Tầm Tần ký – Chương 285: Tiếp thu Hàm Dương

Ðêm ấy Hạng Thiếu Long vào gặp tiểu Bàn, tỏ ý muốn phái Kinh Tuấn dẫn người về Hàm Dương để giúp cho Ðằng Dực đối phó Lã Bất Vi.

Tiểu Bàn từ chối không được, chỉ đành chấp thuận. Nhờ đó Hạng Thiếu Long có thể sắp xếp thuyền bè, không sợ ai nghi ngờ hoặc điều tra.

Ðến sáng hôm sau, Cầm Thanh đến gặp tiểu Bàn, bảo nhận được thông báo của thái hậu, muốn đến cung Ðại Trịnh ở mây ngày.

Tiểu Bàn không biết có trá ngụy, lại bị Cầm Thanh nài nỉ, chỉ đành chấp nhận.

Lúc ấy Cầm Thanh, Kỷ Yên Nhiên được tám chiến sĩ Ô gia giả thành tùy tùng hộ tống, hiên ngang rời khỏi cung Kỳ Niên, trên đường hội họp với Hạng Thiếu Long thì hóa thân thành tùy tùng của Kinh Tuấn, giấu xe ngựa ở chỗ kín xong thì ra khỏi thành lên thuyền.

Thuyền đi thuận dòng xuống phía hạ lưu, lại thêm thuận gió, chỉ nửa ngày thì đã đến Hàm Dương. Bọn họ đã hẹn nhau, chờ nửa canh giờ thì Ðằng Dực, Ðào Phương và Tiêu Nguyệt Ðàm chạy đến, thấy Cầm Thanh và Kỷ Yên Nhiên cùng quay về thì vui mừng ra mặt, sĩ khí tăng lên.

Ðằng Dực cười nói, “Tất cả đã sắp xếp xong, chỉ đợi thượng tướng quân quay về chủ trì đại cuộc.”

Hạng Thiếu Long mỉm cười vỗ vào tay Ðằng Dực nói, “Nhị ca lại trêu đệ, chắc là đang vui lắm đây! Lần này chúng ta chỉ có thể ở lại hai ngày, cho nên cần phải lập tức hành động.”

Kỷ Yên Nhiên hỏi Tiêu Nguyệt Ðàm, “Phía bên Đồ tổng quản có tin tức gì không?”

Tiêu Nguyệt Ðàm đáp, “Ðồ công cùng với hơn ba trăm người đã sắp xếp ổn thỏa, chỉ cần chúng ta thông báo một tiếng, ông ta sẽ lập tức hạ độc.”

Ðằng Dực nói, “Sự phối hợp về thời gian rất quan trọng, khi Đồ tổng quản hạ độc, chúng ta phải đoạt binh quyền của Hứa Thương, như vậy mới giúp cho Đồ tổng quản và người nhà của ông ta an toàn rời khỏi thành, lại không để cho Lã tặc thoát khỏi lòng bàn tay của ta.”

Tiêu Nguyệt Ðàm chép miệng, “Ðó chính là chỗ tuyệt vời của kế hoạnh hạ độc này, loại thuốc này dược tính rất mạnh, khi uống vào không đầy một khắc thì sẽ phát tác. Ðể nhiều người trúng độc, chỉ có thể hạ độc trước buổi cơm tối, nhưng có bao nhiêu người sẽ bị trúng độc, rất khó khẳng định.”

Kinh Tuấn nói, “Chỉ cần chúng ta bao vây trùng trùng phủ trọng phụ, không sợ Lã Bất Vi chạy trốn.”

Hạng Thiếu Long nói, “Ðồ tổng quản có biết lối ra vào cửa đường hầm bí mật trong phủ trọng phụ không?”

Tiêu Nguyệt Ðàm nói, “Khi lão tặc xây phủ, Đồ công không được trọng dụng, chỉ phụ trách mua nguyên vật liệu, cho nên không hề biết chuyện này.”

Hạng Thiếu Long nói, “Ðã là như thế, chúng ta chỉ đành phái người đặt các trạm canh gác ở ngoài thành! Trừ phi chúng ta có vương lệnh của bị vương trong tay, nếu không không thể cấm y rời khỏi thành. Tướng lĩnh của đô ky quân sẽ vì thế mà sinh nghi, cho nên chúng ta chỉ đành tự mình truy sát y.”

Rồi quay sang Cầm Thanh nói, “Thanh muội hãy cùng Ðào công quay về Ô phủ, xem thử nên dắt ai đi theo, còn những người khác thì cho giải tán, sau đó lập tức đến mục trường chờ đợi tin vui của chúng tôi.”

Cầm Thanh đã cảm nhận được không khí khẩn trương, cắn môi gật đầu.

Kỷ Yên Nhiên hỏi Ðằng Dực, “ở gần đây có nhìn thấy bóng dáng của kẻ địch hay không?”

Mọi người đều hiểu kẻ địch mà nàng nói chính là bốn vạn đại quân của úy Liêu, ánh mắt tập trung về phía Ðằng Dực.

Ðằng Dực nói với vẻ nghi hoặc, “Huynh cũng lấy làm lạ về chuyện này, bởi vì không thấy bóng dáng của bọn chúng.”

Tiêu Nguyệt Ðàm nói, “Giờ đây chúng ta phải chạy đua với thời gian, theo ta thấy đại quân của úy Liêu chắc là đang đóng ở một nơi nào đó trên thượng du, chỉ chờ lệnh của Doanh Chính, thì trong thời gian ngắn nhất có thể đến được Hàm Dương. Chỉ cần chúng ta hành động nhanh chóng, thì trước khi quân của úy Liêu đến, chúng ta đã an toàn rời khỏi đây.”

Hạng Thiếu Long yên lòng nói, “Thời gian hành động đã đến.”

Hạng Thiếu Long vẫn mang hình dáng bên ngoài của Ô Quả để vào thành, đến đô ky quan thuộc mới quay lại bộ mặt thật của mình, đồng thời gọi hơn một trăm tướng lĩnh của cấm vệ quân và đô ky quân đưa ra tấm hổ phù, bảo rằng phụng lệnh của bị quân, quay về để thống lĩnh ba quân trong thành, đề phóng có người làm loạn.

Các tướng đã nghe tin hai đảng Lã, Lao cấu kết, lại thêm Hạng Thiếu Long trước nay là đại tướng tâm phúc của Tiểu Bàn, thanh vọng của bản thân lại cao, lại thêm đưa ra tấm hổ phù, nào nghi ngờ y, ai nấy cũng thề chết tận trung.

Tất cả đã sắp xếp ổn thỏa xong, bọn Hạng Thiếu Long lập tức đến đô vệ quan quen thuộc.

Lúc này nhà nhà vừa mới lên đèn, trong thành rất yên bình, không hề biết có chuyện lớn sắp xảy ra.

Hạng Thiếu Long trước tiên hạ lệnh cấm vệ quân và đô ky quân bao vây quan thuộc trùng trùng, rồi mới dẫn tùy tùng và Ðằng Dực, Kinh Tuấn, Kỷ Yên Nhiên, Tiêu Nguyệt Ðàm vào trong.

Quân giữ cửa chưa kịp thông báo thì đã bị bọn họ chế phục. Lúc này Hứa Thương và các tướng đang nghị sự trong chủ đường, ngạc nhiên khi thấy Hạng Thiếu Long xông vào, chưa kịp phản ứng thì mấy chục cung nỏ đã chĩa thẳng vào Hứa Thương và thủ hạ lập tức biến sắc. Ngay cả cơ hội rút kiếm cũng không có. Sự việc xảy ra thật bất ngờ, y nghĩ Hạng Thiếu Long lẽ ra giờ này đang ở ưng Ðô.

Hứa Thương vẫn giữ bình tĩnh, trầm giọng hỏi, “Thượng tướng quân làm thế này là có ý gì?”

Hạng Thiếu Long chờ thuộc hạ tước xong vũ khí của bọn họ, rồi mới đưa ra tấm hổ phù nói, “Bổn soái phụng lệnh của bị quân đến đây tiếp quản đô vệ quân từ khắc này, ai dám không phục?”

Hứa Thương nhìn thấy tấm hổ phù, lập tức biết thế mình đã hết cho nên chủ đành im lặng.

Hạng Thiếu Long thấy khống chế được tình thế, hạ lệnh, “Hãy nhốt tất cả những kẻ khác vào trong nhà lao cho bổn soái, để một mình Hứa thống lĩnh ở đây.”

Khi chỉ còn một mình Hứa Thương, Hạng Thiếu Long ngồi vào ghế lệnh cho y ngồi xuống bên cạnh, Ðằng Dực và Kinh Tuấn thù giữ lấy binh phù thống lĩnh của Hứa Thương xong, vội vàng đi tiếp thu đô vệ quân.

Hứa Thương cười khổ nói, “Ngươi đã thắng.”

Hạng Thiếu Long bình thản nói, “Lịch sử đã định như thế, Hạng Thiếu Long này chỉ phụ trách chấp hành mà thôi, tù lúc Lã Bất Vi hạ độc giết chết tiên vương, số mệnh đã định trước y sẽ có kết quả thê thảm. Không biết Hứa huynh có quan tâm đến kết cuộc của mình không?”

Trong mắt Hứa Thương lướt qua tia hi vọng nói, “Thượng tướng quân chịu thả ta?”

Hạng Thiếu Long mỉm cười, “Hứa huynh chắc biết rằng tại hạ không phải là kẻ tàn nhẫn háo sát. Ngay cả Quản Trung Tà và tam tiểu thư ta cũng thả cho bọn họ đi. Lúc này chắc bọn họ đã đến biên giới nước Sở, cho nên giờ đây ta rất muốn biết tâm ý của Hứa huynh.”

Nghe tin Quản Trung Tà thất bại và được thả đi, Hứa Thương hoàn toàn sụp đổ, chép miệng, “Thượng tướng quân quả nhiên là vô địch thần tướng, rốt cuộc ngài muốn tại hạ làm thế nào?”

Hạng Thiếu Long nói, “Chỉ cần Hứa huynh cho ta biết Lã Bất Vi đến khi nguy cấp thì bỏ chạy về hướng nào, ta sẽ lập tức đưa Hứa huynh và người nhà rời khỏi thành.”

Khi Hứa Thương đang còn trầm ngâm do dự, Hạng Thiếu Long nói, “Nếu Hứa huynh còn muốn nghe lời ca tiếng hát của Lan Cung Viên thì phải lập tức quyết định.”

Kỷ Yên Nhiên dịu dàng nói, “Lã Bất Vi dù cho thoát khỏi thành, rốt cuộc cũng phải chết, Hứa huynh đừng bỏ đi cơ hội tốt này.”

Tiêu Nguyệt Ðàm bình thản nói, “Bổn nhân là Tiêu Nguyệt Ðàm, chắc Hứa huynh đã nghe qua tên của bổn nhân!”

Hứa Thương ngạc nhiên quay nhìn Tiêu Nguyệt Ðàm nói, “Chẳng phải ông đã chết rồi sao?”

Tiêu Nguyệt Ðàm gằn giọng nói, “Nếu không giả chết, Lã Bất Vi nào chịu tha cho ta? Ngươi tưởng rằng Lã Bất Vi thật sự coi trọng người hay sao? Thủ hạ của Lã Bất Vi đều là con cờ của y, lúc nào y cũng có thể hy sinh các người, ngươi đã hiểu chưa?”

Hứa Thương rốt cuộc đã khuất phục nói, “Trong phòng ngủ của trọng phụ có lối vào của bí đạo, có thể thông đến một tòa nhà lớn ở Bách Thông Nhai của thành nam, tại hạ chỉ biết thế thôi.”

Hạng Thiếu Long mừng rỡ đứng dậy, thời cơ giết Lã Bất Vi đã đã đợi mười năm, cuối cũng đã đến. Bọn Hạng Thiếu Long vây quanh lối vào của địa đạo, ai nấy đều thắc mắc. Hai canh giờ trước Đồ Tiên đã dắt theo bọn Ðằng Dực, Kinh Tuấn vào trong phủ trọng phụ, những người này bị trúng thuốc mê nằm la liệt, nhưng tìm không ra Lã Bất Vi, chắc là chạy thoát ra từ địa đạo.

Nhưng giờ đây vẫn chưa có tin tức gì, chả lẽ y vẫn còn dám trốn trong thành?

Chẳng hợp lí chút nào.

Kinh Tuấn nói, “Chúng ta cứ rà soát trong toàn thành, xem ý có thể trốn đi đâu?”

Đồ Tiên nói, “Hay là chúng ta tra xét căn nhà trống ấy trước, nếu như ta đoán không sai, căn nhà trống ấy lại có một đường hầm bí mật nữa, thông ra tường thành, có lẽ nơi đó lại có thêm bí đạo dẫn ra khỏi thành.”

Ðằng Dực phất tay, mọi người vội triển khai hành động.

Kỷ Yên Nhiên chép miệng, “Lã tặc tất không nỡ bỏ gia sản của mình, đi bằng địa đạo sẽ không nhanh bằng đường bộ, hay là chúng ta hãy đánh cược một lần, y chắc chắn đã rời khỏi địa đạo, thoát ra biên giới bằng đường bộ, bởi vì đường thủy ở Hàm Dương đã bị chúng ta nắm trong tay.”

Hạng Thiếu Long cương quyết hạ lệnh, “Không cần truy xét nữa, chúng ta lập tức ra khỏi thành.”

Bọn Hạng Thiếu Long vội vàng phóng ngựa về biên giới nước Triệu.

Khi ra khỏi thành được một dặm, phát hiện có dấu chân người trong đó có những dấu in rất sâu, chứng tỏ là có mang theo vật nặng.

Mọi người đều vui mừng.

Kinh Tuấn nhíu mày, “Chỉ nhìn dấu chân ngựa, đối phương có ít nhất hai ngàn, thực lực hơn hẳn chúng ta.”

Ðằng Dực nói, “Khi đã tháo chạy còn gì dũng khí nữa, trong đó lại có đàn bà trẻ con, cần gì phải sợ?”

Hạng Thiếu Long nghiêm mặt nói, “Gia tướng của Lã phủ toàn là cao thủ, giả sử chúng ta bám đuổi theo, bọn chúng có thể nghe tiếng vó ngựa mà đoán được hư thực của chúng ta, rồi sau đó quay đầu lại liều mạng. Chúng ta tuy chưa chắc bại, nhưng cũng khó tránh thương vong, cho nên đây không phải là thượng sách.” Bạn đang đọc truyện tại TruyệnFULL.vn – http://truyenfull.vn

Kỷ Yên Nhiên nói, “Giả sử chúng ta đoán được lộ tuyến bỏ chạy của Lã tặc, rồi dùng khinh ky mã đi trước một bước mai phục ở phía trước, rồi sau đó đánh chặn đầu Lã tặc, như thế không sợ đối phương biết chúng ta ít người, mà lại còn nắm chắc phần thắng hơn.”

Đồ Tiên hiểu rõ tình trạng của Lã Bất Vi nói, “Theo hướng của dấu chân ngựa, bọn chúng có lẽ sẽ chạy đến trấn Ngô Sương ở hạ du, trấn phủ ở nơi này là tâm phúc của y, đến đó có thể dùng thuyền thuận con nước ra phía đông, nếu không đi bằng đường bộ thì làm sao chạy nhanh được.”

Ðằng Dực cả mừng nói, “Trên đường đến Ngô Sương có một nơi gọi là hẻm Cuồng Phong, đó là con đường chắc chắn phải qua, chúng ta hãy đi đường vòng đến đó, rồi đợi đại giá của trọng phụ vậy.”

Hạng Thiếu Long ha ha cười lớn, “Trồng xuống nhân gì sẽ kết được quả ấy, lần này cùng nhờ Đồ gia hiểu được Lã Bất Vi.”

“Ðâu dám, đâu dám. Mời Ðằng tướng quân dẫn quân đi trước, ” Đồ Tiên cười nói.

Tầm Tần ký – Chương 286: Trả được đại thù

Khi trời tờ mờ sáng, một đoàn khoảng ba ngàn người, lặng lẽ tiến vào hẻm cuống phong, chỉ có mấy ngọn đuốc đi đầu dẫn đường.

Nhìn vào đội hình thì biết đoàn người chạy trốn này đang lo lắng hoảng hốt, cứ vài ba người đi thành một nhóm đầu đuôi rời rạc nhau, đàn bà trẻ con thì tụt ở phía sau, những người bị ngã chẳng ai thèm để ý.

Mọi người tuy căm ghét Lã Bất Vi nhưng mắt thấy tình cảnh này ai nấy đều cảm thấy ngao ngán.

Hạng Thiếu Long nói, “Ta chỉ cần lấy cái mạng của Lã lão tặc, có cách nào để tìm Lã Bất Vi trong nhóm người kia hay không?”

Tiêu Nguyệt Ðàm cười nhạt, “Một kẻ tự tư tự lợi như Lã Bất Vi chắc chắn sẽ đi ở hàng đầu.”

Rồi chỉ vào nhóm người đi đầu nói, “ở đó có mấy cỗ xe đẩy, chắc chắn Lã lão tặc đang ở trong nhóm này.”

Hạng Thiếu Long nói, “Vậy chúng ta đợi nhóm đầu tiên qua khỏi rồi lăn gỗ xuống để chân lại, chúng ta có thể ung dung ra tay bắt người! Trừ Lã lão tặc, cứ để cho những tên khác bỏ chạy!”

Nhóm người đầu tiên của Lã Bất Vi có khoảng hơn trăm người, vừa ra khỏi hẻm, ở trên đột nhiên có mấy chục khúc gỗ và vô số tảng đá lăn ầm ầm xuống dưới hẻm.

Trong chốc lát số gỗ và đá này đã chặn lối ra của con hẻm, ai nấy đều rối loạn, khóc than vang trời, chạy ngược về phía sau. Bọn người ấy lớp thì ngã xuống, lớp thì đạp lên nhau mà bỏ chạy, tình cảnh như ngày tận thế.

Khi những người vừa ra khỏi hẻm chạy tứ tán, đột nhiên xung quanh có ánh đuốc bừng sáng lên, hai trăm chiến sĩ Ô gia thúc ngựa từ bốn hướng xông ra, không thèm để ý đến những người mang vác vật nặng, chỉ lao về phía Lã Bất Vi với hơn mười tên thân vệ.

Trong khoảnh khắc Lã Bất Vi đã bị bao vây trùng trùng, rơi vào trong cảnh tuyệt vọng.

Hạng Thiếu Long cùng bọn Đồ Tiên, Tiêu Nguyệt Ðàm, Ðằng Dực, Kinh Tuấn, Kỷ Yên Nhiên thúc ngựa bước ra, quát lớn, “Lã Bất Vi, năm xưa ngươi sai người đột kích chúng ta, giết thê thiếp thủ hạ của ta, có từng nghĩ là sẽ có ngày này hay không?.”

Lã Bất Vi nhìn thấy Đồ Tiên và Tiêu Nguyệt Ðàm, giận lắm, run người lên, chỉ tay vào hai người nói, “Hay lắm!

Uổng cho Lã Bất Vi này hậu đãi với các ngươi, dám liên thủ với người ngoài để đối phó với ta!”

Đồ Tiên phun ra một bãi nước bọt, nghiến răng nói, “Hãy im mồm thối tha của ngươi, câu này phải do ta nói với ngươi mới phải! Uổng cho ta tận trung với ngươi, nhưng ngươi chỉ vì muốn tẩy rửa nghi ngờ, hy sinh những huynh đệ đã cùng ta vào sinh ra tử, ngươi có còn là người không?”

Tiên Nguyệt Ðàm cũng bĩu môi nói, “Chết đến nơi mà vẫn còn nói những lời vô sỉ, hôm nay ta tận mắt thấy kết quả của ngươi, cũng bởi vì ông trời công chính liêm minh, ngươi còn dám điên đảo trắng đen, ngậm máu phun người?”

Lã Bất Vi nhất thời cứng họng, nhìn về phía hàng trăm mũi tên đang nhắm về phía mình, nói không ra lời.

Kỷ Yên Nhiên rít lên, “Tiên vương đối đãi với ngươi không tệ, ngươi lại nhẫn tâm hạ độc ông ta, Lã Bất Vi nhà ngươi ngay cả loài cầm thú cũng không bằng.”

Ðằng Dực quát, “Từ Tiên và Lộc Công cũng đều vì ngươi mà chết, để cho ngươi sống mấy năm nay, ông trời cũng đã ưu ái với ngươi lắm.”

Kinh Tuấn quát, “Bọn ngu ngốc kia muốn cùng chết với y hay sao? Lập tức hạ binh khí xuống cút ra xa cho ta.”

Hơn mười tên gia tướng nhìn nhau, không biết ai đã hạ binh khí xuống trước, trong chốc lát đã chạy không còn một mống, chỉ trơ lại một mình Lã Bất Vi đứng ở giữa vòng vây.

Bọn Hạng Thiếu Long nhảy xuống ngựa, bước về phía Lã Bất Vi.

“Keng.”

Hạng Thiếu Long rút ra thanh Bách Chiến bảo đao.

Trong khoảnh khắc này, trong đầu gã lướt qua những chuyện đau lòng khó quên của ngày xưa, tất cả những điều đó do một tay Lã Bất Vi tạo nên.

Bọn Xuân Doanh và nhiều thủ hạ tận trung từng người ngã xuống đất, nàng công chúa xinh đẹp Triệu Thiên trút hơi thở cuối cùng trong lòng gã, ánh mắt oán hận của Trang Tương vương trước khi chết, cái chết không nhắm mắt của Lộc Công, tất cả đều thoáng qua đầu gã.

Những hình ảnh ấy như một tảng đá lớn gieo vào lòng gã khiến cho nỗi căm thù như dâng trào sục sôi.

Bỗng nhiên gã phát giác ra thanh Bách Chiến bảo đao cắm thẳng vào bụng Lã Bất Vi.

Thân người Lã Bất Vi đột nhiên lao về phía trước, đón lấy mũi đao của gã, té ra là bị Ðằng Dực ở phía sau dùng thanh Mặc Tử kiếm đẩy một phát. Trong tai vẫn còn nghe tiếng Ðằng Dực, “Nhát đao này xin hiến cho công chúa Thiên ở trên trời.”

Khi Lã Bất Vi ngã xuống trước mặt gã thì đã biến thành một cái xác không hồn, tất cả những công danh phú quý đều không còn nữa.

Hạng Thiếu Long tuy đã trả được thù, nhưng trong lòng cảm thấy trống không, không hề có được niềm vui khi báo được đại thù Trong lòng gã đã chán ngán những cuộc chém giết lẫn nhau giữa người với người.

Rốt cuộc trời đã sáng.

Sau ba ngày hai đêm, mọi người đã hết cả hơi sức nên phải cắm trại nghỉ ngơi. Lúc này vẫn còn cách mục trường một ngày đường nữa.

Trên đường đi, Hạng Thiếu Long rất lặng lẽ.

Ðêm nay trời thật đẹp, bầu trời đầy sao vây quanh vầng trăng con cong, lúc thưa lúc nhặt.

Hạng Thiếu Long và Kỷ Yên Nhiên rời khỏi trại, đến một gò nhỏ, an nhàn ngồi lên bãi cỏ. Hạng Thiếu Long trong lòng nhẹ nhõm hẳn đi, từ thời khắc này những câu chuyện có liên quan đến Lã Bất Vi như đã lùi thật xa, sự uy hiếp của tiểu Bàn đối với gã như không hề tồn tại.

Gã đột nhiên nhớ lại bộ phim Tần Thủy Hoàng đã coi ở thế kỷ hai mươi mốt, Lã Bất Vi không phải chết như vậy.

Y vì mang tội tiến cử Lao ái nên Doanh Chính tước đi chức tướng quốc, đuổi về thực ấp ở Hà Nam. Nhưng vì Lã Bất Vi vẫn âm thầm cấu kết quyền quý sáu nước, có mưu đồ không tốt nên bị Doanh Chính đuổi đến đất Thục, rồi gởi thư khiển trách.

Lã Bất Vi tự biết mình tội khó thoát chết nên đã uống rượu độc tự tận.

Giờ đây tình huống lại hoàn toàn khác nhau, chả lẽ mình đã thay đổi lịch sử?

Ðang suy nghĩ, Kỷ Yên Nhiên thỏ thẻ bên tai, “Phu quân đang nghĩ gì?”

Hạng Thiếu Long trong lòng kích động, suýt tí nữa đã kể về lai lịch thân thế của nàng cho mình nghe.

Kỷ Yên Nhiên nói, “Yên Nhiên hiểu rõ tâm sự của phu quân. Con người rất kỳ lạ, đôi khi rất khó khăn mới hoàn thành được mục tiêu, nhưng đến khi thành công thì ngược lại cảm thấy tất cả đều là hư không. Nhưng may mà không phải tất cả mọi người đều như thế. Giống như tình cảm giữa người với người có thể ngày càng tiến xa hơn. Ðương nhiên cũng không tránh khỏi có chuyện chuyển bạn thành thù.”

Hạng Thiếu Long gật đầu nói, “Chỉ nghe Yên Nhiên nói chuyện, cũng đã là một niềm vui trong cuộc đời của ta, có thể cùng Yên Nhiên sống trọn đời ở chốn quan tái, ta còn cầu mong gì nữa.”

Kỷ Yên Nhiên rúc vào lòng gã, gối đầu lên vai gã, mắt nhìn ngôi sao lấp lánh trên bầu trời cao, thỏ thẻ, “Từ hôm qua trở đi, Doanh Chính đã chính thức trở thành vua nước Tần. Không biết Lao ái và thái hậu phải chăng… chao ôi! Yên Nhiên quả thật không nên nhắc đến chuyện này.”

Hạng Thiếu Long cười gượng nói, “Hiền thê không cần phải áy náy, ta đã thông suốt cả rồi. Sức người đôi khi cũng có hạn, không phải chuyện gì cũng có thể làm được. Ta hoàn toàn không đủ sức giúp thái hậu, giờ đây chỉ mong rằng khi quay về mục trường, bọn Ô Quả đã an toàn.”

Kỷ Yên Nhiên chép miệng, “Yên Nhiên cũng mong rằng có thể sớm rời khỏi nơi này, mãi mãi không quay về.”

Sáng sớm hôm sau mọi người nhổ trại lên đường, theo con đường bí mật đã định trước, đi thẳng về hướng mục trường.

Ðến hoàng hôn, mục trường đã xuất hiện phía trước.

Ðội đi đầu do Kinh Tuấn dẫn đường đột nhiên quay lại, sắc mặt rất khó coi. Mọi người trong lòng đều ngạc nhiên, biết tình thế không hay.

Kinh Tuấn trần giọng nói, “Mục trường đã bị bao vây.”

Dưới ánh trăng mọi người náu mình trên gò cao quan sát tình huống. Chỉ thấy hàng vạn quân Tần đang bao vây xung quanh mục trường. Song tòa thành nhỏ bên trong vẫn không hề hấn gì, kẻ địch rõ ràng vẫn chưa phát động tấn công.

Trong thành thì tối om, giống như một con mãnh thú đang say ngủ. Trong trại quân Tần chốc chốc lại phát ra tiếng chặt cây, chắc là đang chuẩn bị công cụ phá thành.

Ðằng Dực gằn giọng nói, “Nhất đình là quân của úy Liêu, Doanh Chính thật là nhẫn tâm.”

Tiêu Nguyệt Ðàm thắc mắc, “Theo lý thì bọn chúng phải giả vờ tấn công để làm hao phí thể lực và tinh thần của chúng ta, tại sao lại án binh bất động như thế?”

Kỷ Yên Nhiên nhớ lại trong thành chỉ có Cầm Thanh và hơn một trăm gia tướng, trầm giọng nói, “úy Liêu đang chờ chúng ta quay về, may mà chúng không thông thuộc địa hình, không ngờ rằng chúng ta lại quay về bằng con đường này.” Bạn đang đọc truyện được lấy tại T.r.u.y.e.n.y.y chấm cơm.

Hạng Thiếu Long nảy ý nói, “Trong đó có một nguyên nhân, đó là Doanh Chính sẽ bí mật quay về xử lí chúng ta để đảm bảo tin tức không bị lộ ra ngoài.”

Tiêu Nguyệt Ðàm nhìn lối vào của đường hầm bí mật ở phía dưới, may mà doanh trại và công sự phòng ngự của địch nằm ở ngoài xa, thở phào nói, “Vậy chúng ta hãy nhân lúc trước khi Doanh Chính đến đây, lại vào trong thành theo đường hầm bí mật rồi sẽ lập tức dắt mọi người mau chóng rời khỏi đây.”

Mọi người đương nhiên không phản đối, vội hành động.

Nửa canh giờ sau, bọn họ đã âm thầm tiến vào trong thành. Hạng Thiếu Long ôm Cầm Thanh vào lòng, quả thật có cảm giác cách nhau cả thế kỷ. Vì lũ chiến mã đều được đi ra vào địa đạo, cho nên không phát ra bất cứ tiếng động gì, khiến cho kẻ địch không hề hay biết. Ðằng Dực đột nhiên lạc giọng kêu, “Sao? Bọn Ô Quả vẫn chưa quay về ư?”

Hạng Thiếu Long lo lắng lắm, nhè nhẹ đẩy Cầm Thanh ra, ngạc nhiên kêu lên, “Không có lí nào?”

Ðào Phương rầu rĩ nói, “Xem ra Ô Quả đã xảy ra chuyện.”

