Hồi 32: Oan không thế nói, sầu phát điên

Trương Vô Kỵ nghe tiếng bọn Cái Bang đã đi xa, trong miếu không còn động tĩnh gì nữa, mới từ trong bụng trống nhảy ra. Triệu Mẫn theo ra, sửa lại quần áo, lườm chàng một cái nửa mừng nửa giận. Trương Vô Kỵ tức mình, nói:

– Hừ, cô nương như vậy còn mặt mũi nào nhìn ta nữa ư?

Triệu Mẫn xịu mặt, nói:

– Cái gì? Ta đắc tội gì với Trương đại giáo chủ?

Trương Vô Kỵ nghiêm mặt, xẵng giọng:

– Cô nương lấy trộm kiếm Ỷ Thiên và thanh đao Đồ Long, ta không trách! Cô nương bỏ rơi ta trên hoang đảo, ta cũng không trách cô nương. Thế nhưng Ân cô nương đã bị trọng thương như thế, mà cô nương lại đang tâm hạ độc thủ, hạng đàn bà lòng dạ hiểm độc như cô nương, thật ít thấy trong thiên hạ.

Nói tới đây, không dằn nỗi bi phẫn, chàng tiến lên một bước, xoạc cẳng cho vững, giáng liền bốn cái tát. Triệu Mẫn làm sao tránh nổi chưởng lực của Trương Vô Kỵ? Chỉ nghe bốp bốp bốn tiếng, hai má nàng lập tức sưng đỏ lên. Triệu Mẫn vừa đau vừa ức, nước mắt ròng ròng, nghẹn ngào nói:

– Chàng bảo ta lấy trộm kiếm Ỷ Thiên và thanh đao Đồ Long, có ai nhìn thấy không? Ai bảo là ta hạ độc thủ với Ân cô nương? Chàng hãy gọi kẻ ấy ra đây đối chất với ta!

Trương Vô Kỵ càng tức giận, lớn tiếng nói:

– Được, để ta cho ngươi xuống dưới âm phủ mà đối chất.

Chàng đưa hai tay bóp cổ Triệu Mẫn, nàng không thở được, giơ ngón tay chọc vào ngực chàng, nhưng cảm thấy như chọc vào bông, kình lực mất tiêu luôn; trong giây lát mặt nàng tím tái, nàng ngất đi không còn biết gì nữa.

Trương Vô Kỵ nghĩ đến mối thù Ân Ly, đã định bóp chết Triệu Mẫn cho hả giận; nhưng thấy nàng như thế, lại mềm lòng, buông hai tay ra. Triệu Mẫn ngã ngửa ra sau, “cộc” một tiếng, gáy va vào thềm đá của đại điện.

Lúc lâu sau, Triệu Mẫn từ từ tỉnh lại, thấy Trương Vô Kỵ đang nhìn mình chằm chằm, đầy vẻ lo lắng, lúc thấy nàng mở mắt ra, chàng mới thở phào nhẹ nhõm. Triệu Mẫn hỏi:

– Chàng bảo Ân cô nương chết rồi ư?

Trương Vô Kỵ lại nổi giận, quát:

– Bị ngươi rạch bảy, tám nhát kiếm… nàng ta còn có thể sống nổi được sao?

Triệu Mẫn run giọng, hỏi:

– Ai bảo là ta rạch bảy, tám nhát kiếm? Là Chu cô nương bảo thế phải không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Chu cô nương không đời nào nói xấu sau lưng người khác, nàng ta không tận mắt nhìn thấy, lẽ nào vu hãm cho ngươi?

Triệu Mẫn hỏi:

– Vậy là do chính Ân cô nương nói à?

Trương Vô Kỵ quát lên:

– Ân cô nương làm sao mà nói được? Trên hoang đảo chỉ có năm người, không lẽ do nghĩa phụ làm hay sao? Hay là ta rạch? Hay là Ân cô nương tự rạch mặt mình? Hừ, ta biết bụng dạ ngươi, ngươi sợ ta cùng biểu muội kết thành phu phụ nên mới hạ độc thủ. Ta nói để ngươi hay, Ân cô nương sống hay chết thì ta vẫn coi nàng ấy là vợ ta.

Triệu Mẫn cúi đầu, trầm tư một hồi, lại hỏi:

– Thế làm cách nào chàng về được Trung nguyên? Trương Vô Kỵ cười khẩy:

– Cũng là nhờ lòng tốt của cô nương phái thủy sư ra hoang đảo đón bọn ta về. May mà nghĩa phụ ta không thật thà khờ khạo như ta, bọn ta mới không sa vào gian kế của cô nương. Cô nương sai pháo thuyền chờ sẵn ở vùng duyên hải để đánh chìm thuyền của bọn ta về, chỉ phí công toi.

Triệu Mẫn đưa tay xoa xoa hai má bị sưng, ngẩn ngơ nhìn chàng hồi lâu, ánh mắt dần dần lộ rõ vẻ thương yêu, thở dài một tiếng não nuột.

Trương Vô Kỵ sợ mình động tâm, mủi lòng trước sắc đẹp và sức quyến rũ của nàng, bèn quay đầu sang chỗ khác, rồi đột nhiên dậm chân nói:

– Ta từng thề báo thù cho biểu muội, nhưng hóa ra ta nhút nhát vô dụng, hôm nay không nỡ ra tay. Cô nương tác ác đa đoan, thể nào cũng có ngày rơi phải tay ta!

Nói đoạn bước nhanh ra cửa miếu.

Chàng đi được mươi trượng, thì Triệu Mẫn đuổi theo, gọi:

– Trương Vô Kỵ, chàng đi đâu thế?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta đi đâu thì liên can gì tới cô nương?

Triệu Mẫn nói:

– Muội có điều muốn hỏi Tạ đại hiệp và Chu cô nương, nhờ chàng đưa tới gặp họ với.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ ta ra tay không nể nang gì hết, bộ ngươi muốn chết hay sao?

Triệu Mẫn cười nhạt, nói:

– Nghĩa phụ chàng tuy tàn ác thật, nhưng đâu có hồ đồ như chàng. Hơn nữa, nếu Tạ đại hiệp giết muội, thì chàng coi như đã báo thù cho biểu muội, chẳng phải là chàng được thỏa nguyện hay sao?

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta hồ đồ ở chỗ nào? Ta không muốn cô nương đến gặp nghĩa phụ ta.

Triệu Mẫn mỉm cười:

– Gã tiểu tử Trương Vô Kỵ hồ đồ kia ơi, chàng trong bụng thực không bỏ muội được, nên không muốn muội bị Tạ đại hiệp giết chứ gì, đúng chưa nào?

Trương Vô Kỵ bị nàng nói trúng tâm trạng, thì đỏ mặt, quát lên:

– Đừng có nói lung tung! Cô nương hay làm những việc bất nghĩa như thế, thể nào cũng tự chui đầu vào chỗ chết. Cô nương tốt hơn hết hãy tránh ta cho xa, chớ để ta gặp lại, nóng tiết lên là ta giết luôn cô nương đó.

Triệu Mẫn thong thả lại gần, nói:

– Muội có vài câu không thể không hỏi Tạ đại hiệp và Chu cô nương cho ra lẽ. Muội không muốn nói xấu người khác ở sau lưng, muội cần phải nói rõ ngay trước mặt.

Trương Vô Kỵ bỗng nổi lòng hiếu kỳ, hỏi:

– Cô nương định hỏi họ chuyện gì?

Triệu Mẫn đáp:

– Đến lúc ấy chàng khắc biết. Muội không sợ nguy hiểm, chàng có gì phải sợ?

Trương Vô Kỵ chần chừ, nói:

– Vậy là chính cô nương đòi đi, nếu nghĩa phụ ta hạ độc thủ, ta muốn cứu cô nương cũng không nổi đâu.

Triệu Mẫn nói:

– Không cần chàng phải lo cho muội.

Trương Vô Kỵ tức giận:

– Lo cho cô nương? Hừ, ta còn mong cho cô nương chết là khác.

Triệu Mẫn cười:

– Thế thì chàng hãy mau ra tay đi.

Trương Vô Kỵ “hừ” một tiếng, không thèm nói nữa, rảo bước đi về phía thị trấn. Đến thị trấn rồi, Trương Vô Kỵ dừng chân, quay đầu lại, nói:

– Triệu cô nương, ta từng nhận lời làm cho cô nương ba việc. Việc thứ nhất là đi tìm thanh đao Đồ Long, coi như đã xong. Còn hai việc nữa chưa làm xong, cô nương mà gặp nghĩa phụ ta, thể nào cô nương cũng chết. Vậy cô nương cứ đi đi, chừng nào ta làm xong nốt hai việc kia, cô nương hãy tới gặp nghĩa phụ ta cũng chưa muộn.

Triệu Mẫn điềm nhiên cười, nói:

– Chàng cố tìm mọi lý do để muội khỏi bị giết, muội biết chàng thực lòng không thể bỏ muội mà.

Trương Vô Kỵ nổi giận:

– Cứ coi như ta không nỡ nhẫn tâm, thì sao nào?

Triệu Mẫn nói:

– Thì muội rất sung sướng. Lâu nay muội không biết chàng có thực lòng với muội hay không, giờ thì biết rồi.

Trương Vô Kỵ thở dài, nói:

– Triệu cô nương, ta van cô nương, cô nương hãy đi chỗ khác đi.

Triệu Mẫn lắc đầu:

– Muội nhất định phải gặp Tạ đại hiệp.

Trương Vô Kỵ không còn cách nào khác, đành phải vào khách điếm. Đến trước cửa phòng Tạ Tốn, chàng gõ cửa hai tiếng, gọi:

– Nghĩa phụ!

