Chương 18: Cathy bị đưa về lại Đồi Gió Hú

Sau đấy, Cathy kể cho tôi nghe về cuộc trốn chạy khỏi trại Đồi của cộ Cô đã nghe thấy giọng nói của mấy người bên Ấp sang hỏi tìm cô và rất tuyệt vọng khi nghe Heathcliff xua họ đi. Cuối cùng, mặc dầu đang khổ não, cô cũng đã thuyết phục được Linton ra tay cứu cộ Nhân lúc cha cậu vắng mặt, cậu đã đi kiếm chìa khóa và mở cửa. Đêm đó, khi bốn bề đều đã yên tĩnh, cô lẻn ra khỏi nhà và chạy một mạch về Ấp.

Buổi tối sau đám tang, Cathy và tôi ngồi trong thư viện, băn khoăn tự hỏi không biết chuyện gì sắp xảy ra. Cathy hy vọng là cô sẽ được phép ở lại Ấp. May ra Linton có thể sang sống với cô và tôi có thể làm quản gia cho họ. ý nghĩ đó làm cả hai chúng tôi vui lên, nhưng chúng tôi đang nói dở thì một gia nhân chạy vào.

– Cái tên vô lại Heathcliff đang đến đấy! – Y nói – Tôi cài chặt cửa không cho hắn vào nhé?

Không kịp nữa rồi. Heathcliff cũng chẳng thèm nhọn công gõ cửa. Ngôi nhà này đã thuộc về con trai ông ta, nên ông ta tự xem mình là chủ nhân. ông ta vào thẳng thư viện và đóng cửa lại. Cathy đứng dậy như thể sẵn sàng bỏ chạy.

– Đứng lại! – ông ta vừa nói, vừa nắm lấy cánh tay cô – Đừng hòng chạy trốn nữa! Tôi đến dể đưa cô về nhà. Tôi hy vọng là cô sẽ là một đứa con dâu biết làm tròn bổn phận và không còn xúi giục con trai tôi làm trái ý tôi nữa. Tôi đã phải trừng phạt nó rất nghiêm khắc vì nó đã giúp cô bỏ trốn. Hareton kể với tôi là do vậy mà ban đêm nó thức dậy và la hét hàng giờ liền, gọi cô đến che chở cho nó khỏi bị tôi hành hạ. Giờ đây cô phải quan tâm lo lắng cho nó. Tôi khoán nó cho cô

– Sao không để Cathy ở lại đây? – Tôi khẩn khoản. – Đưa con trai ông sang đây với cô ấy. Vì ông căm ghét cả hai, ông sẽ không hề thấy nhớ họ đâu.

– Tôi sẽ kiếm một người thuê ấp này – ông ta nói – và tôi muốn các con tôi sống quanh tôi, chị có thể tin chắc như thế. Con bé này sẽ phải chịu ơn tôi vì tôi sẽ nuôi nó. Tôi sẽ không để nó ăn không ngồi rồi sau khi Linton chết. – ông ta quay sang Cathy – Nhanh lên, sửa soạn đi ngaỵ.

– Tôi sẽ đi – Cathy nói – Linton là người duy nhất để cho tôi yêu thương trên đời này, và ông không bao giờ có thể làm cho chúng tôi căm ghét nhau. Tôi thách ông xúc phạm đến cậu ấy trong khi có mặt tôi và tôi thách ông làm cho tôi sợ đấy.

– Cô hợm mình lắm nhỉ – Heathcliff đáp – Tôi đâu có ưa cô đến độ phải đi xúc phạm đến nó? Cô sẽ được nếm trải đến cùng đủ mùi khổ đau. Không phải tôi sẽ làm cho nó trở nên đáng ghét đối với cô, mà chính là tâm hồn nó kia.

– Tôi biết cậu ấy có bản tính xấu – Cathy nói với ông ta – bởi vì cậu ấy là con trai ông. Tôi sẵn sàng tha thứ cho cậu ấy, vì tôi biết cậu ấy yêu tôi, và chính vì thế mà tôi yêu cậu ấy.

Cô nhìn thẳng vào ông ta và nói tiếp:

– ông Heathcliff, không có ai yêu ông cả. Dù ông có làm chúng tôi khổ sở đến mấy chăng nữa, chúng tôi vẫn thấy được phục thù khi nghĩ rằng sở dĩ ông tàn ác như vậy cũng vì ông còn khổ sở hơn chúng tôi nhiều. ông đang khổ sở, phải không nào? Và cô đơn nữa! Không ai yêu ông cả! Sẽ không có ai khóc thương ông khi ông chết!

Cathy kết thúc mấy lời này một cách gần như đắc thắng. Cô đang xử sự giống như những người ở trại Đồi, tìm thấy niềm vui trong những nỗi khổ đau của kẻ thù.

– Mày sẽ phải hối tiếc cho mình nếu mày còn đứng đó thêm một phút nữa. – Bố chồng cô nói – Đi lấy đồ đạc ngay!

Cô ngẩng cao đầu đi ra khỏi phòng. Tôi khẩn khoản van nài Heathcliff cho tôi được thế chỗ của Zillah ở trại Đồi, để chị ấy sang bên Ấp này thay tôi, nhưng ông ta bảo tôi im miệng. ông ta chăm chú ngắm nghía mấy bức tranh treo trên tường, rồi chỉ vào một bức chân dung vẽ Catherine và Linton và nói:

– Chị hãy thu xếp gửi bức chân dung kia lên trại Đồi.

– Tôi đã sẵn sàng lên đường. – Cathy vừa bước vào vừa thông báo – Cô Ellen, cô làm ơn bảo họ đóng yên cho con ngựa lùn của cháu nhé.

– Mày chẳng việc gì phải đem theo con ngựa lùn của mày đâu – Heathcliff nói – Ở bên Đồi Gió Hú, mày sẽ không bao giờ cần đến ngựa. Sau này, thỉnh thoảng cô có đi đâu thì cứ đi bộ. Nào đi thôi!

– Tạm biệt cô Ellen. – Cô chủ tôi thì thầm, và khi cô hôn tôi, môi của cô lạnh ngắt – Cô đến thăm cháu sớm nhé, cô Ellen. Đừng quên cháu đấy!

– Ellen Dean, chị liệu hồn, chớ có làm cái trò ấy. – Người giám hộ mới của cô nói – Khi nào tôi muốn nói chuyện với chị, tôi sẽ sang đây. Tôi không cho chị lên nhà tôi đâu.

ông ra hiệu cho Cathy ra khỏi phòng, và sau khi ném về phía tôi một cái nhìn làm tim tôi quặn đau, cô làm theo ý ông tạ Qua khung cửa sổ, tôi dõi mắt nhìn họ đi xuống lối mòn. Heathcliff nắm lấy cánh tay Cathy, mặc cho cô cưỡng lại, và hối hả bước, lôi cô đi xuống.

Bất chấp lời cảnh cáo của Heathcliff, tôi đã sang thăm trại Đồi một lần để thăm hỏi Cathy, nhưng Joseph không cho tôi vào nhà, nên để nắm được tin tức, tôi phải dò hỏi Zillah mỗi khi gặp chị tạ Vào cái đêm Cathy trở về Đồi cùng với Heathcliff, cô đi thẳng tới phòng Linton, chẳng nói chẳng rằng với ai. Hôm sau, khi Heathcliff và Hareton đang dùng điểm tâm thì cô bước vào chính sảnh:

– ông có thể cho gọi bác sĩ được không? – Cô run rẩy hỏi – Bệnh tình của Linton nặng lắm rồi.

– Chúng tôi biết chứ – Heathcliff đáp – Nhưng mạng sống của nó không đáng giá một xu, và tôi sẽ không chi một xu nào cho nó đâu.

– Nhưng tôi không biết phải làm gì cho cậu ấy, – cô nói – và nếu không ai giúp tôi thì cậu ấy chết mất.

– Xéo, xéo khỏi phòng này ngay – Heathcliff quát – Đừng để tôi phải nghe một tiếng nào về nó nữa. Ở đây không có ai thèm bận tâm xem chuyện gì sẽ xảy đến với nó. Nếu cô quan tâm thì cô có thể chăm nom nó, còn nếu không thì cứ khóa cửa phòng nó lại và để mặc nó.

Tuyệt vọng, Cathy đến cầu cứu Zillah

– Tôi không thể giúp cô được. – Chị quản gia nói. – ông Heathcliff đã nói rằng chăm sóc cậu ấy là việc của cô, và ông ấy không cho phép tôi được giúp cô

Thế là Cathy bị bỏ mặc một mình lo cho Linton. Cậu rên rỉ cả ngày và gần như cả đêm, còn khi cậu thấy khá lên chút ít thì lại luôn miệng cằn nhằn. Cathy chẳng nghỉ ngơi được mấy, khuôn mặt trắng bệch và đôi mắt sưng húp của cô cho thấy điều đó. Thỉnh thoảng cô vào bếp, vẻ mặt lo lắng. Nhưng cô chẳng bao giờ mở miệng cầu xin, vì trước đó, tất cả bọn họ đều đã cự tuyệt, nên cô biết có cầu xin nữa cũng vô ích. Đêm đến, để thay đổi không khí, cô ra đầu cầu thang, lặng lẽ khóc một mình.

Nhiều ngày trôi qua như thế, rồi cuối cùng, một đêm, Cathy bước vào phòng Zillah, không hề gõ cửa.

– Báo với ông Heathcliff là con trai ông ấy đang hấp hối. Tôi biết chắc là như vậy. – Cô nói – Dậy ngay và báo cho ông ấy đi.

Cô lại biến mất, chẳng nói gì thêm nữa. Zillah sợ không dám làm cho ông Heathcliff nổi giận, bèn nằm im nghe ngóng. Trong nhà bốn bề lặng ngắt như tờ, vì thế chị ta trở mình rồi ngủ tiếp, nghĩ rằng Cathy chắc hẳn đã lầm.

Lát sau, Cathy kéo một hồi chuông inh tai nhức óc đánh thức cả nhà dậy. Heathcliff gọi Zillah đến, hỏi xem có chuyện gì. Bấy giờ Zillah mới báo lại cho Heathcliff lời Cathy nhắn, ông ta liền đi đến phòng cộ Cô ngồi trên giường, hai tay khoanh lại, tựa trên đầu gối. Bố chồng cô soi nến vào mặt Linton. Đến lúc này ông ta đã biết rằng tiếng chuông ấy không phải là trò báo động giả.

– Sao, Cathy, – ông ta nói – cô cảm thấy thế nào?

– Cậu ấy đã được yên lành; còn tôi thì thoát nợ. – Sau một lúc câm lặng cô đáp – Lẽ ra phải cảm thấy dễ chịu, nhưng… – đến đây cô không còn dấu được nỗi cay đắng nữa – ông đã để mặc tôi một mình chống chọi với cái chết quá lâu, đến nỗi tôi chỉ còn cảm thấy và nhìn thấy mỗi một người: thần chết.

Joseph được lệnh đưa thi hài Linton ra khỏi phòng, và Cathy ở lại trong ấy một mình. Sáng hôm sau, Heathcliff cho Zillah lên bảo cô xuống dưới nhà ăn sáng, nhưng Cathy đáp là cô ốm nặng.

– Thế thì chúng ta cứ để mặc nó một mình, đến sau đám tang hẵng haỵ – Heathcliff nói thế sau khi Zillah báo tin Cathy bị bệnh – Lấy cho nó những thứ nó cần và khi nào nó có vẻ khá hơn thì báo cho ta ngaỵ

Cathy ở trên lầu hai tuần liền, và Zillah mỗi ngày đem thức ăn lên cho cô hai lần. Heathcliff có đến gặp cô một lần để đưa cho cô xem tờ di chúc của Linton. Tờ di chúc ấy được thảo ra sau lúc Cathy bỏ trốn để về thăm người cha đang hấp hối. Linton đã để lại tất cả tài sản của riêng cậu, lẫn toàn bộ bất động sản và tiền bạc, vốn trước kia là của Cathy, cho cha cậu. Vì thế, giờ đây Cathy thấy mình không còn bạn bè cũng như tiền bạc, phải phụ thuộc hoàn toàn vào Heathcliff.

Thời tiết ngày một lạnh hơn, và vì trong phòng Cathy không có lò sưởi, cô buộc phải xuống sưởi dưới nhà. Zillah phì cười khi thấy Hareton cất hết súng ống đi, cậu cố làm cho mình trông sạch sẽ và tươm tất. Cậu mời cô ngồi lại gần lò sưởi hơn, vì biết chắc là cô đang lạnh cóng.

– Tôi đã lạnh cóng suốt một tháng nay hoặc lâu hơn thế. – Cathy chỉ đáp có vậy, đưa mắt nhìn quanh, cô thấy có mấy quyển sách ở trên tủ bát đĩa. Cô với tay định lấy, nhưng sách để cao quá. Sau một lúc nhìn cô hoài công lấy mấy quyển sách, cuối cùng, cậu anh họ cô mới đủ can đảm bước đến lấy giùm. Cô không cảm ơn cậu, nhưng cậu vẫn thấy mãn nguyện là cô đã chấp nhận sự giúp đỡ của cậu. Trong lúc Cathy đọc sách, cậu ta đứng bên cô, chỉ tay vào mấy bức tranh mà cậu thấy đáng chú ý. Cathy giật phắt quyển sách lại để tránh ngón tay cậu đang chỉ. Tuy vậy, cậu vẫn không quay về ghế mình, mà đứng đấy nhìn Cathy chứ không nhìn quyển sách nữa. Hệt như một đứa trẻ bị ánh nến hấp dẫn, Hareton bị quyến rũ trước mái tóc dày óng ả của cộ Cậu ta đưa tay vuốt lên một lọn tóc, cẩn trọng và dịu dàng như thể đang vuốt ve một con chim nhỏ.

Cathy giật bắn người, quay phắt lại như thể cậu đã đâm một con dao vào lưng cộ

– Xê ra ngay! Sao anh dám chạm vào người tôi! – Cô kêu lên – Tôi sẽ trở lên lầu nếu anh còn lại gần tôi một lần nữa.

Cậu quay về ngồi xuống chiếc ghế của cậu kê bên lò sưởi, và nửa giờ sau đó, mọi người đều ngồi im lặng.

– Chị đề nghị cô ấy đọc cái gì đó cho chúng ta nghe đi, Zillah. – Hareton thì thầm.

– Hareton và tất cả các người phải hiểu cho là tôi không cần đến lòng tốt của bất kỳ ai trong các người. – Cô đáp lại lời đề nghị của Zillah. – Khi mà tôi sẵn lòng đổi cả đời tôi để có một lời ưu ái, hoặc thậm chí chỉ để được nhìn thấy một khuôn mặt đôn hậu, thì tất cả các người đều lẩn tránh. Tôi xuống đây là vì tôi lạnh, chứ không phải để mua vui cho các người hay bầu bạn với các người.

– Khi ấy phỏng tôi có thể làm gì được nào? – Hareton lên tiếng. – Sao cô lại buộc tội tôi kia chứ?

– Ồ, tôi đâu có nói anh. – Cathy đáp – Tôi chẳng bao giờ cần đến một kẻ như anh.

– Nhưng tôi đã đề nghị được giúp cô đâu phải chỉ có một lần. – Cậu nói tiếp – Tôi đã xin ông Heathcliff cho phép tôi được giúp cô…

– Im đi. – Cathy ngắt lời cậu – Tôi thà đi bất cứ đâu còn hơn là phải nghe cái giọng nói khó chịu của anh đập vào tai.

Đến đây thì Hareton Earnshaw không thể chịu đựng được nữa. Cậu cầm lấy cây súng và đi ra ngoài, miệng lẩm bẩm một câu gì đó. Cậu không còn muốn gạt bỏ những thú tiêu khiển quen thuộc vào mỗi chủ nhật!

Giờ đây, hầu như cả ngày Cathy phải ở dưới nhà vì trời rất lạnh, nhưng không có ai bầu bạn với cộ Cô đã học được cách ăn nói bốp chát với bất cứ ai mở miệng nói với mình, và thậm chí trước mặt Heathcliff cô cũng dùng đủ thứ lời lẽ gay gắt để nói chuyện với ông ta

Giờ đây cuộc đời Cathy đã đổi khác biết bao so với cái thời thơ ấu êm đềm sống ở Ấp này! Hồi ấy vây quanh cô ở đây toàn là những người yêu thương cô và việc gì cũng làm vì cô

Đã có lúc tôi định bụng bỏ việc, mua lấy một căn nhà nhỏ và bảo Cathy đến sống với tôi. Nhưng khi nghĩ kỹ lại, tôi biết Heathcliff sẽ không đời nào cho phép cô đi khỏi trại Đồi.

Giờ đây tôi thấy không có cách gì làm cho cuộc sống của Cathy trở nên dễ chịu hơn, trừ phi cô tái giá. Nhưng biết tìm ai đây để thu xếp chuyện này?

Đến đây, câu chuyện của bà Ellen Dean kết thúc. Bà đã kể cho tôi nghe câu chuyện này trong suốt mấy tuần liền. Giờ đây, khi đã thấy khá hơn, tôi quyết định sẽ thân chinh cưỡi ngựa sang trại đồi. Một mùa đông sống ở ấp đã là quá đủ đối với tôi. Tôi muốn báo với ông Heathcliff là ông ta có thể tìm một khách thuê khác vì tôi sắp quay về Luân Đôn.

Chương 19: Ông Lockwood kể về hai lần sang thăm trại Đồi Gió Hú kế theo

Ấy, đó là vào một buổi sáng băng giá yên tĩnh và chan hòa ánh nắng. Tôi lên đường đi gặp những người sống bên trại đồi. Khi tôi sắp sửa đi thì Ellen Dean từ trong nhà chạy ra và nhờ tôi chuyển hộ một lá thư cho “cô chủ” của bà.

Lên đến trại Đồi, tôi thấy cổng vườn bị khóa như mọi khị Nghe tôi mở cổng và cất tiếng gọi, Hareton tạm ngừng công việc đang làm dở trong vườn, ra mở cổng cho tôi. Cậu ta cho biết là ông Heathcliff đi vắng, nhưng đến giữa trưa sẽ quay về. Tôi nói tôi sẽ đợi, nên cậu đặt đồ nghề làm vười xuống và cùng tôi đi vào nhà – tôi cảm thấy cậu giống như một con chó canh nhà hơn là một ông chủ!

Cathy ở trong nhà, đang làm một vài món rau gì đó. Trông cô cau có và không được hoạt bát như lần trước tôi gặp cộ Cô không thèm đáp lại lời chào của tôi khiến tôi tin chắc là cô không được hòa nhã như bà Dean đã cam đoan với tôi. Hareton nói cô mang những thứ đang làm vào trong bếp, nhưng cô chỉ đẩy chúng nó sang một bên, nói: – Anh đi mà mang lấy. – Rồi đến ngồi bên cửa sổ.

Tôi đi theo cô như thể muốn ngắm cảnh vườn qua cửa sổ, và vội vàng thả bức thư bà Ellen gửi vào lòng cộ Cô vừa gạt bức thư xuống đất vừa hỏi: “Cái gì thế này?”. Khi nghe tôi nói người gửi bức thư ấy là ai, cô bèn cúi xuống nhặt. Nhưng muộn mất rồi, Hareton đã tới trước. Cậu nhặt lấy lá thư bỏ vào túi, nói rằng ông Heathcliff phải được đọc trước. Nghe vậy, Cathy ngoảnh mặt đi và lặng lẽ khóc. Cậu anh họ cô sau một hồi cố chế ngự những tình cảm mềm yếu trong lòng, lại lôi bức thư từ trong túi ra và ném nó xuống sàn, cạnh chỗ cô ngồi, một cách hết sức khiếm nhã.

Cô nhặt bức thư lên, đọc lấy đọc để và hỏi han tôi về ngôi nhà cũ của chính mình. Hướng ánh mắt ra ngoài khung cửa sổ, đăm đăm nhìn về mấy ngọn đồi, cô như nói với chính mình, chứ không phải với hai chúng tôi: “Giá tôi được cưỡi con ngựa lùn của tôi tới chỗ kia. ôi, tôi thấy chán quá, chán ngấy lên được!”. Cô ngả mái đầu xin đẹp vào thành cửa sổ, nửa ngáp nửa thở dài. Cô cứ ngồi như vậy, chìm đắm trong nỗi u buồn, chẳng cần biết và cũng chẳng hề biết là chúng tôi đang để ý nhìn cộ

– Cô Heathcliff, – rốt cục tôi lên tiếng, – bà quản gia của tôi cứ luôn miệng nhắc đến cô không biết chán. Bà ấy sẽ rất thất vọng, nếu tôi nói là cô đã nhận được thư nhưng không hề trả lời.

– ông phải nói cho cô ấy biết, – Cathy đáp, – là tôi rất muốn trả lời thư cô ấy, nhưng tôi chẳng có giấy bút gì để mà viết cả. Thậm chí tôi không có lấy một quyển sách để có thể xé ra một tờ giấy.

– Không có sách vở gì ư? – Tôi thốt lên. – Không có sách thì cô sống làm sao được? Ở ấp tôi có cả một thư viện đồ sộ, ấy vậy mà đôi khi tôi còn thấy cuộc sống thật tẻ nhạt. Nếu không có lấy một quyển sách nào thì tôi đến tuyệt vọng mất!

– Hồi còn sách, tôi cứ đọc suốt, – Cathy nói, – nhưng ông Heathcliff đã quyết định hủy hết sách, nên hàng bao tuần nay tôi chẳng hề được ngó đến một quyển nào. Có một lần, Hareton ạ, tôi phát hiện thấy một kho tàng bí mật trong phòng anh, toàn là bạn cũ của tôi cả: khi trước, tôi đã mang mấy quyển sách ấy lên cho Linton. Anh đã vơ vét hết chúng, hệt như chim ác là vơ vét những cái thìa bạc, đơn thuần chỉ vì cái thói thích ăn trộm. Chúng chẳng đem lại lợi lộc gì cho anh cả.

Hareton đỏ mặt trước những lời buộc tội của cô em họ.

– Tôi tin là Hareton rất muốn học hỏi. – Tôi nói. – Chỉ vài năm nữa cậu ấy sẽ là một người thông minh và đầy học thức cho mà xem.

– Nhưng đến lúc ấy, – Cathy nói, – tôi sẽ trở thành một kẻ đần độn. Tôi thường nghe thấy anh ta cố tập đánh vần và tập đọc. Anh ta mắc những lỗi thật khủng khiếp!

Hiển nhiên là chàng trai nọ phẫn uất khi thấy mình vừa bị giễu cợt vì dốt nát, lại vừa bị khinh bỉ vì đã cố sức xóa bỏ sự dốt nát của bản thân.

– Dĩ nhiên, tôi không muốn anh ấy phải thôi học, – Cathy nói, – nhưng anh ta không có quyền lấy đi những thứ của tôi mà dùng theo cách ấy. Tôi không thể để cho sách của tôi bị anh ta mó vào!

Hareton cố nén giận rời khỏi phòng rồi một phút sau lại quay trở lại, tay cầm sáu quyển sách.

– Đấy, lấy đi. – Cậu ta vừa nói vừa ném chúng vào lòng Cathỵ – Tôi không bao giờ muốn nghe, muốn đọc hay nghĩ đến chúng nữa!

Cô giở ra một cuốn, bắt đầu nhại cách đọc của người mới tập đọc, rồi cười phá lên và vứt nó xuống. Cô chuyển sang đọc một quyển thơ, vẫn nhại cách đọc đó. Hareton không thể chịu đựng thêm được nữa cái lối hành hạ này, và cậu chỉ có một cách duy nhất để trả đũa việc cô đã ra sức xúc phạm đến cậu: dùng vũ lực. Cậu tát mạnh vào mặt cô và gom hết mấy quyển sách lại, ném vào đống lửa.

Cậu sải bước ra cửa và khi cậu đã đi khỏi thì ông Heathcliff bước vào. Mặt ông toát lên một vẻ bồn chồn mà trước đây tôi chưa từng thấy, và trông ông gầy đi. Cathy lánh vào bếp ngay khi trông thấy ông.

– Tôi lấy làm mừng thấy ông đã khỏe lại. – ông nói vậy để đáp lại lời chào của tôi. – Đôi khi tôi tự hỏi không biết cái gì đã khiến ông về sống ở một nơi hẻo lánh như thế này.

– Chỉ là một sở thích vớ vẩn thôi, tôi e thế. – tôi đáp. – Và giờ đây tôi sắp ra đi, tuần sau tôi về Luân Đôn. Tôi sẽ không thuê tiếp ấp Thrushcross sau khi hết cái hạn mười hai tháng mà tôi đã thương lượng thuệ Tôi không có ý định sống ở đấy nữa.

– Ồ, ông đã chóng chán cảnh sống cách biệt với thế giới bên ngoài, phải không nào? – ông ta nói. – Nhưng nếu ông đến để xin miễn trả tiền thuê nhà thì ông mất công đấy. Bất cứ ai nợ tôi thứ gì, tôi đều đòi bằng được.

– Tôi không hề có ý đó. – Tôi bực mình vặn lại. – Nếu ông muốn, tôi sẽ trả tiền cho ông ngay bây giờ.

– Không, không. – ông ta thản nhiên đáp. – Tôi không vội đâu. – ông ngồi xuống và dùng bữa tối với chúng tôi. Một vị khách không có dịp trở lại thăm lần nữa luôn được chúng tôi tiếp đón ân cần. Cathy! – ông ta cất tiếng gọi. – Mang các thứ vào đây!

Cathy bước vào, tay bưng một khay dao nĩa.

– Cô có thể ăn tối trong bếp với Joseph, – ông ta hạ giọng, khẽ bảo cô, – và cứ ở đấy cho đến khi khách ra về.

Cô vâng lời ông ta, không hề cự nự. Tôi ăn uống chẳng được vui vẻ gì, vì cả Heathcliff và Hareton đều lặng thinh suốt bữa. Sau đó, tôi ra về thật sớm, không hề gặp lại Cathỵ

Tám tháng sau, tức là vào tháng chín năm 1802, khi đang trên đường cưỡi ngựa làm một chuyến du lịch lên miền bắc, tôi bỗng nhận ra là mình chỉ ở cách Gimmerton có mười lăm dặm. Tôi quyết định sẽ nghỉ đêm tại ấp Thrushcross, ngôi nhà mà tôi vẫn còn đang trả tiền thuệ Khi đến đó, tôi có thể sang thăm vị chủ nhà và giải quyết cho xong mọi chuyện với ông tạ Tôi để ngựa lại nghỉ ngơi ở làng Gimmerton, rồi một mình cuốc bộ xuống thung lũng. Ngôi nhà thờ ảm đạm, nay trông lại càng ảm đảm hơn, và khu nghĩa địa hiu quạnh nay trông lại còn hiu quạnh hơn cả cái hình ảnh mà tôi còn giữ trong ký ức.

Đến Ấp, tôi gõ cửa, nhưng không thấy ai lên tiếng. Vòng ra sau nhà, tôi gặp một bà cụ và được bà báo cho biết: bà hiện là người trông giữ ngôi nhà, vì bà Dean đã sang ở bên Đồi Gió Hú. Tôi bảo bà đi soạn bữa ăn và dọn cho tôi một phòng ngủ, rồi ra ngoài đồng hoang và thong thả dạo chơi. Sau lưng tôi là ánh hoàng hôn đỏ rực. Trong khi tôi cất bước trên lối đi bằng đá dẫn lên nhà ông Heathcliff, phía trước mặt, một vầng trăng tuyệt đẹp đang nhô dần lên. Cổng ngoài của ngồi nhà để mở. Một sự cải tiến đây, tôi nghĩ thầm. Cửa nhà và các cánh cửa sổ cũng đều để mở.

Cất bước lên lối đi dẫn lên ngôi nhà, tôi nghe thấy tiếng hai người ngồi cạnh cửa sổ trò chuyện.

– “Trái lại”. – Một giọng nói trong như tiếng chuông bạc cất lên. – Từ ấy là “trái lại”. Đây đã là lần thứ ba em nói với anh rồi đấy. Nếu còn phải nhắc lại lần nữa, em sẽ rứt tóc anh.

– Vậy thì “trái lại”. – Một giọng khác âm sắc trầm và dịu, đáp lại. – Và bây giờ hôn anh đi, để thưởng công anh đã đọc đúng.

– Nếu anh đọc lại lần nữa, đúng hết, không sai một lỗi nào thì em sẽ hôn.

Giọng nam ban bắt đầu đọc. Đó là một cậu thanh niên ăn mặc đứng đắn. Cậu ta ngồi bên một chiếc bàn, một quyển sách đặt trước mặt. Nét mặt khôi ngô, tuấn tú rạng rỡ niềm vui. Đứng sau lưng cậu là người mà ban nãy đã lên tiếng trước. Khuôn mặt cô bị che lấp sau mái tóc vàng óng ả, rũ xuống khi cô cúi người bên chàng trai đang đọc. Cậu ta đã hoàn tất cái công việc mà cô gái yêu cầu và đã đòi được phần thưởng, rồi cả hai cùng đi ra cửa. Tôi đoán họ sẽ đi dạo ngoài vùng đồng hoang, và tôi biết họ sẽ không thích thú gì, nếu bị tôi chen ngang vào. Tôi rảo bước vòng ra cửa sau. Bà Dean đang ngồi đấy, vừa khâu vừa khe khẽ hát một mình; trong khi đó, Joseph đứng gần bên, miệng vẫn càu nhàu như mọi khị

– Chao ôi, ông Lockwood! – Ellen Deam thốt lên, vừa đứng bật dậy. – Bên Ấp mọi thứ đều cửa đóng then cài cả rồi. Lẽ ra ông phải báo trước cho chúng tôi là ông sắp đến chứ.

– Tôi định ngủ lại đấy đêm nay, – tôi đáp, – và mai tôi lại ra đi. Bây giờ bà kể cho tôi nghe đi, sao bà lại đếy đây ở?

– Chỉ ngay sau khi ông về Luân Đôn, – bà thốt lên, – Zillah đã đi khỏi trại đồi, nên ông Heathcliff bảo tôi sang đây và cứ ở lại chừng nào ông về hẵng haỵ

– Tôi muốn giải quyết cho xong mọi việc với ông chủ bà, – tôi nói với bà ấy, – vì tôi nghĩ tôi không đến đây nữa.

– Việc gì thế, thưa ông? – Bà vừa hỏi, vừa dẫn tôi đi qua bếp để vào chính sảnh. – ông chủ hiện đi ra ngoài rồi, nhưng sẽ trở về ngay thôi.

– Về việc thuê nhà ấy mà, – tôi nói.

– Ồ, thế thì ông phải gặp cô Heathcliff, – bà nói, – hay tốt hơn là ông cứ nói với tôi. Cô ấy chưa biết giải quyết những chuyện tiến nong đâu, nên tôi phải làm thay vì chẳng còn ai khác cả.

Tôi tỏ vẻ ngạc nhiên.

– Ồ, ra ông chưa biết tin ông Heathcliff chết. – Bà Ellen nói thêm.

– Heathcliff chết rồi ư? – Tôi thốt lên. – Bao lâu rồi?

– Ba tháng naỵ ông ngồi xuống đi, rồi tôi sẽ kể cho ông nghe đầu đuôi câu chuyện.

Chương 20: Hareton và Cathy kết bạn

Tôi được lệnh sang trại Đồi hai tuần sau khi ông rời Ấp, ông Lockwood ạ. Tôi vui vẻ tuân theo lời vì muốn được giúp đỡ Cathy, nhưng tôi rất đau buồn và sửng sốt khi vừa trông thấy cô, vì cô đã thay đổi quá nhiều từ khi sang đấy. ông Heathcliff giải thích với tôi rằng ông ấy đã chán ngấy sự hiện diện của Cathỵ Tôi phải giữ cô ấy bên tôi, sao cho ông ta chỉ phải gặp cô trong các bữa ăn thôi. Cô ấy rất mừng trước sự sắp đặt này. Tôi lén đem theo sách từ bên Ấp sang cho cô, và thoạt đầu mọi chuyện diễn ra tốt đẹp.

Tuy nhiên, chẳng mấy chốc Cathy đâm ra bồn chồn. Một trong những lý do là cô bị cấm không được ra khỏi phạm vi khu vườn, thế mà khi mùa xuân đến, cô lại hết sức khát khao được dạo chơi ngoài vùng đồng hoang. Ngoài ra, tôi không ở bên cô luôn được, vì tôi còn phải làm những công việc trong nhà, nên Cathy than phiền là cô bị lẻ loi. Cô rời khỏi phòng khách đẻ vào bếp gặp Joseph: cô thà cãi nhau với lão còn hơn bị bỏ mặc một mình. Hareton cũng phải vào bếp mỗi khi ông Heathcliff muốn độc chiếm chính sảnh.

Thoạt đầu, hễ trông thấy Hareton bước vào là Cathy bỏ đi ngaỵ Nhưng dần dần, cô thay đổi thái độ, chuyển sang chọc ghẹo cậu, không chịu để cậu yên. Cô nói xấu cậu, bình phẩm về sự ngu xuẩn và lười nhác của cậu, khi thấy tối nào cậu cũng ngồi bên lò sưởi, chẳng biết làm gì ngoài việc dán mắt nhìn ngọn lửa, rồi ngủ gà ngủ gật.

– Tôi biết vì sao Hareton không bao giờ mở miệng nói một lời ở trong bếp. – Cô nói – Anh ấy sợ bị tôi giễu cợt. Cô biết có lần anh ấy đã làm gì không? Anh ấy đã bắt đầu tự học đọc, nhưng khi thấy cháu cười nhạo, anh ấy bèn đốt sách đi. Anh ấy quả là một thằng ngốc, phải không nào?

– Cô thật tai quái! – Tôi nhận xét.

– Có lẽ đúng vậy, – cô nói tiếp – nhưng cháu không ngờ anh ấy lại ngớ ngẩn đến thế. Hareton, nếu bây giờ tôi cho anh một quyển sách, anh có lấy không? Tôi phải thử xem nào.

Cô đặt quyển sách vừa đọc vào tay cậu ta nhưng cậu ta ném đi, mồm lẩm bẩm là nếu cô không câm ngay, cậu sẽ bẻ gãy cổ.

– Thế thì tôi sẽ để nó ở trên bàn, rồi đi ngủ đây. – Cô nói.

Sáng hôm sau, cô thất vọng khi nghe tôi nói là cậu không hề sờ đến quyển sách, tôi thấy rằng trước thái độ hờn dỗi dai dẳng của cậu, cô đam ra hối hận và cảm thấy mình đã làm cho cậu ta sợ không dám học đọc nữa. Đầu óc nhạy bén của cô đang nghĩ cách chạy chữa cho những thương tổn mà mình vừa gây nên.

Xảy ra một tai nạn: một khẩu súng bị cướp cò, làm Hareton bị thương phải tạm nghỉ làm việc ở ngoài trang trại. Lúc này, vì Heathcliff hình như thích được ngồi một mình, không bị ai quấy quả, nên chàng trai nọ phải thường xuyên ngồi trong bếp với chúng tôi. Vào những ngày ấy, Cathy thường đọc sách cho tôi nghe trong khi tôi làm việc, và cô thường dừng ở một đoạn thật hấp dẫn, rồi đặt sách xuống để ở đâu đấy. Nhưng Hareton vẫn bướng như lừa, cậu không động đến quyển sách.

Một buổi chiều, Cathy đã kiếm đủ cách để khiến cậu phải chú ý đến cô, mà vẫn không ăn thua gì. Thế là tôi nghe thấy cô lên tiếng thẳng với cậu:

– Hareton, giờ đây tôi hiểu ra rằng tôi lấy làm mừng vì có anh là anh họ tôi, và tôi rất muốn kết bạn với anh, nếu anh không cáu kỉnh và cộc cằn đến thế.

Cậu không đáp.

– Hareton! Hareton, anh có nghe không đấy? – Cô nói tiếp.

– Cút đi! – Cậu làu bàu – Tôi chẳng dính dáng gì đến cô cũng như những trò giễu cợt của cộ

– Cậu nên kết bạn với cô em họ vì giờ đây cô ấy đã hối hận về thái độ tai quái quá quắt của mình – Tôi nói – Cô ấy làm bạn sẽ tốt cho cậu lắm đấy.

– Bạn ư? – Cậu kêu lên – Khi mà cô ấy căm ghét tôi?

– Giờ đây đâu phải tôi là người ghét anh; chính anh ghét tôi thì có. – Cô nức nở – Anh ghét tôi chẳng khác gì ông Heathcliff, thậm chí còn hơn thế nữa.

– Cô nói dối – Hareton nói – Thế thì vì cớ gì tôi lại hàng trăm lần đứng về phe cô, khiến cho ông ấy tức điên lên! Ấy vậy mà cô vẫn khinh miệt và chế giễu tôi.

– Tôi đâu có biết là anh lên tiếng bênh vực cho tôi – Cô vừa đáp vừa gạt nước mắt – Hồi ấy tôi cáu bẳn và hằn học với mọi người. Nhưng bây giờ tôi cảm ơn anh và xin anh tha lỗi. Tôi còn có thể làm gì hơn nữa kia chứ?

Cô bước đến bên cậu, chìa tay ra, nhưng vẻ mặt cậu sa sầm lại như một đám mây giông, và cậu cứ dán mắt nhìn xuống đất. Cathy đoán biết được là tính ương ngạnh đã khiến cậu xử sự như vậy, chứ không phải là cậu ghét bỏ cộ Cô đứng lưỡng lự vài phút và gói một trong những cuốn sách mà cô yêu thích lại rồi nhờ tôi đưa giùm cho cậu ấy.

– Cô nói với anh ấy là nếu anh ấy chịu mở gói quà này ra, cháu sẽ đến dạy anh ấy học đọc. Còn nếu anh ấy từ chối không nhận, cháu sẽ trở lên phòng cháu và sẽ không bao giờ chòng ghẹo anh ấy nữa.

Tôi mang quyển sách đến. Vừa chuyển lại lời nhắn, tôi vừa đặt gói quà đó vào lòng cậu tạ Cậu ta không hẩy đi. Cathy gác tay và gối đầu lên bàn, cho đến khi nghe tiếng giấy sột soạt: lớp giấy gói quyển sách đang được mở ra. Cô bước đến, lặng lẽ ngồi xuống bên cậu anh họ. Gương mặt cậu dường như đã mất hết vẻ cục cằn, cáu kỉnh, nhưng cậu không đủ can đảm thốt lên dù chỉ một lời để đáp lại ánh mắt dò hỏi của cô

– Hãy nói là anh tha thứ cho em đi, Hareton – Cô nói.

Hareton đáp lại một câu gì đó mà tôi không nghe rõ.

– Anh sẽ là bạn của em chứ? – Cathy gạn hỏi.

– Không, cô sẽ ngày càng xấu hổ vì tôi thôi – cậu đáp – và tôi không thể chịu đựng được điều đó.

– Nhưng mà em muốn được là bạn của anh. – Cô vừa nói vừa nở một nụ cười ngọt ngào như mật ong.

Tôi không còn nghe được gì thêm, nhưng khi tôi ngoái lại lần nữa thì đã thấy hai khuôn mặt rạng rỡ đang mải mê cúi xuống quyển sách, và tôi biết rằng giờ đây, hai kẻ cựu thù đã trở thành đồng minh. Dĩ nhiên, những ngày sắp tới còn rất nhiều gian nan, vì đâu phải chỉ một sớm một chiều là có thể khai hóa được cho Hareton Earnshaw, mà Cathy cũng đâu phải là người thật kiên trì, nhẫn nại. Nhưng kể từ khi cô về sống dưới mái nhà này, chưa có đêm nào cô được đi ngủ với một cõi lòng tràn trề hạnh phúc như đêm ấy. Một hôm, cô bảo Hareton bứng đi vài bụi cây ăn quả, để cô lấy chỗ trồng những cây hoa mà cô định sẽ đem từ bên Ấp sang.

– Sao mày lại nhổ mấy bụi cây ấy đỉ – Heathcliff hỏi khi biết chuyện này.

– Chúng tôi chỉ muốn trồng ít hoa ở đây thôi. – Cathy nói – Lỗi chỉ tại mình tôi thôi, vì tôi bảo anh ấy làm thế.

– Ai cho phép cô được đụng đến những thứ ở đây? – Bố chồng cô vặn hỏi, rồi quay sang Hareton, hỏi tiếp – và ai ra lệnh cho mày phải nghe lời nó?

Hareton lặng im không nói gì, nhưng cô em họ cậu lên tiếng đáp:

– Tại sao tôi không thể có được vài thước đất, trong khi ông đã cướp sạch toàn bộ đất đai của tôi?

Heathcliff nhìn chằm chằm cô, vẻ giận dữ.

– Và cả tiền bạc của tôi nữa. – Cô nói tiếp, quắc mắt lên đáp lại cái nhìn hung tợn của ông tạ

– Câm ngay! – ông ta rít lên – Cút ra ngoài kia!

– Lại cả đất đai và tiền bạc của Hareton nữa? – Cô liều lĩnh nói tiếp – Hareton với tôi bây giờ đã là bạn và tôi sẽ kể hết về ông cho anh ấy biết.

Heathcliff có vẻ bối rối một lúc. ông ta tái mặt đi, và đứng dậy, mắt không rời khỏi cô, một vẻ căm thù ghê người hằn trên nét mặt.

– Nếu ông đánh tôi, Hareton sẽ đánh ông đấy. – Cô nói – ông nên ngồi xuống thì hơn.

– Nếu Hareton không tống cổ cô ra khỏi phòng này thì tôi sẽ đánh chết nó, cho nó xuống địa ngục. – Heathcliff gầm lên – Sao, cô dám lên giọng dọa là đã khích được nó chống lại tôi ư? Đuổi nó đi ngaỵ Tống nó vào trong bếp. Ellen Dean, tôi sẽ giết nó nếu chị còn để tôi phải trông thấy nó lần nữa!

Hareton cố thuyết phục Cathy rời khỏi phòng.

– Mày còn đứng đấy nói chuyện nữa à? – Heathcliff dữ tợn gào lên – Lôi cổ nó đi ngay!

– Anh ấy sẽ không tuân lệnh ông nữa đâu, đồ độc ác – Cathy nói – chẳng bao lâu nữa, anh ấy cũng sẽ ghét cay ghét đắng ông không kém gì tôi đâu.

– Thôi nào, – Hareton nói với cô, vẻ trách móc – tôi không muốn cô nói với ông ấy như thế. – Cuối cùng cậu thì thầm, giọng dứt khoát – Đi nào!

Nhưng quá muộn rồi, Heathcliff đã tóm được cộ

– Lần này nó đã khiêu khích ta quá đáng. Ta sẽ cho nó hối hận suốt đời!

Ông ta túm tóc cộ Hareton vừa cố gỡ tóc cô, vừa khẩn khoản xin người giám hộ của cậu tha cho cô lần này, nhưng cặp mắt đen của Heathcliff lóe lửa lên. ông ta có vẻ như sắp xé cô ra từng mảnh.

Bỗng nhiên, ông ta nới lỏng taỵ Đang túm tóc, ông chuyển sang túm lấy cánh tay cô, và đăm đăm nhìn vào mặt cộ Đoạn ông ta đưa tay lên che mắt, đứng sững một lúc, rồi lại quay sang Cathy, cố lấy giọng bình tĩnh, nói:

– Cô phải cố tránh đừng chọc tức tôi, kẻo có ngày tôi sẽ giết cô thật đấy. Ellen, đưa cô ấy đi, và cả lũ các người, hãy để cho ta yên.

Chương 21: Ellen Dean kết thúc câu chuyện

Đến chiều, ông ta đi vắng, nhưng rồi lại bất ngờ quay về. Lúc ấy Cathy và Hareton đang ngồi trong chính sảnh đọc sách, và cả hai đều ngẩng đầu lên nhìn ông, thầm hỏi không biết ông ta sẽ nói gì đây. Cặp mắt hai người giống nhau như đúc, và đều là cặp mắt của Catherine Earnshaw. Chắc hẳn sự giống nhau ấy làm ông ta bối rối, vì ông ta cứ đi quanh phòng, vẻ khích động. Cathy và Hareton liền cố tìm cách lặng lẽ rời khỏi đấy, nhưng tôi thì ông Heathcliff ra hiệu phải ở lại.

– Đây phải là một kết cục cho tất cả những gì tôi sắp đặt, phải không nào? – ông ta nói. – Tôi cố tìm cách tiêu diệt hai gia đình, và tất cả những gì tôi đã dày công thực hiện sắp sửa kết thúc rồi. Giờ đã đến lúc tôi phải trả thù cho chính mình! Ấy vậy mà trong tôi có một cái gì đó khiến tôi không còn thấy hứng thú muốn hủy hoại chúng nữa. Cứ như là đang có một chuyển biến gì trong người tôi.

– ông nói “chuyển biến” là ngụ ý gì? – Tôi hỏi.

– Tôi không biết. – ông ta đáp. – Hiện nay tôi mới chỉ ý thức được phân nửa điều này.

– ông có cảm thấy trong người khó ở không?

– Không, Ellen, không đâu.

– ông có thấy sợ chết không?

– Sợ ư? Tôi không sợ cũng không mong chết. Tại sao tôi lại thế ư? Tôi tin tưởng là mình sẽ sống rất lâu. Tuy nhiên tôi lại không thể tiếp tục chịu đựng cảnh sống này thêm nữa! Tôi phải tự nhắc mình nhớ ra là mình phải thở. Lại Chúa! Thật là một cuộc kịch chiến dai dẳng! Tôi cầu mong sao cho nó sớm chấm dứt cho rồi!

Trong mấy ngày liền, ông ta không dùng bữa với chúng tôi. Một hôm, khi mọi người đã lên giường ngủ, tôi nghe thấy tiếng ông ta đi ra khỏi nhà và đến lúc trời sáng vẫn chưa thấy ông ta đâu cả. Mãi sau ông ta mới về, mặt tái nhợt, người run lẩy bẩy, nhưng đôi mắt ánh lên một vẻ vui tươi kỳ lạ. ông ta từ chối không ăn gì và, cuối cùng, tôi thu hết can đảm hỏi: tại sao ông ta xử sự kỳ quặc như vậy, và đêm qua ông ta đi đâu?

– Chị hỏi vậy chỉ vì tò mò vớ vẩn, – ông ta cười ha hả, – tuy vậy, tôi cũng sẽ nói cho chị biết. Đêm qua tôi đang ở trước ngưỡng cửa của địa ngục. Còn hôm nay, tôi đã thấy thiên đường của mình ngay trong tầm mắt.

Đêm ấy ông ta ở nhà. Sáng hôm sau, ông ta chỉ thị cho Joseph về những công việc trong trang trại. Khi Joseph đã đi khỏi, ông ta ngồi tỳ hai cánh tay lên bàn và hướng cặp mắt long lanh, bồn chồn, nhìn vào bức tường trước mặt, mải mê và chăm chú đến nỗi đôi khi có thể tưởng chừng ông ta ngừng thở.

– ông Heathcliff! ông chủ! – Tôi kêu lên. – ông đừng có nhìn trân trân như là thấy ma hiện hình vậy!

– Đừng có hét to như thế, Ellen. – ông ta đáp. – Chị thử nhìn quanh xem có đúng là chỉ có tôi và chị ở đây thôi không?

– Dĩ nhiên. – tôi đáp. – Dĩ nhiên chỉ có ông và tôi thôi.

Lát sau, ông ta ra khỏi nhà và đến quá nửa đêm mới trở về. ông ta vừa đi đi lại lại trong phòng, vừa cất tiếng gọi “Catherine!” giọng vô cùng khổ não. Sáng ra trong lúc tôi bận nhóm lửa theo lệnh ông ta, tôi nghe thấy tiếng ông ta thở dài liên tiếp, rồi ông bảo tôi cho người đi gọi ông Green, viên luật sư, vì ông ta cần lập chúc thư

– Đừng vội lo chuyện lập chúc thư, ông Heathcliff ạ. – Tôi nói. – ông sẽ còn sống lâu và có đủ thời giờ để ăn năn hối lỗi về bao việc làm bất công của ông. Bây giờ ông chỉ cần ăn uống và nghỉ ngơi thôi.

– Tôi không ăn ngủ được không phải là lỗi tại tôi. – ông ta đáp. – Còn chuyên ăn năn về những việc làm bất công ư? Tôi chưa từng gây nên chuyện gì bất công, và tôi không có gì để mà hối hận hết. Tôi quá sung sướng, nhưng sung sướng như vậy là chưa đủ.

– Sung sướng ư, thưa ông chủ – Tôi kêu lên. – ông mà sung sướng thì tôi thấy lạ quá! Tôi có thể hiến cho ông một lời khuyên làm cho ông sương sướng hơn!

– Lời khuyên gì vậy? – ông ta hỏi.

– ông biết đấy, từ hồi ông mới mười ba tuổi, ông đã sống một cuộc đời thật ích kỷ. ông không thấy là ông sẽ khó lòng lên thiên đàng đến nhường nào, nếu như trước khi chết ông không chịu thay đổi cách sống hay sao?

– Tôi nói để chị biết, – Heathcliff nói, – tôi đã gần tới được thiên đàng của tôi rồi. Tôi không coi thiên đàng của những người khác là có giá trị và tôi cũng chẳng thèm khát gì nó.

Nghe thấy tiếng người trong nhà lục đục trở dậy, ông ta bèn đi lên lầu, không về phòng mình, mà đến căn phòng của Catherine Earnshaw trước kia. Đó chính là căn phòng mà đêm hôm nọ ông đã được dẫn vào để ngủ lại đấy, thưa ông Lockwood. Tôi hôm đó trời đổ mưa, và suốt đêm vẫn tầm tả không ngớt. Sáng ra, trong khi đang đi dạo một vòng quanh nhà như thường lệ, tôi để ý thấy cửa sổ phòng ngủ ông Heathcliff mở toang và mưa tạt thẳng vào bên trong. Chắc hẳn ông ta không còn ở trên giường, tôi nghĩ thầm, vì nếu nằm đó ông ta ắt hẳn đã bị ướt hết. Tôi dùng chiếc chìa khóa dự trữ mở cửa phòng. Đoạn kéo mấy tấm ván che quanh chiếc giường rộng sang bên, tôi ghé mắt nhìn vào.

ông Heathcliff nằm ngửa trên giường. Tôi bắt gặp cái nhìn vô cùng sắc sảo và dữ tợn trong mắt ông ấy đến nỗi phải lùi lại một bước. Lúc này, ông như đang mỉm cười. Mặt và cổ ông đầm đìa nước mưa, vải trải giường ướt sũng; nhưng ông vẫn nằm bất động hoàn toàn. Cánh cửa sổ bị gió thổi đập ra đập vào, cứa rạch bàn tay ông đang đặt trên bậu cửa, nhưng không thấy máu từ vết thương rỉ ra; ông ta đã chết cứng!

Tôi đóng cửa sổ lại, hất mái tóc đen dài của ông, lúc này đang lòa xòa trên trán, ra phía sau gáy, và cố vuốt mắt cho ông để che đi cái nhìn trừng trừng, ghê rợn như thể ông vẫn còn sống vậy. Cặp mắt ông không chịu khép lại. Cả đôi môi để mở và hàm răng trắng, sắc nhọn của ông cũng có vẻ giễu cợt.

Hốt hoảng tột độ, tôi cất tiếng gọi Joseph.

– Cuối cùng rồi quỷ sứ cũng lôi cổ ông ta đi! – Lão thốt lên. – Trông ông ta mới độc ác làm sao khi nhe răng cười cợt tử thần!

Lão quỳ xuống tạ ơn Chúa là từ nay Đồi Gió Hú đã trở về lại tay chủ nhân chính đáng của nó. Đó là Hareton, người đã nếm trải đủ mọi trò lường gạt của Heathcliff, người đã phải chịu đựng trăm cay ngàn đắng suốt tuổi ấu thợ Cậu ngồi bên thi thể Heathcliff suốt đêm, nức nở khóc những giọt ngước mắt cay đắng, chân thực. Cậu áp chặt hai tay mình lên khuôn mặt dữ tợn một cách khích bác, rồi đặt một cái hôn lên khuôn mặt mà giờ đây không một ai khác còn dám nhìn thẳng vào nữa.

Chúng tôi chôn cất ông ta bên cạnh mộ Catherine theo đúng ý nguyện của ông. Nhưng xem ra ông không an nghỉ dưới mồ, vì theo lời dân chúng trong vùng, ông vẫn vật vờ trên những cánh đồng hoang, trong khu nghĩa địa, và thậm chí cả trong ngôi nhà này nữa. Ngay cả tôi đêm đêm cũng không dám ra ngoài, và cũng không dám ở một mình trong ngôi nhà ảm đạm này. Tôi rất mừng khi được tin Hareton và Cathy sẽ cưới nhau vào đầu năm tới và chuyển về sống bên ấp.

Còn Joseph thì vẫn ở lại đây, ngủ dưới bếp. Phần còn lại của tòa nhà sẽ cửa đóng then cài cho những bóng ma kia có thể nương náu, nếu họ thích.

Lần này, bà Ellen Dean mới thật sự kết thúc câu chuyện. Tôi tạm biệt bà, ra đi trước lúc đôi bạn trẻ kia trở về. Tôi thả bộ lên nghĩa địa và tìm thấy ở đó ba tấm bia mộ ở cạnh nhau: bia của Edgar, của Catherine và tấm bia của Heathcliff mới dựng. Tôi đứng yên dưới bầu trời chiều tĩnh mịch, tai lắng nghe tiếng gió lao xao trong đám cỏ. Được an nghỉ tại một nơi như vậy, chắc cả ba cũng phải yên giấc thanh thản dưới mồ.

Hán Sở tranh hùng – Lời nói đầu

Ðạo Trời vô cùng. Lòng người bất trắc. Chỉ có Nhân và Nghĩa là thứ bảo vật bất biến vĩnh hằng. Nhân Nghĩa là bảo vật vì từ nghìn xưa cho tới nghìn sau, luôn luôn được ưa chuộng. Trái lại hung bạo bị căm thù. Ðược ưa thì thắng, bị ghét thì thua, cuộc đấu tranh trường diễn của lịch sử, lời tiên nho nói không sai: “Cương cường tất tử nhân nghĩa vương “.

Truyện Hán Sở tranh hùng là một minh họa có sức thuyết phục cho chân lý ấy. Tần Thủy Hoàng dùng sức mạnh tóm thâu lục quốc. Nhưng vì chỉ biết lấy bạo lực, không biết lấy nhân nghĩa thu phục lòng người mà lòng người rời bõ, rốt cuộc bị Hạng Vũ tiêu diệt. Nhưng thắng Tần rồi Hạng Vũ lại lầm đường đi vào vết xe đổ nên đã bị Lưu bang trừ khử. Lưu Bang tức Hán Cao Tổ đã thấy sức mạnh và độ bền của Nhân, Nghĩa, biết dùng Nhân Nghĩa làm keo sơn gắn bó lòng người nên đã củng cố Hán tộc được khá lâu dài. Ðọc Hán Sở tranh hùng là để soi tấm gương không mòn còn mãi: Tấm Gương Nhân nghĩa.

Tác giả: Chân Vĩ (thời nhà Minh)

Dịch giả: Mộng Bình Sơn

Lời nói đầu của Nhà Xuất Bản Ðại Nam

Mục lục

Hán Sở tranh hùng – Lời nói đầu
Hồi 1 – Thâu sáu nước, Thủy Hoàng dựng nhà Tần
Hồi 2 – Hài Công trọng nghĩa đâm bạo chúa
Hồi 3 – Trãm Bạch Xà, Lưu Quý dấy binh
Hồi 4 – Trừ thần mã, Hạng Vũ lấy vợ.
Hồi 5 – Ðánh Chương Hàm, Võ Tín bại binh
Hồi 6 – Hạng Vũ chín lần thắng Chương Hàm
Hồi 7 – Giận bạo chúa, Chương Hàm đầu Sở
Hồi 8 – Cung Vọng Di, Nhị Thế bị hại
Hồi 9 – Xem thiên văn Phạm Tăng đoán thời
Hồi 10 – Yến Hồng Môn, Phàn Khoái cứu chủ
Hồi 11 – Giận Hoài Vương, Hạng Vũ tự lập
Hồi 12 – Cứu Hán vương, Trần Bình lập kế
Hồi 13 – Vì vua Hán, Trương Lương quyết chí
Hồi 14 – Lập kế, Trương Lương dụ Hàn Tín
Hồi 15 – Tìm chân chúa, anh hùng cất bước
Hồi 16 – Yết Ðằng Công, Hàn Tín tỏ can trường
Hồi 17 – Hàn tướng quân khuất thân làm đô uý
Hồi 18 – Cầu nguyên soái, Hán Vương bái tướng
Hồi 19 – Chém Ân Cái, Hàn Tín giữ phép
Hồi 20 – Bắt Chương Bình, Hàn Tín dấy binh
Hồi 21 – Chém mãnh hổ, Tân Kỳ gặp Hàn Tín
Hồi 22 – Lấy Phế Khâu, Hàn Tín dụng thủy chiến
Hồi 23 – Dụ Ngụy Báo, Trương Lương khéo nói
Hồi 24 – Bắt Thái Công, Phạm Tăng hiến kế
Hồi 25 – Bị bạc đãi, Trần Bình đầu Hán
Hồi 26 – Ðất Bành Thành, Hạng Vương đại thắng
Hồi 27 – Trương Lương dụng kế khích Hàn Tín
Hồi 28 – Hứa Phụ âm mưu phản Hán
Hồi 29 – Thành Ðại Châu, Trương Ðồng chết theo Hạ Duyệt
Hồi 30 – Về Bành Thành, Phạm Tăng lìa Sở Bá
Hồi 31 – Ðánh Huỳnh Dương, quân Sở giết Trung Thu
Hồi 32 – Ðuổi Bành Việt, Hạng vương chiếm Ngoại Hoàng
Hồi 33 – Tề vương nấu dầu luộc Lịch Sinh
Hồi 34 – Lập nghiệp riêng Khoái Kiệt xui Hàn Tín
Hồi 35 – Núi Quảng Võ, Hán Sở tranh chiến
Hồi 36 – Cắt Hồng Câu, Lưu, Hạng giảng hòa
Hồi 37 – Trương Lương cố sức họp chư hầu
Hồi 38 – Nàng Ngu Cơ Viết Thư Khuyên Hạng Vũ
Hồi 39 – Một trận thư hùng, Hạng Vương lầm chước quỉ
Hồi 40 – Ngu Cơ liều thân nơi Cai Hạ
Hồi 41 – Nghi Hàn Tín, Hán Vương cải phong
Hồi 42 – Nghe Lâu Kính, Hán Đế thiên đô
Hồi 43 – Vào Bạch Ðằng trúng kế, Hán Đế Hầu nguy
Hồi 44 – Trần Hy mưu phản Triệu Ðại
Hồi 45 – Cung Vị Ương, Lã Hậu giết Hàn Tín
Hồi 46 – Thành Lạc Dương, Loan Bố khóc Bành Việt
Hồi 47 – Trương Lương bày kế giúp Thái Tử
Hồi 48(hết) – Lã Thái Hậu Mưu Giết Công Thần

Hồi 1 – Thâu sáu nước, Thủy Hoàng dựng nhà Tần

Từ nhà Châu suy yếu, các chư hầu nổi dậy thôn tính lẫn nhau, tạo trong thiên hạ một thời hỗn loạn.

Thời ấy gọi là thời Chiến Quốc kéo dài 873 năm.

Bấy giờ thiên hạ gồm vào bảy nước: Tần, Sở, Triệu, Tề, Hàn, Ngụy, Yên.

Trong bảy nước ấy, nước Tần mạnh nhất. Trong có Thừa tướng Lã Bất Vi chuyên quyền, ngoài có tướng giỏi như Vương Tiễn chinh phạt diệt nhà Châu, kiêm tính sáu nước, đem thiên hạ về một mối.

Tần Thủy Hoàng Vua Tần là Thủy Hoàng con Dị Nhân (Chiêu Tương Dương ) và Dương Hoa Chánh Hậu vốn là kẻ bạo ngược.

Sau khi thống nhất được sơn hà, cho mình là đấng anh hùng cái thế, cổ kim không ai sánh kịp, tự suy tôn hiệu Thủy Hoàng đế, đời thứ hai gọi là nhị thế, đời thứ ba gọi là tam thế, cho đến vạn thế, v.v…

Rồi chia thiên hạ ra làm 36 quận, vẽ một bức địa đồ thống nhất, bắt tất cả những mưu sĩ đem về an trí nơi Hàm Dương (Kinh đô nước Tần) đúc mười hai pho tượng để khoa trương nước nhà giàu mạnh, lập cung A Phòng ở vườn Thượng Lâm, tập họp tất cả những gái đẹp bốn phương về đó ước hơn nghìn người, ngày đêm tửu sắc vô độ.

Lã Bất Vi vì tư thông với Dương Hoa Thái Hậu, nên bị Tần Thủy Hoàng trừ đi lập Lý Tư lên thay thế.

Năm thứ 27, Thủy Hoàng hội quan thần, phán:

– Các vua thời xưa thường tuần du đây đó để quan sát dân tình. Nay trẫm muốn làm cái việc đó, các quan nghĩ sao?

Quần thần đều tâu:

– Nơi cửu trùng thăm thẳm, nếu không ngự giá tuần du làm sao rõ đặng lòng dân. Xưa nay những bậc anh quân đều lấy dân làm gốc, bệ hạ muốn như vậy thực hợp với cổ ý..

Thủy Hoàng hớn hở, truyền lệnh sửa sang xa giá, bắt đầu du hành từ phía Bắc đất Lũng Tây..

Trời không nắng lắm, xa xa cây cỏ một màu xanh, nhấp nhô bên các sườn núi miệt Kê Ðầu, trông khá đẹp mắt. Long xa sau trước, các quan cận thần và quân lính hầu hạ chật ních.

Bỗng trên đỉnh núi Kê Ðầu có một đám mây mờ, hiện ra năm vầng hào quang sáng chói.

Thủy Hoàng lấy làm lạ, đòi cận thần Tống Vô Kỵ đến hỏi.

Vô Kỵ tâu:

– Tâu Bệ hạ, hạ thần đã trông nhiều thứ mây như: tường vân, phù vân, thụy vân, tể vân, khánh vân, nhưng không có thứ mây nào giống thứ ám khí này. Ðây là một điềm ứng phi thường thật khó biết đặng.

Thủy Hoàng ngơ ngác hỏi:

– Thế thì phải làm sao để trừ được điềm lạ ấy?

Vô Kỵ tâu:

– Xin Bệ hạ quay thánh giá sang phía Ðông Nam, lấy bảo vật mà yếm thì mới có thế trừ đặng hung khí.

Thủy Hoàng theo lời, thuyền xa giá đi về hướng Châu Dịch, bày lễ tế phong ở núi Ðông Nhạc và Thái Sơn, rồi lấy thanh bảo kiếm của mình thường đeo, yếm dưới chân núi.

Ðoạn qua sông Giang, sông Hoài, đến Nam quận, hồi giá về Hàm Dương. Quần thần ra khỏi Kinh đô ba mươi dặm đón rước.

Từ đấy lúc nào Thủy Hoàng cũng nghĩ đến vừng vận khí ở phương Ðông Nam lòng không vui.

Một hôm có viên cận thần đến tâu:

– Mấy hôm nay khí trời mát mẻ, nơi ngự lâm viên trăm hoa đua nở, xin Bệ hạ mệnh giá qua chơi để giải trí.

Ðang lúc lòng buồn bực, Thủy Hoàng nhận lời, dẫn một bọn cung phi và mấy viên cận thần đến vườn Ngự lâm ngoạn cảnh.

Tiếng gió rì rào thổi phất phơ những cành hoa vừa hé nhụy, trong quang cảnh tưng bừng của bình minh.

Thủy Hoàng dạo gót khắp nơi. Mãi cho tới lúc ánh nắng bắt đầu gay gắt, Thủy Hoàng thấy mình rồng mỏi mệt, liền lên Hiển Thánh điện để nghỉ.

Giấc điệp mơ màng, Thủy Hoàng chợt nghe bên tai một tiếng nỗ long trời lở đất.

Rồi một vầng thái dương đỏ ửng từ trên trời rơi xuống.

Bỗng thấy một đứa bé áo xanh, mặt đen chạy đến ôm vầng thái dương toan chạy. Liền lúc đó, lại có một đứa bé khác, mặc áo đỏ, đôi mắt sáng quắc từ phương Nam chạy đến hét lớn:

– Tên áo xanh kia! Hãy để vầng thái dương đấy. Ta vâng lệnh Ngọc hoàng đến lấy vàng thái dương đây.

Ðứa bé áo xanh không chịu, cả hai ôm nhau vật lộn. Ðứa bé áo xanh vật ngã đứa bé áo đỏ bảy mươi hai lần. Nhưng bất thình lình đứa bé áo đỏ đá một đá thật mạnh, đứa bé áo xanh ngã lăn xuống đất chết tươi.

Thủy Hoàng thấy vậy kêu lên:

– Hỡi hài đồng kia! Ðừng vội đoạt vầng thái dương, hãy bảo cho ta biết chúng bay là ai?

Ðứa bé đáp:

– Ta là dòng dõi Thuấn Nghiêu, quê ở Phong Bài vì dân dấy nghĩa. Thượng đế đã cho ta hưởng lịch bốn trăm năm.

Nói xong, đứa bé áo đỏ ôm vầng thái dương chạy biến về phương Nam. Thủy Hoàng đưa mắt nhìn theo bóng đứa bé mờ dần rồi khuất sau vầng hào quang giống như vầng vân khí nơi núi Kê Ðầu.

Thủy Hoàng bừng mắt tỉnh dậy, mới biết đó là chiêm bao, lòng bâng khuâng tự nghĩ:

– Giấc mộng này lành ít dữ nhiều. Nhà Tần ta có lẽ vận mạng đã hết, thiên hạ ắt về tay kẻ khác….

Liền truyền xa giá trở về cung. Từ đó lòng buồn bã lo âu, không lúc nào vui.

Một hôm Thủy Hoàng cùng quần thần bàn tính, muốn tìm thuốc trường sanh bất tử để sống làm vua mãi, hưởng cảnh lạc thú hồng trần.

Cận thần Tống Vô Kỵ tâu:

– Ở miền Ðông Hải có ba đỉnh núi thần, phong cảnh tốt tươi, cỏ hoa muôn vẽ, khí hậu ấm áp, hạ thần chắc đó là nơi bồng lai, có thể tìm thuốc trường sinh được.

Thủy Hoàng mừng rỡ, phán:

– Khanh đã bao giờ đến đó chưa?

Vô Kỵ tâu:

– Hạ thần chưa đến, nhưng có một người bạn tên Từ Phúc, lúc trước từng qua chơi nơi Ðông Hải, gặp các tiên cỡi loan hạc, phong độ thoát phàm. Từ Phúc hiện nay còn ghé chơi nơi nhà hạ thần, nếu Bệ hạ tin dùng, hạ thần sẽ đưa vào yết kiến.

Thủy Hoàng liền sai Vô Kỵ cấp tốc đi triệu Từ Phúc.

Từ Phúc theo Vô Ky vào bệ kiến.

Thủy Hoàng phán hỏi cách tìm thuốc trường sinh, Từ Phúc tâu:

– Thuốc trường sinh là một món thuốc quý, từ xưa nay khó có ai tìm được. Nay Bệ hạ muốn có thuốc ấy tất phải chịu tổn phí, đóng thuyền và cấp hành trang cho hạ thần vượt bể thì mới tìm được.

Thủy Hoàng hỏi:

– Nhà ngươi cứ hết lòng giúp trẫm, nếu được, hai ta cùng uống và cùng sống mãi hưởng cảnh vàng son ; Còn gì hạnh phúc bằng. Chẳng hay nhà ngươi muốn đóng bao nhiêu thuyền, và hành trang như thế nào?

Từ Phúc tâu:

– Vượt bể Ðông chẳng phải chuyện dễ. Cần có mười chiếc thuyền lớn, trong thuyền phải đủ hạng thợ, và phải kén lấy năm trăm đồng nam, năm trăm đồng nữ, phòng khi dùng đến.

Thủy Hoàng liền hạ lệnh sắm đủ mọi thứ cho Từ Phúc ra đi.

Tháng ngày trôi qua như ngựa qua cửa sổ, chẳng mấy chốc đã hơn năm tháng trời, Thủy Hoàng ôm lòng chờ đợi mãi mà chẳng thấy Từ Phúc trở về.

Quá nóng lòng, Thủy Hoàng liền sai một người nho sĩ là Lư Sinh đi tìm Từ Phúc.

Ôi! Bốn phương mù mịt, Từ Phúc ra đi như bóng nhạn lưng trời, biết đâu mà tìm. Tuy nhiên, lệnh vua đã phán, ai dám trái lời, Lư Sinh đành vâng chỉ, một mình cất bước ra đi.

Ði mãi, đến bờ bể, vời trông chỉ thấy sóng gào gió thét trong khoảng nước xanh trời thẳm, bát ngát muôn trùng, chẳng biết đâu là bồng lai, đâu là tiên giới.

Lư Sinh ngước mặt lên trời thờ dài, nghĩ thầm:

– Thủy Hoàng là một bạo chúa, tham sống mà coi rẻ mạng người. Nếu ta không tìm được Từ Phúc trở về, tánh mạng ắt chẳng còn. Thôi thì cứ nhắm mắt đưa chân, rủi có chết thì cũng như Từ Phúc, một đi không về thế là xong.

Lư Sinh lần theo hướng Nam, đi vào miền núi Thái Nhạc, rồi đến núi Thái Hoa.

Suốt mấy tháng trường trong gian khổ, bỗng một hôm Lư Sinh gặp một người hình dung cổ quái, đầu bù tóc rối, mắt tròn như lục lạc, đang ngồi tựa một phiến đá, nhìn về hướng trời xa.

Lư Sinh nghĩ thầm:

– Nơi đây sơn lâm cùng cốc, người thường đâu dễ mấy ai mò đến, chắc là một dị nhân.

Liền bước đến vái chào. Dị nhân quay lại thấy Lư Sinh, liền hỏi:

– Người là ai. Có việc gì lại đến đây?

Lư Sinh đáp:

– Thưa tiên sinh, tôi vâng ìệnh Thủy Hoàng đi tìm thuốc trường sinh bất tử.

Dị nhân cười lớn nói:

– Con người sống chết đã do mệnh trời định sẳn, sao lại có ý ngông cuồng như vậy. Làm gì có thuốc trường sinh bất tử.

Lư Sinh nhìn tướng mạo dị nhân một lúc, biết không phải người phàm nên cố năn nỉ:

-Tôi là người phàm mắt thịt, trí não u ám, xin tiên sinh thương tình cứu tôi thoát nạn.

Dị nhân thấy Lư Sinh khẩn khoản ngồi im ra vẽ suy nghĩ. Một lúc dị nhân đứng dậy đưa tay đẩy tấm vách đá, bên trong lộ ra một cửa hang rất lớn.

Lư Sinh thất kinh lòng chưa hết ngạc nhiên thì dị nhân đã bước vào trong, cầm một quyển sách đem ra đưa cho Lư Sinh, và nói:

– Hãy đem sách này về cho vua Tần xem, trong đó có nói rõ về “sinh tử tồn vong”.

Lư Sinh tiếp lấy thấy trên bìa sách có đề bốn chữ “Thiên Lục Bí Quyết” toan hỏi lại nhưng Dị nhân đã bước lên ngồi bên phiến đá mắt nhắm nghiền như ngủ say.

Lư Sinh không dám hỏi nữa, cầm sách trở về dâng cho Thủy Hoàng thuật lại mọi việc.

Thủy Hoàng mở sách ra xem, bên trong chép theo lối cổ tự, chữ ngoằn ngoèo rất khó đọc, liền sai Lý Tư dịch ra.

Lý Tư đọc cho Thủy Hoàng nghe. Ðó là sách nói về việc thuyên chuyển của lịch đại. Lại có câu rằng “Vong Tần giả Hồ”.

Thủy Hoàng thất kinh nói:

– Cứ như trong sách thì rợ Hồ sẽ làm mất nhà Tần.

Liền sai Mông Ðiềm đem tám mươi vạn dân phu ra ngoài biên ải đắp trường thành để phòng rợ Hồ.

Ngoài ra con bắt thêm dân chúng khắp nơi, bất luận già trẻ đều phục dịch cho công tác ấy.

Dân chúng khổ cực trăm bề, quanh năm suốt tháng, áo chỉ còn bâu, người chỉ còn bộ xương, đói khát, con xa mẹ, vợ xa chồng, mồ hôi lộn nước mắt, thây vùi khắp chân trường thành, oán hận ngút trời.

Thủy Hoàng lại sợ đời sau chê cười, và có kẽ rõ được hành động mình nên truyền đốt sách chôn sống học trò ước hơn 460 người.

Lại ra nghiêm lệnh hễ ba người tụ họp nói chuyện xầm xì thì phạm vào tội chết chém.

Một lời phán gớm ghê của bạo chúa làm chấn động cả nhân gian.

Người con trưởng Thủy Hoàng là Phù Tô thấy cha tàn ác quá. vội can:

– Sách vở là văn học của một nước, học trò là tiêu biểu cho thế hệ đời sau. Phụ vương hủy hoại đi e thiên hạ oán vọng, ngôi nhà Tần khó giữ được.

Thủy Hoàng nổi giận, hét:

– Nghịch tử dám dùng lời vô lễ với trẫm sao?

Tức thì ra lệnh đày Phù Tô ra Bắc biên làm chức Giám Quân cùng với Mông Ðiềm coi việc đắp trường thành. Cấm không được về Kinh đô nữa.

Tuy nhiên Thủy Hoàng vẫn còn lo sợ vần vân khí ở miền Ðông Nam, e có kẽ ngầm mưu loạn, nên truyền xa giá tuần du về miền ấy để trấn áp sanh linh.

Thuở đó, nơi phía Nam, cách nước Hàn lối ba mươi dặm, có một quán rượu, thường ngày các bô lão trong vùng đến đó bắt chén giải buồn.

Một hôm có bốn cụ già ngồi khề khà nhìn mây, nhìn nước trao đổi tâm tình.

Trong số bốn cụ già ấy có một người tên Triệu Tam Công, nhân lúc cao hứng, nói:

– Các ngài ơi! Trăm năm về trước, thiên hạ thái bình, con người sống trong cảnh đáng sống, không một chút gì bận tâm nhọc trí cả. Ðời sống như thể chẳng khác gì chốn tiên bồng.

Một cụ già đặt chén xuống bàn, vuốt râu nhìn Triệu Tam Công hỏi:

– Thế thì ngài cho cõi đời này là trần tục sao?

Triệu Tam Công lắc đầu đáp:

– Không phải là trần tục mà chính là địa ngục trần gian.

Ba cụ già già đồng vỗ tay cười lớn. Một cụ hỏi:

– Theo ngài thì những cực hình ghê gớm nhất của chốn địa ngục dương trần này là gì?

Triệu Tam Công lè lưỡi, đáp:

– Chịu thôi. Bây giờ phép nước nghiêm lắm, tôi không dám bàn đến chuyện đó.

Một cụ đưa mắt nhìn xung quanh, rồi nói:

– Nơi đây hẻo lánh, chỉ có ta với ta, hà tất phải ngại!

Bỗng từ bên trong hàng rượu có một thiếu niên bước ra, vừa cười vừa nói:

– Thưa các cụ, nếu có kẻ nào sợ pháp luật không dám nói, tôi xin thay kẻ ấy nói giúp vậy.

Mọi người quay nhìn thiếu niên. Người ấy mặt tròn, mắt sáng, áo vải, giày vai, trông ra vẻ một thiếu niên anh tuấn.

Triệu Tam Công nói:

– Nếu tiểu tử đủ can đảm, xin thay ta, nói cho các vị bô lão này nghe thử.

Thiếu niên ung dung nói:

– Thưa các cụ, các cụ còn lạ gì chính sách của bạo chúa Tần Thủy Hoàng! Con trai không được yên phận cày cấy, con gái không được yên phận canh cửi, cha xa con, vợ lìa chồng, gia đình tan tác. Nào đắp trường thành, nào dựng A Phòng, đốt sách vở, chôn sống học trò, nghe lời đứa dua nịnh lập ra phép dữ, oán khí ngất trời. Nghĩ làm thân trong chế độ này chẳng khác nào một tội nhân sống trong hỏa ngục! Nhục nhã thay!

Người thiếu niên còn muốn nói nữa, nhưng Triệu Tam Công đã bỏ đứng dậy toan chạy.

Ba vị bô lão nói:

– Nơi đây xa cách kinh kỳ, việc gì ngài lại sợ hãi đến thế?

Triệu Tam Công thở dài, nói:

– Dầu trong hang cùng ngõ hẻm cũng có mặt kẻ do thám của triều đình. Tai vách mạch rừng, các ngài chớ khinh khi mà rơi đầu vô ích.

Người thiếu niên thấy vậy, than thầm:

– Ôi! Nhân tâm như thế thì nỗi niềm riêng của ta biết tỏ cùng ai!

Hồi 2 – Hài Công trọng nghĩa đâm bạo chúa

Người thiếu niên này vốn dòng nho sĩ, quê ở nước Hàn, họ Trương tên Lương, tự là Tử Phòng.

Tổ tiên Trương Lương năm đời làm danh sĩ nước Hàn. Từ khi Tần Thủy Hoàng diệt nước Hàn, Trương Lương đêm ngày ôm hờn vong quốc quyết chí báo thù bỏ ra nghìn nén vàng, đi khắp thiên hạ, liên kết với các dũng sĩ để bàn việc thích khách bạo chúa.

Trong lúc Trương lương đang ngẩn người, buồn thế sự thì đàng sau có một tráng sĩ chạy đến chào Trương Lương, và nói:

– Vừa rồi nghe ngài kể tội ác của Thủy Hoàng, lòng tôi bỗng dưng hậm hực. Nếu ngài muốn làm việc nghĩa cử, trừ hôn quân dâm bạo, tôi xin nguyện đem thân giúp sức.

Trương Lương thấy người ấy mình cao một trượng, tướng mạo đoan trang, biết là bậc phi thường, liền cầm tay, nói:

– Chỗ này không phải nơi thố lộ tâm tình, xin tráng sĩ về nhà tôi đàm đạo.

Tráng sĩ theo Trương Lương về nhà.

Trà nước xong, Trương Lương hỏi:

– Xin tráng sĩ cho biết quý danh?

Tráng sĩ đáp:

– Tôi họ Lê, quê ở Hải Biên nên người ta thường gọi là Thượng Hải Công. Vốn có sức mạnh, có thể cầm nổi cây chùy nặng trăm cân, tôi thường đi đây đó, vì lòng nhân trừ kẻ hống hách, bạo ngược. Nhân thấy ngài là kẻ khẳng khái đem lòng mến, chẳng hay quý hiệu là chi? Và có điều gì cần sai bảo tôi chăng?

Trương Lương nói:

– Tôi người nước Hàn, họ Trương tên Lương, năm đời nhà tôi làm khanh tướng, không may vừa rồi Thủy Hoàng diệt mất nước. Thù vong quốc chẳng lúc nào nguôi.

Nay Thủy Hoàng bạo ngược, trăm họ lầm than, tôi muốn trừ đi trước cứu thiên hạ, sau rửa quốc thù. Nếu tráng sĩ chịu giúp tôi làm việc đó, sẽ lưu tiếng lại thiên thu.

Hải Công hớn hở xua tay nói:

– Tôi nguyện tuân theo lời ngài.

Trương Lương mừng rỡ, lưu tráng sĩ Hải Công lại nhà mình rồi thám thính xem Thủy Hoàng chuyến này tuần du về lối nào.

Cách mấy hôm sau, Trương Lương được tin Thủy Hoàng qua huyện Vũ Dương, liền sai Thượng Hải Công nấp nơi một gò cao, đợi xe giá Thủy Hoàng đến, thích khách.

Tiếng trống rập rềnh từ xa vẳng đến, rồi long xa ló dạng.

Hải Công tay cầm chặt thanh chùy đứng chờ.

Tiếng bánh xe nghiến trên đường đất, qua cụm gò cao.

Nhanh như chớp, Hải Công nhảy ra, cầm chùy đánh vào long xa bể nát.

Nhưng xe nát mà Thủy Hoàng không chết!

Vì Thủy Hoàng tự biết mình có những hành động tàn bạo, sợ thiên hạ ám hại, nên đã đề phòng trước, sắm hai chiếc long xa, một chiếc để ngự lúc du hành, còn một chiếc để không, sai quân sĩ đẩy đi trước.

Thế là Trương Lương đã thất bại!

Ngự lâm quân áp lại, bắt Thượng Hải Công dẫn đến nạp cho Tần Thủy Hoàng.

Thủy Hoàng nghiến răng hét:

– Ai xui nhà ngươi làm cái việc phản nghịch đó?

Thượng Hải Công trừng mắt đáp:

– Mày là một vị hôn quân vô đạo, khắp thiên hạ đều oán hận muốn giết mày. Ta muốn vì dân trừ hại, sao mày hỏi ngu thế?

Thủy Hoàng nổi giận, truyền quân đem Hải Công ra tra tấn, quyết hỏi cho được kẻ chủ mưu.

Hải Công cười lớn, rồi đập đầu xuống đá tự vận.

Trương Lương lòng đau như cắt, dậm đất, kêu trời than:

– Trời ơi! Cái thù của nước Hàn ta biết bao giờ mới trả được. Hận quốc dân biết thuở nào nguôi. Trời nỡ dung tha một kẻ hôn quân, bạo chúa để cho muôn dân sống mãi trong lầm than sao?

Trương Lương bùi ngùi bỏ trốn sang Hạ Bì, đến trú nơi nhà Hạng Bá.

Hạng Bá là cháu Hạng Yên, trước kia từng làm tướng nước Sở, với Trương Lương là bạn thân, nên giấu Trương Lương trong nhà không để lộ tông tích.

Khối buồn đọng mãi không tan, thỉnh thoảng Trương Lương ra ngoài dạo cảnh.

Một hôm, bóng chiều vừa xế, khóm trúc bên cầu xào xạc trước ngọn gió lê thê, Trương Lương lểnh mểnh quanh chân suối, lòng ngổn ngang trăm mối u buồn, bỗng thấy một ông già đi ngang qua cầu, làm rơi chiếc giày xuống nước rồi kêu Trương Lương nói:

– Này tiểu tử, hăy lại đây lượm chiếc giày cho ta.

Trương Lương thấy ông lão có dáng tiên phong đạo cốt, biết không phải người thường liền bước đến, cúi lượm chiếc giày trao cho ông lão rất kính cẩn.

Ông lão xỏ chân vào giày rồi lại đánh rơi xuống nước. Trương Lương nhặt, cứ thế đến ba lần.

Trương Lương vẫn với cử chỉ kính cẩn không hề tỏ ý bất mãn.

Ông lão mỉm cười nhìn Trương Lương nói:

– Thằng bé này có thể dạy được đây!

Liền chỉ vào gốc cổ thụ gần đó nói:

– Năm ngày nữa, ngươi đến gốc cây này, ta sẽ cho một vật quý! Chớ sai hẹn!

Trương Lương cúi đầu vâng mệnh.

Năm hôm sau, Trương Lương dậy sớm, y ước đến chổ gốc cây thấy ông già đã ngồi chờ sẵn nơi đó.

Ông già nhìn Trương Lương mắng:

– Ðã hẹn với kẻ trượng phu cớ sao lại đến trễ? Thôi, ta hẹn cho năm ngày nữa, hôm đó phải đến cho sớm.

Năm hôm sau, đầu trống canh năm, Trương Lương thức dậy ra gốc cây, dè đâu ông lão lại cũng đã ngồi ở đó rồi.

Ông lão mắng:

– Sao ngươi biếng nhác như thế. Hôm nào cũng để ta phải chờ đợi? Thôi, ta hẹn cho năm ngày nữa.

Lần này, Trương Lương không ngủ, suốt đêm ra gốc cây ngồi chờ.

Trống canh năm vừa điểm, ông lão lểnh mểnh đến.

Trương Lương sụp lạy, nói:

– Kính thưa tiên sinh có gì chỉ dạy, xin thương tình sai bảo.

Ông lão nói:

– Ta xem tiểu tử cốt cách thanh kỳ, nếu biết dùng tuổi xanh lo việc học tâp, sau này có thể đồ vương định bá được. Nay ta cho ngươi ba quyển bí thư, trong có đủ kỳ mưu, thần toán. Dù Tôn, Ngô phục sinh chưa chắc bì kịp. Ngươi khá nhận lấy học tập, trước vì nước Hàn báo thù, sau vì thiên hạ giúp chân chúa đem lại thái bình, để khỏi phụ tình tri ngộ.

Trương Lương tiếp nhận ba quyển sách, quỳ mọp xuống đất tạ ơn, và hỏi:

– Tiểu tử muốn biết đại danh của tiên sinh, xin tiên sinh cho phép.

Ông lão nói:

– Ba năm nữa, nơi phía Ðông thành Ðại Cốc có một cái lăng của một vị đế vương, trong đó có một hòn đá vàng hoàng thạch tức là ta đó.

Trương Lương nghe nói ngạc nhiên, ngẩng mặt lên thì ông lão đã đi đâu mất.

Trương Lương trở về nhà Hạng Bá, mở sách ra xem thấy đó là bộ “Thái Công binh pháp” ngày đêm cố gắng học tập để đợi thời cơ.

Giữa lúc đó, Thủy Hoàng đi Ðông du, qua địa phận Từ Châu. Nơi đây hoa màu tươi tốt, cây cối khác thường.

Nhân dân trong hạt đem đến dâng cho Thủy Hoàng một cây lúa trổ ba bông.

Thủy Hoàng đắc ý, khen thưởng mọi người rồi truyền xa giá sang phía Ðông Nam, đi về huyện Bái.

Vừa đến nơi, Thủy Hoàng chợt thấy trên đỉnh núi cao, xuất hiện một vầng hào quang sáng chói.

Thủy Hoàng cau mày, gọi Lý Tư nói:

– Hào quang xuất hiện, nơi đây ắt có nhân tài. Cần phải tìm giết đi để khỏi di hại về sau.

Lý Tư tâu:

– Vân khí xuất hiện là chuyện thường, nay bệ hạ tuần du mà sai người dò thám, bắt bớ e lòng dân náo động chăng?

Thủy Hoàng nghe lời ấy, thôi không sai người dò thám bắt bớ nữa.

Một hôm, Thủy Hoàng ngự giá đến Cối Kê, dân chúng hai bên đường đều phục lạy tiếp đón.

Trong đám dân chúng ấy, bỗng có một chàng trai toan đứng dậy nhảy xổ đến đâm Thủy Hoàng.

Tuy nhiên, hành động chưa phát lộ, thì có một ông lão biết ý cản lại, kề tai nói nhỏ:

– Không nên! Ðại trượng phu phải lập nghiệp lớn, để tiếng thiên thu, lẽ nào bắt chước những tay thích khách tầm thường!

Chàng trai cho là phải, không hành động nữa.

Chàng trai ấy là Hạng Tịch, tên chữ là Vũ, quê ở Hạ Tượng, còn ông lão kia là Hạng Lương, chú của Hạng Vũ đó.

Từ thuở bé, Hạng Vũ theo nghiệp văn, nhưng văn dốt, Hạng Vũ sang nghề võ, nhưng kiếm thuật lại không lành.

Người chú là Hạng Lương thường mắng:

– Mày học hành chẳng ra sao, lớn lên chỉ là một tên côn đồ dốt nát.

Hạng Vũ nói:

– Thưa chú học chữ chẳng qua để biên chép mòn ngày, còn học kiếm chẳng qua cũng chỉ địch nổi một vài người mà thôi. Hai môn ấy không ích nên cháu không gắng.

Hạng Lương giận hỏi:

– Thế thì mày muốn học thứ gì để gọi là ích lợi?

Hạng Vũ thưa:

– Cháu muốn học nghề gì mà nhất địch vạn nhân, như thế ngày sau mới có thể đem thân ra tranh đấu với thiên hạ được.

Hạng Lương thấy cháu có ý lạ liền lấy các sách binh pháp ra dạy. Môn này Hạng Vũ thích học, song cũng chỉ học những cái đại cương mà thôi.

Hai chú cháu đang ôm mộng lập nghiệp thì hôm ấy Thủy Hoàng tuần du đến.

Hạng Vũ vốn ghét Thủy Hoàng dâm bạo muốn giết đi, nhưng Hạng Lương kịp cản lại.

Từ đấy hai chú cháu chu du khắp thiên hạ, chiêu tập nhân tài để mưu đồ đại sự.

Lý Tư thấy Thủy Hoàng đi đến đâu cũng gặp chuyện chẳng lành, dân chúng khiếp sợ lẩn tránh liền tâu:

– Bệ ha. Bệ hạ tuần du đã lâu, trong thiên hạ đều biết rõ uy vũ. Xin Bệ hạ khá hồi loan sửa sang chính trị, giữ gìn biên cương để an dưỡng mình rồng, bớt điều khổ nhọc.

Thủy Hoàng suy nghĩ một lúc rồi truyền xa giá hồi loan.

Ði đến địa phận Duyện Châu trời tối, Thủy Hoàng nằm ngủ, bỗng mơ càng giấc điệp trông thấy một vị Long thần hiện đến cùng với Thủy Hoàng giao chiến, Thủy Hoàng cầm cự hồi lâu, nhắm sức không cự nổi, bỏ chạy.

Chạy đến một bờ biển. Nước xanh cuồn cuộn, sóng gió hãi hùng. Ðang cơn nguy cấp bỗng có một con Xích long từ trên trời sa xuống, há mồm ngoạm lấy Thủy Hoàng nuốt đi. Thủy Hoàng thất kinh, giật mình thức dậy, mồ hôi ướt cả long bào, tay chân rũ rượi.

Biết điềm mộng chẳng lành Thủy Hoàng lo lắng sinh bệnh.

Ði đến đất Sa Khâu, bệnh thế càng nặng, Thủy Hoàng liền gọi Lý Tư đến nói:

– Trẫm biết không còn sống để thụ hưởng cảnh vinh hoa nữa. Nếu vạn nhất Trẫm có băng hà, khanh nên đến Thượng Quận đón Thái tử Phù Tô về kế vị. Như vậy thiên hạ mới mong lạc nghiệp được.

Nói xong, lại viết tờ di chúc và giao ngọc tỷ cho Lý Tư.

Lý Tư sụp lạy nhận mệnh. Thủy Hoàng nói:

– Ngươi phò Trẫm đã lâu, các việc lớn nhỏ Trẫm đều phó thác cả. Vậy phải hết lòng vì nước chớ trái lời di chúc này. Thái tử Phù Tô là người nhân ái có thể dùng đức cải oán thiên hạ được. Ta tiếc rằng đời ta đã dùng bạo lực, phương thức không hay đối với chánh sách trị nước.

Nói đến đấy, Thủy Hoàng thở hơi cuối cùng.

Lý Tư liền tẩm liệm, rồi đưa thi thể về Hàm Dương, sai người đi triệu Phù Tô về phát tang.

Triệu Cao cản lại nói:

– Không nên! Thái tử Phù Tô lâu nay không tín nhiệm bọn ta. Nếu Thừa Tướng lập Phù Tô lên ngôi chẳng những chúng ta mất chức, mà còn nguy hiểm đến tính mệnh nữa.

Lý Tư nói:

– Nhưng mệnh vua, làm trái sao đành.

Triệu Cao cười nhạt, nói:

– Ðành vậy. Nhưng giữ lời di chúc mà thân phải lụy, thà phụ lời di chúc mà giữ được địa vị còn hơn. Thừa Tướng đối với Thái tử đâu bằng Mông Ðiềm.

Lý Tư thở dài hỏi:

– Theo ý ngài nên làm thế nào?

Triệu Cao nói:

– Hãy đổi tờ di chúc, lập Công tử Hồ Hợi lên nối ngôi.

Lý Tư trầm ngâm một lúc, quyền lợi bản thân thắng đạo đức, ngẩng nhìn Triệu Cao nói:

– Vâng, tôi xin theo lời ngài.

Triệu Cao mừng rỡ, đến tìm Công tử Hồ Hợi nói:

– Nghiệp đế vương ngày nay mất còn chỉ có Công tử, Thừa Tướng và tôi định đoạt. Tiên vương di chiếu lập Thái tử Phù Tô, chúng tôi xét thấy quyền hành công tử sau này sẽ mất hết. Chúng tôi xin vì công tử, lập công tử lên kế vị.

Hồ Hợi cau mày nói:

– Ôi chao! Sao các ngài có ý nghĩ như thế? Bỏ anh lập em là trái nghĩa, bỏ lời di chúc của Tiên vương là bất trung, con không theo lời cha là bất hiếu. Kẻ đã bất trung, bất hiếu, bất nghĩa thì ai còn phục. Tôi không thể nghe theo lời các ngài được!

Triệu Cao nói:

– Ðấng trượng phu không nên câu nệ những tiểu tiết mà bỏ đại sự. Cơ hội ngàn năm một thuở. Phú quý về tay mà không tiếp nhận, dẫu sau hối hận cũng chẳng ích gì.

Hồ Hợi nghe Triệu Cao nói bùi tai, gật đầu đáp:

– Ừ! thế thì các ngài hành động cách nào tùy ý.

Triệu Cao lập tức trở về thuật lại với Lý Tư rồi đổi tờ di chúc, sai Diêm Nhạc đem chiếu giả đến Thượng Quận, bắt Phù Tô phải tự tử. Ðoạn lập Hồ Hợi lên ngôi.

Diêm Nhạc đến Thượng Quận truyền lệnh cho Phù Tô ra tiếp chiếu.

Phù Tô vội vàng ra sụp lạy.

Diêm Nhạc mở chiếu đọc rằng:

Nhà Ðại Tần ngày… tháng… năm thứ 37.

Thủy Hoàng đế hạ chiếu:

Ðời Tam Ðại lấy hiếu trị thiên hạ, gây mối cương thường. Con không nghe cha là bất hiếu, tôi không nghe vua là bất trung. Kẻ bất trung, bất hiếu không dáng làm chủ thiên hạ.

Nay trưởng tử Phù Tô cải mệnh cha, không trọn đạo làm con. Cứ lấy tình cha con thôi có thể dung thứ được, song theo phép tổ tiên không thể khoản miễn.

Vậy chiếu lập Hồ Hợi làm Thái Tử, truất Phù Tô xuống thứ dân, trao cho một chén độc dược và một thanh gươm để tự xử lấy thân.

Còn như tướng Mông Ðiềm cầm quân cõi ngoại, không ích lợi gì cho nước, chỉ làm hao tốn muôn dân, lẽ ra phải theo pháp gia hình, nhưng vì trường thành chưa xong, tạm để cho Mông Ðiềm ở đó đôn đốc công việc.

Chiếu chỉ đến nơi, phải lập tức tuân theo. Khâm Thử.”

Phù Tô nghe xong khóc lớn, nói:

– Ôi! Vua bảo chết. Tôi không thể không tuân, cha bảo chết con không thể cải mệnh. Nay Phù Tô này xin lãnh thanh gươm và độc dược cho trọn niềm trung hiếu.

Mông Ðiềm cản lại nói:

– Xin Ðiện hạ xét lại đã. Bệ hạ sai hạ thần đem ba mươi vạn quân đóng nơi biên cương, lại sai Ðiện hạ đến làm Giám Ðốc. Ðã giao trọng trách như thế lẽ nào còn bắt chết! Tôi e trong triều có điều gì gian trá xin Ðiên hạ về triều thĩnh tội để rõ ngay gian.

Phù Tô lắc đầu, nói:

– Bình nhật phụ vương tôi ghét bỏ tôi, nay bắt chết là do thánh ý, tôi không muốn cải lời.

Nói xong, sai quân đem thuốc độc đến, uống một hơi cạn chén.

Phù Tô chết, Mông Ðiềm thương tiếc vô cùng, ôm thây khóc mãi. Ba quân ngậm ngùi rơi lệ.

Diêm Nhạc thấy Phù Tô đã chết, trở về báo với Hồ Hợi.

Hồ Hợi liền làm lễ tức vị xưng hiệu là Nhị Thế hoàng đế.

Từ đó, quyền hành trong nước về tay Lý Tư và Triệu Cao chuyên chế.

Hai người lập ra hình pháp rất nghiêm khắc, cốt trấn áp lòng dân, mưu lợi riêng, không kể đến cái hại vong quốc sau này.

Các quan đại thần trông thấy đều chán ngán, không muốn tham dự việc nước.

Vua Nhị Thế thấy Mông Ðiềm thống lãnh hơn ba vạn quân ngoài biên ải, còn thân thuộc đều ở nơi kinh thành, sợ sinh biến liền truyền chỉ đem chém hết.

Quan Ðại thần Tử Anh can:

– Tâu bệ hạ, họ Mông vốn dòng dõi đại thần, nay bệ hạ mới trị nước mà trừ bỏ đại thần e lòng dân ly tán. Xin bệ hạ dùng đức khoan hồng thay cho uy vũ để trị dân.

Nhị Thế không nghe, truyền đem tộc thuộc Mông Ðiềm giết hết.

Mông Ðiềm hay tin ấy, ngước mặt lên trời than:

– Nhà ta ba đời có công lớn với nước Tần, nay vua Tần tin dùng kẻ gian nịnh hủy hại tôi hiền. Ta cầm trong tay ba chục vạn quân, đủ sức phản lại. Nhưng thà chịu chết chứ không để làm mất tiếng trung liệt của tổ tiên.

Ðêm ấy, Mông Ðiềm uống thuốc độc tự vận.

Vua Nhị Thế nghe tin Mông Ðiềm chết, lập tức truyền chỉ ra Thượng quận bắt anh em con cháu Mông Ðiềm đày qua Thục quận.

Bình nhật, Triệu Cao và Lý Tư chỉ sợ có Phù Tô và Mông Ðiềm, nay hai người ấy đều chết cả, nên không còn kiêng nễ ai nữa.

Hồi 3 – Trảm Bạch Xà, Lưu Quý dấy binh

Triệu Cao và Lý Tư từ khi lập vua Nhị Thế lên ngôi, ra sức vơ vét của cải dân chúng, xui vua Nhị Thế hành phạt sinh linh, tất cả những nguy cơ trong nước đều dấu nhẹm không cho vua Nhị Thế biết.

Trộm cướp nổi dậy khắp nơi, các tay anh hùng hào kiệt đua nhau chiêu tập binh mã để mưu đồ quốc sự.

Khắp các miệt Sơn Ðông, Sơn Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc và quanh vùng Ngô, Sở không chỗ nào không có giặc giã.

Trần Thắng khởi binh ở đất Tần, Vũ Thần khởi binh ở đất Triệu, Lưu Bang khởi binh ở đất Bái, Hạng Lương khởi binh nơi đất Ngô, bốn biển tung hoành, rộn ràng gươm giáo. Cái họa vong quốc đã đến nơi, thế mà vua Nhị Thế không hay biết gì cả, ngày đêm mải mê tửu sắc nơi cung A Phòng.

Trong số hào kiệt, Lưu Bang được nhiều người nói đến.

Lưu Bang quê ở đất Bái tên chữ là chữ Quý. Khi xưa bà mẹ Lưu Bang thường nằm trên một bờ bưng lớn nghĩ ngơi… Bỗng một hôm, thấy thần nhân đến cùng với mình giao cấu.

Lúc tỉnh dậy, trong mình rã rượi, rồi thụ thai. sinh ra Lưu Bang. Lưu Bang mũi cao, miệng rộng, trán cao, mặt rồng, dưới vế bên tả có bảy mươi hai nốt ruồi, tính tình rộng rãi, trọng nghĩa, yêu người, khi lớn lên được làm chức Ðình Trưởng ở Tứ Thượng. Tuy nhiên, phải cái bệnh ham mê tửu sắc, nên ai cũng chê.

Bấy giờ có ông Lã Văn người Ðan Phủ, ngắm tướng mạo Lưu Bang rồi nói với mọi người:

– Bang tuy là kẻ ham mê tửu sắc, song lúc gặp thời phú quý sẽ về tay. Với đức tánh hiền lương ấy, tôi tưởng gầy nên nghiệp cả không khó.

Một hôm, Lã Văn về bàn với vợ, muốn đem con gái mình là Lã Nha gả cho Lưu Bang.

Bà vợ cau mày nói:

– Sao ông lẩn thẩn thể? Trước kia quan huyện Bái đến cầu hôn, ông không chịu gả, bây giờ lại đem gả cho tên du đãng sao?

Lã Văn cười lớn, nói:

– Ai bảo bà Lưu Bang là kẻ du đãng? Bà có biết đâu người ấy là bậc anh hùng trong thiên hạ!

Hôm sau, Lã Văn mời Lưu Bang đến nhà, đặt tiệc khoản đãi.

Lúc đang ăn uống, Lã Văn nâng chén, nói với Lưu Bang:

– Tôi xem tướng ngài không phải là bậc phàm nhân, xin ngài phải tự trọng mới được. Nhà tôi có một gái, tuổi vừa cặp kê, tôi muốn cho theo hầu ngài để sửa tráp nâng khăn.

Lưu Bang khúm núm thưa:

– Tôi có ba việc chưa làm xong dám đâu nghĩ đến chuyện vợ con!

Lã Công nói:

– Ý tôi đã quyết, ngài chớ phụ lời. Vả lại kẻ trượng phu trên đời phải làm đến trăm nghìn việc, chớ cứ gì ba việc. Tôi chưa thấy ai vì bận việc mà từ chối không lấy vợ bao giờ.

Lưu Bang thấy Lã Công đem lòng quyến luyến không nỡ chối từ. Hai người bắt chén tương tri, rồi giã biệt.

Lã Công đưa tiễn Lưu Bang ra khỏi ngõ, bỗng có một chàng trai vồn vã chạy đến, nói với Lưu Bang:

– Ôi chao! Ngài đi đâu mà đã ba hôm tôi tìm không gặp.

Lã Công thấy chàng trai ấy hình vóc cao lớn, tiếng nói vang như sấm, khí phách đường đường, nghĩ thầm:

– Hẳn là một tay hảo hớn, gặp thời có thể vá trời lấp biển được!

Liền mời cả hai vào hàng rượu gần đó đánh chén.

Lã Công lựa lời hỏi thăm tên họ khách.

Khách đáp:

– Phàn tên Khoái, người huyện Bái, làm nghề bán thịt chó.

Nhân đi tìm Lưu Bang lại gặp ngài đây, thật vạn hạnh.

Lã Công nói:

– Tôi từng nghe danh tráng sĩ đã lâu, hôm nay mới gặp màt, muốn tỏ một lời, song còn e ngại.

Phàn Khoái kính cẩn hỏi:

– Việc gì xin ngài cứ thật tình dạy bảo.

Lã Công mỉm cười, nhìn Phàn Khoái hỏi:

– Tôi hỏi thế này tưởng cũng quá đường đột, nhưng xin tráng sĩ hỉ xả cho. Chẳng hay tráng sĩ đã có người nội trợ chưa?

Phàn Khoái đáp:

– Thưa ngài, tôi nhà nghèo, cha mẹ mất sớm, việc ấy chưa thể nghĩ đến.

Lã Công nói:

– Tôi có hai gái, đứa lớn gả cho Lưu Bang rồi, còn đứa nhỏ là Tu, nếu tráng sĩ có lòng thương, tôi xin dâng nốt.

Phàn Khoái ngập ngừng chưa dám nhận, Lưu Bang mỉm cười bảo Phàn Khoái:

– Hôm nay là ngày kỳ ngộ, chỉ một bữa mà Lã đại nhân đem hai tiểu thư gả cho hai ta. Lã đại nhân đã có lòng thương, hiền đệ chớ nên từ chối.

Phàn Khoái vội vã đứng dậy tạ ơn Lã Công.

Rượu tan, ánh nắng chiều cùng bắt đầu nhạt dần, hai người bái biệt ra về.

Ngày hôm sau, quan huyện Bái sai Lưu Bang đưa phu đến núi Ly Sơn để phục vụ công tác xây thành.

Khi đi đường, bọn dân phu trốn thoát quá nửa. Tối hôm ấy nghỉ lại nơi trạm Chăm Phong Tây, Lưu Bang nói với mọi người:

– Các anh ra đi không biết ngày về, vợ đói con rét, người nào trốn được thì trốn, tội gì đem thân hy sinh cho công việc không đem lại lợi ích cho quốc gia.

Bọn dân phu nói:

– Cám ơn ngài có lòng thương chúng tôi, song chúng tôi nỡ nào trốn thoát để ngài mang tội sao đành!

Không, các anh cứ đi! Tôi đây cũng phải tìm đường lánh nạn, chứ dại gì chịu chết!

Trong bọn dân phu có hơn mười người tráng sĩ, thấy Lưu Bang đầy lòng nhân đạo, đồng nói:

– Chúng tôi xin tình nguyện theo ngài!

Lưu Bang thuận tình. Ðêm ấy mọi người cùng Lưu Bang đánh chén thực say rồi theo lối tắt tìm đường đi trốn.

Ði được một quãng, bỗng thấy người dẫn lối quay trở lại nói:

– Ðàng trước có một con rắn dài ước mười trượng, nằm ngang giữa đường, không sao đi được. Phải tìm lối khác thoát thân.

Cả đoàn đều nhốn nháo. Riêng Lưu Bang vẫn điềm nhiên nói:

– Ðấng trượng phu không vì trở ngại mà lùi bước.Nói xong, cầm kiếm bước đến chém con rắn đứt làm hai đoạn, rồi vẫy tay nói với mọi người:

– Rắn đã chết, chúng ta tiến bước!

Mọi người le lưỡi, lắc đầu, bảo nhau:

– Bình nhật, Lưu Bang là kẻ nhút nhát, cớ sao hôm nay lại bạo dạn đến thế.

Cả đoàn kéo nhau vào ẩn nơi núi Mang Ðãng. Dân chúng trong vùng hay tin theo đến rất đông..

Cách mấy hôm, có người đến chỗ Lưu Bang chém con Bạch xà hôm trước, thấy có một bà già đang ôm xác con rắn khóc sướt mướt.

Người ấy lấy làm lạ, hỏi:

– Rắn chết thì trừ hại cho dân làng, cớ sao bà lại thương tiếc?

Bà già nói:

– Con tôi là con Bạch Ðế, hóa ra rắn nằm dọc đường, rủi bị ông Xích Ðế chém chết, vì vậy mà tôi thương khóc.

Bà già nói dứt lời biến mất. Dân trong vùng hay chuyên lạ bảo nhau:

– Ðó là một quái tượng!

Ðất Bái xung thiên khí đế vương

Trảm xà khởi nghĩa cứu tai ương.

Mở dầu sự nghiệp gây nhà Hán

Công đức Lưu Bang thật khó lường.

Từ khi Lưu Bang trảm xà, mưu việc lớn, bốn phương thiên hạ tình nguyện theo phò ước hơn hai trăm người.

Bấy giờ hai người Lại Mục huyện Bái là Tiêu Hà và Tào Tham thấy chính sách nhà Tần tàn bạo, thuế má nặng nề, bàn nhau tôn quan huyện Bái lên làm minh chủ, mộ quân chống lại nhà Tần.

Lưu Bang hay tin ấy, kéo đoàn nghĩa dũng của quân mình đến xin gia nhập.

Quan huyện thấy thanh thế của Lưu Bang thì sợ hãi, gọi Tiêu Hà và Tào Tham đến trách.

– Các ngươi mượn tiến cử ta làm minh chủ, nay lại viện quân ngoài đến, có khác gì thêm cánh cho hùm, sau này không tránh khỏi nội biến.

Tiêu Hà và Tào Tham nhìn nhau mỉm cười.

Ðêm ấy, hai người lén ra ngoài thành, tìm đến nói với Lưu Bang:

– Quan huyện Bái là kẻ tầm thường không mưu nổi việc lớn. Ngài nay thanh thế đã khá, nên thừa cơ hội này chiếm lấy thành trì huyện Bái, làm chỗ đồn trú quân mã, chiêu dụ hiền tài, khởi xướng việc nghĩa, mưu trừ kẻ tàn bạo, thì thiên hạ bốn phương mới có chỗ tôn phò.

Lưu Bang nói:

– Nếu hai ông sẵn sàng giúp tôi làm việc nghĩa, tôi đâu dám cãi lời. Song điều cần yếu hai ông phải giúp tôi làm nội ứng thì mới nên việc được.

Tiêu Hà và Tào Tham đồng đáp:

– Các bậc bô lão trong thành hiện nay đều mong mỏi có người tài cầm đầu khởi nghĩa, nếu ngài viết một bức thư vạch rõ lợi hại hiểu dụ, ắt trăm dân một lòng nghe theo, thành huyện Bái chiếm đoạt không khó gì.

Lưu Bang theo lời, viết một bức thư bắn vào thành, trong thư đại ý nói:

” Lâu nay thiên hạ khổ sở vì chính sách tàn bạo nhà Tần, vì vậy, hào kiệt bốn phương đua nhau dấy nghĩa, chọn người tài làm minh chủ liên kết chư hầu để đánh đổ bạo chúa, đem an cư, lạc nghiệp lại cho muôn dân là người trọng nghĩa vì dân nên cùng tôi ứng theo nghĩa cả “.

Các bô lão trong thành được thư, bàn nhau:

– Hiện nay Lưu Bang chiêu tập binh mã vì dân khởi nghĩa, chúng ta là những kẻ sống ngất ngưởng trong chế độ mục nát bạo tàn, lẽ nào lại không hưởng ứng.

Liền rủ nhau vào giết quan huyện Bái rồi mở cửa thành cho nghĩa binh Lưu Bang kéo vào.

Tiêu Hà, Tào Tham bàn với dân chúng lập Lưu Bang lên làm quan huyện Bái.

Lưu Bang từ chối, nói:

– Không thế được. Nay thiên hạ loạn lạc, các chư hầu đua tranh, cần phải tìm người tài tôn lên. Tôi đức bạc, tài hèn không đủ tín nhiệm làm chủ huyện Bái, xin các ông chọn người khác.

Mọi người đồng thanh nói:

– Lâu nay nghe tiếng ngài là bậc kỳ tài, đáng cho chúng tôi tôn làm minh chủ. Nếu ngài từ chối lòng dân ắt ly tán.

Lưu Bang thấy không thể từ chối được, phải nhận chức, tự xưng là Bái Công, dùng cờ đỏ làm “nghĩa kỳ”. Dân chúng đất Bái theo đến hơn ba ngàn người.

Cùng trong thời gian ấy, Hạng Lương và Hạng Vũ sang đất Cối Kê.

Quan Thái Thú Cối Kê là Ân Thông biết Hạng Lương là người mưu trí, liền mời đến bàn chuyện.

Ân Thông nói:

– Nay vua Nhị Thế vô đạo, Trần Thiệp khởi binh thiên hạ nhao nhao hưởng ứng. Tôi cũng muốn thừa cơ khởi nghĩa nên mời ngài đến cùng tôi hợp tác, ý ngài nghĩ sao?

Hạng Lương giả cách vâng lời, rồi trở về bàn với Hạng Vũ:

– Kẽ trượng phu cần tự lập, lẽ nào đem thân xu phụ người khác! Vả lại Ân Thông không phải là người đủ tài đức đứng ra gánh lấy việc đại nghĩa. Tuy nhiên, nếu ta không cướp lấy cơ hội thì làm sao có chỗ dung thân để mưu việc lớn.

Hạng Vũ nói:

– Việc ấy chẳng khó gì! Ngày mai chú vào giả cách đàm đạo với Ân Thông, cháu giắt kiếm vào lưng, theo chú đến đó, thừa cơ giết hắn đi chiếm lấy quận ấy để làm nơi nương tựa, chiêu tập binh mã, tích thảo dồn lương.

Hạng Lương nói:

– Nếu cháu làm được việc ấy thì hay lắm.

Sáng hôm sau Hạng Lương và Hạng Vũ cùng vào nha môn. Ân Thông đem việc phản Tần bàn với Hạng Lương.

Hạng Vũ đứng một bên, hét lớn:

– Ngươi với ta hai lãnh vực khác nhau. Ta là dòng dõi khanh tướng nước Sở. Nước Tần diệt nước Sở nên ta đối với Tần có cái thù bất cộng đái thiên. Còn ngươi là một quan thái thú, ăn lộc vua lại âm mưu phản quốc, rõ là kẻ bất trung, không giết còn để làm gì.

Dứt lời vung kiếm chém Ân Thông rơi đầu.

Nha môn im lặng như tờ không ai dám hé môi.

Hạng Vũ cầm đầu Ân Thông giơ cao, nói:

– Hạng Công là người tài trí, đáng lãnh đạo dân chúng trong quận. Người nào không thuận hãy xem tấm gương này.

Hai viên môn lại là Quý Bá và Chung Ly Muội bước lên công đường nói lớn:

– Ðến đất người, giết chủ người, sao gọi là làm việc nghĩa?

Hạng Vũ đáp:

– Hạng Công vì nước Sở trả thù Tần, vì thiên hạ cứu lầm than đó là chí lớn, nếu hai người bằng lòng qui thuận, nêu cờ khởi nghĩa chẳng phải là hành động đại nghĩa sao!

Hai người nghe nói đều phục xuống thềm, thưa:

– Chúng tôi xin nghe theo lời tướng quân.

Hạng Lương phong cho Quý Bá và Chung Ly Muội làm chức Ðô Úy.

Chẳng bao lâu, các nơi nghe tiếng kéo nhau đến theo hơn vạn người.

Hạng Lương sắp thành đội ngũ, thưởng phạt nghiêm minh ai cũng nức lòng phò tá.

Quý Bá và Chung Ly Muội bàn với Hạng Lương:

– Quân mạnh phải có tướng hùng mới nên việc. Nay thế quân của ta đã đông, nhưng tướng chưa đủ. Trong quận Cối Kê nơi Ðồ Sơn có hai viên tướng là Hoàn Sở và Vũ Anh, sức mạnh địch muôn người, đang chiêu mộ tinh binh ước hơn tám ngàn. Nếu dụ được hai tướng ấy thì hay lắm.

Hạng Lương nghe nói, lập tức sai Hạng Vũ và Quý Bá đến Ðồ Sơn chiêu dụ.

Hạng Vũ đến nơi, sai một tên tùy tùng vào nói.:

– Quan Ðại tướng nước Sở tôi là Hạng Vũ, tùy hành chỉ có vài người, mình không mặc giáp, tay không binh khí đến đây cốt để bàn với nhị vị việc Vương, Bá mà thôi.

Hoàn Sở và Vũ Anh nghe nói, cho mời Hạng Vũ vào.

Hạng Vũ nói:

– Nay vua Nhị Thế vô đạo, dân chúng lầm than, các anh hùng hào kiệt đều nổi lên dấy nghĩa, mong cứu dân khỏi vòng tai biến. Nhị vị tướng quân sẵn tài vũ dũng, có thể giúp ích cho đời, nếu cứ ẩn mãi trong chốn sơn lâm phỏng có ích gì. Hạng Công tích thảo dồn lương nơi quận Cối Kê, quyết lòng rửa hờn cho sáu nước, nếu hai vị tướng quân bằng lòng hợp tác sau này thành công phú quý cùng hưởng.

Hoàn Sở nói:

– Tần tuy vô đạo, song binh lực còn mạnh, nếu không có tài cái thế khó nổi thành công. Chúng tôi nhắm sức mình chưa đủ, không dám mưu việc lớn. Ngài đã dám đứng ra tính việc đại nghĩa, hẳn tài cán siêu quần. Bao giờ chúng tôi thấy được tài năng của ngài thì mới quy thuận, bằng không chỉ vẽ hổ không thành, mang tiếng với đời mà thôi.

Hạng Vũ nói:

– Nhị vị tướng quân muốn thử tài tôi bằng cách nào?

Hoàn Sở nói:

– Ở dưới sườn núi có miếu Vũ Vương. Trước miếu có cái đỉnh nặng mấy nghìn cân. Nếu ngài lay nổi ba lượt, thì quả là người có sức mạnh vô địch.

Hạng Vũ nói:

– Thế thì đưa tôi đến đó xem thử.

Hai tướng dẫn Hạng Vũ, Quý Bá và bọn tùy tướng xuống sườn núi, vào miếu Vũ Vương. Giữa sân có một cái đỉnh đồng cao bảy thước, chu vi năm thước, nặng ước năm ngàn cân. Hạng Vũ xem qua rồi bảo viên tiểu tướng đẩy thử xem. Viên tiểu tướng cố sức đẩy mạnh, mặt đỏ bừng, nhưng đỉnh đồng không hề lay chuyển.

Hạng Vũ, xăn tay áo, đẩy mạnh một cái, đỉnh đồng ngã xuống rồi lại đỡ lên như cũ. Ba lần như vậy, vẫn không lấy gì làm nặng nhọc.

Hai tướng vỗ tay reo lớn:

– Ôi chao! Quả là tay hảo hớn!

Hạng Vũ vừa cười vừa nói:

– Thế đã lấy gì làm lạ.

Dứt lời, cầm lấy chân đỉnh đưa cao lên trời, đi quanh miếu ba vòng, mà sắc mặt vẫn không thay đổi.

Hai tướng la lớn:

– Thật là bậc thiên thần, dẫu Mạnh Bôn tái sinh cũng chưa chắc đã địch nổi. Chúng tôi xin tùng phục ngài.

Hạng Vũ đem đỉnh đồng để xuống chỗ cũ, rồi theo hai tướng trở về trại.

Hai tướng đặt tiệc khoản đãi.

Ngày hôm sau thu xếp hành trang, thống suất binh mã, cùng theo Hạng Vũ hạ san.

Vừa đi khỏi Ðồ Sơn vài dặm, bỗng thấy một toán dân chúng hơ hải chạy đến.

Hạng Vũ ngạc nhiên, gò ngựa, hỏi:

– Các ngươi có việc chi sợ hãi thế?.

Vài người dân binh đến đầu ngựa cúi chào Hạng Vũ và nói:

– Trong vực lớn cạnh núi Ðồ Sơn có con rồng đen, hóa thành ngựa, ngày nào cũng đến thôn Nam Phụ gầm, thét, cắn, đá, phá hoại mùa màng, chúng tôi không làm cách nào đuổi đi được. Ai đến gần đều bị ngựa đá chết. Chúng tôi thấy đại binh qua đây, đến nhờ tướng quân vì dân trừ hại. Ðược vậy dân vùng này mang ơn tướng quân không ít.

Hồi 4 – Trừ thần mã, Hạng Vũ lấy vợ.

Hạng Vũ nghe nói lập tức dẫn Hoàn Sở cùng bọn tùy tướng đến bên vực.

Thần mã thấy có người đến, nhảy xổ tới, cắn đá rất hăng. Hạng Vũ xăn áo, túm lấy bờm ngựa ghì xuống, con ngựa không cử động nổi. Hạng Vũ lấy dây cương tròng vào, rồi cưỡi mươi vòng quanh bờ vực, thần mã toát mồ hôi, đứng rũ chân không còn dám hung hăng như trước.

Dân chúng thấy vậy đều sụp lạy, hoan hô, và xin cho biết danh tính.

Hạng Vũ nói:

– Tôi là Hạng Vũ, cháu Hạng Yên, quan Ðại tướng nước Sở thời xưa, nhân đi mộ quân đánh Tần mới qua đây.

Trong đám dân chúng có một ông lão đến gần nói:

– Tôi nghe danh tướng quân đã lâu nay mới gặp mặt, xin mời tướng quân quá bộ đến thảo trang, cùng xơi với lão một chén trà.

Hạng Vũ nhận lời, kéo cả đoàn quân đến nơi.

Ông lão đặt tiệc thiết đãi rất ân cần.

Hạng Vũ hỏi:

– Thưa lão trượng, chẳng hay lão trượng phương danh là chi, cớ sao có thịnh tình này?

Ông lão đáp.

– Tôi họ Ngu, người ta thường gọi tôi là Ngu Công, vì trọng tài tướng quân nên đem lòng quyến luyến. Chẳng hay tướng quân niên kỷ được bao nhiêu?

Hạng Vũ thưa:

– Tôi năm nay 24 tuổi.

Ngu Công hỏi:

– Và, đã có người nội trợ để nâng khăn sửa túi chưa?

Hạng Vũ đáp:

– Chí cả chưa thành, tôi chưa nghĩ đến chuyện đó.

Ngu Công ngập ngừng đáp:

– Lão hiếm hoi, chỉ có một gái tên Ngu Cơ, tư chất thông minh, tánh tình trang nhã. Khi tiện thê gần sinh cháu, mơ thấy năm con phượng đến múa trước nhà, lão chắc con gái lão sau này có số giàu sang, vì vậy lâu nay có ý chọn mặt gởi vàng. Nếu tướng quân không câu nệ nghèo hèn, lão xin đem tiện nữ dâng hầu tướng quân làm bầu bạn.

Hạng Vũ thấy lòng quyến luyến của Ngu Công, rất hân hoan, đứng dậy xin cảm ơn.

Ngu Công gọi Ngu Cơ ra chào. Thực là một đóa hoa tuyệt mỹ, giá đáng nghìn vàng.

Hạng Vũ cởi thanh kiếm đeo bên mình dâng cho Ngu Công làm lễ hứa hôn, rồi bái từ trở về Cối Kê, dẫn Hoàn Sở và Vũ Anh vào yết kiến Hạng Lương.

Hạng Lương thấy hai tướng hình dung vạm vỡ, khí phách kiêu hùng, lại dẫn theo hơn tám ngàn tinh binh đến đầu phục, lòng mừng rỡ vô cùng.

Hạng Vũ dắt con thần mã đến trình Hạng Lương.

Hạng Lương trông thấy con ngựa mình cao bảy thước, dài hơn một trượng, liền đặt tên là Ô Truy, và nói:

– Từ ta khởi binh đến nay gặp nhiều may mắn, có lẽ trời khiến nhà Tần phải diệt vong.

Cách mấy hôm, Hạng Lương cho đón Ngu Cơ về Cối Kê kết hôn với Hạng Vũ.

Ngu Cơ lại đem theo một người em họ là Ngu Tử Kỳ để dùng.

Từ đó, thanh thế Hạng Lương mỗi ngày một mạnh, các binh sĩ đào vong bốn phương nghe tiếng tìm đến hơn mười vạn.

Hạng Lương thấy binh hùng, tướng mạnh, lương thực đầy đủ, liền định ngày xuất quân đánh Tần.

Ngày khởi binh đến, các bô lão nơi thành Cối Kê ra đứng cả hai bên vệ đường, nói:

– Tướng quân ra đi, chúng tôi còn biết lấy ai trông coi chúng tôi.

Hạng Lương xuống ngựa, kính cẩn nói:

– Khi trước tôi lấy thành Cối Kê là tạm mượn chỗ để lưun đồn nhân mã. Nay đại quân đóng lâu ngày sợ nhiễu loạn nhân dân chăng? Tôi vì sanh linh trừ hôn quân vô đạo. Nếu nghiệp cả được thành, quyết chẳng bao quên ơn nơi đã giúp tôi khởi nghĩa.

Các bô lão đều cảm động, phục xuống đất, quyến luyến không nở rời.

Hạng Lương bùi ngùi ra lệnh ba quân tiến phát.

Ðại binh theo đường lớn, kéo thẳng qua sông Giang, đến sông Hoài.

Bỗng đạo tiền quân dừng lại, và có thám mã chạy đến báo:

– Phía trước có một toán quân ngăn đường.

Hạng Vũ vội vã giục ngựa tới trước, thấy trong toán quân đó có một tướng mặt mày vạm vỡ, khí thế uy nghi liền hỏi:

– Tướng kia là ai? Cớ sao lại cản đường quân ta?

Tướng ấy đáp:

– Ta là người đất Lục An, tên Anh Bố, lâu nay chiêu tập nghĩa binh để trừ gian, cứu thiên hạ. Các ngươi là toán quân vô danh ở đâu đến đây, ta quyết chẳng cho đi.

Hạng Vũ đáp:

– Tướng quân lầm rồi! Ta đây là Hạng Vũ, con cháu Hạng Yên nước Sở, bởi vua Nhị Thế bạo tàn nên dấy binh khởi nghĩa, trả thù cho sáu nước chư hầu, sao lại gọi là vô danh?

Hai người còn đang tranh phải trái, Hoàn Sở nghe tên Anh Bố, vội thúc ngựa ra trước quân, gọi lớn:

– Hiền huynh ơi! Hãy xuống ngựa quy hàng. Tiểu đệ đã tùng phục theo nước Sở rồi, xin hiền huynh giữ lời hứa cũ.

Hạng Vũ ngạc nhiên hỏi Hoàn Sở:

– Có lẽ hai người quen thân với nhau sao?

Hoàn Sở nói:

– Thưa phải. Anh tướng quân vũ dũng siêu quần, ít người sánh kịp. Trước kia phải đi làm phu dịch ở Ly Sơn, bỏ trốn đến nhà tôi tá túc. Hai tôi có hẹn nhau, lúc nào gặp được anh quân sẽ cùng nhau đem thân giúp nước. Vừa rồi, tôi có nghe Anh Bố chiêu tụ nghĩa quân, nhưng chẳng rõ thực hư. Nay gặp mặt, thật may mắn.

Anh Bố xuống ngựa nói:

– Nếu ngài đã vì đại nghĩa dấy binh, tôi xin tình nguyện đem thân giúp sức.

Hạng Vũ mừng rỡ, dẫn Anh Bố đến yết kiến Hạng Lương.

Hạng Lương tiếp đón niềm nở và nói:

– Muôn quân dễ kiếm, một tướng khó tìm. Ðược tướng quân cộng tác, chẳng khác nào như hùm thêm vây.

Nói xong truyền thống hợp binh mã, tiếp tục lên đường.

Một hôm, Hạng Lương bàn với chư tướng:

– Quân mạnh, tướng hùng là điều kiện tất yếu trong quân, song trí dũng lúc nào cũng phải đi đôi với nhau mới có lợi. Quân ta sức mạnh đủ đánh Tần, chỉ thiếu một người mưu sĩ.

Quý Bố nói:

– Tôi nghe thôn Cư Sào, hạt Hoài Dương có một người họ Phạm tên Tăng, tuồi đã bảy mươi mà mưu trí còn thừa, dẫu Tôn, Ngô ngày xưa cũng khó bì kịp. Nếu Minh Công muốn dùng, tôi xin đi rước.

Hạng Lương mừng rỡ, sai Quý Bố đem lễ vật đến mời Phạm Tăng.

Quý Bố đến Cư Sào tìm nhà trọ nghỉ ngơi, dò hỏi tông tích Phạm Tăng.

Người chủ trọ nói:

– Ông ấy tuy ở gần thành thị, song không thích cảnh phố phường, lâu nay mai danh ẩn tích, chẳng chịu tiếp kiến ai bao giờ.

Quý Bố nghĩ thầm:

– Nếu không được giáp mặt Phạm Tăng làm sao bày tỏ cạn lời.

Nghĩ rồi hỏi chủ trọ:

– Ông có biết nhà Phạm Tăng hiện ở đâu chăng?

Chủ trọ đáp:

– Cách đây ba dặm, nơi chân núi Kỳ Cổ có ngôi nhà lá đó là nhà Phạm Tăng.

Quý Bố nghĩ ra môt kế, sai đứa tùy tùng giả làm khách buôn đến nói với người nhà Phạm Tăng:

– Chúng tôi người xứ lạ, đến Cư Sào buôn bán, chẳng may gặp vận rủi, hàng hóa lỗ lã nghe đồn tiên sinh đây là bậc kỳ mưu, đến xin yết kiến để lãnh vài lời chỉ giáo.

Phạm Tăng bình nhật vốn thích việc bày mưu, lập kế, nghe người nhà nói có khách buôn từ phương xa lại, liền cho vào.

Quý Bố lập tức cùng với tên tùy tùng vào yết kiến.

Thấy Phạm Tăng tóc bạc da mồi, khăn nâu áo vải, mà khí tượng đường bệ, ra vẻ tiên phong, đạo cốt, vội vã cúi chào.

Phạm Tăng hỏi:

– Khách từ đâu đến? Nghề nghiệp gì?

Quý Bố lập tức dâng lễ vật, quỳ mọp xuống đất thưa:

– Tiện nhân không phải khách xa lạ, cũng chưa từng buôn bán ở Cư Sào, vì sợ không được yết kiến Tiên sinh nên mượn lời nói vậy. Nay vua Nhị Thế vô đạo, lòng dân oán vọng, hào kiệt nỗi lên chiếm đất giành dân, mưu đường tiến thủ. Hạng tướng quân tôi vốn dòng dõi Hạng Yên nước Sở, tài kiêm văn vũ, lòng sẵn hiếu trung, vừa phất cờ khởi nghĩa ở Cối Kê, muôn dân hưởng ứng. Trộm nghe Tiên sinh mưu trí, hơn người, Tôn, Ngô, không sánh kịp, nên sai tôi đem lễ vật đến dâng, nếu được Tiên sinh giúp sức thì việc đại nghĩa ắt thành, xin tiên sinh vì cảnh lầm than của thiên hạ, ra cứu dân độ thế.

Pham Tăng bảo Quý Bố đứng dậy chỉ ghế mời ngồi và nói:

– Việc đồ vương định bá không thể quyết định trong chốc lát được. Túc hạ đã đến đây, xin tạm trú nơi tệ xá, ngày mai sẽ bàn.

Quý Bố cứ quỳ mãi dưới đất năn nỉ:

– Hạng tướng quân tôi mong được Tiên sinh chẳng khác nắng hạn trông mưa, lòng nóng như đốt, xin Tiên sinh vì cảnh điêu linh của muôn dân, đem tài cứu vớt, thiên hạ sẽ mang ơn Tiên sinh không nhỏ.

Phạm Tăng thấy Quý Bố năn nỉ quá, bất đắc dĩ phải nhận lời.

Tối hôm ấy Phạm Tăng bấm độn xem vận mệnh nước Sở, bỗng thở dài lẩm bẩm:

– Thôi! Ta lầm rồi! Sở không phải chân mệnh, khó lòng giúp nên công. Nhưng kẻ trượng phu đã nói một lời không thể thay đổi.

Hôm sau, Phạm Tăng thu dọn hành lý, cùng đi với Quý Bố đến giúp Hạng Lương.

Hạng Lương hay tin sửa sang áo mão, ra ngoài năm dặm đón rước vào đại trại, và nói:

– Lương tôi nghe tiếng Tiên sinh đã lâu, lòng khao khát, ngặt bận rộn việc quân, chưa đến bái yết được. Nay Tiên sinh không nỡ bỏ kẻ ngu hèn này đến đây dạy bảo, thật Lương tôi thỏa chí bình sinh.

Phạm Tăng đứng lên nói:

– Dòng dõi tướng quân mấy đời thờ nước Sở, nay vì dân khởi nghĩa, thiên hạ ai chẳng nức lòng. Tăng này dẫu tuổi già trí cạn, được tướng quân đoái tưởng, quyết tận tâm mưu tính nghiệp vương, để đền ơn tri ngộ.

Từ đó Hạng Lương cùng Phạm Tăng ngày đêm bàn tính việc quân cơ, rất tương đắc.

Một hôm Hạng Lương sai người đi dò thám tin tức Trần Thắng.

Quân thám thính về báo:

– Trần Thắng bị tướng Tần là Chương Hàm đánh bại, chạy về đất Nhữ Âm, bị tên Trang Giả giết chết. Chư hầu đều giải tán cả. Quân Chương Hàm hiện còn đóng ở Nam Dương.

Hạng Lương thất kinh, nói:

– Ta họp chư hầu cốt để giúp Trần Thắng đánh Tần, ngờ đâu Trần Thắng lại tử trận rồi. Quân ta không nên khinh thường kinh động.

Ðoạn, mời Phạm Tăng đến thương nghị.

Phạm Tăng nói:

– Trần Thắng là hạng tầm thường, chỉ tham lợi nhỏ mà không thấy được đại cuộc. Dẫu sống cũng chẳng làm được trò gì.

Hạng Lương hỏi:

– Thế nào là lợi nhỏ, thế nào là đại cuộc?

Phạm Tăng nói:

– Phàm kẻ mưu đại cuộc trước hết phải chinh phục lòng dân. Trong lúc muôn dân ly tán, không phân tính được chân, thiện, ác, lẽ ra Trần Thắng phải tìm dòng dõi vua Sở trước kia lập lên để tỏ ra mình vì đại nghĩa, đàng này Trần Thắng tự lập mình, cho mọi người nghi ngờ hành động của mình, rõ là kẻ bất trí.

Hạng Lương nghe Phạm Tăng nói, ngẩn người một lúc, rồi hỏi:

– Việc thất bại của Trần Thắng có ảnh hưởng gì đến đường tiến thủ của chúng ta chăng?

Phạm Tăng đáp:

– Dĩ nhiên đó là một bài học. Cứ như tướng quân khởi nghĩa chuyến này, dân chúng đâu đâu cũng hưởng ứng, vì tin chắc rằng tướng quân dòng dõi tôi thần nước Sở, tất sẵn lòng lập con cháu vua Sở lên làm vua. Mà như thế là chính nghĩa. Danh chánh ngôn thuận là một sức mạnh tuyệt đối, thắng bạo lực.

Hạng Lương cho là phải, liền dùng Phạm Tăng làm quân sư, sai người đi tìm con cháu vua Sở đem về lập lên ngôi.

Bọn thủ hạ đi tìm mãi không thấy tông tích con cháu vua Sở đâu cả.

Hạng Lương tức giận sai Chung Ly Muội dẫn một đám thủ hạ đi tìm.

Chung Ly Muội nói với bọn thủ hạ:

– Nước Sở từ khi bị nhà Tần diệt, con cháu ly tán, nếu còn thì nay cũng đổi họ tên, lẩn trốn nơi hoang dã, khó mà tìm được.

Ðoạn, cùng với bọn tùy tùng cất bước, lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm mà vẫn chưa tìm ra tông tích.

Một hôm, đi đến địa phận Nam Hoài, thấy một lũ chăn dê đang đuổi đánh một đứa trẻ đồng bọn.

Ðứa trẻ bị đánh ấy mặt mũi khôi ngô, trán cao, vai rộng, không phải như những đứa trẻ tầm thường, Chung Ly Muội gọi đứa trẻ ấy lại, hỏi:

– Tại sao chúng lại xúm nhau đánh mày như thế?

Ðứa trẻ đáp:

– Tôi vốn không nhà cửa.., mẹ cha, ở làm con nuôi cho nhà Vương Xã trưởng, vì vậy chúng nó khi dễ. Vừa rồi tôi nói với chúng nó rằng: “Chúng bây dẫu có mẹ cha, nhà cửa, nhưng là con nhà tầm thường, ta đây tuy không nhà cửa, mẹ cha, nhưng là dòng dõi nhà vua. Chúng cho tôi nói láo, xúm nhau đuổi đánh.

Chung Ly Muội nghe nói, có ý mừng thầm, hỏi vội:

– Em nói em là con cháu nhà vua, vậy quê quán em ở đâu?

Ðứa bé ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

– Tôi từ nhỏ lưu lạc đó đây, nay cũng không nhớ đâu là quê quán.

Muội hỏi vặn mãi, đứa bé sợ hãi bỏ chạy, Muội nắm áo kéo lại nói:

– Ðừng sợ! Ta muốn hỏi để biết rõ mà giúp đỡ em đó thôi.

Ðứa bé đứng trù trừ một lúc, rồi mới nói:

– Tôi năm nay mười ba tuổi, đến đây đã tám năm rồi. Mẹ tôi nói tôi là cháu đích tôn vua Hoài Vương nước Sở.

Ðứa bé nói chưa cạn lời, Chung Ly Muội đã truyền bọn tùy tùng bế đứa bé bỏ lên lưng ngựa thẳng đến nhà Vương Xã trưởng.

Vương Xã trưởng thấy quân lính đến nhà ồ ạt, sợ liền quỳ trước cửa rên rĩ:

– Tôi là kẻ tiều phu thảo dã, không rõ phép nước chẳng hay có điều gì lầm lổi xin các ngài dung thứ!

Chung Ly Muội đặt đứa bé lên giường cao ngồi rồi nói:

– Hãy mời người mẹ đứa trẻ này ra đây cho ta nói chuyện.

Xã trưởng vâng lời chạy xuống bếp thay quần áo cho bà lão rồi dắt lên yết kiến Chung Ly Muội.

Chung Ly Muội hỏi lai lịch, bà lão ban đầu sợ sệt tìm lời chối quanh, nhưng sau thấy Chung Ly Muội một mực kính cẩn, liền lấy ra một chiếc áo lót mình đã cũ, đưa cho Chung Ly Muội xem.

Chung Ly Muội thấy trên áo có nét chữ, nhưng không rõ là chữ gì, bèn giơ lên trời xem, mới đọc được. Dòng chữ viết:

” Cháu đích tôn vua Hoài Vương nước Sở tên Mễ Tâm, Phu nhân Thái tử nước Sở là Vệ Thị “.

Dưới dòng chữ có đóng dấu quốc bảo của nước Sở.

Chung Ly Muội xem xong mừng rỡ, gọi Xã trưởng nói:

– Ông hãy thay áo quần sạch sẽ cho đức Ðiện hạ, rồi cùng tôi đưa đức Ðiện hạ đến hội kiến Hạng tướng quân, ông sẽ được trọng thưởng.

Vương Xã trưởng mừng rỡ, lấy quần áo cho Mễ Tâm thay rồi theo Chung Ly Muội đến Hoài Tây.

Hạng Lương hay tin, hội cả văn võ ra ngoài ba dặm tiếp đón, rồi tôn Mễ Tâm lên làm vua hiệu là Hoài Vương, Vệ Thị làm Vương Thái hậu.

Hoài Vương phong Hạng Lương làm Võ Tín Quân, Hạng Vũ làm Ðại Tư Mã phó tướng quân, Phạm Tăng làm quân sư, Quý Bố và Chung Ly Muội làm đô kỵ, Anh Bố làm thiên tướng quân, Hoàn Sở, Vũ Anh làm tán kỵ.

Bá quan văn võ thảy đều được hưởng hàm ân.

Còn Vương Xả trưởng được thưởng năm mươi lạng vàng, cho về quê quán.

Ngày hôm sau, có tướng nước Sở tên Tống Nghĩa đang mộ quân ở Giang Hạ, hay tin Hạng Lương lập con cháu nước Sở, liền dẫn ba vạn quân đến quy phục.

Hoài Vương phong Tống Nghĩa làm Khanh Tử Quán Quân, cùng với Hạng Vũ thống lãnh binh mã đi đánh Tần.

Tống Nghĩa bàn với Hạng Vũ:

– Hoài Tây tuy là đất Sở, nhưng đóng đô không tiện. Nay Trần Anh hiện đang đồn quân ở Vu Thai, nơi đó địa thế hiểm trở, lúc tiến có thể đánh, lúc lui có thể giữ, ta nên đến đó chiêu dụ Trần Anh lấy Vu Thai làm căn bản để xử sự.

Hạng Vũ khen phải, liền vào tâu với Hoài Vương, rồi chỉnh đốn ba đội quân, chia làm ba đạo, kéo thẳng đến Vu Thai.

Ðạo tiên phong vừa kéo đến sông Hoài, thấy phía trước có bụi cát bay mịt mù, rồi một toán quân ồ ạt kéo đến.

Hạng Lương và Phạm Tăng cùng dừng ngựa lại xem, thấy tinh kỳ tề chỉnh, kiếm kích huy hoàng.

Phạm Tăng giật mình, lẩm bẩm:

– Chao ôi! Toán quân uy nghi như thế, kẻ cầm đầu phải là bậc siêu quần.

Vừa nói dứt lời, chợt thấy một tướng cỡi ngựa vọt tới trước đầu quân, mũi phụng, mặt rồng hào quang sáng chói.

Phạm Tăng thở dài, than:

– Ta lầm rồi! Chính người này mới là vị chân chúa.

Hồi 5 – Ðánh Chương Hàm, Võ Tín bại binh

Người cầm đầu toán quân vừa xuất hiện chính là Lưu Bang.

Từ khi Lưu Bang chém rắn ở Mang Ðãng, chiếm Phong Bái làm căn cứ, hợp quân hơn mười vạn, tiếng dậy bốn phương.

Nay nghe Hạng Lương khởi binh đánh Tần, liền cùng với Hạ Hầu Anh, Phàn Khoái, dẫn quân ra đón, định hiệp lực đánh Tần.

Hạng Lương và Phạm Tăng ra tiếp rất vui vẻ. Hai đội quân họp lại qua sông Hoài thẳng đến Vu Thai.

Trần Anh hay tin kéo quân ra tiếp đón.

Hạng Lương đem đại binh vào thành thống suất binh mã, rồi chia ra một đội, tự mình điều khiển, đến đóng nơi bờ sông Tứ Thủy để làm thế ỷ giác.

Từ đấy vua Hoài Vương đóng đô ở Vu Thai, quân thần đông đảo, quân sĩ kiêu hùng, các hào kiệt bốn phương lần lượt đến đầu phục mỗi lúc một đông hơn.

Một hôm, có người ở Hoài Âm tên Hàn Tín, chống gươm đến bờ sông Tứ Thủy, yết kiến Hạng Lương.

Hạng Lương thấy Hàn Tín gầy gò, không muốn dùng.

Phạm Tăng nói:

– Người này tuy dáng điệu gầy gò song chứa đựng một tiềm tàng về thao lược. Ngài chớ nên bỏ. Vả lại, đang lúc chúng ta chiêu hiền đãi sĩ, bỏ rơi một người có thể làm phật ý hàng trăm hào kiệt bốn phương.

Hạng Lương nể lời Phạm Tăng, cho Hàn Tín làm chấp kích lang, lưu ở dưới trướng để sai khiến.

Hàn Tín là người Hoài Âm. nhà nghèo, thường câu cá ở sông Hoài, nhưng nghề câu không đũ nuôi sống, nhiều bữa phải nhịn đói suốt ngày.

Bên cạnh nhà có người phiếu mẩu (thợ giặt) thấy Hàn Tín đói, thương dẫn về nhà cho ăn.

Hàn Tín cảm nghĩa, nói:

– Ngày sau tôi sẽ đền ơn bà.

Người phiếu mẫu mắng:

– Sức vóc đàn ông mà nuôi thân không nổi. Ta thương tình dẫn về cho ăn, có mong vì sự đền ơn của kẻ bất tài.

Tuy không vui nhưng Hàn Tín cũng lặng thinh

Lại một hôm, Hàn Tín ra chợ bán cá, có một anh hàng thịt thấy Hàn Tín quá nghèo nàn dùng lời khinh bỉ:

– Này Tín, mày kiếm không đủ cơm nuôi bữa, cái thân trai như mày thực đê tiện, thế mà ngày nào cũng đeo gươm đi khắp phố phường để làm gì? Mầy có dám đâm ta không? Nếu không dám thì quăng gươm xuống luồn trôn ta đây, chớ làm ra mặt hào kiệt!

Hàn Tín nghe nói đỏ mặt. Sau một lúc ngẫm nghĩ Tín đành chịu khúm núm luồn qua trôn gã hàng thịt.

Cả chợ trông thấy cười ồ, chê Tín là đứa nhút nhát.

Duy có một người tên Hứa Phụ vốn giỏi nghề xem tướng, nói nhỏ với Tín:

– Anh có tướng Vương hầu, tuy khổ cực, song ngày sau gặp cơ hội có thể phú quý tột bực.

Hàn Tín cười nhạt, đáp:

– Tấm thân khốn nạn, tài hèn không đủ nuôi thân có đâu nói đến chuyện phú quý.

Kịp lúc Hạng Lương khởi binh đánh Tần, Hàn Tín tìm đến tiến thân, không ngờ Hạng Lương khinh bỉ cho làm chức chấp kích lang lẫn lộn trong đám quân hầu.

Tuy buồn bực nhưng Hàn Tín không lấy thế làm bất mãn.

Quân Sở đóng nơi Vu Thai độ vài tuần, rồi bắt đầu tiến đánh các vùng lân cận. Ðánh đến đâu được đến đấy, uy danh lừng lẫy, tiếng đồn đến Hàm Dương, Triệu Cao lo sợ, cho gọi Chương Hàm đến nói:

– Hiện nay thiên hạ loạn lạc, giặc giã nổi lên như ong, Hạng Lương lập vua nước Sở, mua chuộc lòng dân, lại họp với quân Lưu Bang đóng ở Vu Thai, mười phần lợi hại. Tướng quân thống suất binh mã, thế mà không chịu đem quân đi đánh dẹp là ý làm sao?

Chương Hàm nói:

– Mấy ngày nay được tin cáo cấp, tôi toan vào bệ kiến xin xuất quân, nhưng Thừa Tướng đòi hội nghị, thành thử chậm trễ. Vậy để tôi ra quân dẹp loạn, không trì hoãn.

Nói xong, kiếm điểm quân mã, cùng với Tư Mã Hân, Ðổng Ể và Lý Do kéo ba mươi vạn binh ròng ra cửa Hàm Cốc, thẳng đến phương Ðông đánh nước Ngụy trước, rồi sau mới đánh Sở.

Quân Ngụy thấy quân Tần quá mạnh, không dám giao phong, vội sai sứ đến hai nước Tề và Sở cầu cứu.

Vua nước Tề là Ðiền Chiêm, đích thân dẫn quân đi cứu Ngụy.

Trong lúc đó thì nước Lỗ vừa hạ được Trương Dương, thu được hàng tướng là Hạng Minh và ba vạn quân mã.

Hoài Vương liền sai Hạng Minh đem quân sang đất Ngụy đóng đồn để giữ thanh thế.

Chương Hàm một mặt sai Tư Mã Hân chống quân Tề, một mặt sai Ðổng Ể cự với quân Sở, còn mình dẫn đại binh đi hậu vệ, phòng cứu ứng.

Tư Mã Hân kéo quân đến, gặp đạo quân vua Tề là Ðiền Chiêm, liền chia quân làm hai đạo, phục hai bên đường, rồi dẫn một toán khinh binh đến khiêu chiến.

Ðiền Chiêm thấy quân của Tư Mã Hân quá ít, bèn đốc quân hỗn chiến.

Ðánh được vài mươi hiệp Tư Mã Hân giả thua bỏ chạy, Ðiền Chiêm đuổi theo được vài dậm, bỗng nghe một tiếng pháo lệnh, tức thì quân phục hai bên đường túa ra đánh. Ðiền Chiêm biìết mình mắc mưu, vội thu quân về, chẳng ngờ quân Tần dùng cung tên bắn loạn xạ, Ðiền Chiêm trúng tên tử trận. Tư Mã Hân chém lấy thủ cấp.

Trong lúc đó Ðổng Ể kéo quân đánh quân Sở gặp tướng Hạng Minh trên đất Ngụy.

Quân Ðổng Ể từ xa kéo đến, binh tướng mỏi mệt chưa kịp nghỉ ngơi thì bị Hạng Minh đến đánh. Ðổng Ể không cự nỗi, phải kéo quân bỏ chạy ngoài ba mươi dặm mới dám hạ trại.

Ðóng quân chưa yên thì Hạng Minh lại kéo đến truy kích, Ðổng Ể bị thua to, thu góp tàn quân chạy trở về.

Trong cơn nguy cấp may gặp toán hậu quân của Chương Hàm đến kịp.

Chương Hàm sai Lý Do dẫn một toán quân ra tiếp cứu.

Hạng Minh đuổi đánh Ðổng Ể suốt ngày đêm, người mỏi mệt nên giao chiến với Lý Do chưa đầy ba hiệp, bị Lý Do chém rơi đầu.

Chương Hàm đắc thắng, họp ba đạo quân làm một đến vây thành vua Ngụy.

Ngụy vương hay tin quân cứu bại trận, cùng Thái tử Ngụy Báo bỏ thành, thoát ra cửa Tây chạy trốn.

Chương Hàm đem quân vào thành phủ dụ nhân dân, rồi kéo quân đến đóng đồn nơi Ðông A.

Tàn quân của Hạng Minh chạy về cáo cấp với Hoài Vương.

Hoài Vương kinh hãi, triệu các tướng hội kiến.

Hạng Lương tâu:

– Hạ thần xin lãnh một đạo quân đến lấy đầu Chương Hàm trước, rồi sẽ lấy đất Tần sau.

Hoài Vương chuẩn tấu Hạng Lương dẫn Hạng Vũ, Phạm Tăng và một số tướng cận, thống suốt hai mươi vạn tinh binh, kéo đến Ðông A cách thành ba mươi dặm hạ trại.

Rạng ngày, Hạng Lương sai Hạng Vũ ra khiêu chiến. Hạng Vũ bày binh bố trận xong thúc ngựa đến bên thành gọi lớn:

– Chưong Hàm! Hãy ra đây nạp mạng!

Chương Hàm nổi giận lên ngựa khai thành.

Hạng Vũ nói:

– Vua Tần nhà bây vô đạo, trăm họ than vãn. Kẻ nịnh thần Triệu Cao lung lạc, chẳng bao lâu nhà Tần bị diệt, điều ấy đã hiển nhiên, cớ sao chúng bây không rõ.

Chương Hàm nói:

– Ta đem binh thiên triều dẹp loạn, đi đến đâu trúc chẻ ngói tan. Chúng bay chỉ là bọn giặc cỏ, tài cán gì mà phách lối.

Hạng Vũ nổi giận cùng Chương Hàm giao chiến.

Ðánh được ba mươi hiệp, Chương Hàm đuối sức bỏ chạy, Hạng Vũ giục ngựa đuổi theo ước mươi dặm, bỗng gặp tên kiện tướng của nhà Tần là Quý Do đem một toán quân đến chặn đường, giải thoát cho Chương Hàm.

Hạng Vũ hét lên một tiếng, Quý Do cả người bủn rủn, lùi ngựa hơn bốn mươi thước, Hạng Vũ giục ngựa đuổi theo. Tướng Tần Tư Mã Hân và Ðổng Ể trông thấy vội tiếp cứu, nhưng đánh chỉ mới ba hiệp đã phải bỏ chạy.

Hạng Vũ quyết đuổi theo bát sống, Hạng Lương sợ Hạng Vũ vào sâu nội địa của địch e nguy hiểm, liền sai Hoàn Sở và Anh Bố ra lệnh thu quân.

Chương Hàm thua to, lui về hơn năm mươi dặm mới dám hạ trại, và bàn với các tướng:

– Hạng Vũ sức mạnh như thần nếu dùng sức khó thắng nổi. Nay phải cố thủ, chờ cho quân Sở trễ biếng, thừa cơ đánh bất ngờ mới phá được.

Các tướng cho là phải. Từ đó, Chương Hàm cố thủ, không chịu ra quân.

Hạng Vũ dẫn quân trở về yết kiến Hạng Lương, và nói:

– Chương Hàm vừa thua một trận sợ uy quân ta cố thủ không dám ra quân. Ngàv mai quân ta chia làm ba đạo đánh úp ba mặt mới có thể tiêu diệt trại địch.

Hạng Lương gật đầu nói:

– Chương Hàm là một lão tướng, tuổi già sức yếu, không làm nên việc gì.

Liền mở tiệc khao thưởng ba quân, hẹn ngày mai xuất quân đột chiến.

Rạng ngày, Hạng Lương sai Hạng Vũ lãnh đạo trung quân, Anh Bố lãnh đạo tả quân kéo về hướng Tây, Lưu Bang lãnh đạo hữu quân kéo về hướng Ðông, ba đạo quân đánh trống reo hò, áp vào trại địch.

Chương Hàm thấy ba đạo quân kéo đến, liệu sức địch không nổi liền nhổ trại rút lui.

Ba đạo quân Sở đuổi theo truy kích, đánh quân Tần đứt làm ba đoạn.

Chương Hàm chạy ra Ðịnh Ðào, Tư Mã Hân, Ðổng Ể chạy ra Bộc Dương, Quý Do chạy ra Ung Khâu.

Hạng Vũ đuổi theo Quý Do vừa đến Ung Khâu thì chém được Quý Do, quân Tần bị chết thây phơi chật đất.

Lưu Bang đuổi Tư Mã Hân chay đến Bộc Dương, Tiêu Hà bàn:

– Giặc cùng không nên đuổi gấp e chúng liều chết chiến thắng ta. Chi bằng cứ đóng quân nơi Bộc Dương tùy cơ tác chiến.

Lưu Bang nghe lời, đóng quân lại không đuổi nữa.

Còn Anh Bố đuổi Chương Hàm đến Ðịnh Ðào, Chương Hàm đóng cửa thành thủ thế. Anh Bố hạ trại xong, cởi ngựa đến dưới thành khiêu chiến suốt mấy ngày, Chương Hàm nhất định không xuất quân. Anh Bố chưa biết tính sao, còn đang bối rối, bỗng có tin Hạng Lương kéo binh đến tiếp ứng.

Anh Bố mừng rỡ, ra khỏi trại tiếp đón.

Hạng Lương nói:

– Chương Hàm thế cùng sức yếu, chạy đến thành này lánh nạn, ta phải tiêu diệt ngay, nếu để lâu ngày cứu binh đến thì khó trừ đặng.

Anh Bố nói:

– Chương Hàm tuy thất trận, song binh lực còn mạnh, đánh gấp khó thắng. Ý tôi muốn đóng quân lại đây chờ cơ hội thuận tiện sẽ lấy.

Hạng Lương gắt:

– Sao ngươi làm tướng mà nhát gan như vậy. Thế quân ta đang mạnh không diệt địch còn đợi cơ hội nào?

Nói xong chia quân làm bốn đạo, đánh trống reo hò, dùng thang bắc lên mặt thành công hãm.

Chương Hàm ở trên thành trông thấy khiến quân dùng tên lửa bắn ra, bao nhiêu thang đều cháy hết.

Quân Sở chết rất nhiều, đành phải rút lui về trại.

Hạng Lương tức giận truyền đóng mấy trăm xung xa. Quyết phá thành cho được.

Xung xa đóng xong, vừa đem ra xung kích thì trên thành Chương Hàm lại truyền lấy dây xúc xích buộc vào những dùi sắt ném xuống. Bao nhiêu xe đều gãy hết.

Hạng Lương thất bại, vừa giận vừa buồn, ngày đêm thẫn thờ tính chưa ra kế.

Bấy giờ có viên chấp kích lang là Hàn Tín thấy vậy vào thưa:

– Việc quân tấn thối không nên diên trì. Nay quân ta phá thành không được mà cứ đóng mãi dưới thành, đêm ngày trễ biếng, phỏng như quân địch dò biết được, nửa đêm kéo ra cướp trại thì nguy! Ðánh thành là việc nhỏ, phòng bị là việc lớn, xin tướng quân thận trọng.

Hạng Lương hét lớn.

– Ta từ lúc khởi binh nơi Cối Kê uy danh lừng lẫy. Chương Hàm là đứa thất phu, nghe đến tên ta đã vỡ mật, còn dám mở cửa thành đem binh ra cướp trại ư! Ngươi là một tên quân hầu biết gì mà nói nhảm.

Tống Nghĩa thấy vậy cũng can:

– Hàn Tín tuy là tên quân hầu nhưng lời nói đầy thao lược, xin tướng quân chớ khi dễ. Kẻ thắng mà tự kiêu là bắt đầu nếm mùi thất bại đó.

Hạng Lương nghe Tống Nghĩa nói càng giận thêm.

Ðêm ấy, Chương Hàm dò biết quân Sở không phá thành được, sanh ra chán nản, trễ biếng, liền truyền lệnh ba quân ăn uống thật no, nai nịt chỉnh tề, im hơi lặng tiếng mở cửa thành kéo đến trại Sở.

Quân Sở bấy giờ đang ngủ say, bỗng nghe một tiếng pháo lệnh, bốn bề tiếng reo ó nổi lên vang trời dậy đất.

Hạng Lương say rượu, nằm mê mệt, không biết gì. Bọn tả hữu phải vực ra ngoài viên môn. Nhưng còn cháng voáng chưa lên ngựa kịp đã bị tướng Tần là Tôn Thắng xông đến chém một nhát rụng đầu.

Người sau có thơ nói đến Hạng Lương:

Vì nước vì dân quyết rửa thù

Phất cờ khởi nghĩa tíếng thiên thu

Sa cơ một phút, dành chung kiếp

Làm kẻ trung thần thiếu trí mưu

Hạng Lương bị giết, quân Sở rối loạn, dày xéo lên nhau mà chạy.

Tống Nghĩa, Anh Bố hết sức chống giữ nhưng không nổi, bất đắc dĩ phải bỏ trại thoát thân.

Chương Hàm toàn thắng, kéo quân thẳng đến Trần Lưu đóng đồn, thanh thế lừng lẩy.

Lưu Bang hay tin Hạng Lương thất trận vội kéo quân đến cứu ứng, nhưng không kịp, đành phải cùng Tống Nghĩa thu nhặt tàn quân kéo đến Ung Khâu rồi báo tin cho Hạng Vũ biết.

Hạng Vũ được tin Hạng Lương bỏ mình, hét lên một tiếng, ngã xỉu xuống đất.

Bọn ta hữu vội vàng đỡ dậy. Hồi lâu, Hạng Vũ mới tỉnh, vừa khóc vừa nói:

– Chú ôi! Cháu từ lúc tuổi thơ, cha mẹ mất sớm được chú nuôi dưỡng nên người. Nay sự nghiệp chưa thành, ơn chú chưa đền mà chú đã bị hại, thù này cháu quyết chẳng đội chung trời.

Các tướng đều xúm lại khuyên giải, Hạng Vũ mới nguôi dần.

Phạm Tăng nói:

– Làm tướng cầm quân ra trận chết sống lẽ thường. Nay Vũ Tín Quân dẫu qua đời, nhưng sự nghiệp càng ngày càng vững chắc. Tưóng quân cần nối chí lớn ấy, lo việc phục hưng, đem lại vinh quang cho dòng giống. Ðược vậy người chết dưới suối vàng cũng hài lòng, và nhiệm vụ báo thù của tướng quân mới tròn được.

Hạng Vũ lau nước mắt đứng dậy tạ ơn, và nói:

– Tôi xin tuân lời chỉ dạy của tiên sinh.

Nói xong, khởi quân thẳng đến Ðịnh Ðào, hội với Tống Nghĩa và Lưu Bang hạ lệnh cho ba quân để khăn trắng, thu hài cốt Vũ Tín Quân tẩn liệm an táng nơi Ðịnh Ðào, rồi kéo quân đến Trấn Lưu để đánh Chương Hàm báo thù.

Nhưng, quân Sở chưa đến nơi đã được tin Chương Hàm dẫn quân sang sông đánh Triệu.

Vua Triệu là Hấp, cùng với hai tướng Trần Dư, Chương Nhĩ đem quan ra thành cự địch, nhưng đánh không lại phải lui về Cự Lộc, đóng cửa thành cố thủ và cho người sang cầu cứu nước Sở.

Tống Nghĩa bàn với Hạng Vũ:

– Chương Hàm thắng luôn mấy trận, thanh thế lừng lẫy, quân sĩ đang hăng. Còn ta, Vũ Tín Quân mới mất, vua Hoài Vương cô lập nơi Vu Thai, nếu tiến binh e bất tiện. Chi bằng trở về Thiên Ðô, qua Bành Thành để giữ thế thủ, rồi sẽ liệu sau.

Hạng Vũ đem ý ấy bàn với các tướng. Mọi người đều đồng ý.

Hạng Vũ ra lệnh thu quân trở về Vu Thai.

Vua Hoài Vương được tin Vũ Tín Quân tử trận, lòng thương xót vô cùng, cả ngày chỉ ngồi than thở.

Hạng Vũ tâu:

– Quân ta vừa bị bại, thế quân bị giảm yếu, nay phải củng cố thế thủ trước rồi sẽ tính đến thế công, xin bệ dời đô qua Bành Thành để làm thế ỷ giác, chớ nên chậm trễ.

Hạng Vũ nói vừa dứt lời, có tin nước Triệu sai sứ đến cầu cứu.

Hoài Vương cho vào yết kiến, sứ Triệu tâu:

– Quân Tần ba mươi vạn, vây thành Cự Lộc ngót một tháng trời, trong thành lương đã hết, quân sĩ mỏi mòn, chẳng bao lâu thành bị vỡ, xin đại vương thương tình cứu cấp.

Hoài Vương liền phong Tống Nghĩa làm đại tướng, Hạng Vũ làm phó tưóng, Phạm Tăng làm quân sư, thống lãnh hai mươi vạn quân đi cứu Triệu.

Quân Sở đến đóng nơi An Ðương cho người thám thính.

Qua hai ngày, Tống Nghĩa vẫn cho án binh bất động không chịu ra quân, lại sai con là Tống Tương sang làm tướng nước Tề.

Hạng Vũ lấy làm lạ, nói:

– Thành Cự Lộc sắp mất, quân ta có nhiệm vụ đến cứu, cớ sao tướng quân lại án binh bất động.

Tông Nghĩa nói:

– Quân Chương Hàm vây thành Cự Lộc đã lâu, thể nào cùng phải trễ biếng. Ta cứ đóng quân nơi đây chờ xem cái cơ suy nhược của nó. Lúc nào quân địch mỏi mệt, ta chỉ đánh một lần là xong.

Hạng Vũ hậm hực bước ra, đợi hơn một tuần cũng không thấy Tống Nghĩa động binh, hoặc có kế hoạch nào khác, ngày đêm chỉ uống rượu, say sưa.

Hạng Vũ vào nói với Tống Nghĩa:

– Quân Tần vây Triệu mười phần nguy cấp. Tướng quân cứ đóng quân nơi đây, ngày đêm say sưa làm sao thực hiện được trọng trách của mình?

Tống Nghĩa cười nhạt nói:

– Ví phỏng mặc áo dầy, cầm giáo nhọn, xông pha trận địa thì tôi không bằng ông, nhưng ngồi mà lập mưu, bày chước, chắc ông còn kém tôi.

Nói xong, Tống Nghĩa hạ lệnh cho ba quân:

– Ðâu đó phải im lìm, chớ nên hành động gì cả. Ai trái lệnh chém đầu.

Rồi đó, Tống Nghĩa lại rượu chè say sưa như cũ.

Bấy giờ vào tiết mùa đông, trời mưa dầm, rét mướt, quân sĩ đói khát, chết chóc rất nhiều.

Một hôm, Hạng Vũ lén vào trong quân để dò xem tình hình thấy quân sĩ ai cũng đem lòng oán vọng.

Hạng Vũ lập tức thẳng đến dinh Tống Nghĩa, nghiêm sắc mặt, nói:

– Tướng sĩ đều đem thân liều chết đánh Tần, bao nhiêu sinh mạng gởi vào tay tướng quân, thế mà tướng quân cứ ngồi yên hưởng lạc, không kể đến ai! Trên phụ lòng vua, dưới gây oán thù với tướng sĩ, người như vậy không đáng làm tôi xã tắc.

Tống Nghĩa nổi giận, chỉ vào mặt Hạng Vũ nói:

– Ta giữ quyền Tướng ấn, nhà người phải phục tùng,lại dám dùng lời nhục mạ ta sao?

Hang Vũ hét lên một tiếng, rút gươm chém Tống Nghĩa một nhát bay đầu rồi nói lớn:

– Tống Nghĩa đưa con sang làm tướng nước Tề, lại không tuân mệnh vua cứu Triệu, rõ là đứa phản nghịch.

Chư tướng thấy Hạng Vũ giết Tống Nghĩa đều mừng rỡ, đồng thanh nói:

– Ngươi khởi xướng lập nước Sở là tướng quân. Nay tướng quân đã giết bỏ kẻ phản nghịch thật hợp với lòng công chúng

Tướng sĩ đều một lòng tôn Hạng Vũ lên làm Thượng tướng.

Hạng Vũ nói:

– Ðiều ấy phải được mệnh vua. Bây giờ cần nhất trừ cho tuyệt loài phản phúc.

Bèn sai tướng đuổi theo bắt Tống Tương để giết.

Tống Tương sang nước Tề, còn đương tìm cách tiến thân, ở nơi quán trọ, tướng Sở tìm được chém đầu đem về nạp. Hạng Vũ làm sớ kể tội cha con Tống Nghĩa dâng về triều. Hoài Vương sai Chung Ly Muội cầm cờ Tiết đến phong Hạng Vũ làm Thượng tướng.

Từ đó, uy phong Hạng Vũ đồn khắp chư hầu.

Mọi việc đã xong. Hạng Vũ sai Anh Bố làm tiên phong, kéo quân sang sông, còn mình điểm quân đi hậu tập.

Chương Hàm nghe tin liền sai Tư Mâ Hân và Ðổng Ể kéo quân đóng nơi phía Nam để ngăn địch.

Anh Bố đến nơi, hai tướng xông ra chận đánh.

Ðánh vừa mới được ba mươi hiệp, đạo hậu quân nước Sở kéo đến, hai tướng Tần thấy Hạng Vũ thất kinh bỏ chạy. Hạng Vũ đốc binh đuổi theo cướp trại, đoạt lương thực rất nhiều, Tư Mã Hân và Ðổng Ể thoát chết chạy về miền Hà Bắc lánh nạn, đợi chờ tình thế êm dịu mới dám lần về báo tin cho Chương Hàm hay.