Rồi ngừng lại một lát mới nói tiếp, “Ðêm qua kẻ địch đột nhiên xuất hiện ngoài thành, may mà chúng cứ án binh bất động, nếu không chúng tôi không biết nên tử thủ hay bỏ chạy.”

Tiêu Nguyệt Ðàm sắc mặt ngưng trọng nói, “Chúng ta hãy lập tức rút lui, bởi vì bí đạo này chỉ có thể giấu được một thời gian, sớm muộn gì cũng bị bọn chúng phát giác, lúc đó thì càng khó chạy hơn.”

Hạng Thiếu Long nói với vẻ dứt khoát, “Chúng ta hãy chia nhau ra chạy, đệ phải đợi cho đến khi kẻ địch phát động tấn công mới bỏ đi. Châu V đã mất đi huynh trưởng, đệ không muốn nàng mất thêm phu quân nữa.”

Đồ Tiên cười ha ha nói, “Chạy thì cùng chạy, chúng ta hãy xem thử tâm ý của ông trời.”

Bọn Hạng Thiếu Long lên trên tường thành, nhìn ra doanh tại dài dằng dặc của kẻ địch.

Thực lực của hai bên quá cách xa nhau, ngay cả sức để liều mạng cũng chẳng có.

Nhất là bọn Hạng Thiếu Long ngày đêm đi đường đã sớm mệt mỏi, trận này không cần đánh cũng biết đã bại.

Ðằng Dực nói, “Chỉ cần nhìn sự bố trí của bọn chúng, đã biết úy Liêu là người tinh thông binh pháp.”

Tiêu Nguyệt Ðàm than rằng, “Doanh Chính suy nghĩ thật chu đáo, điều đến toàn là những kẻ không có quan hệ với Thiếu Long, e rằng bọn chúng cũng chẳng biết là đang đánh ai.”

Kinh Tuấn lúc này mới chạy lên nói, “Ðã chuẩn bị xong tất cả, có nên đưa ngựa đến chỗ bí mật trước, để đến khi bỏ trốn sẽ thuận tiện hơn không?”

Kỷ Yên Nhiên nói, “Chi bằng chúng ta đều ở chỗ bí đạo để chờ bọn Ô Quả. Giờ đây dù cho có phá được vòng vây cũng bỏ chạy không kịp.”

Mọi người đều im lặng không nói, nhìn về phía Hạng Thiếu Long.

Hạng Thiếu Long biết lời của nàng có lý.

Gần sáu trăm người và ngựa, lại thêm lương khô và nước uống, nếu muốn an toàn bỏ đi thì thật là khó. Rồi miễn cưỡng gật đầu nói, “Thôi được!”

Kinh Tuấn nhận lệnh quay đi.

Ðằng Dực đột nhiên giật mình, “Doanh Chính đã đến, bọn Ô Quả cũng đã xong.”

Mọi người ngạc nhiên, nhìn theo ánh mắt của y, chỉ thấy một con rồng lửa từ xa đến gần, tiến vào doanh trại của địch.

Hạng Thiếu Long quát lớn, “Lập tức rút lui.”

Ðùng đùng đùng Tiếng trống trận vang lên.

Ai nấy đều đưa mắt nhìn nhau, Doanh Chính đang đêm chạy đến chưa kịp uống ngụm nước, chỉ hơi nghỉ ngơi thì đã lập tức hạ lệnh tấn công, có thể thấy y nhất quyết giết cho bằng được Hạng Thiếu Long.

Hạng Thiếu Long buồn thảm kêu lên, “Tiểu Bàn! Con thật nhẫn tâm.”

Kỷ Yên Nhiên nói, “Bỏ ngựa! Chúng ta phải chạy bộ thôi, nếu không sẽ không kịp.”

Mọi người đều nghe theo. Nhìn thấy đối phương tràn tới, trong lòng ai nấy đều lo lắng.

Dù cho họ có thể rời khỏi đường hầm bí mật này, cũng chỉ là lặp lại vết xe đổ của Lã Bất Vi, rốt cuộc cũng sẽ bị ngựa của đối phương giẫm lên mà thôi.

Giả sử đây cũng là một sự báo ứng, thì ông Trời đã quá vô tình vô nghĩa.

Tầm Tần ký – Chương 287: Khoảng khắc sinh tử

Khi cửa thành bị phá, bên phía Hạng Thiếu Long vẫn còn một nửa số người chưa vào địa đạo.

Trong lúc cấp bách, hạng Thiếu Long hạ lệnh cho những người này rút vào trong ngôi mộ mới xây, rồi sau đó đóng tấm cửa sắt dày lại, hy vọng có thể tranh thủ chút thời gian để rút lui tiếp.

May mà Tiểu Bàn tưởng rằng bọn họ đã sớm bỏ đi nên không tra xét. Song, ai cũng biết đó chỉ là vọng tưởng.

Người trong cả tòa thành tự nhiên biến mất đương nhiên là có đường hầm bí mật thông ra ngoài thành.

Giả sử úy Liêu không thể tìm ra đường hầm này thì làm thế nào trả lời với Tần vương vừa mới đăng cơ.

ở trong ngôi mộ ai nấy đều nghe tiếng la hét ở bên ngoài, lòng đều như lửa đốt, nhưng chỉ có thể nghe theo mệnh trời mà thôi. Có tiếng ầm ầm không ngừng truyền đến, rõ ràng là kẻ địch đang phá cửa để vào truy lùng.

“Ầm.”

Đó là tiếng cánh cửa sắt bị tông vào, rõ ràng kẻ địch đã mò được tới đây.

Sau mấy lượt tông vào không có kết quả, xung quanh chợt im ắng, ai nấy đều thót tim, ngay cả thở cũng khó khăn.

Mọi người đều đoán rằng kẻ địch lần này sẽ cho xe lôi mộc đến phá cửa.

Thời gian một khắc kéo dài như cả thế kỷ.

Hạng Thiếu Long, Kỷ Yên Nhiên, Ðằng Dực, Kinh Tuấn, Đồ Tiên và hơn mười chiến sĩ Ô gia, tay cầm cung nỏ, chuẩn bị tử thủ, để cho những người khác có thời gian rút lui an toàn.

Mọi người đều không muốn lên tiếng.

Lúc này ngoài bọn họ, vẫn còn có hơn ba mươi người vẫn chưa vào trong đường hầm.

May mà ngày đó khi thiết kế đường hầm đã chú ý đến việc thông khí, nếu không e rằng chưa rời khỏi thì bọn họ đã ngạt chết.

Hạng Thiếu Long bất đồ nhìn lên tấm linh vị nằm giữa một mộ đường của Ni phu nhân, trong lòng cười khổ, nhủ thầm Triệu Ni nàng đâu có ngờ Hạng Thiếu Long này rốt cuộc có một ngày bị chính đứa con ruột thân yêu của nàng giết chết.

“Ầm.”

Cả ngôi mộ như bị lay động, song tấm cửa sắt vẫn không hề lung lay.

“Ầm.”

Ba thanh sắt chêm ở cửa lúc này oằn lại, cửa hé ra, ánh sáng từ bên ngoài lọt vào, tiếng la hét truyền vào trong ngôi mộ rõ ràng hơn.

May mà lúc này ngoài bọn họ, những người khác đã chui hết vào trong đường hầm.

Hạng Thiếu Long quát lớn, “Mau lùi vào!”

Không ai dám chậm trễ đều bỏ chạy vào trong đường hầm.

Khi bọn Hạng Thiếu Long chưa kịp đậy đường hầm lại thì một tiếng ầm cực lớn vang lên, hai tấm cửa sắt đổ ập xuống đất, làm cho gạch đá cũng đổ theo, bụi bốc lên mù mịt.

Hạng Thiếu Long, Ðằng Dực, Kỷ Yên Nhiên và Kinh Tuấn thủ ở lối ra của đường hầm, chuẩn bị liều chết. Bọn họ đành phải làm thế.

Lúc này trong địa đạo vẫn còn nhiều người, nếu để cho kẻ địch đuổi theo, bọn họ đừng hòng thoát được.

Càng có thể kéo dài được thời gian tìm ra địa đạo của kẻ địch, cơ hội sống sót mới càng cao.

Bọn Hạng Thiếu Long hơi nhích ra phía sau một chút, tránh ánh sáng.

Chỉ có người vui mừng kêu lên, “Lối vào ở đây! Bọn chúng vẫn chưa đậy nắp.”

Bọn Hạng Thiếu Long trong lòng kêu khổ thì đột nhiên trong hầm mộ yên lặng như tờ.

Tiếp đó có tiếng quỳ xuống bái lạy.

Bọn Hạng Thiếu Long đưa mắt nhìn nhau đều biết là tiểu Bàn đã tới.

Một giọng nói ồm ồm vang lên, “Ðại vương minh giám, vừa rồi vi thần đã phát giác phản tặc vẫn chưa rời khỏi địa đạo, cho nên chúng ta chỉ cần xông khói vào thì bọn chúng sẽ ngạt thở. Sau đó vi thần sẽ sai người vào trong địa đạo để tìm lối ra, bảo đảm có thể quét sạch một mẻ bọn phản tặc.”

Hạng Thiếu Long tức giận vô cùng, nhưng trong lòng cũng bàng hoàng, chẳng còn cách nào để đối phó.

Người ấy chắc là úy Liêu.

Doanh Chính bỗng trầm mặc không lên tiếng.

Rồi có tiếng người quỳ xuống đất. Giọng nói của Lý Tư vang lên trong địa đạo, “Ðại vương khai ân!”

úy Liêu ngạc nhiên nói, “Ðình úy đại nhân!”

Sau đó im lặng trở lại.

Giọng nói của úy Liêu lại vang lên, “Xin đại vương ra lệnh, nếu không thời cơ sẽ qua.”

Tiếp theo có tiếng ho khan một cái, hỏi, “Sao đại vương chỉ nhìn linh vị ở phía trước?”

Bọn Hạng Thiếu Long trong lòng đều dâng lên cảm giác khó hình dung, vỡ lẽ ra rằng Tiểu Bàn đang nhìn linh vị của Ni phu nhân, người mẹ ruột của y.

Song nếu Tiểu Bàn chấp nhận đề nghị của úy Liêu, bọn họ chỉ còn một con đường chết mà thôi.

Giọng nói quen thuộc của Tiểu Bàn rốt cuộc vang lên, “úy khanh và tất cả những người khác hãy lui ra cho quả nhân, chỉ có Lý khanh ở lại.”

úy Liêu ngạc nhiên nói, “Ðại vương…”

Tiểu Bàn quát lớn, “Lui ra!”

Có tiếng bước chân vang lên.

Cho đến khi tất cả mọi người đều đi xa, Tiểu Bàn trầm giọng nói, “Thế nào mới khiến người trong thiên hạ không nhắc đến chuyện này nữa?”

Chỉ nghe giọng Lý Tư trả lời, “Chỉ cần đại vương chinh phục sáu nước, thống nhất thiên hạ, lúc đó đại vương ban lệnh trong thiên hạ nghiêm cấm nhắc tới ba chữ Hạng Thiếu Long, ai vi phạm sẽ chém đầu, tất nhiên sẽ bịt miệng được thiên hạ, chuyện này tự nhiên cũng giải quyết xong.”

Tiểu Bàn lạnh lùng nói, “Nếu bọn chúng không nói bằng miệng mà viết lại thành sách sử, lại có cách gì để ứng phó?”

Lý Tư nói, “Lúc đó đại vương hãy chôn tất cả những người ấy, đốt sách của chúng.”

Hạng Thiếu Long nghe mà trố mắt, té ra chuyện đốt sách, chôn học trò vì mình mà có. Những loại sách bói toán bị đốt theo chắc là cũng để che mắt người đời.

Tiểu Bàn nói, “Chuyện Hạng Thiếu Long giết chết Lã Bất Vi thì xử lí thế nào?”

Lý Tư rành rọt nói, “Ðiều này thì dễ, cứ nói là y sợ nội loạn chạy về thực ấp, rốt cuộc uống rượu độc tự tận là xong.”

Tiếng bước chân vang lên, có người bước vào phía trong.

Sau một hồi lặng lẽ, giọng nói của Tiểu Bàn lại nhè nhẹ truyền vào, “Sư phụ! Chúc người lên đường bình an!”

Rồi tiếp theo có tiếng quát của Tiểu Bàn, “Lập tức rút quân!”

Tiếng bước chân đi xa.

Hạng Thiếu Long cố nén nước mắt đang chực trào ra. Gã cứ cảm nhận được mùi vị của một người sáng tạo nên lịch sử Khi Tiểu Bàn bước ra khỏi ngôi mộ này, y không phải là Triệu Bàn đến từ Hàm Ðan nữa. Bởi vì y đã hoàn toàn đoạn tuyệt với quá khứ của mình, thật sự trở thành Doanh Chính.

Sau này y sẽ tập trung tinh thần để thống nhất thiên hạ.

Khi y bước qua tấm cửa sắt này, số phận của sáu nước đã định.

Họ sẽ đối mặt với một vị bá vương mà không ai có thể quật ngã, đó là Tần Thủy Hoàng Doanh Chính, người đã dựng nên Trung Quốc, vị vua của ngàn đời sau.

Bọn Hạng Thiếu Long gấp rút chạy ra khỏi địa đạo thì phát giác Ô Quả đang lẫn vào trong đám thiết vệ.

Té ra bọn họ vì Xương Văn quân khống chế đường thủy nên buộc phải đuổi theo bằng đường bộ, cho nên đến trễ hơn Doanh Chính cả mấy canh giờ, may mà vẫn còn chờ bọn họ ở gần cửa ra của địa đạo.

ô Quả cũng mang đến tin tức Lao ái bị phanh thây giữa chợ, hai đứa con mà Chu Cơ sinh cho y thì bị thiêu sống.

Đó là tin tức của Vương Tiễn cho biết.

Còn Chu Cơ thì bị truyền áp giải về Hàm Dương.

Ðương nhiên mọi người đều biết Chu Cơ đã xong đời, kẻ bị áp tải về giam lỏng ở Hàm Dương chỉ là thế thân mà Doanh Chính sắp xếp.

Ðợi Doanh Chính rút hết quân, mọi người mới vào lại trong mục trường, cỡi ngựa ung dung bỏ đi.

Hạng Thiếu Long mang theo cả linh vị của bọ Triệu Thiên và Ni phu nhân.

Ba tháng sau, rốt cuộc cũng đã đến được quan tái, hoàn thành được ước vọng của mình.

Tầm Tần ký – Chương 288: Thống nhất sáu nước

Vì những kẻ phản loạn là Lã Bất Vi và Lao ái đều là người của sáu nước, lại thêm chuyện đào kênh Trịnh Quốc vốn là kế phá Tần của người Hàn, đồng thời Doanh Chính cũng lo lắng người của sáu nước tiếp tục phao tin đồn nhảm cho nên đã hạ lệnh đuổi khách, khiến cho khách khanh của sáu nước phía đông ai nấy đều cảm thấy nguy ngập cho bản thân mình.

Lý Tư biết mình quả thật đã biết quá nhiều chuyện không nên biết, lại hiểu rõ mong muốn thống nhất thiên hạ của Doanh Chính, cho nên liều chết dâng biểu can gián.

Viết rằng.

“Thần nghe lệnh đuổi khách của đại vương quả thật là sai lầm! Năm xưa Mục công cầu sĩ, phía tây thì lấy được Du Vu Dung, phía đông thì có Bách Lý Hồ, Thúc Vu Tống, Công Tôn Chi, những người này đều không phải là người nước Tần, mà Tần Mục công vẫn dùng họ, nhờ đó đã lấy được hai mươi nước làm bá chủ miền tây.”

Tần Thiếu Công dùng Thương ưởng biến pháp, thay phong đổi tục, dân tình thịnh vượng, nước được giàu mạnh, trăm họ yên vui, chư hầu thần phục, lấy được đất của Sở, Ngụy ra đến ngàn dặm, nhờ đó cho đến nay nước Tần vẫn còn hùng cường.

Huệ vương dùng kế của Trương Nghi lấy được đất của Tam Xuyên, phía tây thì gộp thâu được Ba Thục, phía bắc thì lên đến Thượng Quận, phía nam lấy được Hán Trung, trong đó có Cửu Di, Yên Dĩnh, phía đông thì chiếm cứ Thành Khâu khiến cho người trong sáu nước đều phải phục tùng, công ấy đến nay vẫn còn ghi.

Chiêu Vương được Phạm Tuy, bỏ Tương Hầu, đuổi Hoa Dương, lấy dần đất của các nước chư hầu, khiến cho Tần trở thành đế nghiệp.

Bốn vua ấy đều dựng được nghiệp lớn nhờ công của các khách khanh. Từ đó mà thấy khách khanh nào có phụ Tần đâu.

Giả sử không dùng khách khanh thì sẽ khiến cho nước không còn giàu mạnh.”

Bức thư trần tình khẳng khái của Lý Tư không những đã thể hiện lòng trung tuyệt đối với Doanh Chính mà còn đưa ra những sự thực lịch sử để chứng minh. Rốt cuộc đã khiến Doanh Chính thu hồi lại lệnh đuổi khách.

Còn người bạn cũ Hàn Phi của Kỷ Yên Nhiên và hạng Thiếu Long lúc này được Doanh Chính mời vào nước Tần.

Sau đó y rốt cuộc lòng vẫn nhớ đến nước cũ, cứ nói tốt cho Hàn, mà miệng lưỡi lại không lanh lợi, nên không được Doanh Chính ưa thích.

Sau đó lại đắc tội với Diêu Cồ và Lý Tư, lại thêm hai người này đố kị với tài hoa của y nên đã bị hạ độc chết ở trong ngục.

Doanh Chính quét sạch Lã Bất Vi và Lao ái xong thu lại đại quyền trong nước Tần, tiếp tục mở rộng đại nghiệp chinh phục sáu nước. Lúc này sáu nước đã không còn sức chống Tần nữa.

Nhưng sau khi liên kết trở lại, sau sáu năm Doanh Chính kế vị, tam Tấn và người Sở đã đánh bại người Tần. Nhưng Hàn Sấm thì không may chết trong trận này.

Ðiền Ðan vì mất đi sự ủng hộ của Lã Bất Vi, cho nên thất thế, nước Tề từ đó không còn nhân tài nữa.

Doanh Chính rút kinh nghiệm, được Lý Tư và úy Liêu hiến kế, khéo dùng thủ đoạn ly gián, phân hóa, đột phá vào sáu nước.

Năm thứ mười bốn đời Tần vương Doanh Chính, Hàn vương An đầu tiên khuất phục nước Tần. Năm sau quân Tần đánh vào Tân Trịnh, diệt nước Hàn.

Hoàn Xỉ lúc này đã trở thành thượng tướng quân, không may gặp phải Lý Mục, bị y đánh bại ở Hợp Phì, không còn mặt mũi nào gặp Doanh Chính, trốn đến nước Yên.

Cuối cùng đến lúc Vương Tiễn và Lý Mục gặp nhau trên sa trường. Vương Tiễn và Dương Ðoan Hòa cầm quân đánh thẳng vào nước Triệu, Lý Mục nghênh chiến ở ngoài thành Hàm Ðan, khi hai bên đang giằng co với nhau, nào ngờ Quách Khai bị Lý Tư dùng kế phản gián, xúi giục Triệu vương đổi tướng, Lý Mục không chịu nghe theo, kết quả bị Triệu vương xử tử.

Cây đại thụ đã ngã, nước Triệu không còn tướng nào có thể chống được Vương Tiễn, bị quân Tần đánh cho tan tành.

Năm thứ mười chín đời Tần vương Chính, thái tử Ðan sai Kinh Kha vào nước Tần hành thích Doanh Chính sự việc thất bại chết ngay tại trận.

Doanh Chính lấy đó làm cớ, phái Vương Tiễn đánh Yên, đại phá quân Yên ở bờ tây sông Dịch Thủy, năm sau thì đánh thẳng vào kinh đô của người Yên, giết chết thái tử Ðan.

Con trai của Vương Tiễn là Vương Bôn cũng chiếm được hơn mười thành của người Sở. Năm sau thì y lại đại triển thần oai, vượt sông đánh vào Ðại Lương, nước Ngụy mất.

Năm thứ hai mươi ba Vương Tiễn đánh Sở, đại phá quân Sở ở Bình Dư. Ðến năm tiếp theo thì cùng Mông Võ đánh đến Thọ Xuân, vua Sở và Lý Viên đều bị bắt làm tù binh, Lý Yên Yên uống thuốc độc mà chết, nước Sở mất.

Năm thứ hai mươi sáu thời Tần vương Chính, Vương Bôn đánh vào Lâm Tri, Tề vương Ðiền Kiện đầu hàng. 

Ðến lúc này sáu nước phía đông đều thuộc về Tần. Doanh Chính nhớ lại ba chữ Thủy Hoàng đế mà Hạng Thiếu Long đã nói, vì thế lệnh cho quần thần xem thử tên này có hợp với thân phận thống nhất sáu nước của y hay không.

Mọi người đương nhiên đồng thanh kêu hay.

Vì thế Doanh Chính tự Xưng mình là Thủy Hoàng đế. Phế bỏ chế độ phong chư hầu, chia thiên hạ ra làm ba mươi sáu quận, thu hết binh khí trong thiên hạ, đúc thành mười hai tượng người bằng kim loại, thống nhất chế độ cân đo, đặt ra chế độ tiền tệ, thống nhất kích thước của trục xe trong cả nước, dùng chung một loại chữ, tập trung mười hai vạn hộ giàu có về Hàm Dương.

Xác lập nên một nước Trung Quốc rộng lớn.

Khi Doanh Chính trở thành Tần Thủy Hoàng đế, tòa Hoài Thanh đài hùng vĩ cũng được xây dựng. Muôn dân đều tưởng rằng vua của họ nhớ đến quả phụ Thanh mà dựng lên. Chỉ có vài người như Lý Tư, Vương Tiễn mới biết Doanh Chính thật sự là vì nhớ đến hạng Thiếu Long mà xây nên Hoài Thanh đài này.

Tầm Tần ký – Chương 289: Lời cuối

Tất cả cảnh vật đều lùi ra phía sau.

Hạng Thiếu Long cùng với Ô Trác, Kinh Tuấn và Ðằng Dực phóng như bay trên miền thảo nguyên xanh tốt vô tận.

Trên bầu trời xanh là những áng mây trắng lững lờ, ở cách đó nửa dặm có hàng ngàn thớt ngựa hoang đang phóng lên phía bắc. 

Bốn người hú lên, thúc ngựa đuổi theo.

Bọn Hạng Thiếu Long chia thành hai tốp. Tốp thứ nhất chạy vòng về phái trước, buộc thớt ngựa phải đổi hướng, còn tốp kia thì đuổi lên ở phía sau.

Sau một hồi bầy ngựa buộc phải nhảy xuống sông, bơi qua bờ bên kia.

Hạng Thiếu Long kìm ngựa lại kêu lớn, “Các con, hãy giở bản lĩnh của mình ra!”

Bờ bên kia bỗng xuất hiện bọn Ô Quả, Ô Ngôn, Triệu Ðại, Lưu Sào cùng với hơn một trăm người, ai nấy tay cũng cầm dây thừng, đợi lúc ngựa lên bờ.

Hạng Thiếu Long vui mừng nhìn thấy huynh đệ và thủ hạ bắt ngựa hoang, khen rằng, “Ðại ca quả thật biết chọn chỗ, ở đây đều là các con sông lớn, nguồn nước dồi dào, đất đai tươi tốt, cỏ mọc xanh rì, quả là thắng cảnh chốn nhân gian.”

Ô Trác nhìn vùng thảo nguyên vô tận, hít làn hương thoang thoảng trong gió, cười rằng, “Lúc mới đến cứ nghĩ là bị ép buộc, nhưng sống ở đây đã lâu, ta không muốn rời khỏi nữa.”

Ðến hoàng hôn ai nấy đầu quay về.

Bọn Kỷ Yên Nhiên, Cầm Thanh, Ô Ðình Phương, Triệu Chi, Ðiền Trinh, Ðiền Phụng, Châu Vi, Thiện Lan, Lộc Ðan Nhi đang ngồi trên một sườn dốc, nhìn bầy trẻ đang chơi đùa ở phía dưới.

Trong đó có cả Hạng Bảo Nhi nữa.

Cậu bé trông to khỏe rắn chắc hơn những đứa trẻ khác, đầu đội chiếc mão có cắm lông vũ, mắt to mày rậm, trông rất có cá tính.

Trong doanh trại, làn khói lững lờ bốc lên, đám phụ nữ đang nổi lửa nấu cơm, đợi chồng con quay về.

Đồ Tiên và Tiêu Nguyệt Ðàm đang ngồi đàm đạo, ánh mắt dõi theo ở phía xa.

Cầm Thanh đột nhiên vui mừng kêu, “Phu quân đã quay về.”

Mọi người đều nhìn ra ngoài xa, hơn một trăm chấm đen dần dần hiện rõ, tiếng vó ngựa cũng truyền về văng vẳng.

Kỷ Yên Nhiên vui mừng đứng dạy kêu, “Ai cùng ta đi nghênh đón các chiến sĩ khải hoàn quay về?”

Bọn trẻ ngừng chơi, đứng đón đoàn quân chiến thắng trở về.

Trong chốc lát tiếng vó ngựa rầm rập lao tới.

Kỷ Yên Nhiên cùng mọi người nhảy lên ngựa, trong chốc lát đã gặp đoàn chiến sĩ ở phía ngoài thảo nguyên, rồi tất cả cùng quay về.

Bọn trẻ thì dương dương đắc ý dẫn đầu.

Hạng Thiếu Long đi với Cầm Thanh và Kỷ Yên Nhiên nói, “ông trời đối đãi với chúng ta rất hậu hĩ, trước đây đâu có cuộc sống hạnh phúc không lo không nghĩ như thế này.”

Cầm Thanh chép miệng, “Vì chúng ta đã sống như thế cho nên mới hiểu rõ cuộc sống ở thảo nguyên quý báu dường nào. Còn bọn trẻ này thì lại bảo cứ muốn quay về Trung Nguyên.”

Ô Ðình Phương giận dỗi nói, “Sau này chàng đừng nhắc đến chữ Trung Nguyên nữa, thiếp chẳng hiểu nổi tại sao Bảo Nhi lại không thích nơi này?”

Hạng Thiếu Long cười, “Mỗi người đều có ước mơ riêng của mình, bởi vì ước mơ của chúng ta đã thành hiện thực cho nên mới an tâm mà tận hưởng. Bảo Nhi chỉ là muốn tìm ước mơ của nó mà thôi. Chúng ta không nên cản trở, cũng không nên buộc nó phải an vui trong giấc mộng của chúng ta.”

Kỷ Yên Nhiên nói, “Phu quân nói thật hay, giấc mộng của Bảo Nhi chính là trở thành loài phi ưng trên trời cao có thể tự do bay lượn đến khắp nơi.”

Triệu Chi cười, “Ai cũng cưng chiều nó, thiếp đã bảo rồi, tiểu Trinh và tiểu Phụng đã chiều nó quá đáng.”

Ðiền Trinh và Ðiền Phụng che miệng cười, khuôn mặt đầy vẻ hạnh phúc.

Kỷ Yên Nhiên như nhớ ra chuyện gì nói, “Suýt nữa quên cho chàng hay, Bảo Nhi chê tên của nó quá trẻ con, cho nên muốn đổi thành tên khác.”

Hạng Thiếu Long vui vẻ nói, “Ðổi tên gì cũng được, nhưng phải mang họ Hạng.”

Ô Ðình Phương giả vờ bực mình nói, “Bảo Nhi là do thiếp đặt, đó là nhũ danh của nó kia mà.”

Kỷ Yên Nhiên nói tiếp, “Thiếp thấy nó thích loài chim ưng cho nên định đặt cho nó tên là ưng.”

Hạng Thiếu Long cười ha hả nói, “Hạng ưng! Nghe cũng hay đấy!”

Cầm Thanh nói, “Chàng làm cha mà chẳng hiểu con chút nào, nó chê chữ ưng quá giống cầm thú, sợ người ta cười nên đã đổi thành chữ Vũ.”

Hạng Thiếu Long giật mình kìm ngựa, kêu lên, “Cái gì?”

Mọi người xung quanh đều ngạc nhiên, ánh mắt tập trung về phía gã.

Lúc này Hạng Thiếu Long trong lòng dâng lên cơn sóng dữ.

Hạng Vũ?

Đó chẳng phải là Sở Bá Vương Hạng Vũ, người đã cùng tranh thiên hạ với Lưu Bang, cuối cùng cũng cùng mỹ nhân Ngu Cơ tự vận ở Ô Giang? Chuyện gì thế này?

Chả lẽ đây chỉ là một sự trùng hợp?

Nhưng nếu tính toán theo thời gian, chuyện này cũng có thể lắm.

Theo lịch sử nhà Tần trải qua hai đời thì mất.

Từ lúc Doanh Chính lên ngôi bị quân, ba mươi bảy năm sau, đi tuần ở miền nam rồi bệnh chết tại Xa Khâu, sau đó Tần nhị kế vị, ba năm thì mất.

Lúc này đứa con Hạng Vũ của mình đã hơn ba mươi tuổi, đang ở tuổi tráng niên.

Tiếng gọi của mọi người làm gã giật mình.

Kỷ Yên Nhiên nghiêm mặt nói, “Phu quân đại nhân không thích cái tên này sao? Nếu chàng muốn đổi thì hãy tự nói với nó.”

Hạng Thiếu Long định thần lại, đang suy nghĩ là có nên cảnh cáo cho đứa con yêu này biết hay không, ví dụ như khi gặp một người tên Lưu Bang thì phải lập tức giết y.

Nhưng gã nghĩ lại, dù cho mình đã biết được sự phát triển của lịch sử rốt cuộc cũng không thể thay đổi được.

Vận mệnh không thể thay đổi chút nào vì sự cố gắng hoặc ý chí của bất cứ ai.

Con người cứ nghĩ rằng mình đang sáng tạo ra vận mệnh, là bởi vì họ không hề biết rằng vận mệnh đi về hướng nào, chỉ có mình mới hiểu rõ được điều ấy.

Một đứa con của mình là Tiểu Bàn xây dựng nên đế quốc đại Tần, một đứa con khác của mình là Hạng Vũ lại phá hủy đế quốc đại Tần ấy.

Cầm Thanh nhíu mày kêu, “Phu quân đại nhân đang nghĩ gì?”

Hạng Thiếu Long đột nhiên cười lớn, “Ta đã thông suốt!”

Giọng nói của Ðằng Dực bên kia truyền qua, “Tam đệ đã thông suốt điều gì?”

Hạng Thiếu Long vui mừng nói, “Hạng Bảo Nhi về sau sẽ là Hạng Vũ.”

Mọi người đều ngạc nhiên.

Kỷ Yên Nhiên thắc mắc, “Chuyện này cũng cần phải nghĩ thông nữa hay sao?”

Hạng Thiếu Long cười rằng, “Ðiều ta nghĩ thông là thắng thì sao, bại thì đã sao. Thành công hay thất bại không quan trọng, chỉ cần sống một cách oanh liệt, tên tuổi đi vào lịch sử của ngàn năm sau thì đã không uổng kiếp này.”

Mọi người càng hoang mang hơn, đâu biết rằng ý gã muốn nói đến con trai của mình sau này sẽ trở thành Sở Bá Vương Hạng Vũ, danh truyền đến ngàn sau.

Hạng Thiếu Long cười lớn thúc ngựa theo sau Hạng Vũ. Mọi người cũng vội vàng đuổi theo.

Ðoàn người và cả vùng thảo nguyên hợp thành một khối, trong ánh chiều tà tráng lệ, tạo thành một bức tranh đầy hạnh phúc và tiếng cười.

HẾT

Binh pháp Tôn Tử và 36 mưu kế

Thiên 01: Kế sách

Tôn tử nói:

Chiến tranh là đại sự của quốc gia, quan hệ tới việc sống chết của nhân dân, sự mất còn của nhà nước, không thể không khảo sát nghiên cứu cho thật kỹ. Cho nên, phải dựa vào năm mặt sau đây mà phân tích, nghiên cứu, so sánh các điều kiện tốt xấu giữa hai bên đối địch, để tìm hiểu tình thế thắng bại trong chiến tranh:

1.- Một là Đạo.
2.- Hai là Thiên.
3.- Ba là Địa.
4.- Bốn là Tướng.
5.- Năm là Pháp.

Đạo là chỉ việc chính trị, đạo nghĩa, phải làm cho nguyện vọng của dân chúng và vua nhất trí với nhau, đồng tâm đồng đức. Có như vậy, trong chiến tranh mới có thể bảo nhân dân vì vua mà chết, vì vua mà sống, không sợ hiểm nguy. Thiên là thiên thời, nói về ngày đêm, trời râm trời nắng, trời lạnh trời nóng, tức tình trạng về khí hậu thời tiết. Địa là địa lợi, nói về đường sá xa gần, địa thế hiểm yếu hay bằng phẳng, khu vực tác chiến rộng hẹp, địa hình phải chăng có lợi cho tiến công, phòng thủ, tiến tới, thối lui. Tướng là tướng soái, tức nói về tài trí, uy tín, lòng nhân ái, lòng can đảm, sự uy nghiêm của người tướng. Pháp là pháp chế, nói về tình trạng tổ chức, biên chế, sự quy định về hiệu lệnh chỉ huy, sự phân chia chức quyền của tướng tá, sự cung ứng vật tư cho quân đội và chế độ quản lý… Tình huống về năm mặt nói trên, người tướng soái không thể không biết. Chỉ khi nào hiểu rõ và nắm chắc được những tình huống đó thì mới có thể giành được sự thắng lợi. Không thật sự hiểu rõ và nắm chắc được thì không thể đắc thắng. Cho nên phải từ bảy mặt sau mà tính toán, so sánh những điều kiện đôi bên giữa địch và ta để tìm hiểu tình thế thắng bại trong chiến tranh. Tức là phải xem xét:

1 – Vua bên nào có nền chính trị được lòng dân hơn?

2 – Tướng soái bên nào có tài năng hơn?

3 – Thiên thời địa lợi bên nào tốt hơn?

4 – Pháp lệnh bên nào được quán triệt hơn?

5 – Thực lực quân đội bên nào mạnh hơn?

6 – Binh sỹ bên nào được huấn luyện thành thục hơn?

7 – Thưởng phạt bên nào nghiêm minh hơn?

Căn cứ vào những điều đó, ta có thể tính toán mà biết trước được ai thắng ai thua. Nếu chịu nghe mưu kế của ta, để cho ta chỉ huy tác chiến thì chiến tranh có thể thắng lợi, ta sẽ ở lại; Nếu không chịu nghe mưu kế của ta, cho dù có dùng ta để chỉ huy tác chiến, chiến tranh tất nhiên bị thất bại, ta sẽ rời đi (nguyên tác “Tướng thinh ngã kế, dụng chi tất thắng, lưu chi; tướng bất thinh ngã kế, dụng chi tất bại, khứ chi“) Nếu kế sách có lợi và được chấp thuận, còn phải tìm cách tạo ra tình thế có lợi để làm điều kiện phụ trợ bên ngoài cho việc tiến hành chiến tranh. Thế, tức là căn cứ vào tình huống phải chăng có lợi để mà có hành động tương ứng. Dùng binh đánh giặc là hành động dối trá (nguyên tác “Binh giả, quỷ đạo giã” là câu cửa miệng rất nổi tiếng của các vị trí tướng). Thông thường, nếu có thể tấn công thì giả như không thể tấn công, muốn đánh như giả như không muốn đánh, muốn hành động ở gần nhưng giả như muốn hành động ở xa, muốn hành động ở xa nhưng lại giả như muốn hành động ở gần. Lấy lợi mà dụ kẻ tham, chiến thắng kẻ loạn, phòng bị kẻ có thực lực, tránh kẻ thù mạnh, khiêu khích kẻ hay giận dữ. Địch khinh thường thì làm chúng thêm kiêu, địch nhàn hạ thì làm chúng vất vả, địch đoàn kết thì làm chúng ly tán. Tấn công kẻ thù lúc chúng không phòng bị, hành động khi chúng không ngờ tới (nguyên tác “Công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý“). Tất cả những điều nói trên đều là sự khôn khéo để thủ thắng của nhà quân sự, nhưng lại không thể quy định trước một cách máy móc. Phàm trước khi khai chiến, đoán được thắng là do tính toán đầy đủ. Trước khi khai chiến mà đoán không thắng là do tính toán không chu đáo. Tính nhiều hơn tính ít, huống hồ không tính toán gì. Quan sát đủ các mặt đó, ai thắng ai bại có thể đoán trước được.


Thiên 02: Tác chiến

Tôn Tử nói:

Nguyên tắc chung khi dụng binh tác chiến là khi phải huy động chiến xa nghìn chiếc, xe tải nặng nghìn chiếc, quân đội mười vạn, vận lương đi xa nghìn dặm, thì tình huống đó, chi phí ở tiền phương và hậu phương, chi phí đãi khách khứa sứ thần, bảo dưỡng và bổ sung tiêu phí nghìn vàng thì mới có thể cho mười vạn quân xuất chinh được. Dùng một đạo quân khổng lồ như thế để tác chiến thì đòi hỏi phải thắng nhanh. Nếu kéo dài thời gian, quân đội sẽ mệt mỏi, nhuệ khí sẽ suy giảm; tấn công thành trì sẽ hao hết sức chiến đấu, quân đội tác chiến ở ngoài lâu có thể làm nền tài chính của quốc gia gặp khó khăn. Nếu quân đội mỏi mệt, nhuệ khí suy giảm thì lúc đó cho dù là người tài giỏi sáng suốt đến đâu cũng không thể cứu vãn tình thế được. Cho nên dùng binh đánh giặc, chỉ nghe nói trong tốc thắng có những thiếu sót vụng về chứ không bao giờ có việc kéo dài mà lợi cho quốc gia cả. Cho nên người không hiểu biết chỗ hại khi dụng binh thì không thể hiểu được chỗ lợi trong dụng binh. người giỏi dụng binh, lính mãn ngũ không gọi lại, lương thực không vận tải quá 3 lần, quân nhu lấy tại nước mình, lương thực giải quyết tại nước địch. Được vậy thì lương thảo cấp dưỡng cho quân đội sẽ được thoả mãn. Sở dĩ quốc gia phải nghèo vì dụng binh là do vận tải lương thực đi quá xa. Vận tải lượng thực xa, bá tánh sẽ nghèo. Chung quanh nơi quân đội tập kết, vật giá sẽ cao vọt bất thường. Vật giá cao vọt sẽ làm cho tiền tài của bách tính khô kiệt. Tiền tài khô kiệt tất phải gấp rút thu thêm thuế. Sức mạnh tiêu hao hết, tiền tài khô kiệt, trong nước khắp đồng quê nhà nhà đều trống rỗng. Bách tính thì tiền tài 10 phần hao bẩy, quốc gia thì xe hỏng ngựa mỏi mười phần hết sáu. Cho nên tướng soái giỏi lấy lương thực ở nước địch. Ăn 1 chung gạo ở nước địch bằng 20 chung gạo ở nước nhà. Dùng 1 thạch cỏ ở nước địch bằng 20 thạch cỏ ở nước nhà. Muốn quân hăng hái giết địch phải làm quân biết hận địch. Cướp của địch mà thưởng cho quân nhà. Đánh bằng xe, cướp được hơn 10 cái thì thưởng cho người đầu tiên cướp được. Bỏ cờ xe địch, cắm cờ quân nhà mà dùng chung với xe nhà. Đãi tù binh tử tế thì thắng địch mà làm quân nhà thêm mạnh. Thế nên dụng binh cốt thắng, không cốt kéo dài.

Tướng soái giỏi dụng binh là thần hộ mệnh của dân, là người giữ sự an nguy cho quốc gia.



Thiên 03: Mưu công

Tôn Tử nói:

Đại phàm cái phép dụng binh, làm cho cả nước địch khuất phục trọn vẹn là thượng sách, đánh nó là kém hơn. Làm cho toàn quân địch chịu khuất phục là thượng sách, đánh nó là kém hơn. Làm nguyên lữ quân địch khuất phục là thượng sách, đánh nó là kém hơn. Làm nguyên một tốt địch khuất phục là thượng sách, đánh nó là kém hơn. làm nguyên một ngũ địch khuất phục là thượng sách, đánh nó là kém hơn. Thế nên bách chiến bách thắng cũng chưa phải cách sáng suốt trong sự sáng suốt. Không cần đánh mà làm kẻ địch khuất phục mới gọi là sáng suốt nhất trong sự sáng suốt. Cho nên thượng sách trong việc dùng binh là lấy mưu lược để thắng địch, kế đó là thắng địch bằng ngoại giao, kế nữa là dùng binh thắng địch, hạ sách là tấn công thành trì. Đánh thành là biện pháp bất đắc dĩ, chế tạo chiến xa, vũ khí phải mất 3 tháng mới hoàn thành, chuẩn bị binh mã lại mất 3 tháng nữa. Tướng sốt ruột xua quân đánh thành, thương vong 3 phần mất 1 mà vẫn chưa hạ được. Đó chính là cái hại của việc đánh thành. Cho nên người giỏi dụng binh, thắng địch mà không phải giao chiến, đoạt thành mà không cần tấn công, phá quốc mà không cần đánh lâu, nhất địch phải dùng mưu lược toàn thắng mà thủ thắng trong thiên hạ, quân không mỏi mệt mà vẫn giành được thắng lợi hoàn toàn.

Phép dụng binh, gấp mười lần địch thì bao vây, gấp năm lần địch thì tấn công, gấp đôi chì chia ra mà đánh, bằng địch thì phải đánh khéo, kém địch thì rút, tránh giao tranh với địch. Binh yếu mà đánh thẳng tất bị bắt làm tù binh. Tướng soái là trợ thủ của quốc gia, trợ thủ tốt thì nước cường thịnh, kém thì nước suy yếu. Vua có thể gây bất lợi cho việc quân trong 3 trường hợp: không biết quân không thể tiến mà bắt tiến, không biết quân không thể thoái mà bắt thoái, đó là trói buộc quân đội. không biết việc quân mà can dự vào khiến tướng sĩ hoang mang khó hiểu. không biết mưu kế dụng binh mà can dự vào khiến tướng sĩ băn khoăn nghi ngờ. Quân hoang mang nghi ngờ thì các nước chư hầu thừa cơ tấn công. Đó là tự làm rối mình khiến địch thắng. Cho nên có năm điều có thể thắng: Biết có khả năng đánh hay không có khả năng đánh, có thể thắng, biết dựa vào binh lực nhiều ít mà đánh, có thể thắng, quân tướng đồng lòng có thể thắng, lấy quân có chuẩn bị đánh quân không chuẩn bị có thể thắng, tướng giỏi mà vua không can thiệp vào có thể thắng. Đây là 5 điều có thể đoán trước được thắng lợi.

Cho nên có thể nói: Biết địch biết ta, trăm trận không bại, biết ta mà không biết địch trận thắng trận bại, không biết địch không biết ta, trận nào cũng bại. (nguyên văn: Tri bỉ tri kỷ giả, bách chiến bất đãi, bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ, bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi).


Thiên 04: Hình

Tôn Tử nói:

Trước kia người giỏi dụng binh đánh giặc, trước tiên phải không để bại, sau mới đánh bại kẻ địch. không để bại là do mình, giành chiên thắng là tại địch. Thế nên người giỏi dụng binh có thể làm kẻ địch không thắng được mình, nhưng không chắc làm kẻ địch bị ta đánh thắng. Cho nên nói thắng lợi có thể dự kiến nhưng không nhất thiết đòi hỏi được (tối nghĩa quá: “thắng khả tri, i nhi bất khả vi“) không thể thắng được thì thủ, có thể thắng được thì công. Thủ là do chưa đủ điều kiện, công là khi điều kiện có thừa. Người giỏi thủ ém quân tại các loại địa hình, người giỏi công phát huy mọi thế mạnh, thế nên bảo toàn được lực lượng mà vẫn toàn thắng (“thiện thủ giả, tàng ư cửu địa chi hạ, thiện công giả, động ư cửu thiên chi thượng”). Dự đoán chiến thắng mà không hơn nhiều người thì chưa gọi là giỏi trong những người giỏi, thắng 1 trận mà thiên hạ gọi là giỏi thì cũng chưa gọi là giỏi trong những người giỏi. Cũng như nhấc một cọng lông thì không kể là khoẻ, nhìn thấy nhật nguyệt không kể là mắt tinh, nghe được sấm sét không kể là tai thính. Thời xưa, người giỏi dụng binh thường đánh bại kẻ địch dễ thắng nên việc giành được chiến thắng ấy không được tiếng là trí dũng. Chiến thắng của họ là không có gì phải nghi ngờ vì nó dựa trên cơ sở tất thắng kẻ địch đã lâm vào thế thất bại. Cho nên người giỏi dụng binh bao giờ cũng đặt mình vào thế bất bại mà cũng không bỏ qua cơ hội nào để thắng địch. Vì vậy, đội quân chiến thắng bao giờ cũng tạo điều kiện để thắng, sau mới giao tranh, đội quân chiến bại thường giao tranh tranh trước, sau mới tìm chiến thắng bằng sự cầu may. Người giỏi dụng binh có thể từ các mặt tu sửa cái lẽ không thể thắng để nắm được quyền quyết định sự thắng bại. Phép dụng binh là: Thứ nhất là “độ”, thứ hai là “lượng”, thứ 3 là “số”, thứ 4 là “xứng”, thứ 5 là “thắng”. Tính thế sinh độ, độ sinh lượng, lượng sinh số, số sinh xứng, xứng sinh thắng. Thắng binh dùng “dật” đánh “thù”, bại binh dùng “thù” chống “dật”. Người chiến thắng là người có quân lực hùng mạnh, chỉ huy tác chiến dùng binh như tháo nước đổ từ trên trời xuống vậy, cái này gọi là Hình của binh lực quân sự. Nguyên văn “Thắng giả chi chiến dân dã, nhược quyết tích thuỷ ư thiên nhẫn chi khê giả, hình dã.


Thiên 05: Thế


Tôn Tử nói:

Phàm điều khiển quân, bất kể nhiều hay ít đều là việc tổ chức biên chế quân đội, chỉ huy quân nhiều hay ít là vấn đề hiệu lệnh. Thống lĩnh toàn quân gặp địch tấn công mà không bị bại trận, ấy là nhờ vào thuật biến hóa kỳ ảo khi dùng binh là chính. Dùng binh công địch được thế như lấy đá chọi trứng, ấy là nhờ biết vận dụng chính xác tránh thực chọn hư. Phàm việc tác chiến, dùng chính binh đối địch, kỳ binh thủ thắng. Tướng giỏi dùng binh sẽ biết biến hóa tác chiến như trời đất không bao giờ cùng đường, sông biển không bao giờ cạn nước. Như mặt trăng mặt trời, lặn rồi lại mọc; như bốn mùa thay đổi, qua rồi lại đến. Âm nhạc cũng không quá 5 thanh âm, nhưng biến hóa khôn lường, nghe sao cho hết được; sắc màu cũng chỉ có 5 màu, nhưng biến hóa nhìn sao cho tận; vị bất quá cũng chỉ có 5 vị, như biến hóa nếm sao cho đủ. Chiến thuật cũng chỉ có kỳ và chính, nhưng biến hóa của kỳ và chính là vô cùng vô tận. Kỳ chính chuyển hóa lẫn nhau như vòng tròn không có khởi điểm cũng không có kết thúc, ai có thể biết được?

Nước lã chảy xiết cuốn trôi cả đá gạch, đó là nhờ thế nước lũ. Chim ưng vồ mồi chỉ 1 cú có thể xé nát con mồi, đó là dựa vào thế tiết nhanh như chớp nhoáng. Người chỉ huy giỏi là người biết tạo nên thế hiểm hay tiết chớp nhoáng. Thế hiểm như cung đã giương hết mức, tiết chớp nhoáng như lấy nỏ phóng tên, nhanh vô cùng.

Trong khi tác chiến, người ngựa rối loạn mà không để đội hình rối loạn. Hỗn loạn mù mịt mà vẫn đâu ra đấy, duy trì được thế, tiết thì không bị bại.

Ta có tổ chức chặt chẽ thì khiến địch hỗn loạn, ta có lòng dũng cảm thì khiến địch khiếp sợ, ta có binh lực lớn thì khiến địch suy yếu. Chặt chẽ hay hỗn loạn là do ở tổ chức biên chế, dũng cảm hay khiếp sợ là do ưu thế tạo nên, lớn mạnh hay suy yếu là do thực lực đối sách thể hiện ra. Tướng giỏi là biết cách điều khiển quân địch, ngụy trang để dụ địch khiến kẻ địch di động theo ý mình, dùng lợi nhỏ dụ kẻ địch, địch ắt đến để chiếm. Dùng cách đó mà khiến quân địch đến nạp mạng.

Người giỏi tác chiến là biết tạo ra tình thế có lợi chứ không trách thuộc cấp, biết chọn lựa và sử dùng nhân tài để tạo nên lợi thế. Người giỏi tác chiến tạo ra thế giống như lăn gỗ đá, gỗ đá ở chỗ bằng thì nằm im, ở chỗ nghiêng dốc thì dịch chuyển, vuông thì dừng, tròn thì lăn. Bởi vậy mà người giỏi chỉ huy tác chiến cũng như lăn hòn đá tròn từ trên núi cao vạn trượng xuống chân núi vậy. Thế tạo ra chính là như vậy.

Thiên 06: Hư thực


Tôn Tử viết:

Phàm đến chiến địa trước đợi địch là chiếm được thế chủ động an nhàn, đến chiến địa sau ứng chiến với địch là lâm vào thế mệt mỏi. Vì thế, người chỉ huy tác chiến giỏi là người có thể điều khiển quân địch chứ không thể theo sự điều khiển của quân địch.

Khiến quân địch đến nơi ta làm chủ trước là kết quả của việc dùng lợi nhỏ nhử địch. Khiến địch không thể đến nơi nó muốn, ấy là do ta ngăn cản được nó. Do thế, địch đang nghỉ ngơi, ta phải làm cho nó mệt mỏi, địch đầy đủ lương thảo, ta phải làm cho chúng đói khát, địch đóng trại yên ổn, ta phải làm cho chúng di chuyển, đó là vì nơi ta tấn công, địch ắt phải đến ứng cứu. Quân ta đi được nghìn dặm mà không mệt mỏi là do ta đến những nơi không bị địch ngăn trở, ta đánh mà chắc thắng là do ta tấn công vào nơi địch không cách gì phòng thủ, ta phòng thủ vững chắc do ta biết trước nơi sẽ bị địch tấn công.

Người giỏi tiến công là người có thể làm cho địch không biết nơi mà phòng thủ, người giỏi phòng thủ là người có thể làm cho địch không biết phải tiến công vào nơi nào. Vi diệu, vi diệu đến mức vô hình. Thần kỳ, thần kỳ đến mức vô thanh. Vì thế mà ta có thể nắm vận mạng của quân địch trong tay. Ta tiến công mà địch không cản nỗi vì ta như tiến vào chỗ không người, ta thoái lui mà địch không đuổi theo vì ta hành động nhanh lẹ, địch không đuổi kịp. Bởi thế, ta muốn đánh thì dù địch có lũy cao hào sâu cũng phải ứng chiến với ta vì ta đánh vào nơi địch buộc phải ứng cứu, ta không muốn đánh thì vạch đất mà phòng thủ, địch cũng không thể đến đánh ta vì ta làm cho chúng phải đổi hướng tiến công.

Ta khiến địch để lộ thực lực mà ta thì vô hình thì ta có thể tập trung binh lực, còn địch thì phân tán lực lượng. Ta tập trung binh lực ở một nơi mà địch phân tán lực lượng ở mười chốn, tức là ta dùng mười đánh một, như thế quân ta đông quân địch ít, lợi thế hẳn cho ta. Dùng nhiều đánh ít, tương quan lực lượng ta với địch rõ ràng là mình thắng. Nơi ta muốn tiến công, địch chẳng thể nào biết, không thể biết ắt địch phải bố trí phòng thủ nhiều nơi, đã phòng bị nhiều nơi thì quân số bị phân bố ắt nơi ta cần tiến công sẽ có ít quân địch. Địch giữ được “mặt tiền” thì mặt sau mỏng yếu, giữ được bên trái thì bên phải yếu mỏng. Binh lực mỏng là vì phòng bị khắp nơi, binh lực dồi dào là nhờ buộc địch phải phòng bị khắp chỗ.

Vì thế, biết trước chiến địa và thời gian giao tranh thì dù xa ngàn dặm cũng có thể giao phong với địch. Không biết sẽ đánh ở đâu và vào lúc nào thì cánh trái không thể tiếp ứng cánh phải, cảnh phải không thể ứng tiếp cánh trái, mặt tiền không thể ứng cứu với mặt hậu, mặt hậu không thể ứng cứu mặt tiền, huống hồ xa ngoài ngàn dặm, gần trong vài dặm thì thế nào? Theo ý ta, vượt người về số quân đâu có ích chi cho ta trong việc thắng bại, thắng lợi có thể do ta tạo thành. Quân địch tuy đông, có thể làm cho chúng không thể đấu với ta được.

Phải bày mưu lập kế, phân tích kế hoạch tác chiến của quân địch, khiêu khích địch để nắm tình hình và phương cách hành quân của địch, trinh sát xem chỗ nào có lợi, chỗ nào bất lợi, đánh thử xem binh lực của địch mạnh yếu thực hư thế nào. Ta ngụy trang thật khéo khiến địch không tìm ra tung tích thì dù gián điệp có vào sâu trong đội hình cũng không biết rõ được quân ta, kẻ địch khôn ngoan mấy cũng chẳng biết cách đối phó với quân ta. Căn cứ vào sự thay đổi tình hình của địch mà vận dụng linh hoạt chiến thuật, dù có bày sẵn thắng lợi trước mắt chúng cũng không nhận ra sự ảo diệu của nó. Người ngoài chỉ biết ta dùng phương kế thắng địch chứ không biết ta đã vận dụng phương kế đó thế nào. Vì vậy, chiến thiến lần sau không lặp lại phương thức đã dùng trong lần trước mà phải thích ứng với tình hình mới, biến hóa vô cùng vô hình.

Cách dùng binh cũng như dòng chảy của nước vậy, quy tắc vận hành của nước là từ chỗ cao đổ xuống thấp. Thắng lợi trên chiến trường là do ta biết tránh chỗ cứng, chỗ thực của quân địch mà đánh vào chỗ mềm, chỗ hư của địch. Nước tùy địa hình cao thấp mà định được hướng chảy, tác chiến căn cứ vào tình hình của địch mà quyết định cách đánh. Dụng binh tác chiến không có hình thế cố định, không có phương thức nhất định. Dựa vào biến đổi của địch mà chiến thắng thì gọi là dụng binh như thần. Ngũ hành tương sinh tương khắc, không có hành nào luôn thắng, bốn mùa nối tiếp nhau thay đổi, không có mùa nào cố định mãi, bóng mặt trời lúc dài lúc ngắn, vành trăng có khi tròn khi khuyết.


Thiên 07: Quân tranh

Tôn Tử viết:

Phàm dụng binh chi pháp …ý quên … phép dùng binh thường, tướng soái nhận lệnh vua, trưng tập dân chúng, tổ chức quân đội, sau mới bày trận đối địch. Trong quá trình đó, khó nhất là quân tranh, nghĩa là giành lấy lợi thế. Cái khó nhất của việc này là phải biến đường vòng thành đường thẳng, biến bất lợi thành có lợi. Tuy đi đường vòng nhưng lấy cái lợi nhỏ dụ địch thì mới có thể xuất phát sau mà tới được trước yếu địa cần tranh, thế là hiểu được phương pháp biến cong thành thẳng.

Quân tranh vừa có cái lợi, vừa có nguy hiểm. Nếu đem toàn quân có trang bị nặng nề đi tranh thì không thể đạt được dự định, nếu bỏ lại trang bị nặng thì trang bị nặng sẽ tổn thất. Vì thế, cuốn giáp tiến gấp, ngày đêm không nghỉ để đi trăm dặm tranh lợi thì tướng lĩnh ba quân có thể bị bắt, lính khỏe tới trước, yếu tới sau. Cuối cùng chỉ có một phần mười binh lực đến trước. Đi năm mươi dặm tranh lợi, tướng lĩnh tiền quân sẽ bị chặn, chỉ có một nửa binh lực tới trước. Đi ba mươi dặm tranh lợi, chỉ có hai phần ba binh lực tới trước. Quân đội không có trang bị nặng ắt thua, không có lương thảo ắt chết, không có vật tư ắt khó sống.

Chưa biết ý đồ chiến lược của các chư hầu, không thể tính việc kết giao; chưa thông địa hình sông núi, đầm hồ, không thể hành quân; không dùng người dẫn đường không thể chiếm địa lợi. Dùng binh đánh trận phải dựa vào biến hóa gian trá mới mong thành công, phải căn cứ vào chỗ có lợi hay không mà hành động, tùy sự phân tán hay tập trung binh lực mà thay đổi chiến thuật. Quân đội hành động thần tốc thì nhanh như gió cuốn, hành động chậm rãi thì lừng khừng như rừng rậm, khi tấn công thì như lửa cháy, khi phòng thủ thì như núi đá, khi ẩn mình thì như bóng tối, khi xung phong thì như sấm sét. Chiếm được làng xã phải phân binh đoạt lấy, mở rộng lãnh thổ, phải phân binh trấn giữ; cân nhắc lợi hại được mất rồi mới tùy cơ hành động. Trước hết phải rõ phương pháp biến cong thành thẳng để giành thắng lợi, ấy là nguyên tắc hành quân.

Quân Chính viết: “Ngôn bất tương văn, cố vi kim cổ, thị bất tương kiến, cố vi tinh kỳ” có nghĩa là “khi tác chiến mà dùng lời nói chỉ huy e quân nghe không được, phải cần đến chiêng trống; dùng động tác e quân không nhìn thấy, phải cần đến cờ lệnh. Chiêng trống, cờ lệnh dùng để thống nhất hành động của toàn quân. Toàn quân đã hành động nhất nhất thì người lính dũng cảm không thể tiến một mình, người lính nhút nhát cũng không thể lùi một mình, đó là phương pháp chỉ huy toàn thể đội hình tác chiến”.

Đối với quân địch, có thể làm tan nhuệ khí của chúng; đối với tướng địch, có thể làm dao động quyết tâm của họ. Sĩ khí của quân đội lúc mới giao chiến thì hăng hái, sau một thời gian dần dần suy giảm, cuối cùng tiêu tan. Người giỏi dùng binh phải tránh nhuệ khí hăng hái của địch cho đến khi nhuệ khí đó của chúng bị tiêu tan giảm sút thì đánh, đó là cách nắm chắc sĩ khí quân đội. Lấy sự nghiêm chỉnh của quân ta đối phó với sự hỗn loạn của quân địch, lấy sự bình tĩnh của quân ta đối phó với sự hoang mang của quân địch, đó là cách nắm chắc tâm lý quân đội. Lấy gần chờ xa, lấy nhàn chờ mệt (dĩ dật đãi lao), lấy no chờ đói, đó là cách nắm chắc sức chiến đấu của quân đội. Không đi chặn đánh quân địch đang có hàng ngũ chỉnh tề, không đánh kẻ địch có thế trận và lực lượng hùng mạnh, đó là cách nắm vững biến hóa chuyển động.

Nguyên tắc dùng binh là: địch chiếm núi cao thì không đánh lên, địch dựa vào gò đống thì không nên đánh chính diện, địch vờ thua chạy thì không nên đuổi theo, quân địch tinh nhuệ thì chưa nên đánh vội, địch cho quân ta nhử mồi thì mặc kệ chúng, địch rút về nước thì không nên chặn đường, bao vây quân địch nên chừa một lối thoát cho chúng, địch cùng khốn thì không nên quá bức bách chúng. Phép dùng binh là như thế.


Thiên 08: Cửu biến

Tôn Tử nói:

Phàm dụng binh chi pháp, chủ tướng nhận lệnh của vua, tập hợp quân đội, quân nhu (giáo, khí, lương, tiền, …), khi xuất chinh ở “phỉ địa” (đất xấu) thì không dựng trại, ở “cù địa” (đất có đường lớn thông suốt) phải kết giao với nước láng giềng, ở “tuyệt địa” không được nấn ná, ở “vi địa” (đất bị vây) thì phải tính kế, ở “tử địa” phải liều chết quyết chiến. Có những đường không nên đi, có những loại địch không nên đánh, có những thành không nên công, có những vùng không nên giành, có những lệnh vua không nên nghe. Tướng lĩnh tinh thông những ứng biến trên mới là người biết cách dùng binh. Không tinh thông những ứng biến ấy, dù có nắm được địa hình cũng không thể giành được địa lợi. Chỉ huy quân đội mà không biết dùng những ứng biến ấy thì dù biết năm điều lợi cũng không thể phát huy được toàn bộ tác dụng của quân đội.

Tướng lĩnh thông minh suy tính tất phải cân nhắc hai phương diện lợi hại. Khi gặp tình hình bất lợi, phải tìm cho được điều lợi mới thành được đại sự. Gặp tình hình thuận lợi, phải cố thấy rõ những yếu tố bất lợi mới kịp thời giải trừ được tai biến. – Muốn khuất phục chư hầu, phải đánh vào chỗ nguy hại của họ ; muốn điều khiển chư hầu, phải buộc họ làm những việc họ không thể không làm ; muốn ép họ vào thế bị động, phải dùng lợi mà dẫn dụ họ.

Nguyên tắc dùng binh là : không chờ địch đến đánh ta, mà phải tập trung vào việc sắp sẵn kế sách đối phó ; không đợi địch tấn công ta, mà phải trông vào thành lũy của ta vững chắc, địch không thể hạ được.

Làm tướng có 5 điểm nguy hiểm : liều chết khinh suất có thể bị giết, tham sống sợ chết có thể bị bắt, nóng giận hồ đồ có thể mắc mưu, liêm khiết tự trọng không chịu được nhục nhã, thương dân có thể lo buồn bất an. Phạm 5 sai lầm đó thì tai họa khó lường cho việc dùng binh. Quân bị diệt, tướng bị giết đều do 5 điểm nguy hiểm ấy mà ra, không thể không suy xét kỹ.


Thiên 09: Hành quân

Tôn Tử viết:

Khi hành quân và dựng trại ở những dạng địa hình khác nhau, khi phán đoán tình hình quân địch, phải chú ý : ở vùng núi, phải dựa vào vùng sơn cốc có nước và cỏ, hạ trại tại chỗ cao, hướng về ánh sáng. Nếu địch chiếm được chỗ cao thì không đánh lên. Khi vượt sông, nên hạ trại xa bờ. Nếu địch vượt sông đánh ta, ta không nên giao chiến với địch ở dưới sông, chờ địch sang sông được phân nửa mới đánh thì được lợi. Nếu muốn quyết chiến với địch, nên bày trận sát bờ sông. Hạ trại bên bờ sông cũng phải chiếm chỗ cao, đón ánh sáng, không được theo hướng ngược dòng sông công địch. Nếu gặp vùng đầm lầy nước mặn, phải ở gần nơi có nước và cỏ, lưng dựa vào lùm cây. Nếu gặp vùng đồng bằng, phải chiếm nơi rộng rãi, bên phải có gò cao, phía trước mặt thấp, phía sau lưng cao. Nhờ lợi thế của 4 cách xử trí đó mà Hoàng Đế đã thắng 4 vị vua khác.

Phàm hạ trại nên ở nơi cao ráo tránh ẩm thấp, ở nơi sáng tránh chỗ tối tăm, ở nơi gần cỏ và nước có đường vận chuyển quân nhu tiện lợi, tướng sĩ không bị nhiễm bệnh, đó là đảm bảo cho chiến thắng. Hành quân ở vùng nhiều gò đống, đê điều, tất phải chiếm phần cao ráo sáng sủa, chủ yếu dựa vào phía bên phải. Cái lợi của cách dùng binh này là được lợi thế địa hình hỗ trợ.

Phần thượng lưu mưa lớn tất nước sông sẽ dâng lên, nhất định không được vượt sông, phải chờ khi nước rút.

Hành quân qua những vùng như “Thiên giản” là khe suối hiểm trở, “Thiên tỉnh” là nơi vách cao vây bộc, “Thiên lao” là nơi 3 mặt bị vây vào dễ ra khó, “Thiên hãm” là nơi đất thấp lầy lội khó vận động, “Thiên khích” là nơi hẻm núi khe hở. Khi gặp 5 loại địa hình đó tất phải gấp rút chuyển đi, không nên đến gần, để cho địch ở gần nơi đó, ta nên hướng mặt về phía địa hình ấy mà cho địch xoay lưng vào đó. – Hành quân qua những nơi mà hai bên sườn có nhiều chỗ hiểm trở, ao hồ đầm lầy, lau sậy um tùm, cây cối rậm rạp tất phải thận trọng dò xét vì đó là những nơi địch dễ có thể mai phục.

Địch đã đến gần mà vẫn yên tĩnh là chúng đã chiếm được địa hình hiểm yếu thuận lợi. Địch ở xa mà đến khiêu chiến là chúng muốn dẫn dụ ta tiến lên. Địch đóng quân ở nơi bằng phẳng là đã chiếm được địa hình lợi thế. Cây cối rung động là địch đang lặng lẽ tiến gần. Trong cỏ có nhiều chướng ngại vật là địch cố ý bày nghi trận, chim xáo xác bay lên là bên dưới có phục binh. Thú kinh hãi bỏ chạy là địch kéo quân đến đánh úp. Bụi bốc cao mà nhọn là chiến xa địch tới, bụi bay thấp mà tản rộng là địch kéo bộ binh đến. Bụi bay tản mác là địch chia quân đi kiếm củi. Bụi bay ít mà lúc có lúc không là địch đang dựng trại. Sứ giả nói năng khiêm nhượng mà địch lại tăng cường là đang chuẩn bị tiến công. Sứ giả nói cứng lại giả tiến lên là địch đang chuẩn bị lui. Chiến xa hạng nhẹ chạy ra hai bên sườn là địch đang bày thế trận. Địch chưa thua đã vội cầu hòa là đang có âm mưu. Địch gấp bày trận là đã định kỳ hạn tấn công. Địch nửa tiến nửa lui là đang muốn dụ ta. Quân lính chống binh khí làm thế đứng dựa vào là đang … đói bụng. Quân địch đi lấy nước mà uống trước mới đem về là địch đang khát. Địch thấy lợi mà không tiến lên tranh đoạt là đang mệt mỏi. Chim chóc đậu trên doanh trại địch là trại đang bỏ trống. Đang đêm địch hốt hoảng gọi nhau là biểu hiện hoảng sợ. Quân lính trong trại nhiễu loạn là tướng địch không có uy nghiêm. Cờ xí ngả nghiêng là đội ngũ địch đã rối loạn. Quan quân dễ nổi nóng là toàn quân đã mệt mỏi. Dùng cả lương thực cho ngựa ăn, giết ngựa lấy thịt, thu dọn dụng cụ nấu ăn, lính không về trại là địch đã khốn cùng, liều chết phá vòng vây. Quân lính thì thầm bàn tán là tướng địch không được lòng quân. Liên tiếp khao thưởng quân sĩ là địch không có biện pháp hành động, liên tiếp trừng phạt hạ cấp là quân địch đang quẫn bách. Thoạt đầu hung hãn, sau lại sợ sệt cấp dưới là tướng địch quá dốt, trí lực quá kém. Phái sứ đến tặng quà (hối lộ) và nói năng mềm mỏng là địch muốn đình chiến. Địch giận dữ kéo quân bày trận đối diện với quân ta mà đã lâu lại không tiến không lui thì ta nên cẩn trọng xem xét vì sợ địch đang có mưu kế.

Đánh trận không cốt lấy quân đông, không nên khinh địch tiến liều mà phải tập trung lực lượng, phán đoán tình hình, tranh thủ sự tín nhiệm và ủng hộ của hạ cấp là được. Kẻ không biết nhìn xa trông rộng lại khinh địch ắt hẳn bị địch bắt.

Chưa có ân đức đã vội ra uy trừng phạt thì quân sĩ không phục. Quân sĩ không phục thì khó có thể sai khiến được. Đã có ân đức với quân sĩ mà không áp dụng kỷ luật quân pháp thì cũng không thể sai khiến được họ. Vì thế mà phải mềm mỏng, độ lượng để quân sĩ đồng lòng, dùng quân pháp nghiêm minh để quân sĩ nhất nhất tề chỉnh thì mới có thể khiến quân sĩ kinh sợ và phục tùng. Uy lệnh có nghiêm thì quân sĩ mới quen phục tùng. Thời bình mà mệnh lệnh được nghiêm chỉnh chấp hành thì đó là tướng đã phục được lòng quân, trên dưới đều được hòa thuận hợp nhất.


Thiên 10: Địa hình

Tôn Tử viết:

Địa hình có 6 loại gồm: thông, quải, chi, ải, hiểm, viễn.

“Thông” là ta có thể đi, địch có thể đến. Địa hình này ai chiếm trước được chỗ cao, bảo đảm đường vận chuyển lương thực thông suốt mà tác chiến thì đắc lợi.

“Quải” là nơi tiến đến thì dễ và trở lui thì khó. Địa hình này nếu địch không phòng thì ta có thể bất ngờ tấn công thì đắc thắng, nếu địch có phòng ta đem quân đến đánh mà không thắng thì khó có thể rút về, rất bất lợi.

“Chi” là nơi ta tiến đến bất lợi, địch tiến đến cũng bất lợi. Địa hình này thì địch dù có đem lợi dụ ta cũng chớ nên xuất kích, nên giả thua rút đi, dụ địch tiến ra nửa chừng hãy đem quân trở lại công kích thì ta đắc lợi.

“Ải” là ở đất hẹp, ở địa hình ta nên tìm ách chiếm trước mà chờ địch đến. Nếu địch chiếm trước ta mà dùng nhiều quân giữ cửa thì ta không nên đánh, còn nếu địch không nhiều binh phòng thì ta có thể tiến đánh.

“Hiểm” là nơi hiểm trở. Ở địa hình này nếu ta chiếm trước địch thì nên đóng ở chỗ cao, dễ quan át để chờ địch tới, nếu địch chiếm trước thì ta nên lui quân, chớ tiến đánh.

”Viễn” là nơi xa rộng. Ở địa hình này tình trạng thế lực đôi bên ngang nhau thì không tiện khiêu chiến, nếu miễn cưỡng đánh thì bất lợi.

Sáu điều nói trên là nguyên tắc lợi dụng địa hình, tướng lĩnh có trọng trách không thế không suy xét kỹ.

Việc binh có sáu tình huống tất bại là tẩu, trì, hãm, băng, loạn, bắc. Không phải do tai họa trời đất mà là sai lầm của tướng lĩnh gây ra.

”Tẩu” là địa thế như nhau mà chỉ huy nhu nhược, không quyết đoán.

”Trí” là binh sĩ hăng hái mà chỉ huy nhu nhược, tất nhiên kém sức chiến đấu.

”Băng” là chỉ huy nổi giận mà binh sĩ không phục, gặp phục địch cứ tự ý xuất chiến, chủ tướng lại không hiểu năng lực của binh sĩ, ắt sẽ bại như núi lở.

”Loạn” là tướng lĩnh nhu nhược, không uy nghiêm, huấn luyện không có bài bản, quan hệ trên dưới không ra thể thống gì, bày trận lộn xộn, tự mình làm rối quân đội của mình.

”Bắc” là tướng lĩnh không biết phán đoán chính xác tình hình địch, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh, tác chiến lại không có lực lượng mũi nhọn, cầm chắc thất bại.

Sáu tình huống ấy là nguyên nhân dẫn đến thất bại, tướng lĩnh có trọng trách không thể không suy xét kỹ.

Địa hình là điều kiện hỗ trợ cho việc dùng binh. Phán đoán tình hình, giành lấy thắng lợi, khảo sát địa hình lợi hại, tính toán xa gần, đó là phương pháp mà một tướng lĩnh tài giỏi phải nắm vững. Nắm vững phương pháp rồi mới chỉ huy tác chiến thì chắc thắng, không nắm vững phương pháp đã lo chỉ huy tác chiến thì tất bại.

Sau khi phân tích quy luật, thấy đánh được chắc thắng, dù chúa bảo không đánh vẫn phải kiên trì đánh. Thấy đánh ắt thua, dù chúa bảo nhất định phải đánh cũng có thể không đánh. Tiến không cầu danh thắng, lui không sợ phạm lệnh, chỉ cốt bảo vệ lợi ích của nhân dân và quốc gia, tướng lĩnh thế mới thực sự là người quý của đất nước.

Đối xử với sĩ tốt như con em, họ sẽ cùng ta xông pha vào những nơi hung hiểm, coi sĩ tốt như con yêu quý, họ sẽ cùng sống chết bên ta.

Hậu đãi quân sĩ mà không sử dụng, nuông chiều quân sĩ mà không giáo huấn, phạm pháp mà không phạt thì họ khác nào những đứa con hư, chẳng thể dẫn đi chinh chiến được.

Chỉ biết quân mình có thể đánh mà không hiểu có thể đánh địch được hay không thì mới có nửa phần thắng. Biết có thể đánh được địch mà không hiểu quân mình có đánh nổi không cũng chỉ mới có nửa phần thắng. biết kẻ địch có thể đánh bại được, biết quân ta có thể đánh nổi mà không hiểu địa hình bất lợi cho việc tác chiến thì thắng lợi cũng mới nắm được một nửa.

Người biết dùng binh thì hành động quyết không mê muội, sử dụng chiến thuật biến hóa khôn lường. Thế mới nói: biết địch biết ta, thắng mà không nguy; nắm vững thiên thời địa lời sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn.


Thiên 11: Cửu địa

Tôn Tử nói rằng:

Trong binh pháp có chín thế đất khác nhau:

– Thế đất ly tán:

– Thế đất dễ lui (vào cạn);

– Thế đất tranh giành;

– Thế đất giao thông;

– Thế đất ngã tư;

– Thế đất khó lui (vào sâu)

– Thế đất khó đi lại;

– Thế đất vây bọc;

– Thế đất chết kẹt;

Chư hầu tự đánh trên đất mình, đó là thế đất ly tán:

Vào đất người chưa được sâu, đó là thế đất vào cạn hay dễ lui; Ta chiếm được thì lợi cho ta, địch chiếm được thì lợi cho địch, đó là thế đất tranh giành.

Ta đi lại dễ dàng, địch đi lại cũng dễ dàng, đó là thế đất giao thông. Đất tiếp giáp với ba nước chư hầu, ai đến trước thì giao kết được với dân chúng trong thiên hạ, đó là thế đất ngã tư.

Đi sâu vào đất nước của người, đã vượt qua nhiều thành ấp của địch, đó là thế đất vào sâu hay khó lui.

Ở những vùng núi rừng hiểm trở, có nhiều đầm lầy, các đường xá đi lại rất khó khăn, đó là thế đất khó đi lại; Lối vào thì chật hẹp,lối ra thì quanh co, binh địch ít có thể đánh được binh ta nhiều, đó là thế đất vây bọc; Đánh gấp thì còn sống, không dám đánh gấp thì phải thua chết, đó là thế đất chết kẹt.

Bởi thế cho nên:

– Ở đất ly tán thì không nên đánh đường hoàng.

– Ở đất vào cạn (dễ lui) thì chớ dùng binh.

– Ở đất tranh giành thì chớ tấn công.

– Ở đất giao thông thì chớ đóng binh ngăn đường.

– Ở đất ngã tư, thì nên kết giao với các nước chư hầu.

– Ở đất vào sâu (khó lui) thì nên cướp đoạt.

– Ở đất khó đi lại thì nên bỏ đi nơi khác.

– Ở đất vây bọc thì nên dùng mưu.

– Ở đất chết kẹt thì nên liều đánh.

Ngày xưa kẻ giỏi dùng binh có thể khiến cho quân địch trước sau mất liên lạc, binh nhiều và ít không thể cậy nhờ nhau, người sang và kẻ hèn không thể cứu nhau người trên và kẻ dưới không thể giúp nhau, sĩ tốt ly tán mà không thể tập trung được, binh tụ hợp mà không thể chỉnh tề kẻ dùng binh thấy có lợi thì dấy không có lợi thì dừng. Nếu quân địch kéo đến đông đảo và chỉnh tề thì ta phải làm thế nào?

Trước hết hãy đoạt hết chỗ thiết yếu của chúng, như thế ắt chúng phải nghe theo ta. Việc binh cốt yếu phải mau lẹ, thừa dịp địch không kịp xoay trở, ta đi theo nhưng đường lối mà chúng không ngờ tới để đánh vào những chỗ mà chúng không phòng bị. Binh giữ vai khách ở nước người, tiến vào sâu thì được chuyên nhất, chủ nhân không thể khắc trị nổi. Ta chiếm đoạt những đồng ruộng phì nhiêu để nuôi sống ba quân; ta bồi dưỡng sĩ tốt đừng bắt họ làm lụng vất vả, để dồn chứa khí lực cho họ, khi động dùng thì dùng mưu kế lạ khiến cho kẻ địch không thể lường được. Ta ném binh vào chỗ không thể tháo lui nên binh ta dẫu chết cũng không trốn chạy thế mà không lẽ chịu chết mà không được gì sao bởi thế nên sĩ tốt hết lòng chiến đấu.

Binh sĩ bị vây hãm quá mức ắt không còn lo lắng sợ hãi nữa, không có chỗ chạy nên phải vững chí, tiến vào sâu nên không bị trói buộc cực chẳng đã phải đánh vậy. Cho nên binh ấy không cần phải căn dặn gì mà vẫn giữ gìn, không cầu mong mà được lòng sĩ tốt, không cần ước thúc mà thương yêu bề trên không ccàn nói mà đã tin cậy. Cấm bàn điềm gở, trừ khử ngi ngờ thì binh ấy đến chết cũng không thay lòng.

Sĩ tốt ta không thừa tiền của không phải họ ghét tiền của, họ không tiếc tính mạng không phải họ ghét sống lâu. Ngày ra lệnh sĩ tốt kẻ thì ngồi khóc nước mắt chảy ướt áo, kẻ thì nằm khóc lệ tràn ướt má. Ném binh ấy và chỗ không chạy được thì họ sẽ dũng cảm như Chuyên Chư và Tào Quệ.

Binh biết dùng sẽ như con suất nhiên. Suất nhiên là giống rắn ở Thường Sơn. Đánh vào đầu thì đuôi quặt lại đâm, đánh vào đuôi thì đầu quay lại cắn, đánh vào mình thì đầu đuôi đều quặp vào giữa.

Có thể dùng binh như con suất nhiên được không? Có thể. Người ở nước Ngô và người ở nước Việt tuy ghét nhau nhưng khi ngồi chung một thuyền để qua sông gặp phải sóng gió, thì cùng cứu nhau như tay trái và tay mặt vậy.

Trói chân ngựa chôn bánh xe đều chưa đủ tin rằng đứng yên một chỗ. Làm sao cho mọi người cùng một lúc trở nên bạo dạn như một người, như thế mới đúng là phép cầm binh. Ba quân cứng hay mềm mạnh hay yếu, đều có thể dùng được cả, đó là nhờ địa thế vậy. Cho nên kẻ giỏi dùng binh, sai sử ba quân giống như dẫn dắt một người thành thử họ cực chẳng đã phải tuân theo vậy.

Khi mưu đồ việc gì bậc tướng súy phải lặng lẽ để được sâu kín, phải ngay thẳng chỉnh tề để được trị được yên, phải bịt tay che mắt sĩ tốt khiến cho họ chẳng biết được ý mình, phải đổi công việc thay mưu kế khiến cho sĩ tốt không hiểu được việc mình, phải dời chỗ ở dẫn binh đi quanh kẹo, khiến cho sĩ ttố không lường được kế mình.

Tướng sĩ dẫn binh đi lâm trận cũng như leo lên cao rồi vứt thang đi; dẫn quân đi sâu và đất chư hầu, đốt thuyền đập nồi để phát động tâm cơ của sĩ tốt, giống như là xua một bầy dê xua qua thì qua xua lại thì tìm lại, chẳng biết là đi đâu; nắm ba quân, ném vào nơi hiểm yếu đó là công việc của tướng súy.

Cách ứng biến của chín thế đất, điều lợi hại sự co duỗi, lẽ thường của nhân tình, đó là những điều mà tướng súy không thể không xét kỹ.

Theo phép đem quân giữ vai khách ở nước người thì:

  • Vào sâu ắt được chuyên nhất;
  • Vào cạn ắt phải ly tán;
  • Ra khỏi nước mình, vượt biên giới để đóng quân đó là đất cách tuyệt;
  • Giao thông được bốn nước đó là đất ngã tư;
  • Đã vào sâu rồi đó là đất khó lui;
  • Mới vào cạn đó là đất dễ lui;
  • Mặt sau hiểm trở không lui được, mặt trước có đèo ải khó qua, đó là ở đất vây bọc;
  • Không có lối thoát đó là ở đất chết kẹt;

Bởi thế cho nên:

  • Ở đất ly tán ta thống nhất ý chí của ba quân;
  • Ở đất dễ lui ta cho ba quân đi liền nhau vì đó đồn chấn giữ liền nhau;
  • Ở đất tranh giành ta đem quân đánh vào lưng địch;
  • Ở đất giao thông ta giữ gìn cẩn thận;
  • Ở đất ngã tư, ta củng cố tình giao hảo với các nước chư hầu;
  • Ở đất vào sâu (khó lui) ta lo chu cấp đều dặn lượng thực cho quân sĩ;
  • Ở đất chết kẹt ta cho sĩ tốt biết rằng không thể sống còn;
  • Ở đất vây bọc ta cho bít chỗ hở;
  • Ở đất khó đi lại ta đi qua khỏi cho gấp rút.

Cho nên tình trạng việc binh phải như sau:

  • Bị vây thì phải chống cự.
  • Cực chẳng đã nên phải đánh.
  • Bị địch bức bách quá nên phải tuân lệnh tướng súy.
  • Không biết được mưu kế của chư hầu thì không tính trước việc kết giao.
  • Không biết hình thế núi rừng, đầm lầy hiểm trở như thế nào thì không thể hành quân.
  • Không dùng kẻ hướng đạo thì không thể lấy địa lợi.

Trong những điều đấy không biết một thì không đáng gọi là binh của bậc bá vương Binh của bậc bá vương hễ đánh nước lớn nào thì khiến cho binh của họ không thể tụ hợp được, uy hiếp địch đến nỗi các nước khác không giám đến kết giao với địch.

Bởi thế cho nên không cần tranh giành việc kết giao với thiên hạ, không cần bồi đắp quyền thế của mình đối với thiên hạ, chị tin cậy thực lực riêng của mình để uy hiếp địch quốc nên có thể đánh lây thành của họ. Nên ban thưởng đạc biệt ra ngoài phép ban thưởng, nên ra những mệnh lệnh đặc biệt ra ngoài thông lệ, thì có thể sử dụng ba quân như sai khiến một người. Bày công việc ra để sai khiến mà chớ nói trước cho biết, bày điều lợi để sai khiến mà chớ cho thấy điều hại.

Ném binh vào đất mất rồi mới còn, để binh bị vây hãn ở đất chết rồi sau mới cho sống. Để cho binh thấy sự nguy hại đe dọa ròi sau ta mơi làm chủ sự thắng bại được.
Phép dùng binh là giả vờ thuận theo ý địch, dồn binh đánh vào một hướng , từ ngàn dặm đế giết tướng địch, đó gọi là khéo nên làm nên việc.

Ngày quyết định dấy binh hãy đóng chặt các nơi quan ải, hủy bỏ phù tiết không thông sứ với địch quốc, truớc phải tính toán cẩn thận chốn miếu đường để sắp đặt công việc cho được chu đáo. Thấy địc sơ hở chỗ nào thì vội len vào. Muốn đánh chiếm chỗ thiết yếu nào thì phải giấu kín ý địng của ta, phải tùy theo địch tình mà sắp đặt kế hoạch chiến đấu.

Lúc mới đầu binh phải như gái tơ, chờ địch hé cửa thì sông vào như thỏ chạy chốn khiến địch không kịp chống cự.


Thiên 12: Hỏa công

Tôn Tử nói:

Có năm cách đánh bằng lửa:

  • Thứ nhất là đốt dinh trại để giết người;
  • Thứ hai là đốt lương thảo tích trữ;
  • Thứ ba là đốt xe cộ;
  • Thứ tư là kho lẫm;
  • Thứ năm là đốt đội ngũ để làm giặc rối loạn.

Muốn dùng hoả công, phải có nhân duyên, các hoả khí phải chuẩn bị sẵn sàng.
Muốn phóng hoả phải chờ thời tiết, muốn châm lửa phải chọn ngày.
Thời tiết thuận lợi là khí trời nắng ráo.

Ngày thuận lơị là ngày mà mặt trăng ở lại trong các sao Cơ, Bích, Dực, Chẩn. Những ngày mặt trăng ở lại trong các sao ấy là những ngày nổi gió.

Khi dùng hoả công, phải biết ứng biến tuỳ theo năm trường hợp phóng hoả:

  • Lửa cháy ở bên trong thì gấp tiếp ứng ở bên ngoài;
  • Lửa cháy rồi nhưng binh địch vẫn yên lặng, hãy chờ xem mà chớ vội đánh;
  • Khi lửa cháy to, vào được thì vào, không vào được thì thôi;
  • Lửa đã cháy được ở ngoài, thì không cần nội ứng, lựa dịp thuận lợi mà đánh vào.
  • Lửa cháy ở trên luồng gió thì chớ ở dưới luồng gió đánh lên.
  • Ban ngày có gió nhiều, thì ban đêm không có gió.

Nhà binh phải biết năm trường hợp phát hỏa ấy và phải tính toán ngày giờ, phương hướng để mà giữ gìn.

Dùng lửa để trợ giúp vào sự tấn công thì sáng sủa dễ thấy, dùng nước để trợ giúp vào sự tấn công thì được mạnh thế hơn. Nước có thể dung để ngăn chặn, chớ không thể dùng để chiếm đoạt.

Đánh thì thắng, giành thì lấy được, mà không tưởng thưởng công lao của sĩ tốt, đó là một điều nguy hại, như thế chỉ ở lại đất địch tiêu phí tiền một cách vô ích. Cho nên Vua sáng phải lo tính điều ấy, tướng tài phải sắt đặt việc ấy.

Không thấy lợi thì đừng dấy binh, không nguy khốn thì đừng đánh.

Nhà vua không nên vì giận giữ mà dấy binh, tướng không nên vì oán hờn mà gây chiến. thấy có ích lợi cho nước nhà thì dấy binh, không thấy ích lợi thì thôi.

Đã giận có thể mừng trở lại, đã hờn có thể vui trở lại; nước mất rồi thì khó lấy lại người chết rồi thì không thể sống lại.

Cho nên vua sáng phải cẩn thận về việc ấy, tướng tài phải cảnh giác về điều ấy, đó là phép yêu nước, giữ binh được vẹn toàn.


Thiên 13: Dùng gián điệp

Tôn Tử nói:

Phàm dấy binh mười vạn, đi xa ngàn dặm, tính chung các phí tổn của trăm họ, sự cung phụng của các nhà công. mỗi ngày lên tới ngàn lạng vàng; trong ngoài phải náo động, nhân dân chịu vất vả vì việc phu dịch ở dọc đường, bỏ bê công việc làm ăn, lên tới bảy mươi vạn nhà.

Kéo dài đến nhiều năm để tranh thắng lợi trong một ngày,mà lại không dám ban tước lộc,không dám thưởng trăm lạng vàng để dùng gián điệp, đến nỗi không biết tình hình quân địch, đó là hạng người hết sức bất nhân: người ấy chẳng đáng làm chủ tướng cuả mọi người, chẳng đáng làm tôi phò chúa,không thể làm chủ đựơc sự thắng lợi vậy!

Cho nên các bậc vua sáng tướng tài, sở dĩ dấy binh thắng địch, thành công hơn người, đó là nhờ biêt trước vậy.

Biết trước đây, không phải nhờ quỷ thần mách bảo, không phải nhờ so sánh các việc tương tự mà tìm biết được, phải nhờ người mà biết được tình hình của quân địch.

Dùng gián điêp thì có năm loại:

  • Nhân gián( hương gián )
  • Tử gián
  • Nội gián;
  • Sinh gián
  • Phản gián.

Khi năm hạng gián điệp ấy cùng khởi sự, không ai biết được các đường lối dò xét hiểm hóc của họ như thế mới là thần bí, đáng gọi là vật báu của vua loài người vậy.
Nhân gián, là nhân lấy người làng bên nước địch để dùng làm gián điệp.

Nội gián là nhân lấy quan lại của địch để dùng làm gián điệp.

Phản gián là nhân lấy gián điệp của địch để dùng làm gián điệp cho mình.

Tử gián là ta phô trương các vật trả giá ngoài, báo cho gián điệp của ta biết để truyền tin cho địch;

Sinh gián là hạng gián điệp trở về được để báo cáo tình hình.

Trong ba quân, xét chung những người thân thiết với tướng suý thì không ai thân thiết cho bằng gián điệp,xét chung những kẻ được thưởng thì không ai được thưởng nhiều cho bằng gián điệp, xét chung các việc bí mật thì không việc nào bí mật cho bằng gián điệp.

Không phải là bậc thánh trí thì không dùng được gián điệp, không phải là bậc nhân nghĩa thì không sai khiến được gián điệp,không tinh vi khéo léo thì không biết được thực tình nhờ gián điệp

Vi diệu thay! Vi diệu thay! Không có việc gì mà không dùng gián điệp.

Gián điệp của địch chưa do thám ta xong mà ta nghe biết trước rồi, thì gián điệp của địch và kẻ cáo giác cho ta biết đều phải giết chết.

Khi muốn đánh quân nào, đều phải biết rõ người tướng trấn giữ, các người thân tín của người tướng, người tiếp khách, người gác cửa, người giữ nhà(quản gia), tên họ của từng người, đều phải kiếm gián điệp của ta tìm tòi mà biết cho đủ.

Tìm cho ra gián điệp mà địch sai tới do thám ta, lấy điều lợi mà dụ dỗ họ, dẫn dắt họ, cho họ ăn ở: như thế có thể dùng họ làm phản gián cho ta được.

Nhờ họ làm phản gián mà ta biết tình hình của nước địch, do đó kiếm được hương gián và nội gián bên nước địch để mà lợi dụng.

Nhân sự phản gián mà biết địch hình, cho nên khiến tử gián bày đặt việc dối trá để đến cáo giác với quân địch.

Nhân sự phản gián mà biết địch tình, cho nên có thể sai phái sinh gián đi về đúng kì hạn.

Năm việc gián điệp nói trên, nhà vua phải biết đủ.

Biết đủ là nhờ ở phản gián, cho nên phản gián không thể không hậu đãi. Ngày xưa khi nhà Ân khởi nghĩa thì ông Y Doãn ở bên đất nhà Hạ để dò xét; khi nhà Chu khởi nghĩa thì ông Lã Vọng ở bên đất nhà Ân dò xét. Chỉ bậc vua sáng, tướng tài mới có thể dùng bậc Thượng Trí làm gán điệp nên đều thành công lớn. đó là điều cốt yếu của việc binh bị, ba quân nhờ cậy vào đó mà hành động.


Các loại địa hình chiến đấu

(Nghiên cứu về binh pháp Tôn Tử)

Tản địa

– Khu vực xảy ra tác chiến trong nội địa của bản quốc, được gọi bằng tản địa. Tại sao gọi là tản địa? Tào Tháo bảo: Vì quân sĩ quyến luyến quê hương, đường sá tương đối gần, con người dễ tan tác mất mát. Tôn Vũ cho rằng ”tản địa thì đừng đánh”. Hà cớ gì tản địa lại dừng đánh? Kẻ địch dám xâm phạm, chứng tỏ chúng có ưu thế, quân phòng thủ ở vào cái thế tương đối yếu cho nên tránh việc vội vàng tác chiến, chỉ nên dùng phương cách phòng thủ, tiêu diệt dần sinh lực địch, đợi thời cơ có lợi sẽ quyết chiến với kẻ thù. Do vậy, Tôn Vũ lại nhấn mạnh: quân sĩ đóng nơi tản địa, điều quan trọng là họ phái có ý chí chiến đấu thống nhất, lòng người son sắt. ”Không tảc chiến” không có nghĩa không đánh. Ý nói không dùng thế công mà chủ yếu dùng phương cách phòng thủ.

Khinh địa

– Khu vực tác chiến tung thâm gần đất nước của kẻ thù được gọi bằng khinh địa. Tiến vào đất nước của kẻ thù chưa sâu, tương đối gần đất nước mình, đường giao thông của tuyến sau không dài, dễ vận chuyển lương thực và vũ khí. Nhưng đã tiến sâu vào nội địa của kẻ thù, khó tránh khỏi sự chống trả của đối phương, cho nên quân sĩ đóng ở vùng khinh địa phải bảo vệ chặt trận địa của bên mình. Tôn Vũ bảo: “Khinh địa thì không ngừng hoạt động”. Phàm quân đội đã tiến vào đất nước của kẻ thù thì nhất thiết phải dựa vào ưu thế quân sự của mình mà đánh vào mặt yếu của đối phương. Thành ra, lúc mới tác chiến phải chủ động phát huy ưu thế tấn công, không được án binh bất động. Phải ra sức tiến sâu vào đất nước của đối phương, tiêu diệt kẻ thù trước khi chúng nghĩ ra cách phòng thủ mới nhằm đạt được mục đích chiến đấu.

Tranh địa

– Là khu vực quan trọng về chính trị, kinh tế và quân sự. Tôn Vũ nhận định, bên nào có được tranh địa thì bên đó có lợi thế. Thành ra tranh địa là mục tiêu tranh giành của đôi bên. Tác chiến trong vùng tranh địa phải chú ý mấy phương diện sau đây:

  • Một là: vùng đất quan trọng nhưng trống vắng. Sự tranh chấp của đôi bên (về nó) chưa phân thắng bại. Mấu chốt của sự thắng bại lúc này là ở cự ly gần xa của đôi bên đối với vùng đất đó, tình trạng đường giao thông qua lại ở đấy và dụng cụ làm đường của bộ đội. Trước tình hình ấy, bộ đội trước hết nên nhanh chóng hành quân tới con đường mà kẻ địch sẽ ngăn chặn đường tiến quân của đối phương nhằm bảo đảm cho bộ đội chủ lực chiếm lĩnh được địa hình.
  • Hai là: kẻ địch đã chiếm được vùng đất đó, nhưng chưa ở thế vững vàng. Nếu bên ta lúc này có ưu thế về binh lực, nên lập tức dùng phương pháp tấn công. (Ngày nay gọi là đánh vào nơi địch tạm trú quân, chưa ổn định)
  • Ba là, kẻ địch đã chiếm được vùng đất đó và có đông quân cố thủ. Trong trường hợp này, không nên công khai tấn công. Có thể điều một ít lực lượng tinh nhuệ, gấp rút đánh thọc vào sau lưng địch, tiến sâu vào hậu phương của chúng, phá hoại đường giao thông, quấy rối kẻ thù.
  • Bốn là, bên ta đã chiếm được vùng đất quan trọng đó, nhưng kẻ địch có ưu thế tuyệt đối về binh lực và vũ khí, bên ta khó giữ nổi thì đành bỏ mặc vùng đất đó cho kẻ địch chiếm giữ, thừa cơ phân tán binh lực của chúng.

Giao địa

– Vùng đất nằm ở giao điểm của hai trục đường ngang dọc. Ở vùng đất này, quân ta có thể đi qua, kẻ địch cũng có thể lại đến. Tôn Vũ nhận định: ”Giao địa thì vô tuyệt”. Về hàm nghĩa của câu này, sách ”Mười nhà chú thích Tôn Tử” đều có những cách giải thích khác nhau. Chữ ”tuyệt” ở đây nên hiểu là đoạn tuyệt, tựa như lời nói đầu về vấn đề hành quân mà người chỉ huy phải ghi nhớ. Bởi là tụ điểm giao thông, dễ bị kẻ địch cắt đứt. Cho nên, Tôn Vũ mới nhắc nhở ”bên ta phải cẩn thận bảo vệ nó”, nhấn mạnh khi tác chiến ở vùng đất này, quân đội phải tăng cường việc phòng thủ.

Cù địa

– Khu vực ranh giới giữa nhiều nước với hệ thống giao thông phát triển. Với khu vực này, một nước nào tấn công, thường thường ảnh hưởng đến các quốc gia khác. Hoặc giả, có thể lợi dụng được quốc gia khác. Bởi vậy phải tìm cách tranh thủ các quốc gia khác, tăng cường thực lực bên mình. Tôn Vũ nêu bật công việc kết thân với các chư hầu, không phải chỉ tiến hành khi chiến tranh nguy cấp. Điều chủ yếu là phải có chính sách láng giềng hữu hảo lúc thời bình, bang giao gắn bó.

Trọng địa

– Khu vực nằm sâu trong nội địa của kẻ thù, rời xa thành phố và ấp trại của bên ta, được gọi bằng trọng địa. Tôn Vũ quan niệm: trong việc tác chiến, ”trọng địa thì giành lấy”, ”trọng địa giúp bên ta vận chuyển đều đặn lương thực” (thiên cửu địa). Quân đội tiến sâu vào khu tung thâm của địch, đường giao thông giữa hậu phương và mặt trận kéo dài ra, còn luôn bị kẻ thù đánh phá, thường xảy ra tình trạng giao thông gián đoạn. Thành thử có một số vật tư chiến tranh, nhất là lương thực, cần phải cướp tại chỗ để bảo đảm cho cuộc sống của quân đội ta, là hiện tượng bình thường.

Tỵ địa

– Khu vực núi non hiểm trở và ao hồ được gọi là tỵ địa. Đặc điểm của tỵ địa là đi lại khó khăn. Vì thế nhắc nhở ”tỵ địa thì bước qua”, nghĩa là quân sĩ khi tác chiến ở khu vực này cần nhanh chóng xa rời nó, không nên ở lại lâu.

Vi địa

– Đường tiến chật hẹp, đường thoái xa xăm, khu vực tác chiến này được gọi là vi địa. Tôn Vũ cảnh báo: ”vi địa thì phải tìm mưu kế”; Quân đội hoạt đông trong khu vực vi địa phải nghĩ ra mưu kế để vừa có thể tiến, vừa có thể thoái, đồng thời còn phải đánh lừa kẻ địch, chờ lúc chúng chểnh mảng, đột nhiên tấn công. Tôn Vũ còn bảo: ”Với vi địa, bên ta cần đóng cửa phòng thủ” (thiên cửu địa). Câu này ý chỉ trong trường hợp bên ta bị bao vây, cần chủ động lấp cửa phòng thủ, nhằm tránh việc kẻ thù dùng mẹo ”ba vây một đóng” để làm lung lay quyết tâm cố thủ trận địa của tướng sĩ. Ngược lại khi kẻ thù vướng, mắc trong vòng vây nên dùng mưu lược, thực hiện chiến thuật tấn công bằng tâm lý, vận dụng các phương cách làm tan rã đội ngũ, gọi hàng và công phá, nhằm thực hiện mục đích của việc chiến đấu.

Tử địa

– Khu vực không có lối thoát gọi là tử địa. Tác chiến trong khu vực tử địa nếu tham sống sợ chết thì bỏ mạng là cái chắc. Chiến đấu dũng cảm sẽ được tồn tại. Do đó, ở trong vùng “tử địa”, phải ra sức chiến đấu, trong cái chết mưu cầu sự sống. Khi quân sĩ rơi vào vùng tử địa, tướng lĩnh phải thể hiện trước ba quân lòng cảm tử, khiến toàn thể quân sĩ quyết giành lấy sự sống trong vùng tử địa.

Việc tìm phương cách tác chiến thích hợp với địa hình là nguyên tắc tác chiến cơ bản của bộ binh. Thời xưa chưa có các quân chủng hiện đại như không quân và hải quân. Mọi cuộc chiến tranh đều diễn ra trên mặt đất, dẫu là trong chiến tranh hiện đại, không quân và hải quân cũng phải nghĩ đến sự ảnh hưởng của cơ cấu lục quân đối với mình.

Vì vậy, việc tìm phương cách tác chiến thích hợp với địa hình vẫn là điều cực kỳ quan trọng đối với chiến tranh hiện đại.


Phụ Lục

Thắng chiến kế gồm có: 1-Man thiên quá hải (dối trời qua biển) 2-Vi Ngụy cứu Triệu (vây Ngụy cứu Triệu) 3-Tá đao sát nhân (mượn dao giết người) 4-Dĩ dật đãi lao (lấy nhàn đãi mệt) 5-Tấn hỏa đả cướp (nhân cháy nhà đánh cướp) 6-Thanh ngôn kích tây (nói thẳng là đánh phía tây) Địch chiến kế gồm có: 1-Vô trung sinh hữu (trong không sinh có) 2-Ám độ Trần Thương (lén đi qua Trần Thương – ghi chú người đọc: nay ở tỉnh Thiểm Tây) 3-Cách ngạn quan hỏa (cách bờ xem lửa) 4- Lý đại đào cương (mận chết thay đào) 5-Thuận thủ khiên dương (thuận tay bắt dê) 6-… đây thiếu một kế Công chiến kế gồm có: 1-Đả thảo kinh xà (đánh cỏ động rắn) 2-Tả thi hoàn hồn (mượn xác trả hồn) 3-Điệu hổ ly sơn (bắt hổ lìa núi) 4-Dục cầm cố túng (muốn bắt thì thả) 5-Phao chuyên dẫn ngọc (ném gạch đưa ngọc đến) 6-Cầm tặc cầm vương (bắt giặc bắt vua) Hỗn chiến kế gồm có: 1-Phú để trừu tân (rủi củi dưới đáy nồi) 2-Hỗn thủy mô ngư (đục nước mò cá) 3-Kim thiền thoát xác (ve vàng lột xác) 4-Quan môn trúc tặc (đóng cửa bắt giặc) 5-Viễn giao cận công (xa thì chơi, gần thì đánh) 6-Giả đạo phạt Quắc (mượn đường đánh Quắc) Tịch chiến kế gồm có: 1-Du lương hoán trụ (trộm rường thay cột) 2-Chỉ tang mạ hoè (chỉ cây dâu mắng cây hoè) 3-Giả si bất điên (giả ngu không điên) 4-Thượng ốc trừu thê (lên nhà rút thang) 5-Thụ thượng khai hoa (trên cây hoa nở) 6-Phản khách vi chủ (đổi khách làm chủ) Bại chiến kế gồm có: 1-Mỹ nhân kế 2-Không thành kế 3-Phản gián kế 4-Khổ nhục kế 5-Liên hoàn kế 6-Tẩu vi thượng. Đó là 36 kế của người Trung Hoa.


Phương pháp 4 làm chủ

(Nghiên cứu về binh pháp Tôn Tử)

Tôn Vũ (Tôn Tử) cho rằng, sự tốt xấu về nhân tố tinh thần, sự mạnh yếu về tình trạng thể lực, cái ưu cái khuyết trong việc bố trí trận địa chiếm một vị trí quan trọng trong vấn đề tác chiến. Do vậy ông nêu lên phương pháp “bốn làm chủ”: “Làm chủ chí khí, làm chủ nhân tâm, làm chủ nhân lực và làm chủ sự biến đổi”. Ông phát biểu trong “Thiên quân tranh”: “Ban ngày thì chí khí sắc sảo, ban đêm thì chí khí cùn nhụt, chập tối thì chí khí trở về, đó là làm chủ chí khí; đối xử với rối loạn bằng sự làm chủ, đối xử với ồn ào bằng yên tĩnh, đó là làm chủ nhân tâm; đối xử với cái xa bằng cái gần, đối xử với cái đói bằng cái no, đó là làm chủ nhân lực; không cầu được cờ chính thống, chớ đánh vào trận địa một cách đường hoàng”, đó là làm chủ sự biến đổi.

Phương pháp “Bốn làm chủ” được Tôn Vũ nêu lên như sau:

Làm chủ chí khí:

Thời xưa, tác chiến gắn liền với việc đánh nhau trực tiếp, sự thắng bại của chiến tranh với dũng khí của quân sĩ có mối quan hệ cực kỳ mật thiết. Sĩ khí và ý chí chiến đấu là nhân tố hàng đầu của sức chiến đấu. Sĩ khí dâng cao thì dễ dành thắng lợi, sĩ khí sa sút thì thường dẫn đến thất bại.

Làm chủ nhân tâm:

Ý nói trước trận đánh và trong trận đánh, tướng soái không được dao động hoặc dễ dàng thay đổi quyết tâm chiến đấu như đã tuyên thệ. Chữ “Tâm” ở đây người thời trước gọi bằng “bản tâm”, “tâm mưu”, mặc dầu nội dung của nó bao gồm các phương diện khí chất tinh thần và tu dưỡng tư tưởng, nhưng hạt nhân là lòng quyết tâm chiến đấu của tướng soái.

Xung quanh vấn đề lòng quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy, Tôn Tử nói trong “Thiên quân tranh”: “Tướng có thể dành lòng người”. Ông còn bảo: “Đối xử với rối loạn bằng việc làm chủ, đối xử với sự ồn ào bằng sự yên tĩnh, đó là làm chủ nhân tâm”. Điều này nói lên cuộc đấu tranh giữa lòng quyết tâm chiến đấu của bên ta với lòng “lung lay” hay cái “vững tâm”, “Đoạn tâm” trong quyết tâm chiến đấu của đối phương. Về “vững tâm” một nhà học giả họ Hà chú thích: “Không có vị tướng nào lại muốn đơn độc một mình, chỉ dựa vào sự tinh tế khôn ngoan của một cá nhân, mà muốn liên kết với hàng vạn con người, để đối phó với kẻ địch như hổ, báo. Cái lợi cái hại đan xen, cái thắng cái bại lẫn lộn, người tài trí phải biến, trù liệu trong tâm trí, không phóng đại sự việc, phải ngăn nắp được thế sao chẳng đáng gọi là ứng biến khôn cùng, xử sự rạch ròi?”. Đó là nói về tầm quan trọng của “vững tâm”. Đỗ Mục phát biểu: “Tư Mã Pháp nói: Bản chất phải vững vàng, biết được kẻ địch sẽ có cách đối phó, bản tâm ổn định, nhưng còn phải biết điều khiển nó, làm cho thế ổn định càng trở nên chắc chắn, đừng bận tâm đến sự nhiễu loạn, đừng vì cái lợi trước mắt. Đợi chừng nào kẻ địch rối loạn, ồn ã thì xuất quân tấn công”. Đấy là nói về yêu cầu của “vững tâm”. Trương Dự bảo: “Lấy trừng trị đối xử với rối loạn, lấy cái tĩnh lặng đối xử với cái ồn ào, lấy cái bình tâm đối xử với cái nôn nóng, lấy sự nhẫn nại đối xử với giận dữ, đó là nói về phương pháp của “vững tâm”. Về “đoạn tâm”, Lý Chuyên nói: “Bực tức dẫn đến phẫn nộ, càn quấy dẫn đến rối loạn, nhỏ nhen đi đến kiêu căng, ngăn cách dẫn đến xa lạ”. Đó là nói về các phương pháp “đoạn tâm”.

Làm chủ nhân lực:

Ý chỉ việc tiêu hao và làm mỏi mệt sức chiến đấu của kẻ thù. Tôn Vũ nêu lên phương pháp “làm chủ nhân lực” trong “Thiên quân tranh”: “Đối xử với cái xa bằng cái gần, đối xử với cái mệt nhọc bằng cái thư nhàn, đối xử với cái đói bằng cái no”. Ông cho rằng lúc tác chiến phải nuôi dưỡng bằng cái tinh nhuệ, có thế mới có khả năng giành thắng lợi. Tôn Vũ còn bảo: “Giao chiến với kẻ địch sau cuộc hành quân đường dài, điều đó làm hao tổn binh lực, vì binh sĩ đã chịu nhiều cơ cực trên đường đi, sinh lực mệt mỏi dẫn đến cạn kiệt, tất nhiên dẫn đến tình trạng hao binh tổn tướng.

Làm chủ sự biến đổi:

Cơ mưu quân sự biến đổi khôn lường, khi đã nắm được quyền chủ động trên chiến trường, vẫn không thể xem nhẹ vai trò của chiến thuật “làm chủ sự biến đổi”, cái gọi là làm chủ sự biến đổi ấy là nắm vững phương pháp biến hóa cơ động. Điều mà Tôn Vũ đề cập trong “Thiên quân tranh”: “Không cầu được cờ chính thống, chớ đánh vào trận địa một cách đường hoàng” chính là ứng biến. “Cờ chính thống”, “trận địa đường hoàng” là chỉ tình thế quân đội khi có khí thịnh vượng, quân dung nghiêm chỉnh, thực lực hùng hậu và có sự chuẩn bị, đầy đủ về mặt tư tưởng, loại kẻ thù này, vừa mạnh vừa có sự chuẩn bị, tất nhiên là khó đánh, lúc này phải gác lại ý định tác chiến với bọn chúng. Cần sử dụng nhiều thủ pháp của chiến thuật làm chủ ý chí, làm chủ nhân tâm, làm chủ nhân lực… biến đổi chúng theo tình hình của địch, hoặc công phá hay cố thủ, hoặc tiến hay thoái, hoặc chính quy hay kỳ lạ, nhằm giành thắng lợi.


Tam thập lục kế

(Nghiên cứu về binh pháp Tôn Tử)

Dương đông kích tây (Đánh lạc hướng đối phương)

Kế “Dương đông kích tây” là reo hò giả vờ như thật sự đánh vào phía đông, nhưng chủ yếu lại đánh vào phía tâỵ.

Trong tất cả mọi vấn đề của xã hội, từ chiến trường, thương trường, chính trường cho đến tình trường; nếu muốn điều này nhưng lại giả làm điều kia, nói điều này mà làm điều nọ, ấy là “Dương đông kích tây” vậỵ

Kế này mờ ảo vô song. Nó rất khó biết, khó đoán, bị đánh bất ngờ. Kế này nhằm chuyển mục tiêu để lừa dối đối phương, khiến cho địch sơ ý, lừa lúc bất ý tấn công kẻ không chuẩn bị.

Có nhiều cách thức để thực hiện kế này, như:

  • Tạo tin đồn. – Làm rối tai rối mắt địch.
  • Buộc đối phương lo nhiều mặt.
  • Mê hoặc ý chí của địch. – Nghi binh.
  • Làm phân tán lực lượng đối phương.
  • Làm yếu lực lượng đối phương, lực lượng phòng vệ địch.
    Nguyên tắc của ” Dương đông kích tây” là bí mật và chủ động. Bị động coi như phải chịu sự khống chế của địch.
    Điều kỵ khi dùng kế ” Dương đông kích tây” là để lộ cơ.
    Lộ cơ là mất hết khả năng phòng bị, chuẩn bị. Dù là trên chiến trường, thương trường hay chính trường cũng đều phải giữ bí mật và nắm được thế chủ động.

Điệu hổ ly sơn (Dụ hổ ra khỏi rừng)

Kế “Điệu hổ ly sơn” là nhử, dụ hay khuấy động làm cho con hổ ra khỏi rừng.

Kế “Điệu hổ ly sơn” có hai lối: Một là nhử hổ ra khỏi rừng để dễ dàng giết hổ. Hai là đuổi hổ đi để dễ bắt giết những loại hồ ly vẫn dựa oai hổ mà hoành hành.

Nhất tiễn hạ song điêu (Một mũi tên hạ hai con chim)

Kế “Nhất tiễn song điêu” là dùng một mũi tên bắn chết hai con chim.
Ý của mưu kế này là dùng sức lực tối thiểu để đạt đến hiệu quả tối đa.

Minh tri cố muội (Biết rõ mà làm như không biết)

Kế “Minh tri cố muội” là biết thật rõ chuyện đấy, nhưng làm ra vẻ không biết gì.
Với người xưa, đây là một triết lý xử thế rất cao, mục đích lại ẩn trốn tất cả những tiếng thị phi nghi hoặc, nhưng theo nghĩa mưu kế, nó là một thái độ thâm sâu.

Cái đức của người quân tử không thể không cho thiên hạ biết, nhưng cái mưu kế của trượng phu không thể không giấu thiên hạ.

Tóm lại, biết rất nhiều mà tỏ ra không biết một là kế “Minh tri cố muội” vậy.

Du long chuyển phượng (Biến rồng thành phượng)

Kế “Du long chuyển phượng” là biến cái này thành cái kia, bên trong là hình rồng đó, nhưng làm cho nó trở thành phượng.

Cái kế này rất phổ biến, trong dân gian ta gọi là “Treo đầu dê, bán thịt chó”.

Mỹ nhân kế (Kế dùng gái đẹp)

“Mỹ nhân kế” là dùng gái đẹp để làm xoay chuyển, thay đổi tình thế mà những cái khác không thể thực hiện được.

Giai nhân từ ngàn xưa đến nay bao giờ cũng là đề tài chính. Tuy là phái yếu, không thể vác gươm đao mà đánh giặc, nhưng các nàng có thể thắng được bằng đôi mắt biếc và nụ cười xinh đẹp.

Có những bức thành kiên cố cả mười vạn quân không hạ nổi, nhưng nó có thể bị sụp đổ bởi ánh mắt mỹ nhân.

Sức mạnh của mỹ nhân đặc biệt là có ảnh hưởng đối với người anh hùng, người có quyền thế.

Sấn hỏa đả kiếp (Theo lửa mà hành động)

Kế “Sấn hỏa đả kiếp” là lợi dụng lúc loạn để thao túng, lúc tình hình rối ren mà sắp xếp theo ý muốn.

Có hai loại “Sấn hỏa đả kiếp”: Một là theo lửa để mà đánh cướp. Hai là chính ta phóng hỏa mà đánh cướp.

Theo lửa tức là thừa lúc người ở trong cơn nguy biến mà ta quấy hỗn loạn thêm.

Phóng hỏa tức là chính ta gây ra sự hỗn loạn mà thực hiện theo ý muốn của ta.

Theo lửa hay phóng hỏa cùng đi chung vào một mục đích là đánh địch và đoạt của địch để tạo cơ hội cho ta.

Theo lửa thì dựa vào thời cơ sẵn có.

Phóng hỏa thì tự ta tạo ra thời cơ.

Không thể phê phán theo lửa hay phóng hỏa, cái nào hay, cái nào dở, cái nào tốt, cái nào xấu, vì cả hai giống như một sự biến ảo giữa không khí và nước.

Trong sử sách, người ta thấy tay phóng hỏa giỏi là Trương Nghi. Một mình Trương Nghi đã phá tan thế hợp tung bằng cách dối Tề, lừa Triệu, dọa Ngụy, thuyết Yên, bịp Sở.
Trương Nghi thật là con người có cái lưỡi bằng lửa thiêu đốt cả sáu nước, dựng thành cơ nghiệp thống nhất cho nhà Tần.

Khổng Minh tuy là một nhà chính trị lỗi lạc tài tình, nhưng cái thế của ông ngay từ đầu chỉ là cái thế phải theo lửa để gây vốn: Lưu Bị bị Tào Tháo đánh chạy đến cùng đường, Khổng Minh đành tính kế nương nhờ Tôn Quyền rồi ăn theo cuộc chiến tranh Nam – Bắc, ăn theo trận Xích Bích để cướp Kinh Châu.

“Sấn hỏa đả kiếp” đòi hỏi một khả năng hành động mau lẹ như con ó bắt mồi.

Vô trung sinh hữu (Không có mà làm thành có)

Kế “Vô trung sinh hữu” là từ không mà tạo thành có.

Thiên hạ không loạn, trật tự không rối thì làm gì có anh hào xuất lộ! Bởi lẽ đó, những anh hào thường được gọi là kẻ “chọc trời khuấy nước”. Mục đích của khuấy nước là làm rối beng sự việc lên để dễ bề thao túng. Thủ đoạn của khuấy nước là gây tiếng tăm, tung tiếng đồn, gây xáo trộn rồi dựa vào đó mà thủ lợi.

Kế “Vô trung sinh hữu” hình dung là tu hú đẻ nhờ, tổ thì chim khác làm, nhưng con tu hú cứ đến đặt trứng của nó vào đó, rồi lại nhờ loài chim khác ấp trứng luôn, khi trứng nở thành chim, tu hú con bay về với bầy tu hú.

Tiên phát chế nhân (Ra tay trước để chế phục đối phương)

“Tiên phát chế nhân” là ra tay trước để dành chiếm ưu thế, để đoạt lợi, để bắt lấy sự chiến thắng.

Kế “Tiên phát chế nhân” là không nói quá xa, viễn vông, mà phải nhìn vào thực tế gần nhất.

Các vụ xảy ra trong lịch sử như: Lý Thế Dân tại Huyền Vũ Môn, Võ Tắc Thiên phế lập Lư Lăng Vương, Ung Chính cướp Bảo Tòa, Từ Hi độc sát Quang Tự, Gia Cát Lượng lấy đất Quang Trung… Tất cả đều là áp dụng thủ đoạn “chớp nhoáng” không cho địch kịp trở tay, không cho dư luận phản ứng kịp.

Vẫn có câu “Tiên hạ thủ vi cường” là vậy.

Đả thảo kinh xà (Đập cỏ làm cho rắn sợ)

Kế “Đả thảo kinh xà” là đập vào cỏ, làm động cho rắn sợ.

Tá đao sát nhân (Mượn đao để giết người)

Kế “Tá đao sát nhân” là mượn dao để giết người, mượn tay người khác để giết kẻ thù của mình.

Ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Sát nhân bất kiến huyết, kiến huyết phi anh hùng”. (Giết người không thấy máu, thấy máu không anh hùng).

Trên đời dĩ nhiên chưa có kẻ nào chỉ giết người mà thành anh hùng, nhưng cũng hiếm có tay anh hùng nào không giết người. Điểm khác nhau không ở có hay không, mà ở chỗ thông minh hay ngu xuẩn. Tào Tháo mượn Lưu Biểu giết Nễ Hành, mượn lòng quân giết Dương Tu rồi lại được làm cái việc mèo già khóc chuột, thật đáng kể là một tay thông minh, gian hùng.

Di thể giá họa (Dùng vật gì để vu khống người ta)

Kế “Di thể giá họa” là đem xác chết hay đồ vật gì bỏ vào nhà người khác để giá họa.
Kế này thường được dùng bởi khối óc quỷ quyệt thông minh, tự mình không ra mặt mà làm cho đối phương bị hại. Như vậy gọi là “giết người không thấy máu”.

Khích tướng kế (Kế chọc giận tướng giặc)

“Khích tướng kế” là kế chọc giận tướng giặc, làm tướng giặc nổi giận. Nổi giận sẽ mất sáng suốt, thiếu suy nghĩ, không tự chủ được con người mình. Mạnh Tử nói: “Nhất nộ nhi an thiên hạ”.

Trong đời có nhiều sự việc được thành tựu bằng một cơn giận và cũng có nhiều việc thất bại bởi một cơn giận.

Bởi vậy cái kế khích tướng cũng là một trong những diệu kế, nếu đạt ra thì kiến thiên hạ, cùng thì mang họa vào thân.

Khích tướng còn là khơi dậy cái hùng khí của người khác để người ấy làm việc cho ta.
Đối tượng tốt nhất của kế khích tướng là những người có tính tình bạo tháo hay sẵn sàng phẫn nộ.

Tuân Tử bảo rằng: “Lời nói khéo êm như lụa, lời nói ác nhọn như giáo mác”.

Thuyết là tiến dẫn lời nói, cái nghĩa căn bản của thuyết làm cho người ta nghe theo.
Hiệu quả của thuyết rất lớn. Bởi thế mới có câu: “Thiên hạ tĩnh, nhất ngôn sử chi động. Thiên hạ động, nhất ngôn sử chi tĩnh”. (Thiên hạ đang yên lặng, một lời nói làm náo loạn. Thiên hạ đang náo loạn, một lời nói làm lắng dịu).

Căn bản mưu thuật của thuyết, theo Tuân Tử có bốn điều: Cơ, dũng, trí, biến.

  • Cơ: Là xem thời độ thế, nhân lợi thuận tiện.
  • Dũng: Là quyết đoán nói những điều không ai dám nói.
  • Trí: Là biết rõ sự tình, tâm lý, giải quyết được thắc mắc, chế phục được người.
  • Biến: Là biến hóa, trong các trường hợp bất trắc.
    Mục đích của thuyết có năm điều:
  • Làm cho người hiểu rõ.
  • Làm cho người tin tưởng.
  • Làm cho người đồng tình.
  • Làm cho người phục.
  • Làm cho người theo.
    Đạt được năm mục đích trên thì kể như nắm chắc phần thắng trong tay.

Man thiên quá hải (Lợi dụng sương mù để lẩn trốn)

Kế “Man thiên quá hải” là lợi dụng lúc trời sương mù mà lẩn trốn, vượt qua hay hành động ngay trong lúc sương mù.

Man thiên, trời u ám không phải hoàn cảnh hoàn toàn bất lợi như một quẻ trong Dịch lý đã nói. Man thiên, không thể ngồi đợi nó tới như sương mù do thời tiết thiên nhiên, mà phải tạo ra nó.

Kế “Man thiên” đem áp dụng thực hiện được cả hai mặt: tiêu cực lẫn tích cực.

Tích cực là đem ánh sáng đến cho một tình thế mờ mịt.

Tiêu cực là lẩn tránh một tai họa, là lợi dụng cơ hội sơ hở của địch để thoát bí. Ở trận Xích Bích, Khổng Minh đã giải quyết vấn đề thiếu tên bắn cho các cung thủ bằng cách lấy mười chiếc thuyền lớn chất đầy rơm, đợi lúc trời sương mù, âm thầm đến trại Tào Tháo nổi trống la hét làm như tấn công. Tào sợ ngụy kế, không dám xông ra, chỉ bắn tên như mưa vào các thuyền rơm. Bằng một đêm đánh trống reo hò, không chết một người, Khổng Minh đã lấy được của Tào Tháo cả trăm ngàn mũi tên.

Ám độ Trần Thương (Đi con đường mà không ai nghĩ đến)

Kế “Ám độ trần sương” là bí mật đưa quân qua con đường mà không ai nghĩ rằng ta sẽ đi qua.

Kế này áp dụng giữa lúc hai bên đang đấu tranh, chiến đấu với nhau.

Mỗi bên đều ra sức giấu mục tiêu thật của mình rồi đưa ra mục tiêu giả mà lừa đối phương.

Đây là công việc rất phức tạp, có một quá trình khúc triết. Như “Tôn Tử Binh Pháp” viết: “Việc binh là trá ngụy, có thể mà làm ra vẻ không có thể, dùng đấy mà tỏ ra không dùng, gần giả làm như xa, xa giả làm như gần. Lấy lợi mà dụ, gây rối mà đuổi, thấy khỏe thì tránh. Đầu tiên là làm mọi cách giảm nhược lực đối phương, sau rồi mới tiến hành dự định.

Muốn dụng kế này phải là người có tầm nhìn xa hiểu rộng và một khối óc tuyệt vời.

Phản khách vi chủ (Đổi vị khách thành vị chủ)

Kế “Phản khách vi chủ” là đổi địa vị khách thành địa vị chủ.

“Phản khách vi chủ” là trong đấu tranh đang ở vào thế bị động nên phải tìm kế hoạch đến chủ động, khách vốn là địa vị bị chi phối, mọi việc đều do chủ đặt định sắp xếp.

“Phản khách vi chủ” là nguyên tắc thường dùng trong đấu tranh. Có chủ động mới khống chế được cục diện. Không có chủ động, không thể thắng lợi.

Kim thiền thoát xác (Ve sầu vàng lột xác)

“Kim thiền thoát xác” là con ve sầu vàng lột xác.

Kế này dùng cho lúc nguy cấp, tính chuyện ngụy trang một hình tượng để lừa dối, che mắt đối phương, đặng đào tẩu chờ một cơ hội khác.

Kế “Kim thiền thoát xác” có một phạm vi rất rộng rãi và phổ biến, bất cứ ai ở hoàn cảnh nào cũng có thể sử dụng được.

Không thành kế (Kế bỏ trống cửa thành)

“Không thành kế” là kế bỏ thành trống, thành bỏ ngỏ.

Kế này có hai loại:

  • Một là lúc tình thế cực khẩn cấp, nguy hiểm như treo trên sợi tóc, buộc phải dùng nghi binh để lừa dối đối phương mà dựa vào đó để trốn thoát.
  • Hai là rút lui với đầy đủ kế hoạch dụ cho địch quân xâm nhập rồi mới bao vây tiêu diệt.
    “Không thành kế” thực ra là một cách tạo nghi âm cho đối phương, mục đích là không cho đối phương sớm có một quyết định.

Cầm tặc cầm vương (Dẹp giặc phải bắt tướng giặc)

“Cầm tặc cầm vương” là dẹp giặc phải bắt chúa giặc.

Phương pháp bắt chúa giặc thật thiên biến vạn hóa, không cứ bằng sức mạnh hay bằng trí khôn. Các kế khác như “Điệu hổ ly sơn”, “Mỹ nhân kế” hay “Man thiên quá hải” đều có thể dùng cho kế “Cầm tặc cầm vương”. Để đối phó với một nhân vật anh hùng, thì dù một quả đạn mà giết hay dùng mỹ nhân kế mà nhử thì cũng như nhau.

Nhưng đa số âm mưu cầm vương được hiệu quả bằng kích thích anh hùng và mỹ nhân kế.

“Tự cổ anh hùng đa hiếu sắc” là vậy.

Việt Vương thua trận rồi, mà chỉ dùng một nàng Tây Thi đã đủ giam cầm Phù Sai. Lý Viên muốn đoạt quyền của Xuân Thân Quân, nên đã cho cô em là Lý Yên sang làm tì thiếp. Đó là những cách gián tiếp để cầm vương.

Ban chư ngật hổ (Giả làm con heo để ăn thịt con hổ)

Kế “Ban chư ngật hổ” là giả làm con heo để ăn thịt con hổ.

Lão Tử nói: “Người cực khôn khéo mà làm ra vụng về”, cũng như câu “đại trí nhược ngu”. Người đi săn thường học tiếng heo kêu rồi tự giả làm heo để nhử con hổ.
Đối với kẻ thù, ta hãy giả ngu như một con heo, trên bề mặt cái gì cũng thuận chịu, lúc nào cũng cười, lúc nào cũng cung kính để cho địch mất hết nghi âm. Chờ thời cơ chín, tìm thấy chỗ nhược của kẻ thù mà đập đòn sấm sét.

  • Dùng việc không gì quan trọng bằng bí mật.
  • Hành động không gì quan trọng bằng thừa lúc bất ý.
  • Dò xét không gì quan trọng bằng làm cho địch không hay biết.
  • Bên ngoài ra vẻ loạn mà bên trong rất có cơ ngũ.
  • Tỏ ra đói mệt nhưng thật là no khỏe.
  • Làm ra ngu xuẩn nhưng rất tinh tường.
    Những câu trên đây chính là căn bản lý luận của kế “Ban chư ngật hổ” vậy.

Quá kiều trừu bản (Qua cầu rồi phá cầu)

“Quá kiều trừu bản” là qua cầu rồi thì phá cầu, ý nói một người sau khi đã thành công, muốn hưởng thụ một mình nên giết hại hoặc xa lánh những người bạn đã đồng lao cộng khổ với mình.

Kế “Quá kiều trừu bản” thường trái ngược với kế “Ban chư ngật hổ”. Qua cầu cất nhịp là lúc đắc thời đắc thế đem thuộc hạ ra mà khai đạo. Còn giả tiếng heo là kế áp dụng giữa lúc ở vào thế kẹt.

Đứng trên lập trường đạo lý thì cất nhịp cầu là một hành động vong ân bội nghĩa.

Lưu Bang nổi danh là người qua cầu cất nhịp lớn nhất trong lịch sử. Lúc Lưu Bang hàn vi còn đi ăn cắp gà, thôi thì Bang nói đủ các điều ngon ngọt dễ nghe để tựu chúng lập đảng. Đến khi nên cơ nghiệp rồi, lo việc củng cố quyền thế, Lưu Bang chẳng ngại gì hết, đổi lại thái độ, nghi ghét triều thần.

Người thứ nhất mà Lưu Bang lôi chém là Hàn Tín, rồi đến Bành Việt, Anh Bố, bỏ tù Tiêu Hà, Trần Hi, Phàn Khoái.

Trương Lương thấy họa chẳng chóng thì chày cũng đến với mình, nên bỏ trốn lên rừng học đạo tu tiên.

Liên hoàn kế (Kế móc nối nhau)

“Liên hoàn kế” là nối liền với nhau thành một dây xích.

“Liên hoàn kế” còn là vận dụng một quyền thuật để tạo phản ứng dây chuyền cho đối phương hoặc gây thành phản ứng nhiều mặt.

Mỹ nhân kế là vũ khí phổ biến nhất cần thiết cho việc dùng “Liên hoàn kế”. Vì người đẹp ví như nước, anh hùng ví như bùn, nước làm cho bùn nhão ra.

Từ ngàn xưa, đa số anh hùng đã vì thương hoa tiếc ngọc nên bỏ lãng nhiệm vụ.

Tuy vậy, vẫn phải phân biệt “Mỹ nhân kế” với “Liên hoàn kế”.

Liên hoàn kế là một hình ảnh của thực tiễn, bất cứ việc gì xảy ra cũng gây thành phản ứng dây chuyền. Việc xảy ra hôm nay cũng không tự dưng mọc ra, nó phải là kết quả dây chuyền từ những sự việc trước.

Dĩ dật đãi lao (Lấy khỏe để đối phó với mệt)

Kế “Dĩ dật đãi lao” là lấy sự thanh thản để đối phó với hấp tấp, nhọc nhằn; dưỡng sức mà đợi kẻ phí sức.

Kế này viết ở trong thiên “Quân Tranh” của bộ “Tôn Tử Binh Pháp”: “Lấy gần đợi xa, lấy nhàn đợi mệt” nghĩa là trên chiến thuật phải tìm nắm trước địa vị chủ động để ứng phó với mọi tấn công của địch.

Cũng có ý nói nên chuẩn bị chu đáo, dễ dàng lấy cái thế bình tĩnh xem xét tình hình biến hóa mà quyết định chiến lược, chiến thuật. Đợi địch mỏi mệt, tỏa chiết bớt nhuệ khí rồi mới thừa cơ xuất kích.

Tôn Tử gọi thế là: “Ẩn sâu dưới chín từng đất, hành động trên chín từng trời”.

Sử dụng sách lược này đòi hỏi thái độ tuyệt đối trầm tĩnh ứng biến, đo được ý kẻ thù, hoàn cảnh kẻ thù, thực lực kẻ thù. Nếu thời cơ chưa chín thì đứng yên như trái núi.

Khi cơ hội vừa tới thì lập tức lấp sông, chuyển bể.

Tư Mã Ý ngăn Gia Cát Lượng ở Kỳ Sơn.
Chu Du phóng hỏa tại Xích Bích.
Tào Tháo đại phá Viên Thiệu nơi Quan Độ.
Tạ Huyền đuổi Bồ Kiên ở Phi Thủy.

Tất cả đều lấy ít đánh nhiều, thế kém vượt thế khỏe. Tất cả đều là kết quả sử dụng tài tình sách lược “Dĩ dật đãi lao”.

Chỉ tang mạ hòe (Chỉ vào gốc dâu mà mắng cây hòe)

“Chỉ tang mạ hòe” là chỉ vào gốc dâu mà mắng cây hòe. Ý nói vì không tiện mắng thẳng mặt nên mượn một sự kiện khác để tỏ thái độ.

Lạc tỉnh hạ thạch (Ném đá vào người dưới giếng)

“Lạc tỉnh hạ thạch” là ném đá vào đầu kẻ đã rơi xuống giếng.
Rơi xuống giếng lại còn ném đá vào đầu nạn nhân. Nếu đứng trên quan điểm đạo đức Khổng – Mạnh thì phải là hành động không chính nhân quân tử, nhưng nếu coi là một mưu kế thì hành động này lại là một hành động sáng suốt.
Căn bản triết lý của “Lạc tỉnh hạ thạch” là chi phối được thì mới chiếm đoạt được, và nhân từ với kẻ thù tức là tàn nhẫn với chính ta.
Lưu Bị lúc nào hé miệng cũng nói những điều nhân từ, lúc nào cũng chảy nước mắt, nhưng ông lại là người cũng giỏi thủ đoạn “Lạc tỉnh hạ thạch” nhất.
Chẳng vậy mà khi Lã Bố vốn là người làm nhiều ân huệ đối với Lưu Bị, nào việc bắn kích ở Viên Môn, nào việc cho Lưu Bị nương tựa ở căn cứ mình… Đến lúc Lã Bố bị bắt sau khi thất trận Từ Châu, Tào Tháo trong lòng còn đôi chút thương mến muốn dụ dỗ Lã Bố, Lưu Bị ngại Tào Tháo có thêm một mãnh tướng nữa nên đã ghé tai Tào Tháo mà nhắc khéo: “Ông không nhớ chuyện Đinh Nguyên và Đổng Trác hay sao?” (Đinh Nguyên và Đổng Trác đều nhận Lã Bố làm con nuôi, nhưng đều bị chết vì tay Lã Bố.
Lưu Bị đã không kể đến ơn nghĩa, lại còn đưa đòn độc “Lạc tỉnh hạ thạch” hạ Lã Bố. Như vậy, Lã Bố làm sao khỏi chết!

Hư trương thanh thế (Thổi phồng thanh thế)

“Hư trương thanh thế” là thổi phồng thanh thế để cho người ta chóa mắt, nể sợ.
Đời Tam Quốc, Tào Tháo tiến xuống Giang Định, rầm rộ cả trăm vạn hùng quân.

Tháo định dùng ưu thế tuyệt đối để buộc Tôn Quyền phải hàng phục. Nhưng Khổng Minh trông thấy âm mưu này nên chỉ ba vạn quân với một số mưu kế và trận gió đông đã đánh bại quân Tào.

Khi sử dụng kế này, trước hết phải xem mục đích và giá trị của nó thế nào đã, rồi mới định cỡ to nhỏ.

Phủ để trừu tân (Bớt lửa dưới nồi)

Kế “Phủ để trừu tân” là bớt lửa dưới nồi, ý nghĩa là giải quyết trên căn bản một vấn đề, chủ ý không cho nó phát ra (bớt lửa cho nước khỏi trào).

Khi có một việc đã bùng nổ ra rồi thì tìm cách làm cho nó dịu đi, không để nó tiếp tục ác liệt.

Chỗ diệu dụng kế “Phủ để trừu tân” là không nghe thấy tiếng, không nhìn thấy hình, vô cùng như trời đất, khó hiểu như âm dương, khiến cho kẻ thù rơi vào kế của mình mà họ không biết.

Không kể tình trường, chiến trường hay thương trường, kế “Phủ để trừu tân” lúc nào cũng là kế rất âm độc, lớn mang hiệu quả lớn, nhỏ có hiệu quả nhỏ.

Ở tình trường, anh chàng kém vế thường o bế song thân hoặc anh em của đào, hơn là tấn công chính nàng!

Ở chiến trường, kế “Phủ để trừu tân” lại càng dày đặc, giăng mắc như mạng nhện.

Sát kê hách hầu (Giết gà cho khỉ sợ)

“Sát kê hách hầu” nghĩa đen là giết con gà cho con khỉ sợ.

Theo truyền thuyết dân gian, con khỉ rất sợ trông thấy máu, cho nên khi người ta muốn dạy khỉ, trước hết họ giết một con gà, bắt con khỉ nhìn thấy đống máu bê bết rồi mới bắt đầu giáo hóa. Lúc bắt khỉ cũng thế, người ta vặn cổ con gà cho nó kêu lên những tiếng ghê rợn, khiến cho khỉ bủn rủn chân tay thì đến bắt.

“Sát kê hách hầu” có tác dụng lớn, làm cho các vụ mới nở ra trong trứng nước bị rơi vào cảnh bối rối, sợ sệt.

Phản gián kế (Dùng kế của đối phương để quật lại)

“Phản gián kế” là dùng người của đối phương lừa dối đối phương, dùng kế địch lừa địch.

Tôn Tử nói: “Biết mình là biết thực lực và nhiệm vụ của mình. Biết người là biết thực lực và ý đồ của địch. Biết mình thì tương đối dễ hơn biết người. Cho nên muốn biết người thì phải dùng gián điệp”.

Lý đại đào cương (Đưa cây lý chết thay cây đào)

“Lý đại đào cương” là đưa cây lý chết thay cho cây đào.

Người lớn làm họa, bắt người bé chịu tội thay. Có rất nhiều kẻ tác gian phạm tội lại bắt người khác thế thân.

Thuận thủ khiên dương (Thuận tay dắt con dê về)

“Thuận thủ khiên dương” theo nghĩa đen là thuận tay dắt con dê về.

Sự việc trên đời, thiên biến vạn hóa rất kỳ diệu. Phải biết nắm lấy bất cứ cơ hội nào vụt hiện đến trước mắt, đó là những thâu hoạch, những cái lợi bất ngờ.

Dục cầm cố tung (Muốn bắt mà lại thả ra)

“Dục cầm cố tung” theo nghĩa đen là muốn bắt cho nên thả ra.

Muốn thực hành kế này, phải có một nhãn quan sâu rộng, một tấm lòng nhẫn nại vô song. Những kẻ cấp công cận lợi không bao giờ có đủ tài trí để thi hành nó.

Kế “Dục cầm cố tung” không thi hành theo cái nghĩa đen của nó. Kế này nói lên sự mềm dẻo cho mọi chính sách, thứ nhất là chính sách thu phục lòng người, giữ người.

Khổ nhục kế (Hành hạ thân xác mình để người ta tin)

“Khổ nhục kế” là hành hạ mình, rồi đem cái thân xác bị hành hạ ấy để làm bằng chứng mà tiếp cận với địch để hoàn thành một âm mưu nào đó.

Phao bác dẫn ngọc (Ném hòn ngói để thu về hòn ngọc)

“Phao bác dẫn ngọc” nghĩa đen là ném hòn ngói để thu về hòn ngọc. Tức là dùng tiểu vật để đoạt một đại vật, như người đi câu vậy.
Dân gian thường nói “thả con tép bắt con tôm” cũng là kế này.

Tá thi hoàn hồn (Mượn xác để hồn về)

“Tá thi hoàn hồn” nghĩa là mượn xác để hồn về.

Ý kế này chỉ rằng: Sau khi đã thất bại, buộc phải lợi dụng một lực lượng nào đó để khởi lên thi hành trở lại chủ trương của mình.
Tuy nhiên, dùng kế này rất dễ đi vào con đường nguy hiểm, nếu sơ xuất thì tỷ như rước voi về giày mả tổ.
Nếu mượn xác mà mượn ẩu thì chẳng khác gì vác xác chết về nhà.

Tẩu kế (Chạy, lùi, thoát thân)

“Tẩu kế” nghĩa là chạy, lùi, thoát thân.

Tại sao kế sau chót cổ nhân lại đặt là “kế chạy”?

Lại có câu: “Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách”. (Ba mươi sáu chước, chạy là hơn hết!)

Bởi vậy kế này liên quan nhiều đến sự thành bại của một công việc lớn. Bất luận là đánh nhau bằng văn hay bằng võ, không ai là có thể thắng hoài. Trong quá trình chiến đấu bao gồm nhiều kiểu thắng, nhiều kiểu bại, lúc ẩn lúc hiện, trong chớp mắt dồn dập cả trăm ngàn biến chuyển. Nếu không ứng phó mau lẹ để tránh những cảnh bất lợi, để nắm mau lợi thế mà tiến tới thắng lợi, thì không phải là nhân tài.
Chạy có nhiều phương thức. Bỏ giáp, bỏ vũ khí mà chạy, bỏ đường nhỏ mà chạy tới đường lớn, bỏ đường bộ mà chạy sang đường thủy… Các phương thức tuy không giống nhau nhưng cùng hướng chung đến mục đích là tránh tai họa để bảo đảm an toàn, để bảo toàn lực lượng.

“Tẩu kế” không phải là chạy dài. Chạy chỉ là một giải pháp để mà sẽ quay lại. Tinh hoa của kế chạy là giành thời gian, bảo tồn sức khỏe, lực lượng.

Rút chạy đến một vị trí mới, cho tư thế vững mạnh hơn, tập trung nỗ lực và củng cố tinh thần, chọn một cơ hội thuận tiện để quật lại, ấy mới thực là “Tẩu kế”.

Sau hết phải lo đến điểm nguy của kế chạy: Khi chạy, sẽ mất tinh thần, sự việc hoàn toàn lỏng lẻo, mất sự tin tưởng ở xung quanh. Nếu không giải quyết cho chính xác những vấn đề trên thì “tẩu” không còn là một kế hoạch nữa, mà là một sự tan rã vậy!


Tôn Vũ đã cầm quân bao nhiêu lần

(Nghiên cứu về binh pháp Tôn Tử)

Tôn Tử binh pháp đã nổi tiếng trên thế giới từ khá lâu rồi. Đến nay nó được dịch ra 29 loại ngôn ngữ, các ấn phẩm bổ sung mở rộng lên tới hơn 700 bản. Thế kỷ 18, cuốn Tôn Tử Binh Pháp được truyền nhập vào châu Âu, ngay lập tức gây ra náo động đối với giới quân sự phương Tây. Nhà lý luận quân sự nổi tiếng người Anh, người đặt nền móng lý luận ”đại chiến lược” Lydern Hatill không chỉ tự mình dịch toàn bộ nguyên bản cuốn Tôn Tử Binh Pháp ra tiếng Anh mà ông còn viết thêm một quyển “Luận chiến lược” để dẫn giải và tường thuật lại. Hatill cho biết, trong tác phẩm quân sự của ông, giải nghĩa rất nhiều quan điểm tìm thấy qua nguyên bản cuốn Tôn Tử Binh Pháp từ hơn 2500 năm trước.

Trong bộ sử ký của mình, Tư Mã Thiên có viết về tài năng quân sự của Tôn Vũ (Tôn Tử) như sau: “Tôn Vũ phía tây đại phá nước Sở mạnh, phía Đông dẹp yên Tề, Tần uy danh lừng lẫy khắp chư hầu, làm tướng như thế thật khó ai so bì”. Quả thật trong 30 năm sự nghiệp quân sự của mình, Tôn Vũ đã lập nhiều chiến công hiển hách và luôn xứng đáng với những lời tôn vinh trong sử sách. Tuy nhiên có một vấn đề luôn gây ra sự tranh cãi kịch liệt từ trước đến nay đó là: rốt cuộc Tôn Vũ đã thân chinh chỉ huy bao nhiêu trận đánh. Vừa qua giới nghiên cứu lịch sử cổ đại Trung Quốc khi đã nghiên cứu, đối chiếu, tổng hợp, so sánh từ các sử liệu như: “Ngô việt Xuân Thu”, “Việt sắc thư”, “Tả truyện”, “Sử ký” đã đưa ra kết luận: Trong sự nghiệp quân dịch của mình, Tôn Vũ chỉ trực tiếp chỉ huy 5 trận đánh và chính 5 trận chiến “để đời” này đã góp phần đưa tên tuổi của ông bất hủ cùng thời gian.

  • Lần chỉ huy thứ nhất: Xảy ra vào tháng 12 năm 512 trước công nguyên, khi đó Ngô Vương là Hạp Lư ra lệnh cho Tôn Vũ chỉ huy quân tiêu diệt 2 nước nhỏ là Chung Ngô và nước Từ. Trong lần cầm quân đầu tiên này, Tôn Vũ đã xuất sắc hạ gọn 2 nước trên đồng thời thừa thắng chiếm được đất Thư thuộc nước Sở lập công lớn được Ngô Vương ban thưởng.
  • Lần chỉ huy thứ hai: Theo lệnh của Hạp Lư, năm 511 trước công nguyên, Tôn Vũ lại thống lĩnh ba quân cùng Ngũ Tử Tư, Bạch Hỷ đi chinh phạt nước Sở bởi lý do “Sở Vương từ chối không chịu trao thanh bảo kiếm Trạm Lô cho Hạp Lư”. Dưới quyền chỉ huy của Tôn Vũ quân Ngô đánh hai trận thắng cả hai, chiếm gọn 2 xứ Lục và Tiềm thuộc đất Sở.
  • Lần chỉ huy thứ ba: xảy ra vào năm 510 trước công nguyên, lúc này giữa nước Ngô và nước Việt lần đầu tiên xảy ra cuộc chiến tranh quy mô lớn mà sử sách còn ghi lại đó là cuộc “Đại chiến Huề-Lý”. Trong cuộc chiến này lần đầu tiên Tôn Vũ đưa ra cách dụng binh “Quý hồ tinh bất quý hồ đa” trong đánh trận do vậy chỉ với 3 vạn quân với phép dụng binh tài tình của Tôn Vũ đã đánh bại 16 vạn quân nước Việt.
  • Lần chỉ huy thứ tư: Vào năm 509 trước công nguyên xảy ra cuộc “đại chiến Dự Chương” giữa hai nước Ngô và Sở. Khi đó vua Sở sai con trai là công tử Tử Thương và công tử Tử Phàm dẫn đại quân tiến đánh nước Ngô, nhằm báo thù nỗi nhục mất đất năm xưa. Một lần nữa Ngô Vương Hạp Lư lại giao cho Tôn Vũ cầm quân chống giặc.
    Lần này Tôn Vũ khôn khéo vòng tránh đội quân chủ lực của công tử Thường, dùng lối đánh vu hồi tập kích doanh trại bắt sống công tử Phàm, quân Sở từ thế mạnh, chuyển sang yếu cầm cự chưa đầy một tháng phải rút chạy về nước.
  • Lần chỉ huy thứ năm: Vào ngày 18-11-506 trước công nguyên, 2 nước Ngô-Sở một lần nữa xảy ra chiến tranh, sử sách gọi đây là “cuộc chiến Bách Cử”. Đây là cuộc chiến lớn nhất trong lịch sử 2 nước. Lần này quân Sở huy động 25 vạn quân tiến đánh nước Ngô, khí thế báo thù rất sôi sục. Theo kế của Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư, vua Ngô bí mật liên kết với 2 nước nhỏ là Đường và Thái làm thành liên minh chống Sở. Khi tác chiến, Tôn Vũ triệt để lợi dụng địa hình thuận lợi của 2 nước “đồng minh” để triển khai chiến thuật “Khống chế chính diện”, “Tập kích vu hồi mạn sườn” của mình. Sau 5 lần giao chiến với quân Sở, Tôn Vũ đều giành thắng lợi. Cuối cùng 3 vạn quân Ngô đã phá tan 25 vạn quân Sở tiến vào kinh đô nước Sở buộc Sở vương phải tháo chạy.


Với 5 trận đánh “để đời” này, uy danh và tài thao lược quân sự của Tôn Vũ (Tôn Tử) lừng lẫy khắp thiên hạ. Thêm vào đó là bộ “Tôn Tử Binh Pháp” dài 13 thiên bất hủ của ông đã khiến cho tên tuổi của Tôn Vũ nổi tiếng khắp thế giới cho tới ngày nay.

Giới thiệu tác phẩm “Thủy Hử”

Thủy hử hay Thủy hử truyện (水滸傳), nghĩa đen là “bến nước”, là một tác phẩm trong bốn tác phẩm lớn của văn học cổ điển Trung Hoa, thường gọi là nhóm Tứ đại danh tác (Ba bộ còn lại là Tam Quốc Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, Hồng Lâu Mộng). Tác giả Thủy hử thường ghi là Thi Nại Am. Truyện được viết dựa theo sách Đại Tống Tuyên Hòa di sự. Cốt truyện chính là sự hình thành và những thành tích của một nhóm người chống triều đình nhà Tống mà trở thành giặc cướp, thường gọi là 108 anh hùng Lương Sơn Bạc.

Là một trong tứ đại danh tác của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, Thủy hử truyện của Thi Nại Am làm đắm say biết bao trái tim bạn đọc không chỉ bởi nghệ thuật kết cấu truyện đặc sắc mà hơn hết là ở hình tượng của những bậc anh hùng, hảo hán. Để rồi, qua những hình tượng đó, độc giả thấy được quan niệm về người anh hùng của tác giả Thi Nại Am, một quan niệm vừa mang nét chính thống Nho gia, vừa mang nét dân gian, giang hồ.

Thủy hử có nhiều phiên bản, bản 70 hồi, 100 hồi, 114 hồi, 115 hồi, 120 hồi, 140 hồi,… Theo Lỗ Tấn, có tổng cộng sáu bản Thủy hử, thuộc hai loại: 70 hồi và trên 70 hồi. Trong đó, bản 100 hồi được xem là gần với nguyên tác nhất, với tựa đề ban đầu là Trung nghĩa Thủy hử truyện, nội dung gồm việc các anh hùng Lương Sơn Bạc tụ nghĩa (thường nằm trong khoảng 70 hồi) và bình Liêu đánh Phương Lạp. Bản Thủy hử phổ biến nhất là bản 70 hồi, do Kim Thánh Thán – một nhà phê bình nổi tiếng đời Thanh soạn lại. Kim Thánh Thán đã cắt bỏ hầu hết các nội dung khác, bao gồm việc đánh Liêu và Phương Lạp, chỉnh sửa lại theo quan điểm cá nhân, gia tăng bình luận của bản thân, từ đó tạo thành bản 70 hồi thường thấy ngày nay, gọi là Bình bản Thánh Thán hay Quan bảnKim bản.

Dịch giả: Á Nam Trần Tuấn Khải

Mục lục

Hồi 1: Vương Giáo Đầu, phủ Duyên lánh gót – Cửu Văn Long, thôn sử ra tay
Hồi 2: Sử Đại Lang nửa đêm đốt trại – Lỗ Đề Hạt giữa chợ giết người
Hồi 3: Triệu Viên Ngoại sửa lại Văn Thù Viện – Lỗ Trí Thâm khua động Ngũ Đài Sơn
Hồi 4: Chàng bé gan kinh hồn nơi ngọc trướng – Chàng to bụng ra sức xóm đào hoa
Hồi 5: Rừng Xích Tòng, Cửu Văn Long ra oai – Chùa Ngõa Quan, Lỗ Trí Thâm phóng lửa
Hồi 6: Hoa Hòa Thượng nhổ bậc gốc thùy dương – Báo Tử Đầu toạ vào nhà Bạch Hổ
Hồi 7: Đất Thương Châu Lâm Giáo Đầu chịu nhục – Rừng Dã Trư Hoa Hòa Thượng xung gan
Hồi 8: Mở cánh cổng Sài Tiến đón tân khách – Thử ngón gậy Lâm Xung hạ Giáo Đầu
Hồi 9: Một mũi dao, moi gan quân tàn ác – Ba chén rượu, say tít cả giang sơn
Hồi 10: Giả dạng giao du; thoát người hảo hán – Đề thơ cảm khái; kết bạn Lương Sơn
Hồi 11: Múa đao thần, Lâm Xung gặp người ngang sức – Bán gươm báo, Dương Chí giết cọp không lông
Hồi 12: Nơi Đông Quách, Cấp Tiên Phong tranh công – Đất Bắc Kinh, Thanh Diện Thú đấu sức
Hồi 13: Xích Phát Quỷ say nằm Linh Quan Điện – Tiểu Thiên Vương nghĩa nhận Đông Khê Thôn
Hồi 14: Ngô Học Cứu thuyết ba chàng Nguyễn – Công Tôn Thắng ưng bảy vì sao
Hồi 15: Tải kim ngân, Dương Chí vâng mệnh – Cướp lễ vật, Ngô Dụng dùng mưu
Hồi 16: Đánh chén không tiền gặp tay đao quỷ – Trói sư lập mẹo cướp núi Nhị Long
Hồi 17: Mỹ Nhiêm Công dùng mẹo lừa Sáp Sí Hổ – Tống Công Minh vì tình thả Tiều Thiên Vương
Hồi 18: Lâm Xung đốt cháy nơi Thủy Bạc – Tiều Cái cướp lấy vũng Lương Sơn
Hồi 19: Vì nghĩa chung, Tiều Cái lên ngôi chủ trại – Đền ơn cả, Lưu Đường rảo bước đêm trăng
Hồi 20: Diêm Bà say đánh Đường Ngưu Nhị – Tống Giang giận chém Diêm Bà Tích
Hồi 21: Hùa đảng gian dâm, trước nơi cửa huyện – Tha người hiếu nghĩa, trong chốn nhà hầm
Hồi 22: Quận Hoành Hải, Sài Tiến tiếp tân – Núi Cảnh Dương, Võ Tòng đánh hổ
Hồi 23: Gặp anh em thỏa lòng hòa thuận – Lừa Trai gái ghét giống gian dâm
Hồi 24: Bày mưu gian, bợm già dỗ khách – Ham tình dục, gái đĩ giết chồng
Hồi 25: Cửu Thúc giấu xương chờ khách hiệp – Võ Tòng giết chị tế hồn anh
Hồi 26: Đường Mạnh Châu, Mẫu Dạ Thoa bán thịt người – Bờ Thập Tự, Võ Đô Đầu gặp hảo hán
Hồi 27: Cự mặt Quản Doanh, anh tù cứng cổ – Mộ danh hảo hán, cậu trẻ ra ân
Hồi 28: Trại Bình An, lạy cầu có nghĩa sĩ – Rừng Khoái Hoạt say đánh Tưởng Môn Thần
Hồi 29: Thi Ân ba phen vào lao ngục – Võ Tòng một phen náo phi vân
Hồi 30: Trăng sáng mài dao, báo oán giết nhà Đô Giám – Trời đêm lánh nạn, giả sư qua núi Ngô Công
Hồi 31: Võ Hành Giả say rượu bị bắt – Tống Công Minh gặp nạn được tha
Hồi 32: Xem Ngao Sơn Tống Giang bị bắt – Náo Phong Trại Hoa Vinh báo thù
Hồi 33: Đường Thanh Châu, Trấn Tam Sơn ra sức – Núi Thanh Phong, Tịch Lịch Hỏa mắc mưu
Hồi 34: Nơi lữ điếm, Thạch Dũng đưa thư – Vũng Lương Sơn, Hoa Vinh bắn nhạn
Hồi 35: Vũng Lương Sơn, Ngô Dụng cử Đới Tung – Núi Yết Dương, Tống Giang gặp Lý Tuấn
Hồi 36: Bến Tầm Dương canh khuya mắc nạn – Nơi Giang Phủ đất khách rời chân
Hồi 37: Tống Giang cười nói gợi tức Đới Tung – Lý Quỳ hung hăng đánh với Trương Thuận
Hồi 38: Gác Tầm Dương đề thơ tâm huyết – Chốn Lương Sơn nghe nỗi kinh hoàng
Hồi 39: Cướp nghĩa đảng – Anh hùng mến anh hùng
Hồi 40: Tống Giang mưu đánh Quân Vô Vị – Trương Thuận bắt sống Hoàng Văn Bính
Hồi 41: Hoàn đạo đồn, nhận ba quyền thiên thư – Tống Công Minh gặp Cửu Thiên Huyền Nữ
Hồi 42: Thương mẫu thân, Lý Quỳ giết bốn hổ – Cứu đồng đảng, Chu Quý dốc một lòng
Hồi 43: Cẩm Bảo Tử ngõ hẻm gặp Đới Tung – Bệnh Quan Sách, dương oai gặp Thạch Tú
Hồi 44: Phòng riêng ton tót, Dương Hùng gặp gái voi dày – Đêm vắng xông pha, Thạch Tú giết sư hổ lửa
Hồi 45: Núi Thúy Bình, Dương Hùng giết vợ – Điếm Chúc Gia, Thạch Tú đốt nhà
Hồi 46: Quỷ Kiểm Nhĩ nhờ thân giúp bạn – Tống Công Minh nổi giận dấy binh
Hồi 47: Bắt Nụy Hổ, nữ tướng ra côn – Đánh Chúc Gia, quân sư xuống cứu
Hồi 48: Mắc mẹo gian, Giải Bảo, Giải Trân phá ngục – Bầy mưu khéo, Tôn Lập, Tôn Lân cướp lao
Hồi 49: Bày kế liên hoàn, phá nhà Hổ, Chúc – Kéo cờ thắng trận, về trại Lương Sơn
Hồi 50: Sáp Sí Hổ vác gông đánh chết ả đào – Mỹ nhiêm Công mắc mưu mất toi cậu ấm
Hồi 51: Lý Quỳ đánh chết Ân Thiên Tích – Sài Tiến bị hãm Cao Đường Châu
Hồi 52: Đới Tung vâng mệnh, tìm Công Tôn Thắng – Lý Quỳ sốt ruột, chém La Chân Nhân
Hồi 53: Nhập Vân Long đấu phép phá Cao Liêm – Hắc Toàn Phong xuống giếng cứu Sài Tiến
Hồi 54: Cao Thái Úy huy động quân Ba Lộ – Hô Duyên Chước dàn trận ngựa Liên Hoàn
Hồi 55: Ngô Dụng sai Thời Thiên cắp bảo giáp – Thang Long lừa Từ Ninh tới Lương Sơn
Hồi 56: Từ Ninh dạy phép Cân Liêm Sang – Tống Giang phá trận Liên Hoàn Mã
Hồi 57: Họp Tam Sơn, đánh phủ Thanh Châu – Kết đồng tâm, về nơi Thủy Bạc
Hồi 58: Miếu Tây Nhạc, giả danh Thái Úy – Đất Hoa Sơn cứu bạn anh hùng
Hồi 59: Núi Mang Đãng, Công Tôn làm phép – Chợ Tăng Đầu, Tiều Cái trúng tên
Hồi 60: Lừa Ngọc Kỳ Lân Ngô Dụng lập mẹo – Quấy Kim Sa Đọ Trương Thuận trổ tài
Hồi 61: Bắn lãnh tiễn Yến Thanh cứu chúa – Cướp pháp trường Thạch Tú thi gan.
Hồi 62: Tống Giang đến đánh Đại Danh thành – Quan Thắng bàn phá Lương Sơn Bạc
Hồi 63: Đêm trăng Duyên Chước lừa Quan Thắng – Trời tuyết Công Minh bắt Sách Siêu
Hồi 64: Thác Tháp Thiên Vương, trong mơ hiển thánh – Lãng Lý Bạch Điều, dưới nước báo oán
Hồi 65: Đốt Thuý Vân Lâu, Thời Thiên vâng lệnh – Phá Đại Danh Phủ, Ngô Dụng lập công
Hồi 66: Về Sơn Bạc Tống Giang khao thưởng ba quân – Đến Lăng Châu Quan Thắng chiêu hàng hai tướng
Hồi 67: Tống Công Minh đánh phá Tăng Đầu Thị – Lư Tuấn Nghĩa bắt sống Sử Văn Cung
Hồi 68: Tới Đông Bình Phủ, Sử Văn Long mắc nạn – Bắt Song Thương Tướng, Tống Công Minh lập công
Hồi 69: Một Vũ Tiễn ném đá đánh anh hùng – Tống Công Minh bỏ lương bắt tráng sĩ
Hồi 70: Nhà Trung Nghĩa, bia đá nổi hàng văn – Vụng Lương Sơn, bạn vàng kinh giấc mộng

Giới thiệu tác phẩm “Tây Du ký”

Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân là tác phẩm đúc kết lên một triết lí nhân sinh, rằng con người có thể chinh phục mọi thứ nếu có sự đoàn kết, ý chí và sức mạnh.

Về tác giả Ngô Thừa Ân

Ngô Thừa Ân (1500 hoặc 1506 – 1581), tự Nhữ Trung, hiệu Xạ Dương Sơn Nhân, là một tác giả văn học Trung Quốc, sống vào đời Minh.Ông sinh tại Hoài An, tỉnh Giang Tô. Gia đình ông làm nghề buôn bán nhỏ, chuyên bán chỉ và đồ thêu, nhưng lại có thú tàng trữ sách. Cả ông nội và cha Ngô Thừa Ân đều xuất thân là quan lại qua con đường khoa cử.

Ông học tại Nam Kinh Thái học (Đại học Nam Kinh cổ) trong hơn 10 năm. Theo tương truyền, Ngô Thừa Ân từ nhỏ đã say mê những truyện thần tiên yêu quái. Khi bị cha cấm, ông từng trốn cha mang những cuốn sách thể loại đó ra chợ ngồi đọc.Lớn lên, ông tỏ ra là người có tính tình khảng khái, những câu nói của ông lúc bấy giờ thể hiện tính cách của ông: “không để người đời thương hại”, “trong lòng mài mãi dao trừ tà, muốn dẹp sạch đi, buồn không đủ sức”. Ngô Thừa Ân nổi tiếng văn hay chữ tốt và rất thích hài kịch. Ông từng viết nhiều tạp kĩ, lừng danh một thời.

Tuy là người đa tài nhưng Ngô Thừa Ân lại lận đận trên đường thi cử. Ngô Thừa Ân thi nhiều lần, nhưng không đỗ. Mãi tới năm khoảng 43 tuổi, ông mới đỗ Tuế cống sinh. Sau đó, ông còn đi thi hai lần nữa nhưng đều hỏng. Năm 51 tuổi, vì cảnh nhà quẫn bách, ông đến Nam Kinh tìm việc nhưng cô thế không có nơi nương tựa nên việc cũng chẳng thành. Mãi đến năm 67 tuổi, ông đến Bắc Kinh để được tuyển dụng làm quan, ông nhận một chức quan nhỏ (huyện thừa) tại huyện Trường Hưng. Chẳng bao lâu sau, vì không chịu được cảnh luồn cúi, ông từ chức ra về.

Ngô Thừa Ân còn được tiến cử vào giữ chức kỉ thiện trong Kinh Vương phủ, chuyên coi việc lễ nhạc và văn thơ, nhưng được 3 năm thì bất đắc chí từ quan về nhà. Lúc đó Ngô Thừa Ân đã 70 tuổi. Từ đây, Ngô Thừa Ân sống bằng nghề viết văn, thơ, được hơn 10 năm thì mất.

Sáng tác của ông khá phong phú, nhưng đã bị mất mát gần hết, do chỉ có một con gái và gia cảnh bần hàn, nên hiện chỉ còn lại một số thơ văn được tập hợp lại thành bộ Xạ Dương tiên sinh tồn cảo gồm 4 quyển.

Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông là Tây du ký viết lúc đã ngoài 70 tuổi. Cuốn tiểu thuyết này được nhiều thế hệ người Trung Quốc yêu thích và là một trong những cuốn tiểu thuyết cổ điển phổ biến nhất ở Trung Quốc và nhiều quốc gia khác.Đương thời, khi ông còn sống, Tây du ký chưa được người đời biết đến, mãi tới sau khi ông mất nhiều năm, một người cháu ngoại họ Dương mới mang ra công bố tiểu thuyết này.

Về tác phẩm Tây du ký

Tây du ký là một trong những tác phẩm kinh điển trong văn học Trung Hoa. Được xuất bản với tác giả giấu tên trong những năm 1590 và không có bằng chứng trực tiếp còn tồn tại để biết tác giả của nó, nhưng tác phẩm này thường được cho là của học giả Ngô Thừa Ân.

Tác phẩm tổng cộng có một trăm hồi, ra đời vào năm Vạn Lịch thứ 29 (1601), triều Minh. Sau khi Tây du ký xuất hiện, trong giai đoạn này, nhiều tác phẩm tiếp tục đề tài của Tây du ký, nhưng cốt truyện và nhân vật có thay đổi như Hậu tây du kýTục tây du ký và Tây du bổ. Trong đó, đáng chú ý và có giá trị nhất là Hậu tây du ký, không rõ tác giả.

Ngày nay, Tây du ký được xem là tác phẩm văn học đạt đến độ mẫu mực, đứng trong 4 tác phẩm văn học cổ điển vĩ đại nhất của Trung Hoa, gọi là Tứ đại danh tác (cùng với Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, Thủy Hử của Thi Nại Am và Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần) .

Trong đó, tiểu thuyết kể về hành trình của Trần Huyền Trang đến Tây Trúc (Ấn Độ) để thỉnh kinh. Theo ông là ba đệ tử: Tôn Ngộ Không một tên khỉ do đá sinh ra; Trư Ngộ Năng – một yêu quái nửa người nửa lợn; Sa Ngộ Tĩnh –một thủy quái. Họ đều đồng ý giúp ông thỉnh kinh để chuộc tội. Bên cạnh đó, con ngựa mà Trần Huyền Trang cưỡi cũng là một nhận vật do hoàng tử của Long Vương (Bạch Long Mã) hóa thành. Cụ thể, câu chuyện diễn ra như sau:

Những chương đầu thuật lại những kì công của Tôn Ngộ Không, từ khi ra đời từ một hòn đá ở biển Hoa Đông , xưng vương ởHoa Quả Sơn, tầm sư học đạo, đại náo thiên cung, sau đó bị Phật Tổ Như Lai bắt nhốt trong núi Ngũ Hành 500 năm. Truyện kể lại Huyền Trang trở thành một nhà sư ra sao và được hoàng đế nhà Đường gửi đi thỉnh kinh sau khi hoàng đế thoát chết.

Phần tiếp của câu chuyện kể về các hiểm nguy mà thầy trò Đường Tam Tạng phải đối đầu, trong đó nhiều yêu quái là đồ đệ của các vị Tiên, Phật. Một số yêu tinh muốn ăn thịt Huyền Trang, một số khác muốn cám dỗ họ bằng cách biến thành đàn bà đẹp. Tôn Ngộ Không phải sử dụng phép thuật và quan hệ của mình với thế giới yêu quái và Tiên, Phật để đánh bại các kẻ thù nhiều mánh khóe, như Ngưu Ma Vương hay Thiết Phiến Công chúa…

Cuối cùng khi đã đến cửa Phật, thầy trò họ lại phải đổi Bát vàng của Hoàng đế Đường Thái Tông tặng để nhận được kinh thật.Đây cũng được tính là một khổ nạn cho bốn thầy trò. Khi qua sông Thông Thiên, Tam Tạng gặp lại Lão Rùa năm xưa chở ông qua ông. Khi đang chở Tam Tạng qua giữa sông, Lão Rùa hỏi Tam Tạng rằng ông có hỏi Phật Tổ giúp lão rằng bao giờ lão tu đắc chính quả không, vì Tam Tạng quên hỏi, nên bị Lão Rùa hất cả bốn thầy trò lẫn kinh văn xuống sông. Kinh văn bị ướt, sau khi phơi khô một số bị rách. Vì vậy, kinh đến Trung thổ không được toàn vẹn. (Nguồn: ĐHKHXH&NV)

Dịch giả: Thụy Đình, Chu Thiên

Mục lục

Chương 1: Khí thiêng kết tụ sanh khỉ đá – Tâm thành tu niệm đạo nhân gian
Chương 2: Phép nhiệm nhờ thầy truyền bí thuật – Tài cao về xứ giết yêu ma
Chương 3: Thiên động ngàn non đều sợ phép – Diêm quang mười cửa thảy kiêng oai
Chương 4: Chức phong Bậc Mã lòng chưa muốn – Hiệu gọi Tề Thiên dạ mới đành
Chương 5: Phá vườn đào, Ðại Thánh trộm linh đơn – Loạn cung trời, chư thần bị bại trận
Chương 6: Quan Âm phó hội hỏi căn do – Tiểu Thánh ra oai trừ Ðại Thánh
Chương 7: Ðại Thánh trốn khỏi lò Bát quái – Thích ca nhốt yêu núi Ngũ hành
Chương 8: Như Lai tạo kinh truyền Cực Lạc – Quan Âm vâng chỉ xuống Tràng An
Chương 9: Dinh Giang Châu, mẹ con gặp gỡ – Sông Hồng Giang, chồng vợ đoàn viên
Chương 10: Long Vương phạm tội Thiên Tào – Ngụy Trưng gởi thơ Âm phủ
Chương 11: Xuống Âm Ti, Thái Tôn huởn sanh – Ði dâng dưa, Lưu Toàn gặp vợ
Chương 12: Trần Huyền Trang làm chay thỉnh Phật – Quan Thế Âm dạy sãi cầu kinh
Chương 13: Nơi Hổ huyệt, Kim Tinh cứu nạn – Lưu Gia Trang, Tam Tạng tụng kinh
Chương 14: Núi Lưỡng giới, thần hầu thoát nạn – Ðường Tây Phương, thầy tớ băng ngàn
Chương 15: Núi Xà Bàn, các thần giúp sức – Suối Ưng Sầu, con ngựa gò cương
Chương 16: Chùa Quan Âm, thầy tu tham báu vật – Núi Hắc Phong, yêu quái trộm Cà sa
Chương 17: Hành Giả đánh yêu ăn trộm – Quan Âm bắt gấu thành tinh
Chương 18: Quan Âm điện, Ðường Tăng khỏi nạn – Cao lão trang, Hành Giả bắt yêu
Chương 19: Vân San động, Ngộ Không thâu Bát Giới – Phù đồ Sơn, Tam Tạng gặp Thiền sư
Chương 20: Tới Huỳnh Phong, Ðường Tăng mắc nạn – Gặp tiên phuông, Bát Giới trổ tài
Chương 21: Hộ Pháp hóa nhà cứu Ðại Thánh – Linh Kiết cho phép bắt Huỳnh Phong
Chương 22: Bát Giới cự chiến sông Lưu Sa – Mộc Tra vâng phép thâu Ngộ Tịnh
Chương 23: Tam Tạng chẳng quên đạo – Tứ Thánh thử lòng thiền
Chương 24: Vạn Thọ sơn, Trấn Ngươn cầm cố hữu – Ngũ Trang am, Hành Giả trộm nhơn sâm
Chương 25: Trấn Nguơn tiên bắt thầy Tam Tạng – Tôn Hành Giả phá viện Ngũ trang
Chương 26: Tôn Ngộ Không non cao tìm thuốc – Quan Thế Âm nước phép cứu cây
Chương 27: Thây ma ba thứ trêu Hòa Thượng – Tam Tạng nhiều phen đuổi Ngộ Không
Chương 28: Núi Hoa quả, quần hầu gặp chúa – Rừng Hắc tòng, Tam Tạng bị yêu
Chương 29: Tam Tạng khỏi tai qua Bửu Tượng – Ngộ Năng vâng chỉ đến rừng sâu
Chương 30: Huỳnh Bào bắt Sa Tăng – Bạch Mã trông Hành Giả
Chương 31: Trư Bát Giới nói khích Hầu vương – Tôn Hành Giả mưu trừ yêu quái
Chương 32: Núi Bình Ðảnh, Công Tào báo tin – Ðộng Liên Hoa, Bát Giới mang họa
Chương 33: Ngân Giác di sơn đè Ðại Thánh – Ngộ Không dụng kế đổi hồ Lô
Chương 34: Chúa yêu giỏi dắn giựt Kim Thằng – Ðại Thánh phỉnh phờ thâu bửu bối
Chương 35: Chúa động bị thâu về với chủ – Ngộ Không đặng báu trả cho Tiên
Chương 36: Vào chùa báu, Ngộ Không dọa sãi – Ngụ am thanh, Tam Tạng xem trăng
Chương 37: Quỷ vương cầu cứu với Ðường Tăng – Hành Giả mách tin cho Thái Tử
Chương 38: Ðông Cung hỏi mẹ, hay tà chánh – Bát Giới cõng thây, biết giả chơn
Chương 39: Một hột thuốc linh trời đã nấy – Ba năm chúa cũ mạng còn dài
Chương 40: Hồng Hài lập kế bắt Ðường tăng – Hành Giả dùng mưu trừ yêu quái
Chương 41: Ngộ Không mắc lửa thiêu – Bát Giới bị yêu bắt
Chương 42: Ðại Thánh ân cần cầu Phật mẫu – Quan Âm nhơn đức trói Hồng Hài
Chương 43: Yêu quái Hắc Hà mưu bắt sải – Ðộng cung Tây Hải tới thâu cù
Chương 44: Ðường Tăng nghe tiếng kinh hồn – Hành Giả đập xe cứu sãi
Chương 45: Miễu Tam Thanh, Ðại Thánh để danh – Nước Xa Tri, Ngộ Không đấu phép
Chương 46: Ðạo sĩ cậy tài khi đạo Phật – Ngộ Không đấp phép hại loài tà
Chương 47: Sông Thông Thiên, thầy trò bị cản – Miễu Linh Cảm, yêu quái tróc vi
Chương 48: Yêu quái hóa tuyết bủa khắp sông – Ðường Tăng cưỡi ngựa đi trên gia
Chương 49: Tam Tạng bị giam trong thủy thạch – Quan Âm thương đến bắt Kim ngư
Chương 50: Nghe tiếng phỉnh phờ, sanh cực khổ – Cãi lời ngay thẳng, bị yêu ma
Chương 51: Thánh Thần có phép còn chưa giỏi – Nước lửa Không Linh rước uổng công
Chương 52: Hành Giả cầu Phật Tổ – Lão quân bắt chúa yêu
Chương 53: Sải uống nước sông mà có chữa – Thần cho dòng suối giải không thai
Chương 54: Rửa sạch ruột gan mình cũng sạch – Giống hung thì có thứ trừ hung
Chương 55: Gái yêu ép uổng điều trăng gió – Sải thánh dốc gìn nết đá vàng
Chương 56: Hành Giả trừ chánh đảng – Tam Tạng đuổi Ngộ Không
Chương 57: Qua Nam Hải, Tề Thiên trình Bồ Tát – Tại Thủy Liêm, bầy khỉ giả Ngộ Không
Chương 58: Hai hình Hành Giả mờ trời đất – Một tiếng Như Lai rõ chánh tà
Chương 59: Thương thầy Tam Tạng, gặp Hỏa Diệm sơn – Lầm quạt Ba tiêu, cười Tôn Hành Giả
Chương 60: Ngưu Ma Vương vào non Loạn Thạch – Tôn Ngộ Không lấy quạt Ba Tiêu
Chương 61: Ngưu Ma vương giả hình Bát Giới – Tôn Ngộ Không mất quạt Ba Tiêu
Chương 62: Tam Tạng có lòng quét tháp – Ngộ Không gặp dịp bắt yêu
Chương 63: Hai thầy đánh quái vỡ long cung – Các thành trừ yêu thâu bửu bối
Chương 64: Núi Kinh Cát , Ngộ Không ra sức – Am Mộ Tiên , Tam Tạng ngâm thơ
Chương 65: Loài yêu riêng giả Lôi Âm nhỏ – Các sải đồng vương ách nạn lo
Chương 66: Chư thần lâm hoạn nạn – Di Lặc trói yêu tinh
Chương 67: Trổ tài, Ngộ Không trừ rắn độc – Ra công, Bát Giới ủi đồ Dơ
Chương 68: Châu Tử vương treo bảng cầu thầy Tôn Hành Giả trỗ tài làm thuốc
Chương 69: Tôn Hành Giã ban đêm hiệp thuốc Châu Tử vương trong tiệc luận yêu
Chương 70: Yêu ma hóa phép gió cát vang – Ngộ Không ăn cắp lục lạc lửa
Chương 71: Hành Giả mượn danh trừ yêu quái – Quan Âm xuống động bắt yêu vương
Chương 72: Ðộng Bảng Tư, Thất Tinh bắt sãi – Suối Trạt Cấu, Bát Giới khuấy yêu
Chương 73: Bảy yêu quái báo cừu độc hiểm – Ba thầy trò bị thuốc mê mang
Chương 74: Trường Canh giả dạng đem tin quỷ – Hành Giả trổ tài hóa phép linh
Chương 75: Ngộ Không khoan bửu bình – Chúa động nhốt Ðại Thánh
Chương 76: Tề Thiên khuấy ruột gan – Bát Giới bị yêu quái
Chương 77: Chúa yêu bắt Tam Tạng – Hành Giả viện Như Lai
Chương 78: Sai Ðồng làm tổ cứu đồng nhi – Giảng đạo cứu vua thành Tiểu tử
Chương 79: Phá động đánh yêu cho Lão Thọ – Ðến trào giúp chúa cứu con thơ
Chương 80: Gái ma giả dạng cầu đôi lứa – Sải thánh cao tài biết phải chăng
Chương 81: Chùa Trấn Hải, Ngộ Không đánh quỷ – Rừng Hắc Tòng, TamTạng bị tinh
Chương 82: Thử Tinh ép Ðường Tăng – Hành Giả cứu Sư Phụ
Chương 83: Tề Thiên kiện Lý Tịnh – Na Tra bắt nữ yêu
Chương 84: Quan Âm mách miệng cứu Ðường Tăng – Hành Giả cạo đầu vua Diệt Pháp
Chương 85: Ngộ Không gạt Bát Giới – Lão quái bắt Ðường Tăng
Chương 86: Bát Giới trợ oai trừ lũ quái – Ngộ Không hóa phép trị loài yêu
Chương 87: Quân Phụng Tiên, khinh trời bị hạn – Sải Ngộ Không, cứu thế cầu mưa
Chương 88: Ngọc Hoa cầu sải thánh – Hòa Thượng dạy học trò
Chương 89: Huỳnh Sư tinh tập Ðinh Ba hội – Tôn Ngộ Không đánh Báo Ðầu sơn
Chương 90: Sư tử với thiên sư về một động – Ðạo đồ Cùng vương đạo rẽ hai phe
Chương 91: Bốn thầy ngoài tiệc, ăn uống vui say – Một ả trong phòng, điểm trang chải chuốt
Chương 92: Ba sải cả đánh Thanh Long sơn – Bốn sao giúp bắt Tê Ngưu quái
Chương 93: Ghé Cô viên, hỏi dọ nhằm thầy – Ðến Thiên Trúc, đi chầu gặp nộm
Chương 94: Phủ Kim Bình, Ngươn Dạ xem đèn – Cầu Kim Ðăng, Ðường Tăng bị bắt
Chương 95: Hành Giả biết yêu, trừ Ngọc Thố – Thiên Bồng nhớ tật, níu Hằng Nga
Chương 96: Khấu Viên ngoại ưa đãi thầy tu Ðường Trưởng lão chẳng màn của cúng
Chương 97: Tam Tạng bị vụ ăn cướp – Ngộ Không cãi tử hồi sinh
Chương 98: Ðộc Mộc kiều, Tiếp Dẫn đưa đò Lăng Văn Ðộ, Ðường Tăng bỏ xác
Chương 99: Mười mấy năm trời qua Cực lạc Tám ngày phép Phật tới Trường An
Chương 100: Tam Tạng thỉnh kinh về Ðông Ðộ Năm thánh hưởng phước tại Tây Phương

Giới thiệu tác phẩm “Tam Quốc diễn nghĩa”

Tam quốc diễn nghĩa (giản thể: 三国演义; phồn thể: 三國演義, Pinyin: sān guó yǎn yì), nguyên tên là Tam quốc chí thông tục diễn nghĩa, là một tiểu thuyết về lịch sử Trung Quốc được La Quán Trung viết vào thế kỷ 14 (đời Minh), kể về thời kỳ hỗn loạn Tam Quốc (190–280) với 120 chương hồi, kết hợp giữa sự thật lịch sử và các truyện kể dân gian theo phương pháp bảy thực ba hư (bảy phần thực ba phần hư cấu).

Tiểu thuyết này được xem là một trong Tứ đại danh tác của văn học Trung Quốc (3 bộ còn lại là: Thủy Hử, Tây Du Ký, Hồng Lâu Mộng).

Dịch giả: Phan Kế Bính

Mục lục

HỒI 1: Tiệc vườn đào, anh hùng kết nghĩa – Chém Khăn Vàng, hào kiệt lập công
HỒI 2: Trương Dực Đức giận đánh đốc bưu – Hà Quốc Cữu mưu giết quan hoạn
HỒI 3: Tiệc Ôn Minh, Đổng Trác mắng Đinh Nguyên – Dùng vàng bạc, Lý Túc dụ Lã Bố
HỒI 4: Phế Hán Đế, Trần Lưu lên ngôi – Lừa Đổng tặc, Mạnh Đức dâng kiếm
HỒI 5: Phát hiệu triệu, các trấn hưởng ứng Tào Công – Phá cửa quan, ba anh hùng đánh Lã Bố
HỒI 6: Đốt Kim Quyết, Đổng Trác làm càn – Giấu ngọc tỉ, Tôn Kiên trái ước
HỒI 7: Viên Thiệu qua cầu đánh Công Tôn – Tôn Kiên sang sông đá Lưu Biểu
HỒI 8: Vương tư đồ khéo dụng liên hoàn kế – Đổng thừa tướng náo động Phụng Nghi Đình
HỒI 9: Trừ hung bạo, Lã Bố giúp Tư đồ – Chiếm Trường An, Lý Thôi nghe Giả Hủ
HỒI 10: Giúp nhà vua, Mã Đằng khởi nghĩa – Báo thù Bố, Tào Tháo cất quân
HỒI 11: Lưu hoàng thúc cứu Khổng Dung ở Bắc Hải – Lã Ôn Hầu phá Tào Tháo thành Bộc Dương
HỒI 12: Đào Cung Tổ ba lần nhượng Từ Châu – Tào Mạnh Đức một phen đánh Lã Bố
HỒI 13: Lý Thôi, Quách Dĩ một trận giao tranh – Dương Phụng, Đổng Thừa hai lần cứu giá
HỒI 14: Tào Mạnh Đức rời giá đến Hứa Đô – Lã Phụng Tiên đang đêm cướp Từ Quận
HỒI 15: Thái Sử Từ ham đả Tiểu Bá Vương – Tôn Bá Phù hăng đánh Nghiêm Bạch Hổ
HỒI 16: Cửa nha môn, Phụng Tiên bắn kích – Sông Vị Thủy, Mạnh Đức thua quân
HỒI 17: Viên Công Lộ cất bảy cánh quân – Tào Mạnh Đức gặp ba ông tướng
HỒI 18: Giả Văn Hòa liệu kế đánh thắng giặc – Hạ Hầu Đôn rút tên nuốt con ngươi
HỒI 19: Thành Hạ Phí, Tào Tháo dùng binh – Lầu Bạch Môn, Lã Bố tuyệt mệnh
HỒI 20: Tào A Man ra săn ruộng Hứa Điền – Đổng quốc cữu vâng chiếu trong nội các
HỒI 21: Tào Tháo uống rượu luận anh hùng – Quan Công lừa mưu giết Xa Trụ
HỒI 22: Viên, Tào đều cất ba quân mã bộ – Quan, Trương cùng bắt hai tướng Vương, Lưu
HỒI 23: Nễ Chính Bình khỏa thân mắng giặc – Cát Thái Y đầu độc bị hình
HỒI 24: Quốc tặc hành hung giết quý phi – Hoàng thúc thua chạy sang Viên Thiệu
HỒI 25: Đóng Thổ Sơn, Quan Công giao ước ba việc – Cứu Bạch Mã, Tào Tháo thoát khỏi vòng vây
HỒI 26: Viên Bản Sơ hao binh tổn tướng – Quan Vân Trường treo ấn gói vàng
HỒI 27: Mỹ Nhiệm Công cưỡi một ngựa bay nghìn dặm – Hán Thọ Hầu chém sáu tướng phá năm quan
HỒI 28: Chém Sái Dương, anh em hòa giải – Hội Cổ Thành, vua tôi tụ nghĩa
HỒI 29: Tiểu Bá Vương giận chém Vu Cát – Ngô Tôn Quyền ngồi lĩnh Giang Đông
HỒI 30: Đánh Quan Độ, Bản Sơ bại trận – Cướp Ô Sào, Mạnh Đức đốt lương
HỒI 31: Tào Tháo ở Thương Đình, phá vỡ Bản Sơ – Huyền Đức sang Kinh Châu, nương nhờ Lưu Biểu
HỒI 32: Cướp Ký Châu, Viên Thượng tranh hùng – Khơi sông Chương, Hứa Du hiến kế
HỒI 33: Tào Phi nhân loạn lấy Châu Thị – Quách Gia dặn kế định Liêu Đông
HỒI 34: Sái phu nhân nấp nghe chuyện kín – Lưu hoàng thúc nhảy ngựa Đàn Khê
HỒI 35: Huyền Đức qua Nam Chương, gặp người ẩn dật – Đan Phúc đến Tân Dã, tiếp chúa anh minh
HỒI 36: Huyền Đức dùng mẹo đánh úp Phàn Thành – Nguyên Trực tế ngựa tiến cử Gia Cát
HỒI 37: Tư Mã Huy hai lần tiến cử danh sĩ – Lưu Huyền Đức ba lượt đến tận lều tranh
HỒI 38: Long Trung quyết kế thiên hạ chia ba – Tôn thị báo thù, Trường Giang đại chiến
HỒI 39: Thành Kinh Châu, công tử ba lần cầu kế – Gò Bác Vọng, quân sư bắt đầu dùng binh
HỒI 40: Sái phu nhân bàn hiến Ký Châu – Gia Cát Lượng hỏa thiêu Tân Dã
HỒI 41: Lưu Huyền Đức đưa dân qua sông – Triệu Tử Long một ngựa cứu chúa
HỒI 42: Trương Dực Đức đại náo cầu Trường Bản – Lưu Dự Châu thua chạy cửa Hán Tân
HỒI 43: Gia Cát Lượng khua lưỡi bẻ bọn nho – Lỗ Tử Kính dùng sức bác lời chúng
HỒI 44: Khổng Minh dùng kế khích Chu Du – Tôn Quyền quyết mưu đánh Tào Tháo
HỒI 45: Cửa Tam Giang, Tào Tháo hao binh – Hội quần anh, Tưởng Cán mắc mẹo
HỒI 46: Dùng chước lạ, Khổng Minh mượn tên – Dâng kế mật, Hoàng Cái chịu nhục
HỒI 47: Hám Trạch mật dâng thư giả hàng – Bàng Thống khéo dùng liên hoàn kế
HỒI 48: Mở tiệc yến, Tào Tháo ngâm thơ – Khóa chiến thuyền, bắc quân dùng võ
HỒI 49: Đàn thất tinh, Gia Cát cầu phong – Cửa Tam Giang, Chu Du phóng hỏa
HỒI 50: Gia Cát Lượng khéo tình đường Hoa Dung – Quan Vân Trường vì nghĩa tha Tào Tháo
HỒI 51: Tào Nhân đại chiến quân Đông Ngô – Khổng Minh chọc tức Chu Công Cẩn
HỒI 52: Gia Cát Lượng chối từ Lỗ Túc – Triệu Tử Long lừa mẹo lấy Quế Dương
HỒI 53: Quan Vân Trường tha Hoàng Trung không giết – Tôn Trọng Mưu đánh Trương Liêu bị thua
Hồi 54: Ngô Quốc Thái đến chùa xem rể hiền – Lưu hoàng thúc động phòng cưới vợ mới
HỒI 55: Huyền Đức khéo léo, nói khích Tôn phu nhân – Khổng Minh hai phen trêu tức Chu Công Cẩn
HỒI 56: Tào Tháo mở tiệc mừng đài Đổng Tước – Khổng Minh Ba lần trêu tức Chu Du
HỒI 57: Cửa Sài Tang, Ngọa Long đến viếng tang – Huyện Lỗi Dương, Phượng Sồ quản công việc
HỒI 58: Mã Mạnh Khởi cất quân báo thù – Tào A Man cắt râu, vứt áo
HỒI 59: Hứa Chử cởi trần đánh Mã Siêu – Tào Tháo xóa thư lừa Hàn Toại
HỒI 60: Trương Vĩnh Niên hỏi vặn Dương Thu – Bàng Sĩ Nguyên bàn lấy Tây Thục
HỒI 61: Triệu Vân chặn sông giằng A Đẩu – Tôn Quyền đưa thư đánh lui Tào Man
HỒI 62: Giữ Bổi Quan, Dương, Cao nộp mạng – Đánh Lạc Thành, Hoàng, Ngụy tranh công
HỒI 63: Gia Cát Lượng đau lòng khóc Bàng Thống – Trương Dực Đức vì nghĩa tha Nghiêm Nhan
HỒI 64: Khổng Minh dùng mẹo bắt Trương Nhiệm – Dương Phụ mượn quân phá Mã Siêu
HỒI 65: Mã Siêu đại chiến cửa Hà Manh – Huyền Đức nhận chức được đất Tây Thục
HỒI 66: Quan Vân Trường một đao tới hội – Phục hoàng hậu vì nước bỏ mình
HỒI 67: Bình Hán Trung, Tào Tháo thành công – Bến Tiêu Diêu, Trương Liêu khét tiếng
HỒI 68: Cam Ninh trăm kị cướp Ngụy doanh – Tả Từ quăng chén đùa Tào Tháo
HỒI 69: Bói Chu Dịch, Quản Lộ biết cơ – Đánh Tào Man, năm người tử tiết
HỒI 70: TrươngPhi khỏe, dùng mưu lấy Ngõa Khẩu Ải – Hoàng Trung già, bày kế đoạt Thiên Đăng Sơn
HỒI 71: Chiếm Đối Sơn, Hoàng Trung sức nhàn thắng sức mỏi – Giữ Hán Thủy, Triệu Vân quân ít phá quân nhiều
HỒI 72: Gia Cát Lượng dùng mẹo lấy Hán Trung – Tào A Man thu quân về Tà Cốc
HỒI 73: Huyền Đức lên ngôi Hán Trung Vương – Vân Trường đánh chiếm Tương Dương quận
HỒI 74: Bàng Đức mang áo quan, quyết trận tử chiến – Quan Công khơi dòng nước, tràn ngập bảy đạo quân
HỒI 75: Quan Vân Trường cạo xương chữa thuốc – Lã Tử Minh áo trắng sang đò
HỒI 76: Từ Công Minh đánh đến Miện Thủy – Quan Vân Trường thua chạy ra Mạch Thành
HỒI 77: Núi Ngọc Toàn, Quan Công hiển thánh – Thành Lạc Dương, Tào Tháo cảm thần
HỒI 78: Chữa bệnh nhức đầu, hại thân thầy thuốc – Trối trăn truyền lại, hết số gian hùng
HỒI 79: Anh chẹt em, Tào Thực ngâm thơ – Cháu hại chú, Lưu Phong chịu tội
HỒI 80: Tào phi bỏ Hiến Đế, cướp vận Viêm Lưu – Hán Vương lên ngôi rồng, nối dòng đại thống
HỒI 81: Vội báo thù, Trương Phi bị hại – Mong rửa hận, tiên chủ cất quân
HỒI 82: Tôn Quyền hàng Ngụy, chịu cửu tích – Tiên chủ đánh Ngô, thưởng sáu quân
HỒI 83: Đánh Hào Đình, tiên chủ bắt được thù nhân – Giữ Giang Khẩu, thư sinh cất làm đại tướng
HỒI 84: Lục Tốn đốt sạch trại liên doanh – Khổng Minh khéo bày đồ bát trận
HỒI 85: Lưu tiên chủ viết chiếu gửi con côi – Gia Cát Lượng ngồi yên bình năm đạo
HỒI 86: Tần Bật biện bác, hỏi vặn Trương Ôn – Từ Thịnh hóa công, phá quân Ngụy chủ
HỒI 87: Đánh nam khấu, thừa tướng cất quân – Chống thiên binh, Man vương bị bắ
HỒI 88: Qua Lư Thủy, Phiên vương hai lượt vào tròng – Biết trá hàng, Mạnh Hoạch ba phen bị bắt
HỒI 89: Võ Vương hầu bốn phen dùng mẹo – Nam Man vương năm lượt vào tròng
HỒI 90: Đuổi thú mạnh, sáu chuyến phá quân Man – Đốt giáp mây, bảy lần bắt Mạnh Hoạch
HỒI 91: Tế sông Lư, thừa tướng rút quân – Đánh giặc Ngụy, Võ Hầu dâng biểu
HỒI 92: Triệu Tử Long ra sức giết năm tướng – Gia Cát Lượng dùng mẹo đoạt ba thành
HỒI 93: Khương Bá Ước về hàng Khổng Minh – Võ Vương Hầu mắng chết Vương Lãng
HỒI 94: Gia Cát Lượng nhân tuyết phá quân Khương – Tư Mã Ý nhanh tay bắt Mạnh Đạt
HỒI 95: Mã Tốc trái lệnh mất Nhai Đình – Võ Hầu gảy đàn đuổi Trọng Đạt
HỒI 96: Khổng Minh gạt lệ chém Mã Tốc – Chu Phường cắt tóc lừa Tào Hưu
HỒI 97: Đánh nước Ngụy, Võ Hầu hai lần dâng biểu – Phá quân Tào, Khương Duy dùng mẹo hiến thư
HỒI 98: Đuổi quân Hán, Vương Song mắc mưu – Úp Trần Thương, Võ Hầu thắng trận
HỒI 99: Gia Cát Lượng cả phá quân Ngụy – Tư Mã Ý vào cướp Tây Xuyên
HỒI 100: Quân Hán cướp trại, phá Tào Quân – Võ Hầu đấu trận, nhục Trọng Đạt
HỒI 101: Ra Lũng Thượng, Gia Cát giả làm thần – Vào Kiếm Các, Trương Cáp bị mắc mẹo
HỒI 102: Tư Mã Ý chiếm giữ Bắc Nguyên, Vị Kiều – Gia Cát Lượng chế ra trâu gỗ, ngựa máy
HỒI 103: Hang Thượng Phương, Tư Mã mắc nạn – Gò Ngũ Trượng, Gia Cát dâng sao
HỒI 104: Rơi sao lớn, thừa tướng qua đời – Trông tượng gỗ, đô đốc mất vía
HỒI 105: Võ Hầu dự sẵn mẹo cẩm nang – Ngụy chủ dỡ lấy mâm thừ lộ
HỒI 106: Công Tôn Uyên thua trận, chết ở Tương Bình – Tư Mã Ý giả ốm, lừa được Tào Sảng
HỒI 107: Ngụy chủ trao quyền họ Tư Mã – Khương Duy bại trận núi Ngưu Đầu
HỒI 108: Trong mưa tuyết, Đinh Phụng đánh đoản binh – Trên tiệc rượu, Tôn Tuấn dùng mật kế
HỒI 109: Vây Tư Mã, mưu lạ Khương Duy – Bỏ Tào Phương, quả báo nhà Ngụy
HỒI 110: Văn Ương một ngự thoái quân hùng – Bá Ước men sông phá giặc lớn
HỒI 111: Đặng Sĩ Tái mẹo phá Khương Bá Ước – Gia Cát Đản khởi nghĩa đánh Tư Mã Chiêu
HỒI 112: Cứu Thọ Xuân, Vu Thuyên tử tiết – Lấy Trường Thành, Bá Ước dùng binh
HỒI 113: Đinh Phụng Lập mẹo đánh Tôn Lâm – Khương Duy đấu trận phá Đặng Ngải
HỒI 114: Tào Mao ruổi xe chết cửa nam – Khương Duy bỏ lương phá quân Ngụy
HỒI 115: Xuống chiếu thu quân, Hậu chủ tin gièm – Mượn nghề làm ruộng, Khương Duy lánh vạ
HỒI 116: Đường Hán Trung, Chung Hội chia quân – Núi Định Quân, Võ Hầu hiển thánh
HỒI 117: Đặng Sĩ Tái lẻn qua núi Âm Bình – Gia Cát Chiêm chết tại thành Miên Trúc.
HỒI 118: Khóc miếu tổ, Lưu Thầm tự tử – Vào Tây Xuyên, Chung, Đặng tranh công
HỒI 119: Giả đầu hàng, kế hay thành chuyện hão – Nhường ngôi báu, người sau học lối xưa.
HỒI 120: Tiến Đỗ Dự, lão tướng dâng mẹo hay – Bắt Tôn Hạo, tam phân lại hợp nhất.

Giới thiệu tác phẩm “Phong Thần diễn nghĩa”

Phong thần diễn nghĩa (nguyên bản) (giản thể: 封神演义; phồn thể: 封神演義; cũng gọi là Bảng phong thần, Vũ Vương phạt Trụ ngoại sử phong thần diễn nghĩa, Phong thần truyện, Thương Chu liệt quốc toàn truyện (tái bản), là một bộ tiểu thuyết được viết lại trên cơ sở cuốn Vũ Vương phạt Trụ bình thoại in đời Nguyên, trong đó bao gồm các tư liệu lịch sử cùng với các thần thoại, truyền thuyết.

Phong thần diễn nghĩa xoay quanh việc suy vong của nhà Thương và sự nổi lên của nhà Chu, cùng với đó là rất nhiều thần thoại, truyền thuyết Trung Hoa, bao gồm các thần, tiên, yêu quái v.v. Trong chừng mực nào đó, Phong thần diễn nghĩa mô tả cuộc sống của người Trung Hoa đương thời, nơi tôn giáo có một vai trò lớn trong cuộc sống hàng ngày.

Tác giả của Phong thần diễn nghĩa (bảng phong thần) có thuyết nói là Hứa Trọng Lâm (giản thể: 许仲琳; phồn thể: 許仲琳), hiệu là Chung Sơn Dật Tẩu, người Phủ Ứng Thiên huyện Trực Lệ biên soạn. Thuyết khác lại cho rằng tác giả rất có thể là Lục Tây Tĩnh (giản thể: 陆西星; phồn thể: 陸西星), hiệu Trường Canh, người huyện Hưng Hóa, tỉnh Giang Tô. (nguồn: wiki)

Mục lục

Hồi 1: Trụ Vương tế miễu bà Nữ Oa
Hồi 2: Phản nước Thương, Tô Hộ đề thơ
Hồi 3: Xem thơ Tây Bá hầu, Tô Hộ dâng Đát Kỷ
Hồi 4: Giết giai nhân, hồ ly mượn lệnh
Hồi 5: Vân Trung Tử dâng kiếm trừ yêu
Hồi 6: Làm Bào lạc Trụ Vương hại tôi trung
Hồi 7: Bí Trọng bày mưu phế Khương hậu
Hồi 8: Họ Phương cõng chúa phản Triều Ca
Hồi 9: Thương Thừa tướng liều mình gián chúa
Hồi 10: Tiếng sấm sinh dị nhân
Hồi 11: Tây Bá bị giam thành Dũ Lý
Hồi 12: Na Tra xuất hiện ải Trần Đường
Hồi 13: Thạch Cơ bị lửa thiêu hiện hình cục đá
Hồi 14: Na Tra nhờ thầy cứu nhập xác bông sen
Hồi 15: Khương Thượng về trần cưới vợ
Hồi 16: Tử Nha đốt quỷ hóa tỳ bà
Hồi 17: Đát Kỷ lập Sái Bồn giết hại cung nga
Hồi 18: Khương Tử Nha lội sông trốn chúa
Hồi 19: Bá Ấp Khảo dâng báu vật chuộc cha
Hồi 20: Táng Nghi Sanh mua lòng bọn nịnh
Hồi 21: Văn Vương khoe quan qua 5 ải
Hồi 22: Văn Vương thương con mửa thịt hóa thỏ
Hồi 23: Thấy Phi Hùng điềm lành ứng mộng
Hồi 24: Văn Vương rước Khương Thượng nơi sông Vị
Hồi 25: Hồ Ly dọn tiệc mời yêu quái
Hồi 26: Đát Kỷ bày mưu hại Tỉ Can
Hồi 27: Văn Trọng ban sư về nước dâng 10 khoản can vua
Hồi 28: Văn Vương phạt Trụ cứu dân
Hồi 29: Văn Vương chém Sùng Hầu Hổ
Hồi 30: Võ Thành Vương phản Trụ đầu Châu
Hồi 31: Văn Thái Sư đuổi theo Phi Hổ
Hồi 32: Hoàng Thiên Hóa gặp cha tại Đồng Quan
Hồi 33: Hoàng Phi Hổ đánh ải Tụy Thủy
Bài 34: Võ Thành Vương ra mắt Tử Nha
Hồi 35: Triều Điền đem binh thám thính
Hồi 36: Quế Phương vâng chiếu chinh Tây
Hồi 37: Tử Nha về núi cầu Nguyên Thỉ
Hồi 38: Tứ Thánh phò Trụ đánh Tây Kỳ
Hồi 39: Hai nịnh bị giá lạnh nằm co
Hồi 40: 4 tướng cậy phép đoạt thành
Hồi 41: Văn Trọng đi ngang Huỳnh Hoa trại
Hồi 42: Văn Thái Sư thâu được 4 tướng thần
Hồi 43: Văn Thái Sư thất trận cầu tiên giúp
Hồi 44: Khương Tử Nha bị trù, hồn bay về trời
Hồi 45: Nhiên Đăng phá trận thập tuyệt
Hồi 46: Quảng Thành Tử phá trận Kim Quang
Hồi 47: Triệu Công Minh ra sức phò Văn Trọng
Hồi 48: Lục Yểm lập kế bắt Triệu Công Minh
Hồi 49: Trận Hồng Hà, Võ Vương đành lâm nạn
Hồi 50: Trận Huỳnh Hà 3 cô bắt các tiên
Hồi 51: Tử Nha cướp trại đuổi binh Thương
Hồi 52: Núi Tuyệt Long, Văn Trọng chầu trời
Hồi 53: Đặng Cửu Công dâng sắc chinh Tây
Hồi 54: Thổ Hành Tôn khoe tài bắt tướng
Hồi 55: Thổ Hành Tôn thất thế đầu Tây Kỳ
Hồi 56: Tử Nha lập mưu bắt Thiền Ngọc
Hồi 57: Trụ Vương sai Tô Hộ phạt Tây Kỳ
Hồi 58: Trời khiến Tử Nha gặp Lữ Nhạc
Hồi 59: Ân Hồng giữa đường thâu Chánh Đáng
Hồi 60: Mã Nguyên xuống núi giúp con vua
Hồi 61: Ân Hồng nát thây trên thái cực đồ
Hồi 62: Trương Sơn kế tiếp việc chinh Tây
Hồi 63: Thân Công Báo khuyên nhất điện hạ đánh Tử Nha
Hồi 64: La Tuyên nổi lửa đốt Tây Kỳ
Hồi 65: Ân Giao mắc lời thề bỏ mạng
Hồi 66: Hồng Cẩm đẹp số se duyên
Hồi 67: Đàn Kim Đài, Tử Nha bái tướng
Hồi 68: Núi Thú Dương nghĩa sĩ cầm cương
Hồi 69: Khổng Tuyên ra tài bắt tướng
Hồi 70: Chuẩn Đề hóa phép cưỡi công
Hồi 71: Tử Nha kéo binh qua 2 ải
Hồi 72: Quảng Thành Tử 3 lần lạy giáo chủ
Hồi 73: Già trẻ, đôi hùm tranh cao thấp
Hồi 74: Khói trắng, hơi vàng, hai phép đồng nhau
Hồi 75: Thổ Hành Tôn trộm thú Dư Nguyên
Hồi 76: Trịnh Luân bắt tướng thâu Tị Thủy
Hồi 77: Lão Tử hóa Tam Thanh đánh giáo chủ
Hồi 78: Tây Phương hai vị phá Tru Tiên
Hồi 79: Ải Xuyên Vân, 4 tướng Châu bị bắt
Hồi 80: Trận Ôn Hoàng bị quạt mầu phá tiêu
Hồi 81: Ải Đồng Quan, họ Dư rải độc
Hồi 82: Trận Vạn Tiên Triệt Giáo sa cơ
Hồi 83: Phá trận dữ, tiên thú hiện hình
Hồi 84: Kéo binh lang đánh ải Lâm Đồng
Hồi 85: Hai vị chư hầu đầu thánh chúa
Hồi 86: Ngũ Nhạc trở về thiên tào
Hồi 87: Vợ chồng Thổ Hành Tôn tử trận
Hồi 88: Tử Nha độ binh vượt Huỳnh Hà
Hồi 89: Vua Trụ chặt chân lương dân để xem tủy
Hồi 90: Liễu Quỷ Đào Tinh bị đả thần
Hồi 91: Tử Nha lập kế thiêu Văn Hóa
Hồi 92: Dương Tiễn ra tài bắt Tử Chân
Hồi 93: Kim Tra lập kế đoạt ải Du Hồn
Hồi 94: Văn Hoán nổi xung chém Phá Bại
Hồi 95: Tử Nha hài tội ác Trụ Vương
Hồi 96: Nữ Oa đón thâu Đát Kỷ
Hồi 97: Lầu Trích Tinh, vua Trụ thiêu mình
Hồi 98: Phá đài báu, nhà Châu thí của
Hồi 99: Tử Nha vâng sắc phong thần
Hồi 100: Châu Võ Vương luận công chia nước