Miệng thì gọi, nhưng lại đứng chắn phía trước Triệu Mẫn. Chàng gọi hai lần, không thấy bên trong trả lời, cửa vẫn đóng im ỉm, trong bụng sinh nghi, nghĩ thầm nghĩa phụ rất thính tai, chàng tới bên cửa thì ông dẫu đang ngủ say cũng đã tỉnh dậy rồi; nếu bảo đã ra ngoài, tại sao cửa lại cài bên trong?

Chàng lấy tay đẩy nhẹ, nghe “cách” một tiếng, then cửa gãy liền, cửa phòng mở ra, quả nhiên không thấy Tạ Tốn ở trong đó. Có một cánh cửa sổ hé mở, chắc ông đã ra ngoài theo lối đó.

Trương Vô Kỵ sang phòng Chu Chỉ Nhược, gọi:

– Chỉ Nhược!

Cũng không có tiếng trả lời, đẩy cửa vào cũng không thấy nàng đâu, bọc áo vẫn còn để ngay ngắn trên giường.

Trương Vô Kỵ cảm thấy khó hiểu, tự hỏi: “Không lẽ họ gặp kẻ địch?” Bèn gọi điếm tiểu nhị tới hỏi, gã bảo rằng không thấy hai người đi ra, cũng không hề nghe có tiếng cãi cọ xô xát gì cả. Trương Vô Kỵ yên tâm, nghĩ thầm: “Chắc hai người nghe được chuyện gì, nên đi truy tìm tung tích địch nhân”. Lại nghĩ Tạ Tốn tuy mù, song võ công cao cường, thời nay ít ai địch nổi, huống hồ bên cạnh có Chu Chỉ Nhược tinh tế cẩn trọng đi theo, chắc không sao cả. Chàng từ phòng Tạ Tốn nhảy qua cửa sổ ra ngoài, xem xét chung quanh, không thấy gì lạ, lại quay vào phòng.

Triệu Mẫn nói:

– Chàng thấy Tạ đại hiệp không có ở đây, lại có vẻ vui thì phải?

Trương Vô Kỵ nói:

– Đừng nói bậy, ta vui bao giờ?

Triệu Mẫn mỉm cười, nói:

– Chàng tưởng muội không biết nhận ra vẻ mặt của chàng hay sao? Chàng đẩy cửa phòng bước vào, hơi lo lắng, nhưng rồi hết ngay.

Trương Vô Kỵ mặc kệ nàng ta, ra ngồi tựa vào chiếc giường.

Triệu Mẫn tủm tỉm cười, ngồi xuống ghế, nói:

– Muội biết chàng sợ Tạ đại hiệp giết muội, may sao ông ấy không có nhà, đỡ phiền cho chàng. Muội biết chàng quả thật không thể bỏ muội được mà.

Trương Vô Kỵ nổi cáu:

– Không bỏ được thì đã sao?

Triệu Mẫn cười, nói:

– Thì muội sung sướng vô cùng.

Trương Vô Kỵ hậm hực, nói:

– Còn cô nương tại sao cứ năm lần bảy lượt rắp tâm hại ta? Cô nương cũng không bỏ được ta chứ gì?

Triệu Mẫn bỗng đỏ mặt, dịu giọng nói:

– Đúng vậy, ban đầu muội quả thực muốn giết chàng, nhưng từ hôm gặp nhau ở Lục Dương trang, muội mà còn có ý định hại chàng, thì trời cứ tru đất cứ diệt Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ này đi, khi chết sẽ rơi xuống mười tám tầng địa ngục, vạn kiếp không được trở lại làm người.

Trương Vô Kỵ nghe nàng thề độc, liền nói:

– Thế tại sao vì một cây đao, một thanh kiếm mà cô nương nỡ bỏ ta ở hoang đảo?

Triệu Mẫn nói:

– Chàng đã cho là như thế, thì muội dẫu có trăm cái miệng cũng không cãi được, chỉ còn cách chờ Tạ đại hiệp và Chu cô nương về đây, bốn người chúng ta đối chất cho minh bạch.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương khéo mồm khéo miệng, chỉ lừa được một mình ta, chứ không lừa nổi nghĩa phụ ta và Chu cô nương đâu.

Triệu Mẫn mỉm cười:

– Vì sao chàng lại chịu để muội đánh lừa? Vì trong bụng chàng thích muội chứ gì, phải vậy không?

Trương Vô Kỵ nói:

– Thích thì đã sao?

Triệu Mẫn nói:

– Thì muội rất vui.

Trương Vô Kỵ thấy nàng cười tươi như hoa, ai nhìn cũng phải xiêu lòng, vừa nãy lại bị chàng giáng bốn cái tát, sưng đỏ lên, trông tội nghiệp, chàng vội quay ra chỗ khác, không dám nhìn nàng.

Triệu Mẫn nói:

– Mình ở trong cái miếu ấy lâu quá, hóa ra đói bụng.

Bèn gọi điếm tiểu nhị, đưa cho một đĩnh vàng, bảo mau dọn một mâm cỗ thượng hạng bưng lên. Điếm tiểu nhị rối rít vâng dạ, vội mang trái cây và đồ điểm tâm lên trước, sau đó bưng rượu thịt tới.

Trương Vô Kỵ nói:

– Mình đợi nghĩa phụ về ăn một thể.

Triệu Mẫn nói:

– Tạ đại hiệp về đây thì mạng muội chắc gì còn, chi bằng ăn trước cho no, xuống âm phủ khỏi làm ma đói ma khát.

Trương Vô Kỵ thấy nàng tuy miệng nói vậy, mà cử chỉ dáng vẻ tựa hồ chẳng sợ hãi chút nào. Triệu Mẫn lại nói:

– Trong túi muội còn vàng nữa đây, để bảo điếm tiểu nhị làm mâm cỗ khác.

Trương Vô Kỵ lạnh lùng nói:

– Ta chả dám ăn uống chung với cô nương, biết đâu cô nương lại chẳng bỏ “Thập hương nhuyễn cân tán” vào đó.

Triệu Mẫn xịu mặt, nói dỗi:

– Thì chàng đừng ăn nữa, để khỏi bị trúng độc bởi tay muội.

Nói đoạn ngồi ăn một mình.

Trương Vô Kỵ bảo điếm tiểu nhị mang lên mấy cái bánh bao, tách ra một góc xa xa, ngồi ăn ngốn ngấu. Ở mâm của Triệu Mẫn nào gà quay, dê nướng, cá chiên, thịt hầm, đủ món ngon lành; nàng ăn một hồi, bỗng nước mắt rơi lã chã xuống cả chén bát, nàng gượng nuốt vài miếng, rồi quăng đũa bát, gục xuống bàn khóc tấm tức.

Nàng khóc một lát, chùi nước mắt, xem chừng trong lòng đã nhẹ nhõm đi nhiều, nhìn ra cửa sổ, nói:

– Chỉ một giờ nữa thì trời tối, không biết gã Hàn Lâm Nhi kia bị đưa đi đâu, nếu để mất tung tích thì khó lòng giải cứu cho y.

Trương Vô Kỵ chột dạ, đứng dậy, nói:

– Đúng thế, ta phải đi cứu Hàn Lâm Nhi đã.

Triệu Mẫn nói:

– Rõ không biết ngượng, ai nói chuyện với chàng mà cũng tiếp lời?

Trương Vô Kỵ thấy nàng chợt giận chợt thẹn, chợt vui chợt buồn, bất giác cảm thấy vừa giận vừa thương, chẳng biết thế nào cho phải, vội ăn trệu trạo cho xong cái bánh bao, rồi chạy đi. Triệu Mẫn nói:

– Muội cùng đi với.

Trương Vô Kỵ nói:

– Ta không cần cô nương đi cùng.

Triệu Mẫn hỏi:

– Vì sao?

Trương Vô Kỵ đáp:

– Cô nương là hung thủ giết hại biểu muội ta, làm sao ta có thể đi cùng với kẻ thù?

Triệu Mẫn nói:

– Được, vậy chàng đi một mình đi!

Trương Vô Kỵ ra đến cửa, bỗng quay lại hỏi:

– Cô nương ở đây làm gì?

Triệu Mẫn đáp:

– Muội chờ nghĩa phụ của chàng về, nói cho ông ấy biết chàng đi cứu Hàn Lâm Nhi rồi.

Trương Vô Kỵ nói:

– Nghĩa phụ ta ghét kẻ ác như quân thù, lẽ nào tha mạng cho cô nương?

Triệu Mẫn thở dài:

– Cái số muội thế đành chịu, biết làm thế nào?

Trương Vô Kỵ nghĩ một lát, nói:

– Cô nương nên tránh đi chỗ khác thì hơn, chờ ta trở về hãy hay.

Triệu Mẫn lắc đầu:

– Muội biết tránh đi đâu bây giờ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Thôi được, cô nương hãy theo ta đi cứu Hàn Lâm Nhi, sau đó quay về đây đối chất.

Triệu Mẫn cười:

– Đấy là chàng rủ muội cùng đi, chứ không phải muội cứ nằng nặc đòi theo đấy nhé.

Trương Vô Kỵ nói:

– Cô nương đúng là hung tinh chiếu mệnh ta, gặp cô nương thật là xui xẻo cho ta vô cùng.

Triệu Mẫn cười hồn nhiên, nói:

– Chàng đợi muội một lát.

Nói xong nàng thuận tay khép cửa phòng lại.

Lát sau, Triệu Mẫn mở cửa, nàng đã đổi sang y phục nữ giới, áo lông có mũ trùm đầu, áo gấm màu đỏ, ăn mặc cực kỳ sang trọng. Trương Vô Kỵ không ngờ nàng mang theo trong bọc mấy thứ quần áo sang trọng nhường ấy, nghĩ thầm: “Cô gái này thật là quỷ kế đa đoan, hành sự không biết đâu mà lần”. Triệu Mẫn nói:

– Sao chàng cứ ngơ ngẩn nhìn muội thế? Muội ăn mặc thế này trông đẹp lắm hả?

Trương Vô Kỵ nói:

– Mặt đẹp như hoa, lòng dạ rắn rết.

Triệu Mẫn cười khanh khách, nói:

– Đa tạ Trương đại giáo chủ ban cho muội tám chữ đó. Trương giáo chủ ơi, ngài cũng nên thay bộ quần áo khác cho tử tế một chút đi.

Trương Vô Kỵ phật ý, nói:

– Ta từ nhỏ ăn bận rách rưới đã quen, nếu cô nương hiềm ngại quần áo ta lam lũ, thì đừng đi theo ta làm gì.

Triệu Mẫn nói:

– Chàng chớ nên cả nghĩ. Muội chỉ muốn xem chàng sau khi mặc quần áo đẹp, trông chàng sẽ như thế nào mà thôi. Chàng hãy chờ ở đây một lát, để muội chạy đi mua quần áo cho. Bọn ăn mày kia đi đường lớn để vào cửa ải, mình chỉ cần đi nhanh một chút là sẽ đuổi kịp chúng.

Nàng không đợi chàng trả lời, đi luôn ra ngoài. Trương Vô Kỵ ngồi lại, tự trách mình sao không đủ cứng cỏi, cứ để cho cô gái này đùa giỡn; rõ ràng cô ta là người hại chết biểu muội của ta, vậy mà ta cứ ở đây cười cười nói nói với cô ta. Trương Vô Kỵ ơi là Trương Vô Kỵ, mi còn gì là nam tử hán đại trượng phu? Mi còn mặt mũi nào làm giáo chủ Minh giáo, hiệu lệnh quần hùng?

Chàng đợi hồi lâu không thấy Triệu Mẫn quay về, trời thì đã sẩm tối, nghĩ thầm: “Việc gì ta phải chờ nàng ta? Cứ một mình đi cứu Hàn Lâm Nhi thì đã sao?” Nhưng chàng lại hình dung cái cảnh nàng mua quần áo về, gặp phải Tạ Tốn giáng cho một chưởng trúng thiên linh cái, vỡ đầu nát óc chết lăn quay, quần áo rơi tung tóe, thì cả sợ. Chàng cứ nhấp nhổm đứng lên ngồi xuống, nghĩ ngợi lung tung, mãi đến lúc nghe tiếng chân nhẹ lướt, hương thơm thoang thoảng, Triệu Mẫn ôm hai bọc quần áo bước vào phòng.

Trương Vô Kỵ nói:

– Đợi cô nương lâu quá chừng! Thôi khỏi cần thay quần áo, đuổi theo kẻ địch ngay mới kịp!

Triệu Mẫn mỉm cười:

– Đã đợi bao lâu, làm gì không chờ thêm chút nữa để thay đồ. Muội đã mua hai con ngựa, sẽ đi suốt đêm đuổi theo.

Nói rồi cởi cái bọc, lấy ra quần áo, giày vớ, nói:

– Thị trấn nhỏ chả có gì đáng mua, chàng dùng tạm, bao giờ tới Đại Đô sẽ mua chiếc áo lông.

Trương Vô Kỵ chột dạ, nghiêm mặt nói:

– Triệu cô nương, đừng bao giờ tính chuyện ta sẽ tham phú quý, quy hàng triều đình; cô nương hãy dẹp bỏ ngay ý nghĩ ấy đi. Trương Vô Kỵ ta đường đường là con cháu nhà Đại Hán, dù có được cắt đất phong vương, ta cũng không khi nào đầu hàng Mông Cổ.

Triệu Mẫn thở dài, nói:

– Trương đại giáo chủ, chàng hãy nhìn xem, đây là trang phục của người Mông, hay là quần áo của người Hán?

Vừa nói vừa giơ ra chiếc áo bào màu xám. Trương Vô Kỵ thấy các món đồ nàng mua đều là trang phục của người Hán, thì gật đầu. Triệu Mẫn xoay người lại, hỏi:

– Chàng xem muội có giống một quận chúa Mông Cổ, hay là một cô gái người Hán bình thường?

Trương Vô Kỵ giật mình, trước đây chàng chỉ nghĩ Triệu Mẫn trang sức hoa lệ, không nghĩ gì đến sự khác biệt người Mông, người Hán, lúc này nghe nàng nhắc, mới thấy nàng ăn mặc hoàn toàn giống một thiếu nữ người Hán. Chỉ thấy hai gò má ửng hồng, đôi mắt long lanh đầy vẻ thiết tha, thì chàng đột nhiên hiểu ra dụng ý của nàng, bèn nói:

– Cô nương… cô nương… Triệu Mẫn nhỏ nhẹ nói:

– Chàng không đành lòng bỏ rơi muội, đối với muội thế là đủ lắm rồi. Chàng là người Hán hay người Mông, đối với muội cũng thế cả thôi. Chàng là người Hán, muội cũng là người Hán; chàng là người Mông, thì muội cũng là người Mông. Trong lòng chàng toàn tính việc quân quốc đại sự, nên phân biệt kẻ Hoa người Di, canh cánh thịnh suy hưng vong, uy danh quyền thế. Còn muội thì, Vô Kỵ ca ca, trong lòng muội chỉ có một điều, ấy là chàng mà thôi. Chàng là người xấu hay người tốt, đối với muội cũng thế cả.

Trương Vô Kỵ cảm động, nghe nàng nói những lời đằm thắm như thế thì ý loạn tình mê, một lát sau mới nói:

– Cô nương hại chết biểu muội của ta, có phải vì sợ ta lấy nàng ấy?

Triệu Mẫn nói to:

– Ân cô nương không phải do muội giết hại; chàng tin hay không thì tùy; muội chỉ có một câu đó mà thôi.

Trương Vô Kỵ thở dài:

– Triệu cô nương, cô nương có lòng với ta như vậy, ta không phải là gỗ đá, lẽ nào không cảm động? Nhưng hôm nay, sự thể đến bước này, cô nương còn lừa dối ta làm gì kia chứ?

Triệu Mẫn nói:

– Muội từ lâu cứ tự cho mình là người thông minh lanh lợi, chuyện gì cũng thắng thế, nào ngờ sự đời khó tính trước. Vô Kỵ ca ca, bây giờ chúng ta không đi đâu nữa, chàng ở đây chờ Tạ đại hiệp, còn muội sang phòng Chu cô nương đợi cô ta.

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ:

– Tại sao vậy?

Triệu Mẫn nói:

– Chàng đừng hỏi tại sao. Về Hàn Lâm Nhi, chàng khỏi lo; muội bảo đảm sẽ cứu được chàng ta là xong.

Nói đoạn nàng quay lưng đi ra, sang phòng của Chu Chỉ Nhược, đóng cửa lại.

Trương Vô Kỵ nhất thời chưa biết dụng ý của nàng, tựa người vào thành giường, cố nghĩ. Đột nhiên chàng nghĩ thầm: “Hay là Triệu Mẫn đoán biết ta với Chỉ Nhược đã đính hôn, giết hại một mình biểu muội ta chưa đủ, nên còn bày kế giết luôn Chỉ Nhược? Liệu có phải Huyền Minh nhị lão sau khi rời khỏi miếu Di Lặc đã tới đây tính kế hại chết nghĩa phụ và Chỉ Nhược?” Vừa nghĩ đến Huyền Minh nhị lão, thì trong lòng lập tức hoảng sợ, Lộc Trượng Khách và Hạc Bút Ông võ công quá cao siêu, Tạ Tốn dẫu sáng mắt cũng chưa chắc địch nổi một trong hai lão già ấy.

Chàng bèn nhổm dậy, chạy sang phòng Triệu Mẫn, hỏi:

– Triệu cô nương, Huyền Minh nhị lão thủ hạ của cô nương đi đâu rồi?

Triệu Mẫn từ bên trong nói vọng ra:

– Hai người ấy chắc đoán là muội đã thoát thân sẽ trở về bên trong quan ải, nên đuổi theo về hướng nam rồi.

Trương Vô Kỵ hỏi:

– Có thật vậy không?

Triệu Mẫn cười khẩy:

– Nếu chàng không tin lời muội, thì còn hỏi làm gì?

Trương Vô Kỵ chả biết nói sao, đứng ngây ở ngoài cửa. Triệu Mẫn nói:

– Giả dụ muội nói với chàng, rằng muội đã sai Huyền Minh nhị lão tới khách điếm này giết Tạ đại hiệp và ý trung nhân của chàng là Chu cô nương, thì chàng có tin hay không?

Câu nói ấy chạm đúng vào ý nghĩ đáng sợ nhất trong đầu Trương Vô Kỵ, chàng bèn vung chân đá tung cánh cửa phòng, trán nổi gân xanh, run run nói:

– Ngươi… ngươi…

Triệu Mẫn nhìn bộ dạng chàng như thế thì hoảng sợ, hối hận là đã nói như vậy, vội nói:

– Muội dọa chơi chàng thế thôi, không có chuyện đó đâu, chàng đừng nghĩ là thật.

Trương Vô Kỵ chăm chú nhìn nàng, chậm rãi nói:

– Cô nương không sợ tới khách điếm này gặp nghĩa phụ ta, luôn miệng đòi đối chất với hai người, có phải cô nương thừa biết hai người ấy không còn sống nữa, phải không?

Chàng vừa hỏi vừa tiến lên hai bước, cách nàng không đến ba thước, chỉ cần giáng cho một chưởng là Triệu Mẫn bỏ mạng tức thời.

Triệu Mẫn nhìn vào mắt chàng, nghiêm mặt nói:

– Trương Vô Kỵ, muội nói với chàng đây, việc trên đời, trừ phi chính mắt mình nhìn thấy, chứ đừng có nghe người ta nói ra nói vào, càng không nên tự nghĩ ngợi lung tung. Chàng muốn giết muội thì cứ ra tay đi; nhưng lát nữa chàng thấy nghĩa phụ chàng về đây, lúc ấy lòng dạ chàng sẽ ra sao nhỉ?

Trương Vô Kỵ trấn tĩnh lại, hơi ngượng ngùng, nói:

– Chỉ cần nghĩa phụ ta bình an vô sự, tức là đại cát. Chuyện sinh tử an nguy của nghĩa phụ ta, cô nương chớ có đem ra làm trò đùa.

Triệu Mẫn gật đầu, nói:

– Muội không nên nói thế mới phải, muội có lỗi, mong chàng đừng trách.

Trương Vô Kỵ thấy nàng thành khẩn nhận lỗi, cũng mềm lòng, mỉm cười, nói:

– Ta quả cũng hơi lỗ mãng, đắc tội với cô nương.

Sau đó chàng trở về phòng của Tạ Tốn.

Hai người đợi qua đêm, sáng hôm sau vẫn không thấy Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược trở về. Trương Vô Kỵ lại càng lo lắng, ăn qua quýt vài thứ lót dạ, rồi bàn với Triệu Mẫn, rốt cuộc hai người kia đi đâu. Triệu Mẫn nhíu mày nói:

– Chuyện này kể cũng lạ thật. Chi bằng mình đuổi theo bọn Sử Hỏa Long, nghe ngóng xem sao.

Trương Vô Kỵ gật đầu, nói:

– Cũng chỉ còn cách ấy thôi.

Bèn gọi chưởng quỹ thanh toán tiền phòng trọ, dặn là nếu Tạ Tốn và Chu Chỉ Nhược trở về, thì bảo họ cứ chờ ở đây.

Điếm tiểu nhị dẫn tới hai con ngựa màu hạt dẻ, Trương Vô Kỵ thấy hai con tuấn mã lông bóng mượt, chân dài bụng thon, đúng là loài ngựa quý danh tiếng, không khỏi tấm tắc khen ngợi, đoán là nàng đã dùng để đuổi theo bọn Cái Bang, chiều qua lúc ra ngoài mua quần áo, đã dắt về đây. Triệu Mẫn mỉm cười, nhảy lên mình ngựa. Hai con ngựa sóng vai chạy ra khỏi thị trấn, phi về hướng nam. Người ta thấy hai con tuấn mã như hai con rồng, cưỡi trên lưng là đôi nam nữ y phục sang trọng, tướng mạo tuấn mỹ, thì tưởng là một cặp vợ chồng trẻ con nhà quyền quý đi ra ngoài du ngoạn.

Hai người đi một ngày, được hơn hai trăm dặm, nghỉ lại trên đường một đêm, sáng hôm sau lại rong ruổi tiếp.

*

*     *

Hôm ấy chạy đến trưa, thấy gió bấc thổi ù ù từng trận phía sau lưng, trời âm u, mây đen mỗi lúc một dày và thấp; cố chạy hơn hai chục dặm nữa, thì tuyết lông ngỗng bắt đầu rơi lả tả từng đợt dày. Dọc đường Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn ít nói chuyện, nhìn tuyết rơi mỗi lúc một dày, hai người cứ lặng lẽ giục ngựa chạy nhanh. Hai người đi qua một vùng hoang vu, chỉ toàn núi non, gần tối thì tuyết đã dày cả thước, hai con ngựa dẫu là thần mã, cũng hết chịu nổi.

Trương Vô Kỵ thấy trời tối dần, liền đứng trên lưng ngựa, nhìn tứ phía, không thấy nhà cửa khói lửa gì, trong bụng chần chừ, nói:

– Triệu cô nương, cô nương nghĩ sao, nếu cứ đi tiếp, chỉ e hai con ngựa hết chịu nổi.

Triệu Mẫn cười nhạt, nói:

– Chàng chỉ lo ngựa chịu hết nổi, chẳng cần biết người sống chết thế nào.

Trương Vô Kỵ ngượng ngùng, nghĩ thầm: “Mình nhờ có “Cửu dương thần công”, không biết mệt mỏi và giá lạnh, chỉ chú tâm chuyện cứu người, không ngó ngàng tới nàng”.

Lại đi một quãng nữa, bỗng có tiếng sột soạt, rồi một con hoẵng chạy vụt qua đường, chạy vào trong núi. Trương Vô Kỵ nói:

– Để ta bắt nó làm bữa tối.

Miệng nói, thân rời khỏi yên ngựa, theo dấu chân con hoẵng để lại trên tuyết mà đuổi theo.

Vượt qua một dốc núi, dưới ánh sáng mông lung, chàng thấy con hoẵng sắp chui vào một cái hang. Chàng vội đề khí, phóng tới như một mũi tên, không cho con hoẵng chui vào, tóm luôn được cổ nó. Con hoẵng quay đầu đớp cổ tay chàng, năm ngón tay chàng bóp mạnh một cái, con hoẵng gãy cổ chết liền. Chàng thấy cái hang tuy không lớn, nhưng cũng tạm đủ chỗ cho hai người dung thân; bèn xách con hoẵng trở lại chỗ Triệu Mẫn, nói:

– Đằng kia có một cái hang, mình tạm trú ở đó qua đêm, cô nương nghĩ sao?

Triệu Mẫn gật đầu, đột nhiên má đỏ bừng, quay mặt, dắt ngựa đi.

Trương Vô Kỵ dắt hai con ngựa, buộc vào dưới gốc hai cây tùng lớn để tránh tuyết, kiếm ít cành khô, đốt một đống lửa trong hang. Cái hang khá sạch sẽ, hoàn toàn không có phân thú hoặc thứ gì dơ dáy, nhìn vào trong tối om om, chả biết sâu đến đâu. Trương Vô Kỵ làm thịt con hoẵng, lấy tuyết rửa sạch, rồi nướng trên lửa. Triệu Mẫn cởi áo lông, trải xuống đất. Lửa cháy bừng bừng, trong hang ấm áp như một phòng xuân.

Trương Vô Kỵ tình cờ quay đầu, thấy ánh lửa bập bùng chiếu lên khuôn mặt kiều diễm của nàng. Hai người nhìn nhau cười tủm tỉm, bao nhiêu mệt mỏi đói rét cả một ngày tiêu tan hết.

Thịt hoẵng chín rồi, hai người mỗi người cầm một đùi hoẵng mà ăn. Trương Vô Kỵ tiếp thêm củi vào đống lửa, tựa lưng vào vách đá, hỏi:

– Ngủ thôi chứ?

Triệu Mẫn mỉm cười, tựa lưng vào vách hang, nhắm mắt lại. Trương Vô Kỵ ngửi thấy mùi thơm thoang thoảng từ người nàng tỏa ra, nhìn hai má hây hây, chỉ muốn ghé môi hôn, nhưng phải cố dằn lòng, nhắm mắt ngủ.

Ngủ đến nửa đêm, bỗng nghe có tiếng vó ngựa từ xa vọng tới. Trương Vô Kỵ choàng dậy, dỏng tai nghe, biết có bốn con ngựa từ phía nam chạy lên phía bắc. Chàng thấy bên ngoài tuyết vẫn đang rơi dày, nghĩ thầm: “Đêm khuya tuyết lớn, người ta vẫn đội tuyết mà đi, hẳn có việc khẩn cấp”. Tiếng vó ngựa đến gần bỗng dừng lại, rồi tiến gần hơn nữa, rõ ràng đã sắp tới cửa hang. Trương Vô Kỵ chột dạ nghĩ thầm: “Cái hang này ở sau dốc núi, nếu không có con hoẵng chạy vào đây, mình chẳng thể tìm ra, sao lại có người biết mà tìm đến nhỉ?” Rồi chàng chợt hiểu: “Đúng rồi, mình để lại dấu chân trên tuyết; tuy tuyết rơi suốt đêm, vẫn chưa xóa hết dấu vết”.

Lúc này Triệu Mẫn cũng đã tỉnh dậy, nói nhỏ:

– Có thể kẻ địch tới đây không chừng, mình nên tránh đi, xem họ là ai đã.

Rồi nàng bốc tuyết ở cửa hang mà dập tắt đống lửa.

Lúc này tiếng vó ngựa đã lặng, chỉ nghe tiếng bốn người kia đạp tuyết đi tới, cách cái hang chỉ còn mươi trượng. Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Bốn người này thân pháp nhanh nhẹn, là các cao thủ vô cùng lợi hại.

Bây giờ hai người mà chạy ra ngoài hang tìm nơi ẩn náu, thì sẽ bị họ phát giác ngay. Còn chưa biết tính sao, Triệu Mẫn đã cầm tay Trương Vô Kỵ đi vào phía trong. Cái hang này càng vào sâu càng hẹp, đi hơn một trượng, thì có ngã rẽ; bỗng nghe người ở bên ngoài nói:

– Ở đây có một cái hang.

Trương Vô Kỵ nghe giọng nói quá quen thuộc, chính là tứ sư bá Trương Tòng Khê, vừa mừng vừa lo, lại nghe tiếng người thứ hai nói:

– Vết chân ngựa và người chính là dẫn tới cái hang này.

Người nói là Ân Lê Đình.

Trương Vô Kỵ đang định lên tiếng gọi, thì Triệu Mẫn giơ tay bịt miệng chàng, ghé tai nói nhỏ:

– Chàng với muội ở chung chỗ này, để họ thấy được, e sẽ nghĩ xấu về mình.

Trương Vô Kỵ nghĩ nàng nói đúng. Mình cùng Triệu Mẫn tuy quang minh lỗi lạc, nhưng một đôi thiếu niên nam nữ ngủ chung trong một cái hang nhỏ, để các vị sư bá sư thúc trông thấy, ai dám tin rằng hai cô cậu không có chuyện này chuyện nọ? Huống hồ Triệu Mẫn còn là quận chúa nhà Nguyên, từng bắt giam Trương Tòng Khê, Ân Lê Đình ở chùa Vạn An, thật là nhục nhã, bây giờ họ bắt gặp kẻ thù, thật là bất tiện. Chàng nghĩ thầm: “Thôi mình chờ Trương tứ bá, Ân lục thúc rời khỏi hang, rồi sẽ một mình ra gặp họ cho đỡ ngượng”.

Lại nghe tiếng Du Liên Châu nói:

– Ồ, ở đây có vết tích củi lửa, ồ, có cả lông da và vết máu làm thịt hoẵng nữa này.

Lại thêm giọng nói của người thứ tư:

– Ta thấy nóng ruột quá, chỉ mong sao cho thất đệ bình an vô sự.

Giọng nói đó chính là của Tống Viễn Kiều.

Trương Vô Kỵ thấy cả bốn vị sư bá sư thúc Tống Du Trương Ân cùng cất công đi tìm Mạc Thanh Cốc, nghe lời lẽ của họ, dường như thất sư thúc gặp phải cường địch, nên trong bụng cũng thấy lo lắng.

Lại nghe Trương Tòng Khê cười nói:

– Đại sư ca thương yêu thất sư đệ, vẫn cứ coi y như một tiểu sư đệ bé bỏng; kỳ thực mấy năm nay uy danh của Mạc thất hiệp vang dội, đâu phải như ngày xưa; dù có gặp cường địch, một mình thất đệ cũng đối phó được.

Ân Lê Đình nói:

– Đệ không lo cho thất đệ, mà chỉ lo cho điệt nhi Vô Kỵ không biết hiện giờ đang ở đâu thôi. Nó là giáo chủ Minh giáo, thuyền to sóng cả, không ít kẻ ngấm ngầm muốn hại nó. Vô Kỵ tuy võ công cao siêu, tiếc rằng lại là người quá trung hậu, không biết phong ba hiểm ác chốn giang hồ, chỉ sợ rơi vào bẫy của kẻ gian mà thôi.

Trương Vô Kỵ thật cảm động, nghĩ các vị sư bá sư thúc đối với chàng ân tình sâu nặng như thế, luôn luôn lo lắng cho chàng. Triệu Mẫn ghé miệng bên tai chàng thì thầm:

– Muội là kẻ gian đó, lúc này chàng đang rơi vào bẫy của muội, có biết chưa?

Lại nghe tiếng của Tống Viễn Kiều:

– Thất đệ lên mạn bắc tìm Vô Kỵ, hình như đã lần được chút manh mối, song thất đệ để lại tám chữ ở khách điếm Thiên Tân, khiến người ta không đoán nổi ý nghĩa thế nào.

Trương Tòng Khê nói:

– “Môn hộ hữu biến, cức tu thanh lý”, không lẽ trong phái Võ Đang chúng ta lại có kẻ làm chuyện bại hoại hay sao? Hay là điệt nhi Vô Kỵ…

Ông nói tới đó thì dừng lại, giọng đầy vẻ lo lắng. Ân Lê Đình nói:

– Điệt nhi Vô Kỵ chắc không làm việc gì bại hoại môn hộ đâu, tiểu đệ tin chắc như thế.

Trương Tòng Khê nói:

– Ta sợ là sợ yêu nữ Triệu Mẫn quá gian trá độc ác, trong khi Vô Kỵ trẻ tuổi, huyết khí bồng bột, dễ sa vào tay mỹ nữ, như cha nó ngày xưa, đến nỗi thân bại danh liệt.

Bốn người không nói thêm, chỉ thở dài.

Tiếp đó có tiếng đánh lửa, tiếng củi kêu lách tách, lửa đã được nhóm lên, ánh lửa hắt vào trong hang, tuy đã qua một khúc quanh, Trương Vô Kỵ vẫn lờ mờ nhìn thấy vẻ mặt Triệu Mẫn dường như nửa giận nửa oán, chắc là bực mình về lời lẽ của Trương Tòng Khê. Trương Vô Kỵ cũng chột dạ nghĩ thầm: “Trương tứ bá nói thế cũng có lý. Mẹ ta chẳng làm việc gì xấu, mà đã khiến cha ta ra nông nỗi ấy. Còn Triệu cô nương này giết biểu muội ta, làm nhục thái sư phụ và các vị sư bá sư thúc của ta, xem ra ghê gớm hơn mẹ ta nhiều”. Nghĩ tới đó, tim đập mạnh, nghĩ tiếp: “Nếu để họ bắt gặp mình cùng Triệu cô nương ở đây, dẫu có tát cạn nước Hoàng Hà cũng không rửa sạch được nỗi oan này”.

Bỗng nghe Tống Viễn Kiều run run nói:

– Tứ đệ, trong lòng ta có một mối hồ nghi không tiện nói ra, vì nói ra chỉ e không phải với ngũ đệ đã qua đời.

Trương Tòng Khê thong thả nói:

– Có phải đại ca lo Vô Kỵ hạ độc thủ với thất đệ hay chăng?

Tống Viễn Kiều không đáp; Trương Vô Kỵ tuy không nhìn thấy, song cũng đoán là ông ta gật đầu.

Lại nghe Trương Tòng Khê nói:

– Thằng bé Vô Kỵ bản tính đôn hậu, về lý mà xét, quyết không khi nào làm chuyện đó. Đệ chỉ lo thất đệ tính khí quá nóng nảy, nếu cứ ép Vô Kỵ quá đáng, khiến nó không thể vẹn cả đôi bề; lại thêm con yêu nữ Triệu Mẫn sắp đặt gian kế, ở bên trong gièm pha xúi bẩy, thì… ôi, lòng người khó lường, sự đời khó đoán trước, xưa nay anh hùng khó vượt qua cửa ải mỹ nhân, chỉ mong Vô Kỵ tỉnh táo trong giờ phút hệ trọng mà thôi.

Ân Lê Đình nói:

– Đại ca, tứ ca, hai vị cứ đoán mò mà lo hão, thất đệ chắc không gặp chuyện gì hung hiểm đâu.

Tống Viễn Kiều nói:

– Nhưng từ lúc ta nhìn thấy thanh kiếm tùy thân của thất đệ, thì ta lo lắng bồn chồn, ăn ngủ chẳng yên.

Du Liên Châu nói:

– Chuyện đó quả thực không thể hiểu nổi. Những người luyện võ chúng ta, binh khí tùy thân đâu có thể bạ đâu vứt đó, huống chi thanh kiếm ấy là do sư phụ ban tặng, phải là kiếm còn người còn, kiếm mất người…

Sau chữ “người”, ông ngừng bặt, không dám nói tiếp chữ “mất”.

Trương Vô Kỵ nghe nói Mạc Thanh Cốc bỏ lại thanh kiếm sư phụ ban cho, các vị sư bá sư thúc có ý nghi chàng nhúng tay vào; thì vừa lo lắng vừa đau đớn. Một lát sau, chàng loáng thoáng ngửi thấy bên trong hang dường như có mùi hôi, cái hang này sâu, không chừng có dã thú ở bên trong cũng nên. Chàng sợ bị bọn Tống Viễn Kiều phát giác, không dám thở mạnh, cầm tay Triệu Mẫn rón rén đi sâu vào trong, lại lo đụng phải chỗ đá nhô ra, nên giơ tay trái dò đường. Đi được ba bước, lại gặp một khúc quanh, bỗng tay trái chàng chạm phải một vật gì mềm mềm, hình như là một người nào đó.

Trương Vô Kỵ cả kinh, chợt nghĩ thầm: “Bất kể người này là bạn hay thù, chỉ cần y lên tiếng, các vị sư bá sư thúc sẽ phát giác ngay”, chàng bèn vung tay điểm luôn năm huyệt đạo ở vùng ngực bụng của người kia, rồi chộp luôn cổ tay kẻ đó. Tay chàng chạm vào da thịt thấy lạnh ngắt, hóa ra người ấy đã chết từ lúc nào. Nhờ chút ánh sáng leo lắt từ bên ngoài hắt vào, chàng căng mắt nhìn khuôn mặt người kia, lờ mờ nhận ra hình như là Mạc sư thúc Mạc Thanh Cốc. Chàng cả kinh, chẳng còn sợ bị nhóm Tống Viễn Kiều phát giác hay không, liền ôm cái xác đi ra phía ngoài vài bước, chỗ ánh sáng chiếu vào rõ hơn, chàng nhìn thấy hiển nhiên đó là Mạc sư thúc, mặt ông ta không còn chút máu, hai mắt vẫn mở trừng trừng, càng nhìn càng kinh hãi. Chàng vừa kinh sợ vừa đau đớn, nhất thời cứ đứng ngây ra.

Mấy bước đi vừa rồi của chàng, bọn Tống Viễn Kiều đã nghe thấy. Du Liên Châu kêu to:

– Trong kia có người!

Hàn quang loáng lên, Võ Đang tứ hiệp nhất tề rút kiếm ra.

Trương Vô Kỵ thầm kêu khổ: “Mình đang ôm xác Mạc thất thúc, trốn ở trong hang thế này, cái tội giết sư thúc cãi sao cho được đây?” Nhớ lại Mạc Thanh Cốc đối với chàng biết bao nhiêu ân tình, nay bỗng dưng phát hiện ông ta chết thảm, trong bụng vạn phần bi phẫn, trong đầu nảy ra bao ý nghĩ, không biết lúc huynh đệ Tống Viễn Kiều tiến vào, chàng sẽ phải minh oan thế nào đây?

Triệu Mẫn suy tính nhanh hơn chàng rất nhiều; nàng nhảy vọt ra, múa trường kiếm, xông thẳng ra ngoài, đâm bốn kiếm liền, toàn là chiêu số thí mạng của phái Nga Mi, nhắm vào Võ Đang tứ hiệp. Võ Đang tứ hiệp giơ kiếm đỡ gạt, thì Triệu Mẫn đã chạy ra khỏi hang, vọt lên lưng một trong bốn con ngựa của mấy người đó, quay kiếm gạt mũi kiếm của Tống Viễn Kiều đâm tới, đồng thời thúc mạnh chân vào bụng ngựa. Con ngựa bị đau phóng vút đi.

Triệu Mẫn tưởng đã chạy thoát, đột nhiên lưng đau nhói, mắt nổ đom đóm, dường như nghẹn thở, thì ra vừa bị trúng một chiêu phi chưởng của Du Liên Châu. Chỉ nghe Võ Đang tứ hiệp thi triển khinh công rượt theo gấp gáp. Nàng nghĩ thầm: “Mình chạy càng xa, chàng càng dễ thoát thân; nếu không, nỗi oan kia làm sao biện bạch? May mà cả bốn người cùng đuổi theo mình, không nghĩ rằng trong hang còn có người khác”. Nàng cảm thấy lưng đau ghê gớm bèn giơ kiếm đâm vào mông con ngựa một cái, con ngựa hí một tiếng dài, phi như bay.

Trương Vô Kỵ thấy Triệu Mẫn xông ra thì kinh ngạc, rồi hiểu đó là kế điệu hổ ly sơn của nàng, cốt cứu chàng thoát đi. Chàng liền ôm xác Mạc Thanh Cốc chạy ra khỏi hang. Nghe tiếng Triệu Mẫn và Võ Đang tứ hiệp chạy về hướng đông, chàng bèn chạy về phía tây. Chạy được hơn hai dặm, chàng bèn đem cái xác giấu kín sau một tảng đá lớn, rồi mới quay lại bên đường, nhảy lên một cây cao, hồi lâu trống ngực vẫn còn đập mạnh. Nghĩ đến cái chết thảm khốc của Mạc Thanh Cốc, Trương Vô Kỵ không sao cầm được nước mắt, nghĩ thầm: “Phái Võ Đang nhà ta sao lắm tai họa thế, không biết kẻ nào sát hại Mạc sư thúc? Gân cốt sau lưng Mạc sư thúc bị gãy cả, đã trúng chưởng lực nội gia”.

Gần nửa canh giờ sau, nghe tiếng ba con ngựa từ phía đông chạy lại, dưới ánh tuyết phản chiếu, Trương Vô Kỵ thấy Tống Viễn Kiều và Du Liên Châu mỗi người cưỡi một con ngựa, còn Trương Tòng Khê và Ân Lê Đình hai người cưỡi chung một con. Chỉ nghe Du Liên Châu nói:

– Con yêu nữ ấy bị một chưởng của đệ, cả người lẫn ngựa rơi xuống vực sâu, chắc khó toàn mạng.

Trương Tòng Khê nói:

– Hôm nay mới trả được mối nhục bị giam ở chùa Vạn An, kể cũng bõ tức. Có điều là tại sao nó lại trốn trong cái hang đó, sự đời kỳ ảo, thực là bất ngờ.

Ân Lê Đình nói:

– Tứ ca thử đoán xem cô ta lấp ló một mình trong cái hang đó làm gì?

Trương Tòng Khê đáp:

– Việc đó thật khó hiểu. Giết con yêu nữ cũng chả được gì, chỉ có tìm được thất đệ mới thực là vui thôi.

Bốn người đi xa dần, lời họ nói đã không còn nghe thấy nữa.

*

*       *

Trương Vô Kỵ chờ bốn người đi xa rồi, mới từ trên cây nhảy xuống, theo dấu chân ngựa trên tuyết mà chạy về phía đông, lòng bồn chồn hết chỗ nói, nghĩ thầm: “Nàng tuy gian trá, song lần này đúng là nàng xả mệnh cứu ta. Nếu vì thế mà nàng thiệt mạng, ta… ta…” Chàng càng chạy nhanh hơn, thoáng chốc đã vượt bốn, năm dặm, tới bên một mép núi. Trên tuyết trắng có vũng máu, dấu chân loạn xạ, mép núi bị sạt lở một khối đá lớn, chắc là con ngựa Triệu Mẫn cưỡi đã chạy tới đây, hết đường mà đang đà, nên lao cả người lẫn ngựa xuống vực rồi.

Trương Vô Kỵ gọi to:

– Triệu cô nương, Triệu cô nương!

Chàng gọi bốn, năm tiếng nhưng không thấy đáp lại, càng lo lắng hơn, ra sát mép núi ngó xuống, thấy một cái vực sâu, trong đêm tối không thấy dưới đáy thế nào. Vách đá thẳng đứng, không có chỗ đặt chân.

Chàng hít một hơi dài, thò hai chân xuống, mặt hướng vào vách đá, tuột xuống. Tụt được ba, bốn trượng, thế rơi càng lúc càng nhanh, liền vận sức vào mười ngón tay, chọc vào lớp băng đóng cứng ở vách núi; đợi thân hình dừng lại một chút, mới lại tụt xuống tiếp. Cứ như thế dăm lần thì tới đáy vực, thấy dưới chân mềm mềm, vội nhảy tránh sang bên; thì ra chàng đạp trúng bụng con ngựa, Triệu Mẫn vẫn chưa rời yên, hai tay vẫn cứ ôm chặt cổ ngựa.

Trương Vô Kỵ đưa tay thăm mũi Triệu Mẫn, thấy còn thở nhè nhẹ, nhưng đã ngất lịm đi. Chàng hơi yên tâm, dưới đáy vực tối mờ, tuyết mùa đông đóng dày đến tận lưng, vẫn chưa tan. Xem ra Triệu Mẫn vì chưa rời yên ngựa, nên bao nhiêu lực rơi con ngựa chịu hết, bị chấn động chết tức thì, còn nàng chỉ hôn mê. Trương Vô Kỵ bắt mạch, thấy Triệu Mẫn tuy bị thương không nhẹ, nhưng tính mệnh không đáng ngại, liền ôm nàng vào lòng, bốn bàn tay áp vào nhau, vận công trị thương cho nàng.

Một chưởng Triệu Mẫn bị đánh là công phu bổn môn của phái Võ Đang, nên việc trị thương không khó, chưa đầy nửa canh giờ, nàng đã từ từ tỉnh lại. Trương Vô Kỵ đem “Cửu dương chân khí” trút cuồn cuộn sang người nàng, lại thêm nửa canh giờ nữa, trời đã tờ mờ sáng, Triệu Mẫn “ồ” lên một tiếng, thổ ra một ngụm máu bầm, hỏi khẽ:

– Họ đi cả chưa? Họ có nhìn thấy chàng hay không?

Trương Vô Kỵ thấy nàng chỉ nghĩ tới việc làm sao tránh cho chàng khỏi bị tiếng oan, thì vô cùng cảm kích, nói:

– Họ không thấy ta đâu. Cô nương… tội nghiệp cho cô nương quá.

Chàng vừa nói vừa tiếp tục truyền “Cửu dương chân khí” sang người nàng.

Triệu Mẫn nhắm mắt, tuy tứ chi chưa có sức, nhưng vùng bụng ngực thấy rất ấm áp dễ chịu. “Cửu dương chân khí” đã lưu chuyển mấy vòng trong cơ thể, nàng quay đầu lại, nói:

– Chàng nghỉ một lát đi, muội đỡ nhiều lắm rồi.

Trương Vô Kỵ vòng hai tay ôm lấy eo nàng, áp má bên phải vào má trái nàng, nói:

– Nàng cứu thanh danh cho ta, hơn cả mười lần cứu mạng, ta cảm kích vô ngần.

Triệu Mẫn cười khúc khích, nói:

– Muội là con tiểu yêu nữ gian trá độc ác, thanh danh chả coi ra gì, chỉ coi trọng mạng sống thôi.

Ngay lúc ấy, bỗng nghe từ trên mỏm núi có tiếng người vọng xuống:

– Con tiểu yêu nữ khốn kiếp quả nhiên chưa chết, ngươi giết hại Mạc thất hiệp thế nào, mau nói ta nghe!

Giọng nói đó chính là của Du Liên Châu. Trương Vô Kỵ cả kinh, không ngờ bốn vị sư bá sư thúc quay trở lại. Triệu Mẫn nói:

– Chàng quay đầu đi, đừng để họ thấy mặt.

Trương Tòng Khê quát:

– Con tặc yêu nữ, nếu ngươi không trả lời, ta sẽ lăn đá xuống đè nát ngươi.

Triệu Mẫn ngẩng nhìn lên, quả thấy bọn Tống

Viễn Kiều đang vần một tảng đá lớn, họ chỉ cần lăn nó xuống đây, hai người khó mà thoát chết. Nàng bèn ghé tai nói nhỏ với Trương Vô Kỵ:

– Chàng hãy xé một mảnh áo da bịt mặt, rồi ôm muội chạy đi.

Trương Vô Kỵ y lời, xé vạt áo, bịt mặt, buộc nút ra sau gáy, lại kéo sụp cái mũ da xuống tận trán, chỉ để lộ đôi mắt.

Võ Đang tứ hiệp sau khi rượt đuổi Triệu Mẫn khiến nàng rơi xuống vực rồi, song bốn người hành hiệp giang hồ lão luyện, thiết tưởng Triệu Mẫn có thân phận quận chúa tôn quý, không thể chỉ đi một mình không ai hộ vệ. Họ bèn giả bộ cưỡi ngựa bỏ đi, được vài dặm liền buộc ngựa ở hàng cây ven đường, lặng lẽ trở lại xem xét. Họ trở lại cái hang trước, đốt đuốc đi sâu vào trong, thấy hai con hoẵng đã bị dã thú cắn xé máu thịt bầy nhầy, song vẫn còn hình dạng. Họ lại xem xét cửa hang, lần theo dấu chân của Trương Vô Kỵ, từ đó phát giác thi thể Mạc Thanh Cốc, thấy chân tay bị dã thú cắn nát. Bốn người vừa đau đớn vừa phẫn nộ không sao kể xiết, Ân Lê Đình nằm phục xuống mà khóc.

Du Liên Châu gạt lệ, nói:

– Con tiểu yêu nữ Triệu Mẫn võ công không kém, nhưng một mình nó thì không thể giết nổi thất đệ. Lục đệ hãy nén bi thương, chúng ta phải đi tìm cho ra hung thủ, giết chúng để trả thù cho thất đệ.

Trương Tòng Khê nói:

– Chúng ta hãy mai phục cạnh hang, đợi trời sáng, thuộc hạ của con tiểu yêu nữ thể nào cũng tìm đến.

Trương Tòng Khê túc trí đa mưu, trước nay nói gì huynh đệ Tống Viễn Kiều cũng đều làm theo kế, bốn người bèn nén đau thương, tìm các tảng đá ở hai bên cửa hang, ẩn mình chờ đợi. Trời sáng vẫn không thấy thủ hạ của Triệu Mẫn đâu cả, bốn người liền tới chỗ Triệu Mẫn bị rơi xem sao, thấy dưới vực có tiếng người nói chuyện, nhìn xuống thấy một nam tử mặc áo gấm ôm Triệu Mẫn, thì ra con tiểu yêu nữ kia vẫn chưa chết. Tứ hiệp muốn tra hỏi nguyên nhân vì sao sát hại Mạc Thanh Cốc, nên chưa lăn tảng đá xuống đè chết hai người. Cái vực này y như một cái giếng lớn, tứ phía là vách núi hiểm trở, chỉ ở góc tây bắc có một lối đi lên rất hẹp. Trương Tòng Khê quát:

– Hai con chó Nguyên kia, mau lên đây, nếu lần khân, ta sẽ lăn đá xuống ngay.

Trương Vô Kỵ nghe tứ sư bá tưởng lầm chàng là người Mông Cổ, chắc do mình ăn mặc sang trọng, lại đi cùng Triệu Mẫn; chàng nhìn quanh, bốn phía không có chỗ ẩn nấp, nếu tứ hiệp lăn đá xuống, tự chàng có thể nhảy nhót né tránh, chứ Triệu Mẫn thì khó lòng thoát chết; chỉ còn cách tới đâu hay đó, liền ôm Triệu Mẫn theo con đường hẹp kia thong thả bò lên.

Chàng giả bộ võ công kém cỏi, đi vài bước lại trượt chân một cái. Con đường vốn hẹp rất khó bám víu, chàng lại cố ý vụng về, mệt mỏi, nên mất nửa canh giờ, sau bảy tám lần vấp ngã, mới lên tới chỗ đất bằng.

Trương Vô Kỵ định bụng vừa lên tới sẽ ôm Triệu Mẫn chạy ngay, với tài khinh công của chàng, dù phải mang thêm Triệu Mẫn, tứ hiệp cũng khó lòng đuổi kịp. Nhưng Trương Tòng Khê cực kỳ khôn ngoan, thấy kẻ leo lên giả bộ vụng về, đã ngầm báo cho ba người kia, tứ hiệp chia ra bốn góc, Trương Vô Kỵ vừa bước lên, bốn thanh trường kiếm đã chĩa ngay vào, cách thân chàng chưa đầy nửa thước.

Tống Viễn Kiều tức giận nói:

– Tặc Thát tử, ngươi lấy tấm da che bộ mặt quỷ lại, tưởng chạy thoát được ư? Mạc thất hiệp phái Võ Đang là do kẻ nào hạ sát? Hãy mau khai ra, nếu ngươi nói láo nửa câu, ta sẽ mổ bụng moi gan, băm vằm đồ chó Thát tử nhà ngươi!

Tống Viển Kiều bản tính khoan hòa nhưng vì thấy Mạc Thanh Cốc chết thảm, không nhịn được phải buông lời nói ác, là điều chưa từng xảy ra đối với ông mấy chục năm qua.

Triệu Mẫn thở dài, nói:

– Áp Lỗ Bất Hoa tướng quân, việc đến nước này, ngươi hãy nói cho họ biết đi vậy!

Rồi nàng thì thầm bên tai Trương Vô Kỵ:

– Hãy dùng võ công thánh hỏa lệnh!

Trương Vô Kỵ vốn không muốn động thủ với các vị sư bá sư thúc, nhưng tình thế này thật chẳng đặng đừng. Chàng bèn nghiến răng, ném luôn Triệu Mẫn vào Ân Lê Đình, miệng xí xa xí xố, tung người lộn vài vòng trên không trung, vươn tay chộp vào người Trương Tòng Khê. Ân Lê Đình thuận tay bắt lấy Triệu Mẫn, hơi ngạc nhiên, điểm ngay huyệt đạo và vứt nàng sang một bên.

Trong sát-na đó, Trương Vô Kỵ đã dùng võ công quái dị ghi trên thánh hỏa lệnh, tay đấm Tống Viễn Kiều, chân đá Du Liên Châu, đầu húc Trương Tòng Khê, vung ngược tay cướp trường kiếm của Ân Lê Đình. Mấy chiêu ấy nhanh như cắt, lại lạ lùng. Võ Đang tứ hiệp võ công cao cường, thuộc hàng đệ nhất cao thủ võ lâm, nhưng bị chàng dùng bảy tám quái chiêu đánh loạn xạ, thành thử chân tay luống cuống, không ai chống đỡ nổi.

Ngày nọ trên đảo Linh Xà, Trương Vô Kỵ võ công cao như thế, vậy mà gặp phải chiêu số quái dị trong thánh hỏa lệnh của Lưu Vân tam sứ Minh giáo Ba Tư, chàng cũng không chống nổi, huống hồ bây giờ chàng đã học võ công ghi cả trên sáu thánh hỏa lệnh, còn cao hơn ba sứ giả Ba Tư đến mấy lần. Võ công ghi trên thánh hỏa lệnh vốn không phải là công phu thượng thừa, song kỳ dị cổ quái, khiến người ta không biết đằng nào mà lần, nếu do một người tầm thường sử dụng, thì cũng khó đối địch với võ công chính tông nội gia của phái Võ Đang. Nhưng Trương Vô Kỵ lấy “Cửu dương thần công” làm căn cơ, lấy tâm pháp “Càn khôn đại na di” làm rường cột, lại hiểu biết quá rõ cái cốt yếu trong võ công phái Võ Đang, nên chiêu thức nào cũng đánh thẳng vào chỗ sơ hở của tứ hiệp. Đấu được hơn hai chục chiêu, võ công thánh hỏa lệnh càng kỳ ảo khôn lường.

Triệu Mẫn nằm trên tuyết, lớn tiếng nói:

– Áp Lỗ Bất Hoa tướng quân, bọn người Hán vốn tự phụ lắm, hãy cho bọn họ nếm mùi thần kỹ đánh vật tổ truyền của người Mông Cổ chúng ta.

Trương Tòng Khê kêu lên:

– Dùng “Thái cực quyền” để tự vệ, quyền chiêu của tên Thát tử này quái dị quá chừng.

Bốn người lập tức thay đổi quyền pháp, sử dụng “Thái cực quyền” phòng thủ môn hộ thật nghiêm mật.

Trương Vô Kỵ đột nhiên ngồi phệt xuống đất, hai tay đấm loạn xạ vào ngực mình.

Võ Đang tứ hiệp bình sinh từng gặp không biết bao nhiêu cường địch, từng biết không ít chiêu thức quái đản; tâm pháp “Càn khôn đại na di” của Trương Vô Kỵ có thể coi là đỉnh cao công phu võ học; nhưng cái môn ngồi tự đấm ngực của tên Thát tử kia thì họ chưa từng thấy, cũng chưa từng nghe bao giờ.

Tứ hiệp vốn đã thu trường kiếm về, dùng “Thái cực quyền” phòng thủ môn hộ, lúc này kinh ngạc, Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Trương Tòng Khê ba người lại rút kiếm ra chĩa vào Trương Vô Kỵ. Trường kiếm của Ân Lê Đình đã bị Trương Vô Kỵ giằng lấy ném đi, nhưng trên người còn đeo thanh bội kiếm của Mạc Thanh Cốc, lúc này bèn rút ra đâm tới.

Trương Vô Kỵ đột nhiên vung chân tạt ngang, hất mạnh cả đám tuyết lớn lên người tứ hiệp. Đây là một chiêu quái dị trong thánh hỏa lệnh, vốn là một chiêu Sơn Trung lão nhân Hoắc Sơn dùng để giết người cướp của. Hoắc Sơn hồi chưa sáng lập giáo phái, thường ở sa mạc Ba Tư ăn cướp hàng hóa của các khách thương, mỗi khi thấy có thương đội từ xa đi tới, lão bèn ngồi xuống đấm ngực, than khóc kêu trời trách đất, các thương khách thể nào cũng lại gần thăm hỏi. Lúc đó lão đột nhiên đá cát tung lên, làm cho đám dân buôn mù mắt, rồi vung đao đâm chém, trong giây lát đã khiến mấy chục khách thương máu vãi trên sa mạc, chết lăn quay, quả là một chiêu số cực kỳ âm độc. Trương Vô Kỵ lúc này đá tung tuyết phủ trên mặt đất, công hiệu chẳng khác gì đá cát.

Trong khoảnh khắc Võ Đang tứ hiệp bị tuyết văng đầy mặt, hai mắt không nhìn thấy gì; họ ứng biến thật nhanh, tức thời nhảy vọt về phía sau. Nhưng Trương Vô Kỵ ra tay còn nhanh hơn, chàng ôm hai chân Du Liên Châu lăn một cái, thuận tay điểm luôn ba đại huyệt; tiếp đó lộn một vòng trên không, lúc rơi xuống để đầu gối chân phải đụng vào đầu Ân Lê Đình, trúng hai huyệt Ngũ Xứ và Thừa Quang trên đỉnh đầu ông ta. Ân Lê Đình choáng váng, ngã lăn xuống tuyết. Tống Viễn Kiều phi thân lại cứu, Trương Vô Kỵ liền ngồi thụp xuống phía sau, trúng ngay vào lòng ông ta. Tống Viễn Kiều thu kiếm về không kịp, tay trái bỏ kiếm quyết, vung chưởng vỗ xuống đầu chàng, nhưng chưởng lực chưa kịp phát ra, ngực đã tê dại vì bị hai cùi chỏ của chàng thúc vào huyệt đạo.

Trương Tòng Khê cả kinh, thấy trong bốn người chỉ còn một mình, chẳng thể nào địch nổi, nhưng tình nghĩa đồng môn sâu nặng, quyết không thể bỏ chạy, liền vung trường kiếm đam liền ba nhát về phía Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ thấy tứ sư bá lâm cảnh nguy nan, song bộ pháp vẫn trầm ổn, kiếm chiêu không loạn chút nào, ba đường kiếm lợi hại đều theo đúng gia pháp Võ Đang, thì trong bụng khen thầm: “Nếu ta không học được môn võ công cổ quái, để chống đỡ các vị sư bá sư thúc liên thủ tấn công, thật không dễ chút nào”. Chàng liền cứ xoay cái đầu thành vòng tròn, Trương Tòng Khê chẳng buồn để ý tới cái trò xoay đầu của chàng, vù một tiếng, trường kiếm xé gió đâm thẳng tới ngực chàng. Trương Vô Kỵ thụp xuống, lao đầu đón mũi kiếm, bỗng nhiên ngã sấp mà nhoài về phía trước, thế là bốn huyệt ở bụng dưới và đùi trái của Trương Tòng Khê đã bị điểm trúng, ông ta ngã ngửa ra liền.

Bốn huyệt đạo Trương Vô Kỵ điểm vào ấy chỉ cốt làm cho đối phương tê dại nửa thân dưới, chàng đang định điểm thêm huyệt Trung Khu ở sau lưng ông ta, bỗng nghe ông rú lên một tiếng thảm thiết, hai mắt trợn ngược, nửa thân trên quằn quại, giãy giụa vài cái rồi thở hắt ra chết tươi. Trương Vô Kỵ thấy vậy cả kinh, nghĩ thầm vừa rồi mình điểm huyệt rất nhẹ tay, đừng nói trí mạng, ngay bị thương nhẹ cũng chẳng đến nỗi, hay là tứ sư bá vốn có bệnh cũ, nay đột nhiên bị đánh mà bỏ mạng chăng? Chàng toát mồ hôi lạnh, vội đưa tay thăm thử mũi của Trương Tòng Khê.

Đột nhiên Trương Tòng Khê đưa tay trái giật phăng mảnh áo che mặt chàng. Hai người sững sờ nhìn nhau, đều ngẩn ra.

Lát sau, Trương Tòng Khê mới nói:

– Vô Kỵ giỏi thật, hóa ra… hóa ra… là ngươi, thật không uổng công chúng ta đối đãi tử tế với ngươi.

Giọng ông nghẹn ngào, mặt đầy vẻ tức tối, nước mắt ròng ròng, không rõ vì phẫn uất hay vì đau lòng. Nguyên ông biết là không thể địch nổi, nhưng nghĩ bụng nếu chết mà không biết mặt mũi kẻ địch ra sao, Võ Đang tứ hiệp chết bởi tay ai, thì quả là chết không nhắm mắt; bởi vậy ông bèn giả chết để giật mảnh da che mặt đối phương.

Trương Vô Kỵ bản tính thật thà, hai là chàng quá lo lắng cho tứ sư bá, nên không hề đề phòng. Lúc này tâm trạng của chàng so với bị lăng trì còn khổ sở hơn nhiều. Chàng hết cả hồn vía, cứ ngây ra như tượng gỗ, hồi lâu mới nói:

– Tứ sư bá, không phải điệt nhi, không phải điệt nhi… thất sư thúc không phải điệt nhi… không phải điệt nhi hãm hại…

Trương Tòng Khê cười đau đớn, nói:

– Giỏi lắm, giỏi lắm, ngươi mau mau giết hết huynh đệ bọn ta đi! Đại ca, nhị ca, lục đệ, các vị nhìn rõ chưa, tên Thát tử chó má kia nào phải ai khác, lại chính là hài nhi Vô Kỵ mà chúng ta hết lòng thương yêu.

Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Ân Lê Đình ba người không cử động được, chỉ ngẩn ngơ nhìn Trương Vô Kỵ.

Trương Vô Kỵ thần trí mê loạn, đang định nhặt thanh kiếm dưới đất lên, cứa ngang cổ mình, thì Triệu Mẫn kêu lên:

– Trương Vô Kỵ, đại trượng phu biết gắng chịu oan khuất nhất thời, đâu có gì phải gấp, mọi chuyện trong thiên hạ rồi sẽ rõ trắng đen. Chàng phải tìm cho ra hung thủ sát hại Mạc thất hiệp, báo thù cho Mạc thất hiệp, để khỏi phụ lòng thương yêu của Võ Đang chư hiệp.

Trương Vô Kỵ rùng mình, cảm thấy lời đó có lý, bèn nói:

– Thế bây giờ mình phải làm sao?

Nói xong bước tới bên nàng, đưa tay xoa bóp giải các huyệt nàng bị điểm ở lưng và thắt lưng. Triệu Mẫn nhỏ nhẹ an ủi chàng:

– Chàng đừng tuyệt vọng, Minh giáo có nhiều cao thủ, trong tay muội cũng không thiếu người tài trí, nhất định sẽ tóm được hung thủ.

Trương Tòng Khê kêu lên:

– Trương Vô Kỵ, nếu ngươi còn chút lương tri, thì hãy mau mau giết bốn huynh đệ ta đi. Ta không thể chịu nổi cái cảnh con yêu nữ chàng chàng thiếp thiếp với ngươi nữa.

Trương Vô Kỵ tái mặt, chưa biết làm thế nào. Triệu Mẫn nói:

– Chúng mình trước hết phải đi cứu Hàn Lâm Nhi, sau đó cứu nghĩa phụ chàng, dọc đường sẽ nghe ngóng xem kẻ nào sát hại Mạc thất hiệp, kẻ nào hãm hại biểu muội của chàng.

Trương Vô Kỵ ngây ra, hỏi:

– Cái gì kia?

Triệu Mẫn lạnh lùng nói:

– Mạc thất hiệp có phải do chàng giết không? Tại sao các vị sư bá sư thúc của chàng lại nghĩ là chàng giết? Ân Ly có phải do muội giết không? Vì sao chàng lại đổ oan cho muội? Chẳng lẽ chỉ mình chàng được quyền đổ oan cho người khác, còn người khác không thể đổ oan cho chàng?

Mấy câu đó nghe như sét đánh ngang tai chàng. Đến lúc này, khi đích thân chàng nếm trải, chàng mới hay sự đời thật khó lường, mới thấm thía nỗi khổ vì oan khuất mà không thể biện bạch. Chàng nghĩ thầm: “Không lẽ Triệu cô nương… nàng… cũng giống như ta, bị kẻ khác đổ oan hay sao?” Triệu Mẫn nói:

– Chàng điểm huyệt các vị sư bá sư thúc, liệu họ có thể tự giải huyệt được không?

Trương Vô Kỵ lắc đầu:

– Đây là kỳ môn công phu trên thánh hỏa lệnh, các vị sư bá sư thúc không tự giải được. Phải sau một ngày đêm mới tự giải khai.

Triệu Mẫn nói:

– Ồ, vậy thì mình đưa các vị sư bá sư thúc vào trong hang rồi hãy đi. Chưa tìm ra hung thủ, thì chàng đừng gặp họ làm gì.

Trương Vô Kỵ nói:

– Trong hang có dã thú, nai hoẵng ra vào, thi thể của Mạc thất thúc bị dã thú cắn nát đó thôi.

Triệu Mẫn thở dài:

– Xem ra lòng chàng rối loạn, chàng không nghĩ ra được chuyện gì nữa rồi. Chỉ cần có một vị nửa thân trên cử động được, tay cầm kiếm, thì dã thú nào dám động tới họ?

Trương Vô Kỵ nói:

– Đúng rồi, đúng rồi.

Chàng liền bế Võ Đang tứ hiệp mang tới đặt ngồi sau một tảng đá lớn để tránh gió tuyết, cả bốn người cứ chửi luôn miệng, Trương Vô Kