậy cũng phải. Ðể Lão Tôn kêu Khấu Viên Ngoại dậy hỏi ai đánh chết cho rõ ràng.

Khi ấy Sa Tăng đỡ thầy lên yên, bốn thầy trò đồng đến nhà Viên Ngoại, các quan và phủ huyện cũng đi theo.

Khấu Lương, Khấu Ðồng hãi kinh, quỳ lạy nghinh tiếp.

Tôn Hành Giả thấy bà Viên Ngoại đương ngồi khóc dựa vào quan tài, Tôn Hành Giả nổi giận hét lớn rằng:

– Bà là người nói vu oan đừng làm bộ than khóc, để Lão Tôn kêu Khấu Viên Ngoại dậy mà hỏi, ai đánh chết cho rành? Thấy té láo cho mắc cỡ.

Các quan tưởng là lời nói giã ngộ, Tôn Hành Giả nói:

– Các ông ngồi với thầy ta cho có bạn.

Bát Giới, Sa Tăng hãy bảo hộ sư phụ, ta đi một chút rồi trở lại bây giờ.

Nói rồi ra ngoài cửa, nhảy nhót lên mây, ai nấy mới biết là thánh tăng đằng vân giá vỏ, đều thắp hương quỳ lạy thinh không.

Còn Tôn Hành Giả lên mây cho chúng thấy, rồi nhảy xuống cỏi U minh, xông vào Sum la.

Minh Vương vòng tay nghinh tiếp, phán quan quỷ sứ cúi đầu.

Vua Minh Vương rước vào hỏi rằng:

– Ðại Thánh đến có chuyện chi?

Tôn Hành Giả nói:

– Hồn Khấu Hồng huyện Ðại Linh, thuộc về phủ Ðông Ðài, bị quỷ nào bắt hồn ông trai tăng ấy, thì đem ra mà trả cho ta!

Nhứt điện Tần Quảng vương phán rằng:

– Khấu Hồng là người lương thiện, trẫm chẳng hề sai quỷ bắt, hồn tự nhiên đi xuống, xảy gặp Kim y đồng tử dẫn về ra mắt Ðịa Tạng Vương, Ðịa Tạng Vương dạy lẽ nào không rõ.

Tôn Hành Giả nghe nói, từ biệt qua cung Túy vân.

Nói về Ðịa Tạng Vương ngự tại Túy vân cung, thấy Tôn Hành Giả vào ra mắt và thuật chuyện vân vân, Ðịa Tạng Vương mừng rở phán rằng:

– Số Khấu Hồng có sáu mươi tuổi mà thôi, không đau đớn chi cho đến đổi liệt nhược. Bởi người có đức, nên ta phong làm Phán quan coi về bộ lành.Nay Ðại Thánh đến đây, ta cho Ðại Thánh rước về dương gian một kỹ, rồi sẽ thâu về làm chức án trưởng. Kim y đồng tử vào mời Khấu An Trưởng ra đây.

Ðoạn hồn Khấu Viên Ngoại ra mắt, Tôn Hành Giả nói:

– Ông đã bị ăn cướp đá mà chết, nay đặng làm việc với Ðịa Tạng Vương, Lão Tôn có một chuyện hàm oan, nên mượn ông về mà đôi chối. Nhờ ơn Ðịa Tạng Vương bồ tát, cho sống lại hơn hai mươi năm, rồi sẽ xuống làm việc lại, không mất chức đi đâu.

Hồn Khấu Viên Ngoại tạ ơn Hành Giả, và bái biệt Ðịa Tạng Vương.

Tôn Hành Giả thổi một hơi, thâu hồn bỏ vào tay áo, rồi từ giã về thế gian.

Giây phút Tôn Hành Giả về đến bảo Bát Giới cạy nắp hòm giở ra; Tôn Hành Giả phủ tay áo trên thây cho hồn vía nhập về bổn xác.

Không bao lâu Khấu Viên Ngoại bắt hơi thở đặng, nội nhà mừng rở vô cùng. Khấu Viên Ngoại mở con mắt ngồi dậy bước ra ngoài, lạy bốn thầy trò mà nói rằng:

– Tôi tới số chết không kịp trối, nhờ sư phụ đến Âm phủ xin thêm mười hai tuổi, thiệt là ơn cứu tử huờn sanh.

Nói rồi quay lại các quan mà bẩm rằng:

– Liệt vị lão gia đến tôi có chuyện chi.

Khấu Viên Ngoại quì xuống thưa rằng:

– Thiệt là vu oan cho bốn vị thánh tăng, hôm kia hơn ba mươi ăn cướp đến đánh lấy đồ tôi, lại đá tôi chết!

Nói rồi quay lại rầy vợ con rằng:

– Sao chúng bây dám đặt chuyện mà cáo gian, hãy ra đây mà chịu tội!

Ba mẹ con đồng lạy mà xin lỗi.

Tam Tạng nói:

– Thôi miễn là biết cho chúng tôi là người ngay, thiệt chẳng hề chấp nhứt.

Khương Thứ Sử thấy nói xuôi như vậy, cũng bỏ qua.

Khấu Viên Ngoại truyền dọn tiệc thiết đãi rất trọng.

Sáng ngày treo bảng trai tăng, cầm bốn thầy trò ở nán.

Tam Tạng nhứt định không ở một ngày.

Khấu Viên Ngoại cũng sắm lễ tiễn hành như khi trước.

Chương 98: Ðộc Mộc kiều, Tiếp Dẫn đưa đò Lăng Văn Ðộ, Ðường Tăng bỏ xác

Nói về bốn thầy trò giã từ Khấu Viên Ngoại, liền đi thẳng một đường, thiệt phong cảnh rất vui, hoa càng tươi tốt, nhiều nhà lương thiện, hiếm chốn trai tăng.

Mấy thầy trò đi sáu bảy ngày, ngó thấy lầu cao chơn chở, không biết mấy từng.

Tam Tạng chỉ mà nói rằng:

– Ngộ Không, thiệt lâu đài cao quá trăm thước!

Tôn Hành Giả nói:

– Thầy gặp cảnh giả thì lạy hoài, nay đến cảnh thiệt thì không xuống ngựa!

Tam Tạng hoảng kinh nhảy xuống đi tới trước cửa lầu, thấy một vị đạo đồng, đứng dựa cửa núi kêu mà nói rằng:

– Phải là thầy ở Ðông Ðộ đi thỉnh kinh đó chăng?

Tam Tạng ngó thấy đạo đồng mình mặc áo gấm, tay cầm phất chủ, xinh tốt khác thường.

Tôn Hành Giả ngắt nhỏ thầy mà nói rằng:

– Ông này là Kim Ðăng đại tiên ở lại chơn núi Linh San, quân Ngọc Chơn, đón rước thầy.

Tam Tạng ban đầu thấy còn nhỏ ngờ là đạo đồng, nay nghe Hành Giả nói, mới nghĩ ra là TSnh bất lão không phải là đạo đồng, liền bước lại làm lễ.

Kim Ðặng Ðại Tiên cười rằng:

– Cha chả là trể! Năm nay thánh tăng mới tới đây! Tôi bị Quan Âm Bồ Tát nói gạt vì cách mười bốn năm trước, Quan Âm ghé đây dặn tôi rằng:

– Chừng ba năm thánh tăng sẽ đến đây, bảo tôi tiếp đãi tử tế. Báo tôi từ năm thứ ba đến năm nay, ngày nào cũng ngó mông hoài, không thấy chi hết, đến năm nay mới gặp thánh tăng!

T am Tạng chắp tay bạch rằng:

– Cám ơn đại tiên có tăng!

Tam Tạng chắp tay bạch rằng:

– Cám ơn đại tiên có tình trông đợi.

Kim Ðăng đại tiên mời bốn thầy trò vào đãi trà.

Rồi truyền đệ tử hâm nước cho bốn thầy trò lắm gội.

Lúc ấy thầy trò tắm gội xong rồi, thì trời đã tối.

Ngủ tới sáng liền dậy, chống gậy tích trượng lên lầu từ giã đại tiên.

Kim Ðăng Ðại Tiên cười rằng:

– Hôm qua ăn mặc lam lụ, bữa nay coi như Phật tử! Tôi kính mừng cho!

Tam Tạng từ biệt. Kim Ðăng nói:

– Ðể tôi đưa đi.

Tôn Hành Giả nói:

– Thôi thôi đừng đưa đón mất công, đường đi Lôi Âm Lão Tôn thuộc nhàm.

Kim Ðăng Ðại Tiên nói:

– Ðại Thánh biết đường mây, song Thánh Tăng đằng vân chẳng đặng, tôi không đưa đi chắc lạc đường.

Tôn Hành Giả nói:

– Phải phải, Lão Tôn đi thuộc đường không biết mấy thứ, thiệt là cân dẫu vân, chớ chưa từng đi bộ, Ðại Tiên biết rõ xin đưa giùm, chớ thầy tôi nóng việc thỉnh kinh, chẳng nên trể nải.

Kim Ðặng Ðại Tiên dắt ra cửa sau, chỉ hào quang ra trên nửa lừng mà nói rằng:

– Ði ngỏ trước không đặng, cứ ngỏ này đi ngay chổ hào quang là núi Linh tựu, chùa Ðại Lôi Âm tại đó.

Tam Tạng nghe nói, liền lạy ngay theo núi Linh san.

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Thầy tánh nóng nảy quá, chưa đi tới chỗ đã lạy lần! Lời tục nói: Tuy thấy núi ở gần, chạy cũng mòn vó ngựa. Tuy thấy đó chứ còn xa lắm, nếu mà lạy mà đi cho tới đỉnh núi, thì cũng sói đầu!

Kim Ðăng Ðại Tiên nói:

– Thánh Tăng với Ðại Thánh, Thiên Bồng, Quyện Liêm đồng thấy cảnh Phật rồi, không còn gặp yêu tinh nữa.Tôi xin kiếu trở về.

Tam Tạng từ tạ, bốn thầy trò đi đặng sáu dặm đường, xảy thấy trước mặt có một cái sông dài, bề ngang chín dặm, không thấy nhà cửa ai ở mé cũng không thấy dấu người đi, mà cái sông ấy như biển, sóng dậy ba đào!

Tam Tạng kinh hãi nói rằng:

– Ngộ Không ôi, hay là đại tiên chỉ sai đường chăng, chớ biển rộng mênh mông không có thuyền đò, qua làm sao cho đặng.

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Không sai đâu, cái cầu đằng kia, qua đặng mới thành chánh quả.

Tam Tạng ngục ngựa tới thấy dựa cầu có dựng một tấm biển rằng:

– Lăng Văn Ðộ, coi lại cầu ấy là độc mộc kiều. Cầu nhỏ bắt vòng qua biển như cái mống.

Tam Tạng thất sắc nói rằng:

– Cầu này Tiên Phật đi,chớ phàm tục đi qua sao đặng, kiếm ngỏ khác cho xong.

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Có ngỏ khác ở đâu mà kiếm, bề nào cũng phải qua cái cầu này.

Bát Giới nói:

– Ðố ai dám đi cầu mống ấy, đã nhỏ lại cong vòng! Dầu bằng phẳng đi cũng không dặng, huống chi lên dốc xuống dốc, chắc là đi xuống sông.

Tôn Hành Giả nói:

– Thôi ai nấy ở đó, Lão Tôn đi thử cho mà coi!

Nói rồi nhảy lên cầu chạy riết một hơi tới mé, liền kêu lớn rằng:

– Ðã qua cho mau.

Tam Tạng cứ đưa tay khoát mãi và lắc đầu hoài. Bát Giới, Sa Tăng cũng nói đi không đặng! Khi ấy Tôn Hành Giả nhảy lên cầu chạy về, bảo Bát Giới đi theo.

Bát Giới nói:

– Cầu bước không đủ bàn chân đi làm sao cho đặng, bàn chân anh nhỏ nên dễ đi, nếu tôi bước đi chắc là trượt xuống!

Tôn Hành Giả bước lại nắm tay Bát Giới dắt đi.

Bát Giới nằm xuống đất la lớn rằng:

– Trơn lắm anh ôi! Tôi đi không đặng xin anh làm ơn tha cho tôi, để tôi đằng vân cho chắc ý!

Tôn Hành Giả đề cổ Bát Giới nói rằng:

– Chỗ này là chỗ gì, mà dám đằng vân giá vụ? Phải đi qua cầu này mới thành Phật.

Bát Giới nói:

– Anh ôi, tôi thành Phật không đặng rồi, tại cái cầu nhỏ mà cao lắm.

Hai người cãi lẩy, xảy thấy chiếc đò chèo đến rao lớn rằng:

– Ai có qua sông thì xuống đò.

Tam Tạng mừng quá nói lớn rằng:

– Ðồ đệ đừng ngầy ngà, có đò đến rước.

Ba anh em bước lại xem thử, là chiếc thuyền không đáy.

Khi ấy Tôn Hành Giả nhướng con mắt coi lại, biết người độ phu ấy là ông Tiếp Dẩn tổ sư, hiệu là Bửu Tràng Quang Vương Phật. Song không dám nói lậu ra, cứ kêu đò ghé lại.

Giây phút Tam Tạng đi tới mé, ngó thấy thất sắc nói rằng:

– Thuyền không đáy đưa người sao đặng.

Ðộ phu nói:

– Chuyến thuyền này chẳng phải tầm thường, hãy nghe cho rõ.

Nói liền ngâm rằng:

Thuyền này đã có lúc trời sanh,

Ðưa rước xưa nay những kẻ lành.

Tuy là không đáy mà an vững,

Sóng gió không sao, chẳng tợ thành.

Tôn Hành Giả chắp tay nói rằng:

– Xin làm ơn đưa cho tới mé. Sư phụ ôi! Tuy chiếc đò không lườn mà nó vững lắm, dầu giông sóng cũng chẳng chìm, thầy hãy xuống đò cho sớm:

– Tam Tạng dục dặc, bị Tôn Hành Giả xô nhủi xuống thuyền, Tam Tạng vừa té vừa khoan, nhờ có độ phu kéo lại!

Tam Tạng thất kinh hồn vía, xăn áo đứng trên bê ghe mà cằn nhằn Tôn Hành Giả.

Khi ấy Tôn Hành Giả dẫn Sa Tăng, Bát Giới dắt ngựa gánh hành lý đồng nhảy xuống thuyền, kẻ đứng giữa khoan, người ở trước mũi.

Ðộ phu chống đò ra, ngó thấy một cái thây trôi dưới dòng nước!

Tam Tạng xem thấy thất kinh, Tôn Hành Giả cười rằng:

– Xác của thầy chớ của ai mà sợ?

Bát Giới nói:

– Quả thiệt xác thầy trôi đó!

Sa Tăng vỗ tay nói:

– Phải phải.

Ðộ phu nói:

– Phải đó, phải đó, mừng cho.

Ba người đệ tử đều mừng cho thầy cổi đặng xác phàm.

Ðộ phu cheo khỏi bến Lăng Vân đã qua tới mé.

Tam Tạng mừng nhẹ như bông, bước lên cõi Phật.

Té ra là Tam Tạng chết khôn hay, ngỡ có Ðộ phu cứu.

Khi ấy bốn thầy trò đồng nhảy lên bờ, ngó lại Ðộ phu và chiếc đò đâu mất!

Tôn Hành Giả nói thiệt rằng:

– Ấy là ông Tiếp Dẫn tổ sư, hiện hình Ðộ phu mà rước thầy đó.

Tam Tạng nghĩ lại mới hay, liền lạy tạ ba người đệ tử!

Tôn Hành Giả đỡ dậy thưa rằng:

– Thầy cứu chúng tôi khỏi nạn, tu hành mới đặng thành chánh quả. Còn chúng tôi bảo hộ thầy cho đến bỏ xác phàm tthành hình phật, ấy là chuyện vần công, có ơn chi mà tạ. Sư phụ xem thử phong cảnh mà coi, những là hoa kiểng tong tre, phụng loan nai hạc, có giống như cảnh yêu biến hóa ở đâu?

Tam Tạng nói phải. Lúc ấy nhẹ mình nên đi thấm thoát, đồng lên núi Linh san.

Bốn thầy trò lên núi, phong cảnh xinh tốt muôn phần, khác phàm tục xa lắm!

Xảy gặp các sải, các vãi, Tam Tạng hòa nam.

Các sải vác vãi đáp lễ nói rằng:

– Thánh Tăng đừng hòa nam, đợi ra mắt Như Lai rồi sẽ đàm đạo.

Bốn thầy trò đi đến cửa núi, gặp hai ông Kim Cang đón mà hỏi rằng:

– Thánh Tăng mới đến đây hay sao?

Tam Tạng bái và bạch rằng:

– Ðệ tử là Huyền Trang mới tới.

Nói rồi muốn bước vào cửa.

Kim Cang nói:

– Thánh Tăng nán một chút, đợi tôi bạch lại rồi hãy vào.

Nói rồi vào báo cho Kim Cang cửa thứ nhì hay, hai ông Kim Cang cửa thứ nhì vào báo lại cho các vị ở cửa thứ ba hay.

Các vị ấy vào điện Ðại hùng, bạch với Phật Tổ rằng:

– Sải Ðại Ðường đã đến thỉnh kinh.

Phật Tổ mừng rỡ liền với tám vị Bồ Tát, bốn ông Kim Cang, năm trăm ông La Hán, ba ngàn ông Yết đế, mười ông Ðại diện, mười tám vị Dạ lam; đồng quì hai hàng hết thảy.

Phật Tổ truyền sắc đòi Tam Tạng vào chùa.

Khi ấy bốn thầy trò vưng chỉ, gánh hành lý và dắt ngựa vào tới Ðại hùng bửu điện, bốn thầy trò đồng quì lạy.

Lạy rồi lạy hai bên tạ hữu, lạy như vậy ba lần.

Rồi quì xuống dưng điệp thông quan.

Phật Tổ xem rồi đưa lại, Tam Tạng lạy rồi bạch rằng:

– Ðệ tử là Huyền Trang vưng chỉ Ðại Ðường hoàng đế, đến non báu cầu thỉnh chơn kinh mà cứu độ chúng sanh. Xin Phật Tổ ban ơn, cho chúng tôi thỉnh kinh về nước.

Phật Tổ dạy rằng:

– Ðông Ðộ là đất Nam Thiên bộ châu, bởi trời cao đất dày nên người động vật thạnh, hay giết hay tham, hay đâm hay dối, chẳng noi dạo phật không chịu làm lành. Chẳng kính tam quan, chẳng trọng ngủ cốc, chẳng ngay, chẳng thảo, không nghĩa, không nhơn, ỷ thế hiếp người, lương thăng tráo đấu, sát sanh hại mạng quá nhiều, phải đọa địa ngục vô số, bị cưa, xẻ, xay, giã, hành hình nhiều cách dữ dằn, rồi đầu thai làm cầm thú mang lông đội sừng cho người ta ăn thịt; lớp thì cầm dưới địa ngục không đặng đầu thai. Tuy có Khổng Tử là thánh nhơn, dọn ngủ kinh, dạy cang thường, các vị đế vương chế hình phạt mà trị dân. Ngặt nhiều kẻ dân ngu không biết sợ phép, bị đày bị chám không biết bao nhiêu! Nay đã có đặt ba tạng kinh,đã độ sanh lại độ tử. Thứ nhứt Pháp tạng nói phép trời; thứ nhì Luận tạng; luận chuyện đất; thứ ba Kinh tạng độ cô hồn, mỗi tạng 5.048 cuốn, ba tạng hiệp cộng15.144 cuốn. Ấy là dạy việc hiền lành, mở đường siêu độ, những việc thiên văn, địa lý, nhơn vật, thảo mộc, cầm thú đều giảng đủ lẽ. Nay các ngươi ở phương xa đến đây, ta cũng muốn cho thỉnh hết, song Ðông Ðộ ít người tin đạo phật, hay biếm nhẽ chê bai, nên hai người dắt bốn thầy trò xuống lầu mà đãi cơm nước, rồi chọn một hiệu ít cuốn cho đủ thứ, giao về Ðông Ðộ khuyên đời.

Hai vị Tôn giả vâng lịnh, đem bốn thầy trò đến lầu đãi cơm, bốn thầy trò tuy hưởng nhiều mỷ vị, song không rõ là món chi, vì thế giam ít có, chuyến nấy Bát Giới chở khẩm hơn hết.

Tiệc rồi hai vị Tôn giả đem bốn thầy trò đến tủ kính, thấy hào quang chiếu sáng. Ngoài tủ có dán giấy đỏ đề danh mục các thứ kinh như vậy:

1. Niết bàn kinh, một bộ 748 cuốn,

2. Bồ Tát kinh, một bộ 1.021 cuốn

3. Hư không tạng kinh, một bộ 400 cuốn

4. Thủ lăng nghiêm kinh, một bộ 45 cuốn

5. Ân ý kinh đại tập, một bộ 50 cuốn

6. Quyết định kinh, một bộ 140 cuốn

7. Bửu trạng kinh, một bộ 45 cuốn

8. Hoa nghiêm kinh, một bộ 500 cuốn

9. Lể chơn như kinh, một bộ 90 cuốn

10. Ðại bác nhả kinh, một bộ 916 cuốn

11. Ðại quang minh kinh, một bộ 300.

12. Vị tăng bửu kinh, một bộ 1.110 cuốn

13. Duy ma kinh, một bộ 170 cuốn

14. Tam luật biệt kinh, một bộ 270 cuốn

15. Kim cang kinh, một bộ 100 cuốn

16. Chánh pháp luật kinh, một bộ 120 cuốn

17. Phật bổn hạnh kinh, một bộ 800 cuốn

18. Ngủ long kinh, một bộ 32 cuốn

19. Bồ Tát giới kính, một bộ 116 cuốn

20. Ðại quả kinh, một bộ 130 cuốn

21. Ma yết kinh, một bộ 350 cuốn

22. Pháp hoa kinh, một bộ 100 cuốn

23. Di đà kinh, một bộ 100 cuốn

24. Bửu thường kinh, một bộ 260 cuốn

25. Tây thiên luận kinh, một bộ 130 cuốn

26. Tăng kỳ kinh, một bộ 156 cuốn

27. Phật quốc tạp kinh, một bộ 1.950 cuốn

28. Khởi tín luật kinh, một bộ 1000 cuốn

29. Ðại trí độ kinh, một bộ 1.081 cuốn

30. Bử hoai kinh, một bộ 1280 cuốn

31. Bổn cát kinh, một bộ 850 cuốn

32. Chánh luận văn kinh, một bộ 200 cuốn

33. Ðại khổng tước kinh, một bộ 220 cuốn

34. Duy thức luận kinh, một bộ 100 cuốn

35. Bối xá luận kinh, một bộ 200 cuốn

Khi ấy Ác Nang, Ca Diếp nói với Tam Tạng rằng:

– Thánh Tăng ở Ðông Ðộ đến đây thỉnh kinh, có lễ chi chăng thì đưa ra đặng ta phát kinh cho sớm!

Tam Tạng bạch rằng:

– Ðệ tử xa xuôi không có sắp sửa.

Hai ông Tôn giả cười rằng:

– Hay thiệt nếu đi tay không mà thỉnh kinh về lưu truyền làm sao siêu rổi đặng!

Tôn Hành Giả thấy dàng cấn không chịu phát kinh, nín không đặng, liền nói rằng:

– Thầy ôi, để ra bạch lại với Phật Tổ, xin ngài đi phát cho Lão Tôn.

Ác Nang nói:

– Ðừng có làm rầy, chỗ này không phải chổ chơi, mà ngươi nhiều chuyện! Ði lại đây mà lãnh kinh.

Bát Giới, Sa Tăng giải hòa, Tôn Hành Giả mới chịu trở lại mà lãnh kinh, đặng cuốn nào gói cuốn nấy gát lên lưng ngựa, lại gói làm hai gánh cho Bát Giới, Sa Tăng.

Ðoạn xong rồi, bốn thầy trò ra lạy tạ Như Lai, rồi tạ từ chư Phật mà về, Tam Tạng trở ra đến cửa núi, gặp vị phật nào cũng lạy hai lạy.

Nói về ông Nhiên Ðăng cổ phật, biết Ác Nang, Ca Diếp phát kinh vô tự, thì cười thầm mà nói rằng:

– Người Ðông Ðộ coi sao ra kinh vô tự, uổng công thánh tăng thỉnh về.

Nói rồi kêu Bạch Hùng tôn giả mà bảo rằng:

– Ngươi hãy theo Tam Tạng lấy kinh vô tự lại, và bảo bốn thầy trò trở vào thỉnh kinh hữu tự.

Bạch Hùng vâng lịnh đằng vân bay theo.

Khi ấy Tam Tạng đương đi với ba người đệ tử, khỏi cửa núi xa xa, ngó thấy hào quang chiếu sáng ngở là hào quang Phật Tổ nháng ra, chẳng ngờ trận gió thơm bay tới, thấy một cánh tay ở thinh không thòng xuống xách gói đồ trên lưn ngựa, Tam Tạng kinh hãi dậm chân đấm ngực nói rằng:

– Ngộ Không ôi! Ai lấy kinh đâu mất!

Tôn Hành Giả đuổi theo.

Bạch Hùng tôn giả thấy Tôn Hành Giả sách thiết bảng đuổi nột, sợ tánh người nóng nảy, đập đại khó lòng nên chẳng kịp nói chi, buông gói kinh mà chạy, Tôn Hành Giả nhảy theo gói kinh, thì kinh đã đổ cả đống, gió bay lật ra, Sa Tăng, Bát Giới áp lại lấy kinh đem cho thầy.Tam Tạng lau nước mắt than rằng:

– Ðồ đệ ôi! Không dè cảnh phật còn có yêu ma!

Sa Tăng sấp kinh gói lại, sửa mấy cuốn bị gió lật, thì thấy giấy trắng mà thôi, giở ra cuốn nào cũng vậy!

Bát Giới giở từ cuốn mà coi cũng giấy trăng!

Tam Tạng bảo mở gói dở hết ra, cũng không có một chữ chi hết!

Tam Tạng than rằng:

– Ðông Ðộ vô phước lắm! Mình đem kinh không chữ về dưng, chắc là mắc tội!

Tôn Hành Giả nói:

– Sư phụ đừng than thở làm chi, tôi đã biết rồi, tại không có nhơn tính nên Ác Nang, Ca Diếp phát kinh vô tự! Thầy trò hãy trở vô mà bạch qua Như Lai đặng làm tội kẻ tham tài, và xin đổi kinh hữu tự.

Bát Giới nói:

– Phải phải.

Bốn thầy trò trở lại cửa núi, mấy không Kim Cang cười mà hỏi rằng:

– Thánh tăng trở lại giở kinh phải không?

Tam Tạng gật đầu, thầy trò đồng vào điện Ðại hùng lạy phật.

Tôn Hành Giả bạch rằng:

– Thầy trò tôi trăm cay ngàn đắng, chấy tháng lâu năm, đi mới đến đây. Nhờ ơn Như Lai truyền phát kinh, mà Ác Nang, Ca Diếp đòi tiền hối lộ không có, nên cố ý phát kinh giấy trắng chưa có một chữ, chúng tôi đem giấy trắng về làm chi? Xin Phật Tổ trị tội hai người tác tệ, và đổi kinh có chữ cho chúng tôi?

Phật Tổ cười rằng:

– Chuyện ấy ta đã hay rồi, hai người phát kinh không lỗi. Bởi kinh rất quý, lẽ nào thỉnh không mà đặng phước hay sao? Khi trước các sải mới tu đại đây, có đem kinh xuống nước Xá vệ mà tụng cầu siêu cho Triệu Trưởng Giả. Triệu Trưởng Giả huờn công ba đấu ba thăng gạo trắng, và bạc vàng chút đỉnh, ta còn nói Triệu Trưởng Giả bỏn sẻn lắm, chắc sau con cháu phải nghèo nàn. Nay ngươi đến tay không mà thỉnh bấy nhiêu kinh, còn than thở gì nữa. Kinh giấy trắng chẳng phải là vô dụng đâu, ấy là kinh vô tự, quý hơn kinh hữu tự, ngặt chúng sanh coi không ra, nên phải đổi.

Nói rồi truyền Ác Nang Ca Diếp đổi kinh hữu tự cho đúng hiệu.

Ác Nang Ca Diếp vâng lịnh đem bốn thầy trò đến tủ kinh, cũng hỏi lễ như trước. Tam Tạng bảo Sa Tăng mở gói lấy bình bát, hai tay dưng lên bạch rằng:

– Ðệ tử đường xa và nghèo khổ, không có vật chi, cái bình bát này của vua Ðường ban cho đệ tử để hóa trai dọc đàng, nay xin dưng lấy thảo, nhờ ơn tôn giả phát kinh có chữ, về dưng cho Hoàng đế cứu độ chúng sinh.

Ác Nang mỉm cười cầm bình bát.

Mấy người lực sĩ ở tại nhà trù Hương tích ngó thấy đồng chạy đến, kẻ đấm lưng, người nắm gò má Ác Nang mà cười rằng:

– Không biết mắc cỡ, đi thâu bình bát của kẻ thỉnh kinh?

Ắc Nang cứ ôm bình bát mà làm tỉnh.

Còn Ca Diếp mở cửa tủ phát kinh cho bốn thầy trò, Tam Tạng nói:

– Các trò phải coi từng cuốn cho kỹ càng, đừng lôi thôi như khi trước. Nếu cuốn nào không chữ thì đổi lại luôn luôn.

Giây phút lãnh kinh gói lại, tính đủ một tạng: Năm ngàn bốn mươi tám cuốn, lớp thì để trên lưng ngựa, còn dư một gánh giao cho Bát Giới.

Còn Sa Tăng gánh hành lý, Tôn Hành Giả dắt ngựa.

Bốn thầy trò đến điện Ðại Hùng.

Khi ấy Phật Tổ ngồi trên hoa sen, sai Hàng Long la hán và Phục Hổ la hán, đánh chuông gióng khánh, làm hội truyền kinh thỉnh hết các vị Phật lớn nhỏ, mấy vị lớn thì ngồi, các vị nhỏ thì đứng hầu hai bên.

Giây phút hào quang muôn đạo, hơi ấm ngàn trùng, nghe tiếng nhạc vang tai, mùi hương ngát mũi. Các vị Phật ra mắt Như Lai xong xả.

Thích Ca Như Lai hỏi:

– Ác Nang Cá Diếp truyền hết thảy bao nhiêu kinh, những hiệu chi, mấy cuốn?

Ác Nang Cá Diếp dưng sổ phát kinh như vầy:

1. Niết bàn kinh, một bộ 400 cuốn

2. Bồ Tát kinh, một bộ 360 cuốn

3. Hư không tạng kinh, một bộ 20 cuốn

4. Thủ lăng nghiêm kinh, một bộ 30 cuốn

5. Ân ý đại tập, một bộ 40 cuốn

6. Quyết định kinh, một bộ 40 cuốn

7. Bửu tạng kinh, một bộ 20 cuốn

8. Hoa nghiêm kinh, một bộ 81 cuốn

9. Lễ chơn như kinh, một bộ 31 cuốn

10. Ðại bát nhã kinh, một bộ 600 cuốn

11. Ðại quang minh kinh, một bộ 50 cuốn

12. Vị tăng bửu kinh, một bộ 530 cuốn

13. Duy ma kinh, một bộ 30 cuốn

14. Tam luật biệt kinh, một bộ 42 cuốn

15. Kim cang kinh, một bộ 1 cuốn

16. Chánh pháp luận kinh, một bộ 20 cuốn

17. Phật bổn hạnh kinh, một bộ 116 cuốn

18. Ngũ long kinh, một bộ 20 cuốn

19. Bồ cát giới kinh, một bộ 60 cuốn

20. Ðại quả kinh, một bộ 30 cuốn

21. Ma yết kinh, một bộ 140 cuốn

22. Pháp hoa kinh, một bộ 10 cuốn

23. Di đà kinh, một bộ 30 cuốn

24. Bữu trạng kinh, một bộ 170 cuốn

25. Tây thiên luận kinh, một bộ30 cuốn

26. Tăng kỳ kinh, một bộ 110 cuốn

27. Phật quốc tạp kinh, một bộ 1.638 cuốn

28. Khởi tín luận kinh, một bộ 50 cuốn

29. Ðại trí độ kinh, một bộ 90 cuốn

30. Bửu hoài kinh, một bộ 159 cuốn

31. Bổn cát kinh, một bộ 56 cuốn

32. Chánh luận văn kinh, một bộ 10 cuốn

33. Ðại khổng tước kinh, một bộ 14 cuốn

34. Duy thức luận kinh, một bộ 10 cuốn

35. Bối xá luận kinh, một bộ 10 cuốn

Hai vị Tôn Giả bạch rằng:

– Trong ba mươi năm bộ ấy rút ra một tạng cộng 5.048 cuốn mà phát cho Ðường Tăng rồi.

Kế bốn thầy trò đến lạy tạ ơn, Thích Ca Như Lai nói:

– Kinh ấy công đức lớn lắm, dặn chúng sanh chẳng khá dễ ngươi? Nếu không ăn chay và tắm gội, chẳng nên giở kinh ấy ra, phải kính trọng như vậy mới đặng. Bởi vì noi theo đó thì khỏi tội đặng phước, tu theo đó thì thành Phật thành Tiên.

Tam Tạng tạ ơn giáp vòng ba bận, thầy trò lãnh kinh mà đi.

(Quên bạch sự con vít! Chớ chuyện Khấu Viên Ngoại đã bỏ rồi, quên bạch cũng phải).

Khi ấy bốn thầy trò đi, Phật Tổ truyền bãi hội truyền kinh.

Quan Âm Bồ Tát bạch rằng:

– Ðệ tử năm trước vưng kim chỉ xuống Ðông Ðộ tìm kẻ thỉnh kinh, nay đã thành công rồi, là mười bốn năm, cộng 5.040 ngày, còn thiếu tám ngày thì đủ số tạng! Xin Phật Tổ cho đưa bốn thầy trò về kịp nội tám ngày cho đủ số một tạng.

Thích Ca Như Lai mừng rỡ nói rằng:

– Nói như vậy phải lắm.

Liền kêu tám ông Kim cang mà dặn rằng:

– Các ngươi đưa thánh tăng đem kinh về Ðông Ðộ, rồi trở lại cũng nội tám ngày, cho đủ số một tạng.

Khi ấy tám vị Kim cang vưng lịnh, đằng vân theo Tam Tạng kêu lớn rằng:

– Các vị thỉnh kinh đi theo ta.

Nói rồi bay trước dẫn Tam Tạng theo sau.

Tam Tạng nhẹ mình bay thấm thoát.

Tôn Hành Giả, Sa Tăng, Bát Giới và Long Mã cũng bay theo sau.

Mười mấy năm trời qua Cực lạc,

Tám ngày phép Phật tới Trường An.

Chương 99: Mười mấy năm trời qua Cực lạc Tám ngày phép Phật tới Trường An

Nói về Ngủ Phương Yết Ðế, Tứ Bộ Công Tào, Lục Ðinh, Lục Giáp, Hộ Pháp Dạ Lam, đồng đến bạch với Quan Âm rằng:

– Các đệ tử bấy lâu vưng pháp chỉ Bồ Tát. Nay đã xong rồi, chúng tôi xin bạch lại!

Quan Âm mừng rỡ hỏi rằng:

– Bốn thầy trò Tam Tạng đi đường tâm tánh ra thể nào?

Các vị thần đồng bái và bạch rằng:

– Sự bốn thầy trò lòng thành, Bồ Tát đã rõ.

Còn các việc Tam Tạng khổ sở, kể không xiết, hể mắc nạn tại đâu, chúng tôi đều ghi vào sổ.Vậy xin dưng sổ tai nạn của Tam Tạng cho Bồ Tát xem.

Nói rồi dưng sổ, Quan Âm xem thấy đề tám chục khoảng như vầy:

Nạn thứ nhứt: Phải đọa đầu thai

Nạn thứ hai: Mới lọt lòng, gần bị giết

Nạn thứ ba: Bị thả trôi sông

Nạn thứ tư: Tìm mẹ trả thù cha

Nạn thứ năm: Mới ra khỏi thành gặp cọp

Nạn thứ sáu: Sa hầm, chết kẻ theo

Nạn thứ bảy: Qua núi Song xa

Nạn thứ tám: Tại núi Lưởng giái

Nạn thứ chín: Bị rồng nuốt ngựa

Nạn thứ mười: Bị thiêu ban đêm

Nạn thứ mười một: Mất áo cà sa

Nạn thứ mười hai: Bắt đặng Bát Giới,

Nạn thứ mười ba: Bị quái Hùynh Phong

Nạn thứ mười bốn: Ði cầu ông Linh Kiết

Nạn thứ mười lăm: Khó qua sông Lưu Sa

Nạn thứ mười sáu: Thâu đặng Sa Tăng

Nạn thứ mười bảy: Bốn thánh giả gái tốt

Nạn thứ mười tám: Bị quán Ngủ trang

Nạn thứ mười chín: Khó cứu cây nhơn sâm

Nạn thứ hai mươi: Ðuổi Tôn Hành Giả

Nạn thứ hai mươi mốt:Bị tại núi Hắc tòng

Nạn thứ hai mươi hai: Ðem thơ nước Bữu tượng

Nạn thứ hai mươi ba: Hóa ra hình cọp

Nạn thứ hai mươi bốn: Gặp yêu núi Bình đảnh

Nạn thứ hai mươi lăm: Bị treo tại ông Liên Hoa

Nạn thứ hai mươi sáu: Cứu vua nước Ô Kê

Nạn thứ hai mươi bảy:Bị yêu giả hình

Nạn thứ hai mươi tám: Gặp yêu núi Hiệu sơn

Nạn thứ hai mươi chín: Bị yêu bắt về động

Nạn thứ ba mươi: Tôn Hành Giả bị đốt

Nạn thứ ba mươi mốt: Thình Phật bắt yêu

Nạn thứ ba mươi hai: Chìm sông Bắc hà

Nạn thứ ba mươi ba: Tới nước Xa Trì

Nạn thứ ba mươi bốn: Ðàng cuộc với yêu quái

Nạn thứ ba mươi lăm: Cứu vớt thầy chùa

Nạn thứ ba mươi sáu: Ði gặp sông lớn

Nạn thứ ba mươ bảy: Té xuống sông Thông thiên

Nạn thứ ba mươi tám: Quan Âm hiện hình ngư lâm

Nạn thứ ba mươi chín: Gặp yêu núi Kim đâu

Nạn thứ bốn mươi: Các thiên thần khó cứu

Nạn thứ bốn mươi mốt: Di Lạc trói yêu

Nạn thứ bốn mươi hai:Uống nước lớn bụng

Nạn thứ bốn mươi ba: Bị nữ vương bắt

Nạn thứ bốn mươi bốn: Bị bắt về động Tì bà

Nạn thứ bốn mươi lăm: Ðuổi Hành Giả lần thứ nhì

Nạn thứ bốn mươi sáu: Bị Lục nhỉ hầu

Nạn thứ bốn mươi bảy: Gặp Hỏa diệm sơn

Nạn thứ bốn mươi tám: Cầu mượn quạt ba tiêu

Nạn thứ bốn mươi chín: Trói Nguư ma vương

Nạn thứ năm mươi: Quét tháp trước Tế Thái

Nạn thứ năm mươi mốt:Lấy báu cứu thầy chùa

Nạn thứ năm mươi hai:Bị mộc tiên bắt

Nạn thứ năm mươi ba: Bị nạn Tiểu Lôi Âm

Nạn thứ năm mươi bốn: Các thiên thần bị khối

Nạn thứ năm mươi lăm: Bị đường truông núi Thất Yệt

Nạn thứ năm mươi sáu: Cứu xóm Ðà la.

Nạn thứ năm mươi bảy: Làm thuốc cứu vua Chung Tử

Nạn thứ năm mươi tám: Ðánh yêu cứu Kim Thác Cung

Nạn thứ năm mươi chín: Bị bảy con tinh gái

Nạn thứ sáu mươi: Bị đạo sĩ Ngô Công Thuốc

Nạn thứ sáu mươi mốt: Bị núi Sư đà

Nạn thứ sáu mươi hai: Ba yêu dụng kế

Nạn thứ sáu mươi ba: Bị giam cầm trong thành

Nạn thứ sáu mươi bốn: Thỉnh Phật Tổ bắt đại bàng

Nạn thứ sáu mươi lăm: Cứu trẻ nhỏ nước Tì Khưu

Nạn thứ sáu mươi sáu: Quốc Trượng mổ tim

Nạn thứ sáu mươi bảy: Cứu con gái rừng tòng

Nạn thứ sáu mươi tám: Bịnh nặng tại chùa

Nạn thứ sáu mươi chín: Bị bắt về động Vô để

Nạn thứ bảy mươi: Khó qua nước Diệt pháp

Nạn thứ bảy mươi mốt: Gặp yêu núi Aån vụ

Nạn thứ bảy mươi hai: Ðào võ quận Phụng Tiên

Nạn thứ bảy mươi ba: Bị mất binh khí

Nạn thứ bảy mươi bốn: Yêu làm hội Ðinh ba

Nạn thứ bảy mươi lăm: Mắc nạn núi Trước tiết

Nạn thứ bảy mươi sáu: Bị khổ động Huyền Anh

Nạn thứ bảy mươi bảy: Bắt lũ trâu nước

Nạn thứ bảy mươi tám: Vua Thiên Trúc kén Phò Mã

Nạn thứ bảy mươi chín: Giam cầm tại phủ Ðồng Ðài

Nạn thứ tám mươi: Bỏ xác tại bến đò Lăng vân.

Khi ấy Quân Âm xem sổ tai nạn rồi, liền nói rằng:

– Trong cảnh Phật có chín thứ tòa sen, mỗi thứ chín sắc, cộng tám mươi mốt cái tòa sen, thánh tăng chịu tám mươi nạn, còn thiếu một nạn nữa mới đủ số cửu cửu.

Tức thì truyền các vị thần đằng vân theo Kim Cang mà dặn như vầy&t hì sanh thêm một nạn nữa. Các vị thần vưng lịnh bay theo một ngày đêm, mới kịp Kim Cang, nói nhỏ như vậy.

Mấy vị Kim Cang nghe chỉ Quan Âm Bồ Tát dặn, nên không dám cãi, liền ngừng gió lại, bốn thầy trò và con ngựa đều sà xuống đất một lượt!

Khi ấy Tam Tạng bị rớt xuống đất, lòng lại lo sợ!

Bát Giới cười ha hả nói rằng:

– Hay hay, thiệt là muốn mau hóa chậm.

Sa Tăng nói:

– Chắc là chúng ta đi mau, nên ngài nghỉ.

Tôn Hành Giả nói:

– Lời tục rằng: Mười bữa ngồi hoài một chổ, một ngày đi chín khúc sông. Ngồi lâu chớ đi bao lâu mà lật đật?

Tam Tạng nói:

– Ba đứa bây đừng nói chuyện vả! Nhìn thử chổ này là xứ nào?

Tôn Hành Giả day lại ngó bốn phía rồi nói rằng:

– Nói vậy là tới chổ ấy, thầy nghe sóng bủa hay không?

Bát Giới nói với Sa Tăng rằng:

– Sóng bủa lao xao, chắc là xứ sở của ngươi đó.

Tôn Hành Giả nói:

– Xứ sở của Sa Tăng là sông Lưu sa đây không phải là sông Lưu sa, ấy là sông Thông thiên đó.

Tam Tạng nói:

– Ðồ đệ xem cho kỷ, coi mình ở phía nào?

Khi ấy Tôn Hành Giả nhảy lên mây ngó bốn phía, rồi nhảy xuống nói rằng:

– Thầy ôi, mình ở mé bên Tây.

Tam Tạng nói:

– Ta nhớ lại rồi, phía bên đông có xóm Trần Gia, năm trước nhờ ngươi cứu con cái họ, nên Trần Thanh, Trần Trừng tính đóng thuyền lớn mà đưa chúng ta;nay có Bạch Nguơn nổi lên, đưa qua sông không nghiêng không lắc phía bên này không nhà cửa ai hết. Bây giờ biết tính làm sao mà qua sông?

Bát Giới nói:

– Người phàm tác tệ đã xong, ai dè Phật Kim Cang cũng tác tệ, dã vưng chỉ Phật đưa về Ðông Ðộ, sao nữa chừng lại bỏ xuống, thiệt là không nổi tới lui, biết làm sao mà qua sông cho đặng?

Sa Tăng nói:

– Thầy đã hết tai phàm chắc không sa xuống nước, xin anh làm phép, đưa thầy qua sông.

Tôn Hành Giả biết thầy còn mắc một nạn này mới dứt, nên không đặng nói ra, cứ cười và lắc đầu, nói:

– Không nổi, không nổi! Sa Tăng không dám nói dai.

Khi ấy bốn thầy trò đi tới mé sông Thông thiên, không thấy nhà ai ở dựa sông, cũng không có thuyền đò chi hết.

Xảy nghe có tiếng kêu văng vẳng rằng:

– Ðường Thánh Tăng đã tới đó sao?

Bốn thầy trò ngó chừng theo tiếng kêu thấy con Bạch Nguơn ở phía bên kia, đương nổi trên mặt nước nghiển cổ mà nói rằng:

– Tôi đợi sư phụ hơn mấy năm nay, bây giờ mới về đó!

Giây phút Bạch Nguơn lội tới, Tôn Hành Giả cười rằng:

– Lão Nguơn năm trước đưa chúng ta, tới năm nay mới gặp mặt!

Tam Tạng, Bát Giới và Sa Tăng đều mừng rỡ chào hỏi.

Tôn Hành Giả nói:

– Như Lão Nguơn có lòng tế độ, xin nhảy lên bờ!

Bạch Nguơn y lời bò lên. Tôn Hành Giả truyền dắt ngựa lên lưng Bạch Nguơn, Bát Giới ngồi chồng hổm sau ngựa.

Tam Tạng đứng trước ngựa bên hữu.

Tôn Hành Giả một chưn đứng trước về Bạch Nguơn, một chân đứng trên cổ Bạch Nguơn mà nói lớn rằng:

– Rán mà lội cho vững nhé?

Bạch Nguơn lội xuống sông thả êm ru như ở trên đất; chở bốn thầy trò và con ngựa, lội qua mé bờ bên đông.

Khi gần đến mé, Bạch Nguơn hỏi rằng:

– Năm trước tôi cậy sư phụ đến Tây Phương hỏi giùm Phật Tổ, coi tôi chừng nào mới hóa đặng hình người. Chẳng hay sư phụ có hỏi giùm chăng?

Bởi Tam Tạng lo sự thỉnh kinh, quên hỏi thăm việc ấy, nên không biết làm sao mà trả lời, cũng chẳng dám đặt điều, số phạm vọng ngữ, túng phải làm thinh.

Bạch Nguơn biết Tam Tạng không hỏi giùm nên tức mình lặn mất!

Báo hại bốn thầy trò và con ngựa đồng chìm xuống sông, kinh kệ ướt hết!

May là Tam Tạng thành Phật, đã cổi xác phàm, nếu không thì cũng bị chết đuối! Nói cho phải, Tôn Hành Giả ra sức đở Tam Tạng lên bờ.

Còn Sa Tăng, Bát Giới lội như rái, đem kinh và hành lý lên đủ, con ngựa rồng chở kinh lên không mất một cuốn.

Khi thầy trò lên bờ, đương vắt quần áo, kế bị trận gió thổi tới như bảo, mưa giông ấm sét ầm ầm, Tam Tạng đề kín gói kinh, Bát Giới giữ ngựa, Sa Tăng giữ gánh kinh, Tôn Hành Giả cầm thiết bảng đi giáp vòng bảo hộ, ấy là âm ma muốn đoạt kinh.

Ðêm ấy thầy trò thức chịu trận mưa giông, tới rạng đông mới tạnh!

Tam Tạng run cằp cặp nói rằng:

– Ngộ Không ôi! Bây giờ mới tính làm sao?

Tôn Hành Giả thở hào hên nói:

– Chúng ta bảo hộ đặng kinh này, là cướp quyền của tạo hóa, nên quì thần ghen ghét, muốn đoạt đi! Một là nhờ có pháp thần của thầy đè xuống, hai là ướt nên nặng nề, ba là Lão Tôn bảo hộ; đến rựng sáng khi dương thạnh rồi, âm ma tan hết, kinh mới còn nguyên.

Tam Tạng, Bát Giới, Sa Tăng nghe nói mới hiểu là âm ma làm giông mưa ấy.

Giây phút mặt trời mọc, mấy thầy trò đem kinh phơi trên bàn thạch, và phơi y phục vân vân.

Xảy thấy mấy người đi câu bước tới hỏi rằng:

– Sư phụ đi thỉnh kinh đã về đó hay sao?

Bát Giới nói:

– Phải! Sao các ngươi biết chúng tôi?

Như Nhơn nói:

– Chúng tôi ở xóm Trần Gia.

Bát Giới hỏi:

– Trần Gia trang lối nào? Ði chừng mấy dặm tới?

Ngư Nhơn nói:

– Ði ngang qua phía bên kai chừng hai chục dặm thì đến Trần Gia Trang.

Bát Giới nói:

– Xin sư phụ đem kinh đến xóm Trần Gia Trang mà phơi, dã có chổ nghỉ, lại có cơm ăn, nhờ họ phơi giùm kinh và thay đồ mà giặt luôn thể!

Tam Tạng nói:

– Thôi ghé làm chi, ở đây đợi kinh khô, sẽ lo về Ðông Ðộ kẻo trễ.

Ngư Nhơn đi một đổi, gặp Trần Trừng liền nói rằng:

– Ông ôi! Mấy thầy năm trước đi thỉnh kinh đã về đây, bởi kinh ướt đương phơi khô đó!

Trần Trừng liền kêu gia tướng, đồng chạy đến quỳ lạy thưa rằng:

– Lão gia thỉnh kinh đã về, sao không ghé xóm tôi mà nghỉ? Tôn xin thỉnh về nhà!

Tôn Hành Giả nói:

– Ðợi kinh khô rồi sẽ ghé.

Trần Trừng hỏi:

– Vì cớ nào mà ướt loi ngoi như vậy?

Tam Tạng nói:

– Năm trước nhờ Bạch Nguơn đưa khỏi sông, có nhờ tôi rằng, nếu đến Tây Phương xin hỏi giùm Phật Tổ: Chừng nào Bạch Nguơn thành hình người. Ðến nay Bạch Nguơn cũng đưa đưa về gần tới mé, liền hỏi thăm sự nhờ hôm trước, bởi tôi quên hỏi nên không biết làm sao trả lời! Bạch Nguơn giận liền lặn mất, báo hại ướt hết kinh, chớ quản gì y phục.

Trần Trừng năn nỉ mời vào nhà, nói hoài không biết mấy thứ. Tam Tạng cầm lòng không đậu, truyền gói kinh lại, chẳng ngờ mấy cuốn Phật bổn hạnh kinh ở dưới hết, mấy tờ chớ dính trên mặt đá gở không ra! Nên bây giờ kinh Phật bổn hạnh mất tờ sau cuốn nào cũng vậy! Mấy tấm đá phơi kinh bấy giờ hãy còn dấu chữ rành rành.

Khi ấy Tam Tạng phàn nàn rằng:

– Tệ quá! Ấy cũng bởi chúng ta vô ý, bộ kinh này mất hết chương sau!

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Không phải vô ý đâu, trời đất còn có chổ thiếu mới hiệp với trời đất. Nghĩa là ý nhiệm cùng, nếu cùng thì không quý, ấy là số trời đã định trước như vậy, há bởi người sao?

Mấy thầy trò gói kinh gánh theo Trần Trừng, nội xóm hay tin, đồng ra nghinh tiếp, kẻ thắp đèn thắp hương, người dọn bàn ghế, tốp thì đờn ca gióng trống như thỉnh sắc, giây phút rước tới cửa xóm, Trần Thanh và nội nhà ra nghinh tiếp vào nhà, ai nấy đồng lạy tạ ơn.

Rồi dọn tiệc chay thiết đãi.

Tam Tạng hết xác phàm nên không đói như khi trước, vì tình nhậm lễ chút đỉnh mà thôi.

Tôn Hành Giả không ăn đồ nấu, dùng chút đỉnh trái cây.

Sa Tăng cũng chấm chút!

Bát Giới rán ăn một chén, rồi thì cầm đủa bái liền, Tôn Hành Giả hỏi:

– Sao thôi sớm như vậy?

Bát Giới nói:

– Không biết thể làm sao tì vị yếu quá, chắc là no hơi.

Ðoạn trà xong rồi, Trần Thanh, Trần Trừng hỏi thăm việc thỉnh kinh ra thể nào, Tam Tạng thuật chuyện lại và xin kiếu. Trần Thanh, Trần Trừng đồng nói:

– Anh em tôi khi trước nhờ ơn cứu mạng con cái, không biết lấy chi đền bồi; nên lập một cái chùa gọi là Cứu Sanh từ cốt bốn vị mà thờ, đèn hương không ngớt.

Nói rồi kêuTrần Quang Bảo và Nhứt Xứng Kim Ðồng ra lạy tạ bốn thầy, Rồi thỉnh đến chùa Cứu Sanh, Tam Tạng thấy bốn hình thầy trò, lên cốt coi như sống, mừng rỡ khen rằng:

– Như vậy thì tốt lắm, để bấn tăng đọc một vị kinh.

Nói rồi lấy kinh bữu thường tụng một cuốn. Tụng kinh rồi xuống lầu, Trần Thanh, Trần Trừng dọn tiệc thiết đãi, bốn thầy trò dùng chút vị tình. Tôn Hành Giả hỏi:

– Con miễu Linh Cảm đại vương ra thế nào?

Trần Thanh, Trần Trừng đồng nói rằng:

– Nội năm ấy xóm này phá miễu Cảm rồi lập chùa Cứu Sanh, từ ấy đến nay năm nào cũng như vậy.

Tôn Hành Giả cười rằng:

– Tại các ông có lòng lành, nên trời thưởng, chớ thầy trò tôi không giúp chút nào. Từ này sắp sau chúng tôi bảo hộ nội xóm bình an, yêu ma không dám xâm nhập, mưa gió hòa thuận, người mạnh vật an, song phải bỏ nghề chài rở săn bắn, cứ thiệt nghề làm ăn thì chúng tôi mới dám bảo hộ.

Ai nấy đồng lạy tạ ơn. Trần Thanh, Trần Trừng chịu báo cho vạn chài vạn săn làm ruộng cải nghề nghiệp sát sanh.

Ðến xế Trần Thanh dọn tiệc, đãi bốn thầy trò xong xả.

Chiều lại Trần Trừng dọn tiệc mời nữa, Bát Giới cười rằng:

– Tôi vô phước quá chừng, lúc ăn đặng không thấy ai mời, nay no hơi lại nhiều đám thỉnh.

Nói rồi ngồi vào tiệc, ăn rán một hai miếng gọi là, khó làm thẳng nghỉnh như trước.

Ðến tối Tam Tạng thức giữ kinh cho tới canh ba, liền kêu Tôn Hành Giả mà nói nhỏ rằng:

– Ngộ Không, các người ấy biết chúng ta đã thành rồi, nên cầm cọng lắm! Lời xưa nói:

– Phật Tiên không lộ hình, nếu vị tình ở lâu thì trể đại sự.

Tôn Hành Giả thưa rằng:

– Sư phụ nói phải lắm, chi bằng thừa lúc này nội gia ngủ hết, thầy trò đi lén cho xong!

Tam Tạng nói phải, Tôn Hành Giả liền kêu Bát Giới, Sa Tăngdạy mà nói nhỏ.

Bát Giới cười rằng:

– Ăn uống gì đặng mà ở lâu?

Nói rồi lén mở cửa chùa Cứu Sanh, gánh kinh và hành lý dắt ngựa đi êm, chó không hay mà sủa. Thầy trò mới đi một đổi, nghe trên mây có tiếng kêu rằng:

– Mấy thằng trốn đó, đi theo tám anh em tôi.

Khi ấy mùi hương thơm ngát, Tam Tạng lại là tám vị Kim cang làm phép đưa bốn thầy trò và con ngựa bay nửa lừng, mau hơn tận trước.

Còn Trần Gia Trang, rạng ngày ai nấy thức dậy nấu nước và dọn đồ chay lên cúng chùa Cứu Sanh, thấy cửa chùa mở hé, không còn ông nào ở lại! Ai nấy đồng than thở rằng:

– Gặp Phật rõ ràng mà cầm không đặng, uổng biết chừng nào.

Không biết làm sao, túng phải dọn đồ phẩm thực lên bàn cúng tế. Từ nay sắp sau mỗi năm cúng bốn lần trọng thể, và cứ mỗi tháng cúng hai kỳ. Nhiều người có bịnh đến cầu khẩn cũng lành, cầu an cũng đặng như lời, nên nhiều người van vái lắm, không giờ nào ngày nào cho hết hương lửa.

Nói về Bát Ðại Kim Cang dùng trận gió thứ nhì, đưa bốn thầy trò đi thấm thoát, không bao lâu gần tới Trường An.

Còn Vua Ðường Thế Dân, từ niên hiệu Trịnh Quang năm thứ mười ba, trước rằm ba bữa, đưa Tam Tạng ra khỏi thành.

Qua năm thứ mười sáu, liền sai ông Công Bộ cắt Vọng Kinh lâu tại ngoài ải Tây An, để phỏng rước kinh đến lầu ấy mà ngó chừng, trông hoài mấy năm không thấy chi hết.

Chương 100: Tam Tạng thỉnh kinh về Ðông Ðộ – Năm thánh hưởng phước tại Tây Phương

Ngày kia ngự giá đến vọng kinh lâu, Thiên Tử lên lầu ngó qua hướng Tây thấy hào quang sáng giới, gió thơm như mùi hương!

Khi ấy Bát Ðại Kim Cang ở trên mây nói với Hành Giả rằng:

– Ðại Thánh ôi! Ðây là đến thành Trường An, chúng ta chẳng dám đi xuống, vì dân Trường An lanh lợi quỷ quyệt, nếu nó thấy mặt, chắc là họa hình! Vậy thì Ðại Thánh và Quyện Liêm tướng quân, Thiên Bồng Nguyên Soái, đừng xuống làm chi. Ðể một mình thánh tăng dưng kinh cho Ðường Thiên Tử rồi trở lên cho mau, chớ ta đợi lâu không đặng.

Tôn Hành Giả nói:

– Tuy các ông nói cũng phải, song một mình thầy tôi gánh sao nổi kinh, dắt sao đặng ngựa? Chúng tôi phải đưa mới xong, các ông chịu phiền rán đợi, bề nào cũng phải trể đâu.

Bát Ðại Kim Cang nói:

– Ngày trước Quan Âm đã bạch với Như Lai, định nội tám ngày cho đủ số một tạng, nay đã năm ngày rưỡi, sợ Bát Giới tham yến tiệc chắc trể nải ngày giờ.

Bát Giới cười rằng:

– Sư phụ thành phật, tôi cũng muốn thành phật lẽ nào mà còn mê yến tiệc sao? Vã lại tôi ăn một bữa cơm tại chùa Ðại Lôi Âm, tới bây giờ còn đặc ruột, lẽ nào mê yến tiệc phàm trần. Xin các ông rán đợi tới giao kinh rồi thì tôi trở lại.

Sa Tăng dắt ngựa, Tôn Hành Giả đỡ Tam Tạng, đều ở trên mây sa xuống lầu Vọng Kinh.

Khi ấy vua Ðường Thái Tôn và các quan ngó thấy đều đến trước nghinh tiếp nói rằng:

– Ngự đệ đã về đây!

Tam Tạng liền cúi lạy.

Vua Ðường Thái Tôn đỡ dậy, phán rằng:

– Ba người này là ai?

Tam Tạng tâu rằng:

– Ba người đệ tử tôi thâu tại dọc đường.

Vua Ðường Thái Tôn mừng quá, truyền quan nội thị thắng xe ngựa của vua cho ngự đệ đi vào trào, Tam Tạng tạ ơn, rồi lên ngự mã, Tôn Hành Giả huơi thiết bảng theo hầu.

Sa Tăng gánh kinh, Bát Giới dắt ngựa, đồng đi theo Trường An.

Khi ấy bốn thầy trò về trào theo vua, nội thành ai nấy đều hay Tam Tạng thỉnh kinh về, đồng theo coi đông nức.

Nguyên trước Tam Tạng ở trú tại chùa Hồng phước. Nay các sải chùa ấy chưa hay tin Tam Tạng về.

Rạng ngày ngó thấy mấy cây tòng trước cửa chùa cây nào cũng ngã ngọn về hướng Ðông hết thảy.

Các sải kinh nói rằng:

– Thiệt là quái sự lắm! Hồi hôm không có giông tố, sao cây tòng ngã ngọn về Ðông?

Một người học trò cũ của Tam Tạng nói rằng:

– Mau lấy y phục ra đây, đặng mặc vào mà nghinh tiếp, vì sư phụ thỉnh kinh đã về.

Các sải hỏi rằng sao mà ông biết?

Người học trò cũ đáp rằng:

– Năm trước thầy đi có dặn rằng: “Ta đi không biết chừng nào trở lại, hoặc năm ba năm, hoặc sáu bảy năm, hễ ngó thấy cây tòng trước cửa ngã ngọn qua hướng Ðông, thì ta đã về tới.” Bởi thầy có lời nói trước rỏ ràng, nên tôi mới biết.

Các sải đồng mặc áo dài bước ra, mới tới ngã ba nghe người nói chuyện rằng:

– Thầy thỉnh kinh về mới tới. Hoàng đế rước vào thành.

Các sải nghe nói mừng rỡ chạy theo, gặp ngự giá đi trước, các sải không dám lại gần, đi theo sau đến Ngọ môn.

Khi ấy Tam Tạng xuống ngựa, đi với các đệ tử vào đền.

Tam Tạng đứng trước sân chầu với các đệ tử.

Vua Thái Tôn truyền chỉ, đòi Ðường ngự đệ lên dựa ngai vàng; mời ngồi ghế tú đôn.

Tam Tạng tạ ơn rồi ngồi xuống, bảo đệ tử khiêng kinh lên.

Tôn Hành Giả lấy mấy gói kinh, đưa chuyển cho quan nội thị, quan nội thị dâng lên.

Vua Ðường Thái Tôn phán hỏi rằng:

– Ngự đệ làm sao mà thỉnh kinh đặng? Số kinh ấy bao nhiêu?

Tam Tạng tâu rằng:

– Tôi Nam mô Từ lực vương phật.

– Quảng Trang Nghiêm Phật

– Tài Quang Minh Phật

– Thế Tịnh Quang Phật

– Nhựt Nguyệt Châu Quang Phật

– Diệu Âm Thinh Phật

– Quan Thế Ðăng Phật

– Tu Di Quang Phật

– Kim Hải Quang Phật

– Tài Quang Phật

– Ðấu Chiến Thắng Phật

– Ðại Thế Chí Bồ Tát

– Phổ Hiền Bồ Tát

– Tịnh Ðàng Sứ Giả Bồ Tát

– Bát Bửu Kim Thân La Hán Bồ Tát

– Bát Bộ Thiên Long Quảng Lực Bồ Tát

Các vị ấy niệm phật rồi đồng lui ra ngoài, đồng hưởng phước thanh nhàn tự lại.

Ấy là truyện Tây Du sự tích bao nhiêu đó là hết.

Chương 1-1: Lời Giới Thiệu

Trong lịch sử văn học Trung Quốc, là một trong “tứ đại danh tác”, sánh ngang với Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy HửTây Du ký, Hồng Lâu Mộng có một vị trí đặc biệt. Người Trung Hoa say mê đọc nó, bình luận về nó 1, sáng tác về nó đến nỗi nói: “Khai đàm bất thuyết Hồng Lâu Mộng, Độc tận thi thư diệc uổng nhiên!”(Mở miệng mà không nói Hồng Lâu Mộng thì đọc hết cả thi thư cũng vô ích!). Có một ngành học chuyên nghiên cứu về Hồng Lâu Mộng, gọi là Hồng học; gần đây nhất vẫn thấy Trung Quốc in chuyên san “Hồng Lâu Mộng nghiên cứu”. – Có lẽ trên thế giới chỉ có Shakespeare là có một vinh dự lớn lao như thế, vì có “Shakespeare học”.

Cái gì làm người Trung Quốc say Hồng lâu mộng “như điếu đổ” vậy? Trước hết, đó là do tác phẩm đáp ứng những nhu cầu sâu xa của thời đại.

Thời nhà Thanh, dưới thời các hoàng đế Ung Chính, Càn Long (1723 – 1795) là thời kinh tế phồn vinh, chẳng những công nghiệp, thủ công nghiệp, mà cả khai thác mỏ, thương nghiệp… cũng phát triển mạnh mẽ. Các thành thị lớn như Nam Kinh, Dương Châu, Võ Xương, Nhạc Châu… buôn bán, sản xuất sầm uất là những đô thị lớn. Chỉ kể một thị trấn như Thanh Giang bên bờ Vận Hà thôi mà thời đó đã có hơn nửa triệu dân! Nền kinh tế tự phát tư bản chủ nghĩa đó trong lòng xã hội phong kiến chuyên chế mọt ruỗng và đang trên đà tan rã, đã đẻ ra một tầng lớp người thành thị, những người này có những nhu cầu thẩm mỹ mới. Tây Sương Ký, Mẫu đơn đình, Cổ kim tiểu thuyết, Liêu Trai… là những tác phẩm tả tình yêu, những số phận, những buồn vui cá nhân…, chính là sự “thăng hoa” của cuộc sống đã bắt đầu khác trước về chất của người thành thị.

Hồng lâu mộng là sự thể hiện những tư tưởng của thời đại: tinh thần dân chủ, tinh thần phê phán đời sống xã hội phong kiến mục nát, phê phán những giáo điều truyền thống đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm, đòi tự do yêu đương, giải phóng cá tính, đòi tự do bình đẳng, khát khao một lý tưởng cho cuộc sống… Tất cả những cái đó có những mặt kế thừa tư tưởng dân chủ thời Minh và đầu Thanh, nhưng nó chính là sản phẩm của ý thức tư tưởng thị dân đương thời. Giữa những khát vọng sâu xa ấy của con người thời đại và sự biểu hiện nó ra một cách nghệ thuật, đã có một cuộc hẹn hò tuyệt diệu qua Hồng Lâu Mộng.

° ° °

Tác giá chính của Hồng Lâu Mộng, Tào Tuyết Cần 1716(?) – 1763(?) giống như phần lớn các nhà văn lớn Trung Hoa trong lịch sử, viết văn là để giải tỏa nỗi niềm “cô phẫn”, là để ký thác những suy tư về con người và thời đại.

Ông vốn sinh ra trong một gia đình đại quý tộc. Từ đời tằng tổ đến đời cha, thay nhau tập chức “Giang ninh chức tạo” là một chức quan to thu thuế. Năm lần vua Khang Hy tuần du phương Nam thì bốn lần ở lại nhà họ Tào, đủ biết sự sủng ái của nhà vua với gia đình ông ra sao! Và cũng có thể đoán biết cuộc sống trong phú Giang hồi đó xa hoa, vương giá như thế nào! Trong Hồng Lâu Mộng, Nguyên phi về thăm nhà có một buổi mà nhái xây cất bao nhiêu đình tạ trong vườn Đại quan, nữa là hoàng đế tuần du ngự đến nhà.Nhà ông chăng những là hào môn vọng tộc hiển hách như thế, lại còn có truyền thống văn chương. Ông nội ông, Tào Dần, đứng in bộ “Toàn Đường Thi trứ danh, và là một nhà thơ, tác giả “Luyện đình thi sao”.

Nhưng cuộc sống vàng son đó của gia đình ông đã trôi qua, đã tan vỡ. Lúc Tào Tuyết Cần lớn lên thì tất cả đã ở đằng sau rồi: cha bị khép tội, bị cách chức, bị tịch biên gia sán, nhà họ Tào suy sụp và ông phải về sống ờ vùng ngoại ô phía tây thành Bắc Kinh trong cảnh: “cả nhà rau cháo, rượu thường mua chịu”.

Hồng Lâu Mộng do đó có thể xem là phản quang những hồi ức của Tào Tuyết Cần về cuộc sống quý tộc đã tan vỡ đó.

Một mặt, đó là sự nhớ tiếc khôn nguôi những huy hoàng của vàng son lộng lẫy, cảm thấy tất cả nhuốm màu thê lương, hư vô, tất cả đều xê dịch về phía bế tắc, hủy diệt, tất cả đều đáng ân hận, và chỉ có thể cứu chuộc bằng Hư Vô, bằng siêu hình, bằng tôn giáo! Nhưng mặt khác, từ trong cuộc sống nghèo khó hôm nay, quay đầu nhìn lại thì cái khoảng cách lớn lao đó làm cho ông thấy được rõ hơn, khách quan hơn, bình tĩnh hơn những gì ông đã thấy, đã nếm trái về cuộc sống thối nát của giai cấp quý tộc và sự miêu tả khách quan “những quan hệ hiện thực” này làm ông trở thành một nhà hiện thực. Chí ít thì về mặt đó, ông đã lay chuyến được “niềm lạc quan về cái trật tự hiện tồn”, và như thế, ông là sản phẩm của một thời đại, đồng thời đã nhìn xa hơn thời đại.

Tào Tuyết Cần đề 10 năng dế viết 80 hồi đầu, Hồng Lâu Mộng: “Xem ra chữ toàn bằng huyết, cay đắng mười năm khéo lạ lùng”; năm lần sửa chửa, trong cảnh cùng khốn, ốm đau không tiền chạy thuốc, trong cánh đứa con yếu của ông chết. Và ông đã lìa đời trong cảnh đau khố dồn dập đó. Bình sinh, ông vẽ giỏi, hay thơ, thích rượu, cuồng phong. Người ta chỉ biết được về ông có thế thôi!

Hai mươi tám năm sau khi ông mất, Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi, đến khoáng 1792 – 1793 thì Hồng Lâu Mộng được in và lưu truyền khắp trung Quốc.

Những hồi Cao Ngạc viết tiếp thì không thể hay bằng những hồi Tào Tuyết Cần viết, nhưng cũng phải nói là Cao Ngạc đã sống với tác phẩm và tri âm tác giả, nên đã hoàn thành dự định của Tào Tuyết Cần và nối tiếp bút lực của người đi trước, hoàn thành và bộc lộ trọn vẹn tư tưởng của tác phẩm, khiến cho tác phẩm vẫn giữ được vẻ hấp dẫn mãnh liệt.

Dịch giả: Vũ Bội Hoàng, Nguyễn Thọ, Nguyễn Doãn Địch, Trần Quảng, Nguyễn Đức Vân, Nguyễn Văn Huyến.

Mục lục

Chương 1-1: Lời Giới Thiệu
Chương 1-2: Bi kịch tình yêu và ý nghĩa tình yêu trong hồng lâu mộng
Chương 1-3: Thi pháp nhân vật hồng lâu mộng
Chương 1-4: Chân Sĩ Ẩn trong mộng ảo biết đá thiêng – Giả Vũ Thôn lúc phong trần mơ người đẹp
Chương 2: Giả phu nhân tạ thế ở thành Dương Châu – Lãnh Tử Hưng kể chuyện trong phủ Vinh Quốc
Chương 3: Nhờ anh vợ, Như Hải đền được ơn dạy bảo – Đón cháu ngoại, Giả mẫu xót thương trẻ mồ côi
Chương 4: Gái bạc mệnh gặp trai bạc mệnh – Sư Hồ lô xử án Hồ lô
Chương 5: Chơi cõi ảo, mười hai thoa chỉ đường mê – Uống rượu tiên, mộng lầu hồng diễn thành khúc
Chương 6: Giả Bảo Ngọc mới thử cuộc mây mưa – Lưu lão lão đến thăm phủ Vinh quốc
Chương 7: Đem biếu cung hoa, Giả Liễn đùa Hy Phượng – Ăn yến Ninh phủ, Bảo Ngọc gặp Tần Chung
Chương 8: So ngọc thông linh Kim Oanh hơi ngỏ ý – Thăm dò cô Bảo, Đại Ngọc nếm phải chua
Chương 9: Quen nết phong lưu, bạn đa tình cùng vào trường học – Gây chuyện ngờ vực, tên ngoan đồng làm nhộn thư đường
Chương 10: Kim quả phụ tham lợi chịu nhẫn nhục – Trương thái y xem bệnh nói gốc nguồn
Chương 11: Mừng sinh nhật, phủ Ninh bày tiệc linh đình – Gặp Hy Phượng, Giả Thụy động lòng dâm dục
Chương 12: Vương Hy Phượng độc ác, bày cuộc tương tư – Giả Thiên Tường chết oan, soi gương phong nguyệt
Chương 13: Tần Khả Khanh chết được phong long cẩm túy – Vương Hy Phượng sang giúp việc bên phủ Ninh
Chương 14: Lâm Như Hải từ trần ở thành Dương Châu – Giả Bảo Ngọc giữa đường chào vua Bắc Tĩnh
Chương 15: Vương Phượng Thư lộng quyền ở chùa Thiết Hạm – Tần Kình Khanh gặp gái trong am Mạn Đầu
Chương 16: Giả Nguyên Xuân có tài, được tuyển vào cung Phượng Tảo – Tần Kình Khanh còn trẻ, đã thác xuống cõi Hoàng Tuyền
Chương 17: Đề câu đối trong vườn Đại Quan, thử tài Bảo Ngọc
Chương 18: Về thăm nhà ở phủ Vinh Quốc, gặp tiết nguyên tiêu
Chương 19: Tình đằm thắm đêm khuya hoa biết nói – Ý triền miên ngày vắng ngọc thêm hương
Chương 20: Phượng Thư thẳng thắn dẹp hẳn thói ghen tuông – Đại Ngọc tinh ranh nói những câu bỡn cợt
Chương 21: Giả cách giận hờn, Tập Nhân răn Bảo Ngọc – Trả lời khôn khéo, Bình Nhi cứu Giả Liễn
Chương 22: Nghe câu hát, Bảo Ngọc hiểu đạo thiền – Đánh đố thơ, Giả Chính lo lời sấm
Chương 23: Mượn câu văn Tây Sương ký, giở giọng giỡn đùa – Nghe khúc hát Mẫu đơn đình, chạnh lòng hờn tủi
Chương 24: Kim Cương say rượu, tính hào hiệp tiền bạc coi khinh – Cô gái si tình, rơi khăn lụa mơ màng nhớ bạn
Chương 25: Mắc phải thuật năm con quỷ, chị em hóa điên rồ – Nhờ được phép hai vị tiên, ngọc thiêng hết mờ ám
Chương 26: Cầu Phong Yêu, nói lóng đưa tình kín – Quán Tiêu Tương xuân buồn tỏ nỗi riêng
Chương 27: Đình Trích Thúy, Dương Phi đùa bướm trắng – Mộ Mai Hương, Phi Yến khóc hoa tàn
Chương 28: Ngọc Hàm tặng thắt lưng, gợi được mối tình – Bảo Thoa cởi chuỗi thơm, lộ ra vẻ thẹn
Chương 29: Người hưởng phúc, phúc nhiều, còn cầu xin thêm phúc – Gái si tình, tình nặng, càng luẩn quẩn vì tình
Chương 30: Bảo Thoa mượn cái quạt, nói cạnh cả hai bên – Linh Quan vạch chữ “tường”, làm ngây người ngoài cuộc
Chương 31: Xé tan cái quạt, nghìn vàng mua lấy một trận cười – Điềm ứng kỳ lân, hai sao gặp nhau khi đầu bạc
Chương 32: Giải bày hết tâm can, Bảo Ngọc đâm ra mê mẩn – Không chịu được sỉ nhục, Kim Xuyến đành phải liều thân
Chương 33: Coi anh như thù, giọng lưỡi ton hót – Đẻ con bất hiếu, roi vọt dập vùi
Chương 34: Mối tình ngổn ngang, thấy tình cô em càng thêm thấm thía – Lỗi lầm chồng chất, lấy lầm khuyên anh xiết nỗi buồn rầu
Chương 35: Ngọc Xuyến được nếm canh lá sen – Oanh Nhi khéo tết dây hoa mai
Chương 36: Thêu bức uyên ương, hiên Giáng Vân mộng lành báo trước – Ngẫm đường tình phận, viện Lê Hương duyên đẹp định rồi
Chương 37: Thu Sảng trai, định mở Xã hải đường – Hành Vu uyển, đêm nghĩ bài hoa cúc
Chương 38: Lâm Tiêu Tương đứng đầu những thơ ngâm cúc – Tiết Hành Vu mỉa đời trong bài vịnh cua
Chương 39: Già nhà quê hay nói huênh hoang – Cậu có tình cứ tìm ngành ngọn
Chương 40: Vườn Đại Quan, Sử thái quân hai lần mở tiệc – Gieo súc sắc, Kim Uyên Ương ra lệnh đố thơ
Chương 41: Am Lương Thúy, Bảo Ngọc thưởng trà ngon – Viện Di Hồng, già Lưu say rượu ngủ
Chương 42: Giải mối ngờ, Bảo Thoa ngỏ lời thân thiết
Chương 43: Ngồi rỗi bày trò, góp tiền ăn sinh nhật – Mối tình không dứt, vốc đất viếng oan hồn
Chương 44: Chuyện xảy bất ngờ, Phượng Thư đâm ghen – Mừng ngoài tưởng tượng, Bình Nhi trang điểm
Chương 45: Bạn kim lan ngỏ chuyện kim lan – Đêm mưa gió ngâm bài mưa gió
Chương 46: Người liều lĩnh khó thoát việc liều lĩnh – Gái Uyên Ương thề dứt bạn uyên ương
Chương 47: Tiết Bàn đa tình bị đánh – Tương Liên sợ tội trốn đi
Chương 48: Dùng bậy chữ tình, nhầm về tình, chàng đi buôn bán – Mến yêu gái nhã, gặp cuộc nhã, nàng mải ngâm thơ
Chương 49: Cõi lưu ly mai hồng tuyết trắng – Gái son phấn, ăn sống nuốt tanh
Chương 50: Am Lư Tuyết nối nhau thơ tức cảnh – Ổ Noãn Hương khéo đặt câu đố đèn
Chương 51: Cô em họ Tiết làm thơ hoài cổ – Lang băm họ Hồ dùng thuốc hổ lang
Chương 52: Bình Nhi cố tình giấu việc mất vòng ngọc – Tình Văn đương ốm, vùng dậy vá áo cừu
Chương 53: Đêm trừ tịch, phủ Ninh tế tổ tiên – Tối nguyên tiêu, phủ Vinh mở yến tiệc
Chương 54: Sử Thái Quân bỏ lối chuyện sáo ngày xưa – Vương Hy Phượng học đòi áo hoa múa hát
Chương 55: Mắng con gái mình, dì Triệu tức nhảm – Khinh cô chủ bé, mụ Ngô ác ngầm
Chương 56: Thám Xuân thông thạo, tìm mối lợi bỏ hẳn lệ xưa – Bảo Thoa khôn ngoan, ra ơn nhỏ giữ gìn thể thống
Chương 57: Tử Quyên khôn ngoan, đặt chuyện thử lòng cậu Bảo
Chương 58: Dưới bóng hạnh, phượng giả khóc hão huyền – Bên cửa the, tình thật nghĩ vơ vẩn
Chương 59: Bến Liễu Diệp, tủi phận yến oanh – Hiên Giáng Vân nhở tay ấn quyết
Chương 60: Đem phấn mạt ly thay cho bột tường vi – Biếu mai quế lộ lòi ra bột phục linh
Chương 61: Ném chuột sợ vỡ đồ, Bảo Ngọc đành phải nhận lỗi – Xét việc thấy oan uổng, Bình Nhi khéo tòng quyền
Chương 62: Tương Vân ngây thơ, ngủ trên hoa thược dược – Hương Lăng trơ trẽn, cởi tấm quần hồng lăng
Chương 63: Viện Di Hồng chị em mở tiệc – Nuốt kim đan, Giả Kính chết oan
Chương 64: Gái buồn rầu đề thơ ngũ mỹ – Trai lẳng lơ tặng ngọc cửu long
Chương 65: Giả Liễn vụng trộm cưới dì Hai – Dì Ba quyết lòng lấy chàng Liễu
Chương 66: Cô bé đa tình, hổ vì tình về nơi địa phủ – Chàng Hai lạnh nhạt, khi quá lạnh vào chốn không môn
Chương 67: Thấy đồ Thổ nghi, Đại Ngọc nhớ quê cũ – Nghe việc bí mật, Phượng Thư hỏi người hầu
Chương 68: Dì Vưu khổ sở, bi lừa vào vườn Đại Quan – Chị Phượng ghen tuông, làm nhộn ở phủ Ninh Quốc
Chương 69: Giở lối khôn vặt, mượn gươm giết người – Biết gặp hạn đen, nuốt vàng thoát kiếp
Chương 70: Lâm Đại Ngọc mở thi xã Đào Hoa – Sử Tương Vân điền tiểu từ Liễu Nhứ
Chương 71: Người hiềm khích cố ý gây hiềm khích – Gái Uyên Ương vô tình gặp Uyên Ương
Chương 72: Cậy mình khỏe, Vượng Phượng Thư kiêng nói ốm – Ỷ thần thế, vợ Lai Vượng cố ép duyên
Chương 73: A hoàn ngơ ngẩn, nhặt nhầm túi xuân tình – Tiểu thư ươn hèn, bỏ lơ dây kim phượng
Chương 74: Quá nghe gièm hót, khám xét vườn Đại Quan – Thề giữ đoan nghiêm, rào lấp phủ Ninh Quốc
Chương 75: Mở tiệc đêm khuya, điềm lạ vẳng nghe tiếng thảm – Thưởng trăng tháng tám, lời nói thành câu sấm haỵ
Chương 76: Nhà Đột Bích nghe sáo, cảm nỗi ưu sầu – Quán Ao Tinh nối thơ, buồn đêm vắng lặng
Chương 77: A hoàn đẹp, sớm chết oan vì tội phong lưu – Con hát xinh, cắt tình duyên vào am Thủy Nguyệt
Chương 78: Họa sĩ già ra bài từ Quỷ hoạch – Công tử ngốc làm văn tế phù dung
Chương 79: Rước lấy sư tử Hà Đông, Tiết Bàn hối hận – Vớ phải giống sói Trung Sơn, Nghênh Xuân nhầm to
Chương 80: Gặp anh chồng phũ, Hương Lăng bi trận đòn oan- Chữa đàn bà ghen, đạo sĩ kê bài thuốc nhảm
Chương 81: Bốn chị câu cá chơi, xem ai tốt số – Hai lần vào trường học, vâng theo lời cha
Chương 82: Lấy nghĩa sách giảng bày, cụ đồ già dạy răn chàng bướng – Thấy ác mộng kinh khủng, gái Tiêu Tương hoảng sợ ngây hồn
Chương 83: Vào cung Vị, thăm Nguyên phi bị ốm – Nhộn nhà cửa, làm Bảo Thoa nghẹn lời
Chương 84: Thử tài học, Bảo Ngọc được nhắc đến việc hôn nhân – Thăm cháu ốm, Giả Hoàn càng gây thêm mối thù oán
Chương 85: Giả Chính được thăng chức lang trung – Tiết Bàn lại gây nên tù tội
Chương 86: Ăn của đút, quan già thay án kiện – Gửi tình riêng, gái trẻ giảng cầm thư
Chương 87: Cảm thấy gió thu, gảy đàn buồn thương chuyện cũ – Say ngồi nhập định, tà hỏa lẩn vào trong tim
Chương 88: Muốn bà vui, Bảo Ngọc khen cháu bé mồ côi – Nghiêm phép nhà, Giả Trân đánh người hầu cứng cổ
Chương 89: Người đâu vật còn đây, công tử làm bài từ – Bóng cung ngỡ là rắn, Tần Khanh đành tuyệt thực
Chương 90: Mất áo bông, gái nghèo ngấm ngầm bực bội – Đưa hoa quả, chú em nghĩ ngợi vẩn vơ
Chương 91: Định thỏa lòng dâm, Bảo Thiềm bày mưu kế – Bày ra nghi trận, Bảo Ngọc bàn đạo thiền
Chương 92: Bàn chuyện gái hiền, Xảo Thư mến người trinh thục – Xem hạt châu lớn, Giả Chính tính chuyện hợp tan
Chương 93: Người họ Chân đến nương nhờ họ Giả – Am Thủy Nguyệt vỡ lở án gió trăng
Chương 94: Giả mẫu bày tiệc, thưởng Hải Đường nở hoa – Bảo Ngọc mất ngọc, biết tai ương sắp đến
Chương 95: Tin đồn không sai, Nguyên phi đã mất – Giả thực lẫn lộn, Bảo Ngọc hoá ngây
Chương 96: Giấu hẳn tăm hơi Phượng Thư bày kế lạ – Cơ mưu đã lộ, Đại Ngọc mất tính thường
Chương 97: Đốt cảo thơ, Đại Ngọc dứt tình si – Về nhà chồng, Bảo Thoa thành lễ lớn
Chương 98: Giáng Châu đau buồn, hồn về nơi ly hận – Thần Anh mang bệnh, lệ tràn cõi tương tư
Chương 99: Giữ phép công bọn hầu ác cùng nhau phá lệ – Xem tin báo ông cậu già đâm ra lo phiền
Chương 100: Làm hỏng mất dịp tốt, Hướng Lăng gây mối oán thù – Thương em lấy chồng xa, Bảo Ngọc cảm tình ly biệt
Chương 101: Vườn Đại Quan đêm trăng rợn hồn ma – Chùa Tán Hoa quẻ thần ghê điềm lạ
Chương 102: Phủ Ninh Quốc, ruột thịt bị tai ương – Vườn Đại quan, phù thủy trừ yêu quái
Chương 103: Giở kế độc ác, Kim Quế tự giết mình – Không hiểu đạo thiền, Vũ Thôn gặp người cũ
Chương 104: Kim cương say, cá nhỏ gây thành sóng lớn – Công tử ngốc, thương thừa nhớ lại tình xưa
Chương 105: Quân Cẩm y khám biên phủ Ninh quốc – Quan ngự sử tâu hặc châu Bình An
Chương 106: Gây tai ương, Vương Hy Phượng xiết bao hổ thẹn – Tránh hoạ hoạn, Giả thái quân cầu khấn phật trời
Chương 107: Cho của thừa, Giả mẫu hiểu nghĩa lớn – Phục chức cũ, Giả Chính đội ơn trời
Chương 108: Tiệc bày vui gượng, viện Hoành Vu mừng ngày sinh – Chết vẫn say đời, quán Tiêu Tương nghe quỉ khóc
Chương 109: Hồn thơm chờ đợi, con Nam may được yêu nhầm – Oan án trả xong, Nghênh Xuân trở về cõi lạc
Chương 110: Sử Thái quân tuổi già về nơi địa phủ – Vương Hy Phượng sức kiệt làm mất lòng người
Chương 111: Gả Uyên Ương theo chủ lên chầu trời – Hầu chó lớn đem người về cướp của
Chương 112: Sống đầy oan nghiệt, Diệu Ngọc bị giặc cướp đi – Chết vì hiềm thù, dì Triệu sa xuống âm phủ
Chương 113: Ăn năn lỗi trước, Phượng Thư nhờ cậy già Lưu – Quên hẳn hiềm xưa, Tử Quyên cảm thương Bảo Ngọc
Chương 114: Vương Hy Phượng trải qua cơn ảo nhớ lại Kim Lăng – Chân ứng Gia được đội ơn vua về chầu ngọc khuyết
Chương 115: Tri lời thiên lệnh, Tích Xuân thề vẫn giữ chí xưa – Tên người dù giống nhau, Bảo Ngọc không coi là tri kỷ
Chương 116: Được ngọc thiêng, nhận thấy duyên tiên nói ảo cảnh – Trọn đạo hiếu, đưa linh cữu mẹ về cố hương
Chương 117: Ngăn việc tu hành, hai gái đẹp cố giữ viên ngọc – Thích họp bạn xấu, một con hư coi giữ việc nhà
Chương 118: Nhớ hiềm xưa ông cậu lừa gái nhỏ – Sợ nói nhảm, vợ hầu can chàng ngây
Chương 119: Dỗ hương khôi, Bảo Ngọc rũ sạch duyên trần – Đội ơn vua, họ Giả dồi dào hưởng phúc
Chương 120: Chân Sinh ẩn kể rõ cảnh thái hư – Giả Vũ Thôn kết thúc Hồng lầu mộng

Chương 1-2: Bi kịch tình yêu và ý nghĩa tình yêu trong Hồng Lâu Mộng

Câu chuyện tình giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc xuyên suốt qua toàn bộ tác phẩm, làm nên chủ đề chính của cuốn tiểu thuyết vĩ đại này.

Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, hai anh em cô cậu ruột, cùng ở chung một nhà từ bé; lớn lên, vì Bảo Ngọc được bà nội nuông chiều, riêng cho ở trong vườn Đại quan cùng với đám “quần thoa”, nên anh ta và Đại Ngọc gần gũi nhau. Nhưng đây không phải là câu chuyện “lửa gần rơm… ”. Đây cũng không phải chỉ là câu chuyện “tài tử giai nhân là nợ sẵn”. Tình yêu của họ còn có nguyên cớ sâu xa hơn nhiều; họ nói như Saint Exupéry: “Yêu nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng”, nghĩa là họ “đồng điệu”, “tri âm” lẫn nhau trên những vấn đề có ý nghĩa cuộc sống.

Nói cho đúng, lúc đầu Bảo Ngọc cũng còn có chút phân vân. Anh ta sống giữa đám a hoàn nhan sắc, những Tập nhân, Tình văn… những người này là những phụ nữ xuất thân từ tầng lớp dưới, được họ Giả mua về hầu hạ, nhưng đó là những người có tình, có phẩm chất tốt đẹp. Họ chính là mót bức màn ngăn bụi trần của phủ Vinh quốc đầy dẫy những hạng đàn ông ô trọc. Bảo Ngọc cảm nhận được thực chất vị tha, quên mình đầy dịu dàng của họ, anh ta như một người được vây bọc bởi sự tận tụy, thương yêu… của những nữ tỳ – đồng thời cũng là “nữ thần” này. Do đó không lạ gì mà Bảo Ngọc đã nêu lên cái “nguyên lý nữ tính” rất xa lạ với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của xã hội phong kiến: “Xương thịt con gái là nước kết thành. Tôi trông thấy con gái thì người tôi nhẹ nhàng, khoan khoái, thấy con trai thì như bị phải hơi dơ bấn”. Trong phủ Giả lúc đó còn có cô em họ Tiết Bảo Thoa ở nhờ. Bảo Thoa đẹp, đức hạnh, nết na theo đúng nếp nhà phong kiến. Bảo Ngọc cũng mến Bảo Thoa, gần nàng, anh chàng đôi lúc cũng thấy xiêu xiêu, quả có như lời Lâm Đại Ngọc “gần cô chị thì quên khuấy cô em”!

Nhưng rồi dần dần, Bảo Ngọc chỉ yêu có Đại Ngọc thôi. Đại Ngọc kiều diễm, yếu đuối, là một tâm hồn dễ cám xúc, một tâm hồn nhạy cảm và phong phú – đó là một tâm hồn thơ đích thực; và đó là điều mà họ gặp nhau. Quan trọng hơn, là trong khi cả nhà chờ mong Bảo Ngọc học giỏi thi đỗ, làm quan giữ nếp nhà…, thì Bảo Ngọc lại chán ngấy cái con đường mòn nhàm chán đó, và người hiểu anh duy nhất là Đại Ngọc.

Bảo Ngọc, chàng trai được nhốt trong cái lồng kính quý tộc đầy cao lương gấm vóc, anh ta được người ta dùng gia giáo, thi giáo, lễ pháp… để ràng buộc theo con đường vạch sẵn. Giả Bảo Ngọc bị mất tự do, và anh ta cảm thấy sâu sắc điều đó, nên lúc nào anh ta cũng vùng vẫy tìm lối thoát, tìm cách phán kháng lại. Như một con chim khao khát trời xanh rộng lớn bị nhốt vào cái lồng vàng chật hẹp, Giả Bảo Ngọc sống không yên ổn. Anh lục lọi sách vở, đi vào triết học cổ, đi vào “tham thiền ngộ đạo” …nhưng những cái đó không cung cấp được cho anh một vũ khí tư tưởng nào để tự giải phóng! Mà thực ra, thì anh cũng lẩn quẩn, loanh quanh; anh ta là một sản phẩm đầy mâu thuẫn của một xã hội cũng đang chứa đầy mâu thuẫn, một xã hội đang tìm lối ra nhưng không có lối ra. Rốt cuộc, anh ta tỏ thái độ hoài nghi những gì “thánh hiền” đã viết, đã soạn, cho đó là “soạn bậy”, là “bịa”, là “nói tầm bậy”. Đối với đạo đức phong kiến mà cái cao nhất là “tôi trung con hiếu”, “sát thân thành nhân”, anh ta dám nói những lời “cách mệnh”: “Nhũng bọn mày râu dơ bẩn, chỉ biết “quan văn chết vì lời can gián, quan võ chết vì đánh giặc”, là hai cái chết của kẻ đại trượng phu, thành ra chỉ làm rối lên, nào có biết đâu có vua ngu mới có bầy tôi chết vì lời can gián; chỉ lo ra công đánh giặc, liều mình hy sinh, tương lai sẽ bỏ nước cho ai.

Thật là lời lẽ của ké “đại nghịch vô đạo”. Tất nhiên, nói cho công bằng, đó là một đôi ý nghĩ đột xuất của anh chàng này, còn như bình thường, anh ta vẫn phải nép mình trong lồng cũi tuân phục “di huấn thánh nhân”.

Trong hoàn cánh đó, Lâm Đại Ngọc đã đến. Họ đã đến với nhau không dễ dàng. Đại Ngọc vì gia cảnh đến ở nhờ trong phủ họ Giả, tuy là cháu ngoại đấy, nhưng vẫn bị Giá mẫu xem là “người ngoài”: “nữ nhân ngoại tộc”. Cái mặc cảm “ăn bám ở nhờ” luôn luôn làm nàng đau khổ – nàng vốn là người nhiều tự ái là người nhạy cảm, khó hòa hợp với chung quanh và do đó cô đơn. Tình cảnh của nàng còn bi đát hơn Bảo Ngọc nhiều, vì nàng là con gái, là phận ở nhờ, mà trong cái xã hội ghê khiếp ấy, thì nàng chẳng là cái gì cả, nàng chỉ là một cánh bèo dạt, một cánh hoa rơi! Cho nên nàng thương hoa, khóc hoa, chôn hoa, cho nên nàng luôn buồn thương vô hạn. Tâm hồn nàng như một sợi tơ đàn mảnh mai, bất kể một giọt mưa thu hay tơ liễu bay đều âm vang một điệu buồn đứt ruột! Cái yếu đuối, cái “đa sầu đa cảm” của nàng cũng là một nét tính cách riêng nhưng xuất phát từ những điều kiện của thời đại.

Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc đã đến với nhau như thế và đã đến với nhau rồi, hiểu lòng nhau rồi, họ vẫn sống những ngày tháng không yên. Trong tình yêu này, họ chưa được hưởng bao nhiêu hạnh phúc; chưa nếm mật ngọt tình yêu, họ đã linh cảm thấy mật đắng của đời! Họ luôn luôn bị bủa vây trong trùng điệp của mạng lưới phong kiến. Họ không phải là người quyết định được tình yêu của mình.

Cuối cùng, Giả mẫu và bọn phu nhân trong phu họ Giả đã quyết định! Họ đã chọn Tiết Bảo Thoa cho Bảo Ngọc. Và một khi đã chọn, họ đã nhẫn tâm theo kế “đánh tráo” của Phượng Thự Bảo Ngọc cứ yên trí là “cưới em Lâm”, hóa ra lúc giở khăn che mặt, lại là Bảo Thoa; Bảo Ngọc lúc bấy giờ mới bật ngửa, mà Lâm Đại Ngọc thì sau cơn ốm nặng, đã chết trong niềm đau đớn, oán hận bằng đốt thơ, đốt khăn tặng trong lúc cả nhà mừng đám cưởí của người mình yêu!

Kết thúc tấn bi kịch này, Bảo Ngọc trốn nhà đi tu; và Bảo Thoa làm một người góa phụ trẻ đau khổ..

Chương 1-3: Thi pháp nhân vật hồng lâu mộng

Hồng Lâu Mộng không những đã đưa lại một nội dung mới mang ý nghĩa thời đại; nó còn làm được một việc vĩ đại nữa là đổi mới thi pháp tiểu thuyết Trung Quốc. Lỗ Tấn nói: “Từ khi Hồng Lâu Mộng ra đời, tư tưởng và cách viết truyền thống đã bị phá vỡ”. Tiểu thuyết Trung Quốc trước đây, chủ yếu là tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc, Thủy hử, Tây dụ.. thiên về mô tả hành động, miêu tả hoạt động bên ngoài và lời nói của nhân vật. Con người trong những tiểu thuyết đó, sản phẩm của một nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất phương thức sản xuất châu á, có bề giản đơn, nhất quán trong một tính cách, rạch ròi trung, nịnh đôi đường. Những truyện ngắn “truyền kỳ”, những truyện ngắn trong Liêu Trai đã bắt đầu thấm đẫm màu sắc con người thị dân với những khát vọng nồng nhiệt hơn, phức tạp hơn nhưng vẫn chứa có một thi pháp tiểu thuyết thực sự phản ánh một cách nhìn mới về con người.

Hồng Lâu Mộng đã làm được việc đó. Dĩ nhiên là trong những hạn chế gay gắt của thời đại. Dù cho có những nhân tố tư bản chủ nghĩa, nhân tố kinh tề hàng hóa, thị trường, thành phố, thị dân… xã hội Trung Quốc vẫn là xã hội phong kiến, và cái con người “mới” mà người ta chờ đợi đó đã xuất hiện chưa hoàn chỉnh; thi pháp tiểu thuyết trong Hồng Lâu Mộng đã mang một số nhân tố mới của tiểu thuyết cận đại phương Tây, nhưng nó không thể đi xa hơn nữa. Nó vẫn còn bị giam mình trong cái khung tiểu thuyết chương hồi truyền thống, lấy “kể việc” làm phương tiện chủ yếu khám phá của con người.

Nhưng, xét cho kỹ thì phải ghi nhận những yếu tố mới ở Hồng Lâu Mộng là rất có ý nghĩa.

Trước hết, đó là cách nhìn con người trong sự phát triển đầy mâu thuẫn, sự phát triển biện chứng, có chiều sâu đầy kịch tính.

Số phận và tính cách của Bảo Ngọc đã được tác giả miêu tả không đơn giản. Đó là mâu thuẫn gĩưa khát vọng tự do và sự ràng buộc nặng nề của gia đình và xã hội phong kiến. Đó là tình yêu chân thành và quý báu như chính sinh mệnh của anh ta và lạ thay, anh ta hầu như chẳng làm được gì, chẳng chiến đấu dũng manh gì để đoạt lấy hạnh phúc! Mọi việc gần như đã phó mặc! Trước khi chết, Lâm Đại Ngọc oán giận, đau buồn đốt khăn tặng, đốt tập thơ…, không phải là không có lý! Anh ta chưa bao giờ xứng đáng là một trang “tu mi nam tử” có lý tưởng, kiên định! Vấp phải những mâu thuẫn nghiệt ngã của thời đại, anh ta sinh ra đau thần kinh, mắc chứng “ngây”, cứ cười hì hì suốt ngày. Điều đó càng đẩy sâu anh ta vào bi kịch. Cuối cùng giải pháp “đi tu” – phản ánh sự từ chối, sự phản kháng dầu yếu ớt – đã được anh ta chọn lựa. Đi thi và thi đỗ cao để an ủi gia đình, rồi bó trốn đi tu, Bảo Ngọc đã đi hết sự phát triển tính cách một cách hợp lý và quả là qua số phận anh ta, như một số nhà nghiên cứu nhận định, có sự gởi gắm, có sự thể hiện một phần nào bản thân tác giả. Đó đúng là một số phận tiểu thuyết theo ý nghĩa hiện đại của từ này.

Lâm Đại Ngọc là một tính cách thú vị khác. Nàng yêu Bảo Ngọc, nhưng do thân phận của nàng, mỗi khi Bảo Ngọc ngỏ lời là nàng lại giận hờn, buồn tủi, làm ra vẻ cự tuyệt…

“Bảo Ngọc cười nói:

– Tôi là người nhiều sầu, nhiều bệnh, cô là trang nghiêng nước nghiêng thành. 3

Đại Ngọc nghe thấy câu ấy, mặt và tai đỏ bừng lên, lập tức dựng ngược lông mày, như cau lại mà không phải là cau, trố hai con mắt, như trợn mà không phải trợn. Má đào nổi giận, mặt phấn ngậm hờn, trỏ vào mặt Bảo Ngọc:

– Anh nói bậy, muốn chết đấy! Dám đem nhũng lời lẳng lơ suồng sã lăng nhăng để khinh nhờn tôi! Tôi về mách cậu mợ đấy”. (tập I)

Điều đó làm cho nàng trở nên đáng yêu và tội nghiệp, làm cho nàng trở nên nhiều nữ tính hơn. Không một nét giả dối, nàng là một nhân vật đã hiện ra với chiều sâu tâm lý đa dạng, được bộc lộ qua tình yêu, qua những quan hệ khác. Phút cuối cùng nàng nghe nói Bảo Ngọc sắp lấy vợ, và người được chọn sẽ là người trong phủ, nàng chắc mẫm người đó sẽ là mình, chứa chan hy vọng, và từ đau buồn tuyệt vọng, trong ốm đau, nàng trở lại sống linh hoạt, tươi đẹp… Ai hay đó là phút nàng ở gần sự kết thúc nhất. Những cảnh như vậy làm cho nhân vật thực, gần gũi, phong phú, hấp dẫn… và về mặt soi rọi tâm lý nhân vật, đã đạt đến trình độ của nhân vật tiểu thuyết hiện đại.

Hồng Lâu Mộng có tất cá 235 nhân vật đàn ông, 213 nhân vật dàn bà (một khối lượng nhân vật khổng lồ! – trong Chiến tranh và hòa bình có chừng 500 nhân vật). Làm chủ chừng ấy nhân vật, miêu tả, cá tính hóa họ một cách có hiệu quả là một sáng tạo phi thường.

Trong số đó, nổi bật lên sự mô tả và xây dựng nhân vật Tiết Bảo Thoa. Tiết Bảo Thoa là một tính cách gần như đối nghịch với Lâm Đại Ngọc, Giả Bảo Ngọc; chính những nhân vật trong Hồng Lâu Mộng đã phát triển trong sự đối nghịch như vậy, làm cho cuốn tiểu thuyết có nhiều gương mặt, nhiều hợp âm. Tiết Bảo Thoa là một nhân vật phụ nữ lý tính. Nàng còn ít tuổi mà đầy bản lĩnh, ở nàng tất cả đều đúng mực, hợp lý, lô-gích, nàng là hiện thân của nguyên lý đạo đức phong kiến. Bao giờ nàng cũng là một người con gái sống cho gia đình, sống cho ý định người khác – và ý định đó luôn được nàng chấp nhận vì đó cũng chính là của nàng. Sự hòa hợp giữa nàng và gia pháp phong kiến là điều hoàn toàn tự nguyện. Nàng là người có học, xem nhiều sách, biết làm thơ, nhưng hãy nghe nàng tâm sự (cũng là răn đe Đại Ngọc): “Bọn con gái chúng ta không biết chữ càng tốt… Ngay đến cả việc làm thơ, viết chữ đã không phải là phận sự chị em mình, mà cũng không phải phận sự của bọn con trai nữa. Người con trai đọc sách nhiều phải hiểu nghĩa lý để ra giúp dân trị nước mới đúng… ”(tập III).

Với Bảo Ngọc, một người không yêu nàng, nhưng nàng theo sự sắp đặt của bề trên, lấy Bảo Ngọc không một chút tự ái; nàng làm bổn phận của người vợ, khuyên giải chồng, “lý sự” với chồng: “… chứ bây giờ gặp đến vua thánh, nhà ta mấy đời đội ơn triều đình, cha ông được hưởng biết bao sung sướng… ”(tập IV).

Nếu nói “bản chất” và “bản lĩnh” giai cấp thì quả nàng là hiện thân của giai cấp. Nàng có ác không? Có. Khi con hầu Kim Xuyến nhảy xuống giếng tự tử, Vương phu nhân cảm thấy lương tâm cắn rứt, nhưng nàng thì không, nàng tươi cười, an ủi đổ lỗi cho Kim Xuyến và nói: “Dì cũng chẳng nên lo lắng buồn bã làm gì, chỉ cần cho vài lạng bạc làm ma cho nó là trọn tình chủ tớ rồi”. Nàng có giả dối không? Có. Nàng đã bày kế “ve sầu lột xác” để đánh lừa bọn con hầu, tránh điều bất lợi cho mình. Bảo Thoa lúc nào cũng tỉnh táo, cũng lắm mẹo! Nhưng nàng có đáng thương không? Nàng ít nhiều cũng yêu Giả Bảo Ngọc mà tự kiềm chế, và cuối cùng, với tất cả sức lực và nghị lực, với tất cả sự chân tình, nàng muốn có hạnh phúc trong cuộc sống phong kiến với Bảo Ngọc, nhưng rốt cuộc nàng cũng trở thành một nhân vật bi kịch. Bi kịch của nàng là bi kịch của một người trung thành với đạo đức phong kiến.

Gần với tính cách của Tiết Bảo Thoa là Vương Hy Phượng. Đó cũng là một nhân vật nữ hết sức đặc sắc nữa. Những nhân vật như thế làm chúng ta nhớ nhiều đến Hoạn Thư của Nguyễn Dụ Đó là sự miêu tả trung thành với bản chất của hiện thực, bản chất của những mối quan hệ phong kiến, đồng thời nó là một sự cá tính hóa hết sức sâu sắc.

Ngoài ra con biết bao nhiêu nhân vật đáng lưu ý nữa trong cái thế giới bao la của Hồng Lâu Mộng. Dường như đó là cả một nhân loại: trong đó có hàng trăm số phận, và mỗi số phận đưa đến cho chúng ta một mảnh đời, một suy nghĩ về nhân thế.

Nhà lý luận tiểu thuyết nổi tiếng Bakhtin có nói rằng nhân vật tiểu thuyết phải có phần “dư thừa nhân tính”. Có nghĩa là nhân vật, ngoài vai trò xã hội (đẳng cấp, nghề nghiệp) phải có cái phần dư thừa nhân tính, cái phần nhu cầu nhân tính, cái phần cá tính tự do mà tấm áo xã hội không chứa đựng hết. Nhân vật của Hồng Lâu Mộng vừa là giai cấp xã hội vừa là những nhân vật mang tính người, tính toàn nhân loại, ở trong họ có cái phần “người” và những nhân vật như vậy bao giờ cũng là một phát hiện, có sức hấp dẫn rất mạnh.

° ° °

Hồng Lâu Mộng là cả một thế giới. Thông qua cuộc sống từ thịnh đến suy của một gia đình quý tộc, tác giả đã làm hiển hiện sự băng hoại của xã hội phong kiến, của nhân tính phong kiến, đã cho ta thấy một xã hội như thế là không phương cứu chữa! Không phải chỉ vì bọn người ấy sống trên áp bức và bóc lột địa tô, mà cái chính là cuộc sống trống rỗng của bọn họ; ngày và đêm trong cái phủ họ Giả ấy chỉ toàn là những chuyện giành giật, lừa gạt, dâm dật, tự tử, tội ác… Một vài khuôn mặt lương thiện – trong đó khá nhiều là thuộc tầng lớp dưới, như già Lưu, như Tập Nhân… không cứu nỗi sự sụp đỗ tất yếu của nó.

Hồng Lâu Mộng đã đưa đến cho người đọc những hiểu biết sâu xa về xã hội và về con người với một cách viết chân thực, giản dị mà bao gồm nhiều bút pháp lớn kim cổ. Nó là một cuốn bách khoa sinh động về xã hội Trung Quốc thời xưa. Về mặt thi pháp nghệ thuật, thì đó là một bước tiến mới trong nghệ thuật tiểu thuyết của thế giới. Hồng Lâu Mộng xứng đáng đứng ngang với các kiệt tác của nhân loại.

25- 10 – 1988

Mai Quốc Liên.

Tài liệu tham khảo chính

– Lịch Sử Văn học Trung Quốc (Nguyên – Minh – Thanh). Sở nghiên cứu Văn học thuộc Viện Khoa Học Trung Quốc, Bắc Kinh, 1962. Bản dịch Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1964.

– Bùi Kỷ; Lời giới thiệu, Hồng lâu mộng tập 1. Nhà xuất bản Văn hóa. Hà Nội, 1962.

– Tào Tuyết Cần dữ Hồng lâu mộng. Hồng lâu mộng, quyển thượng. Thế giới thư cục, Singapore, 1973.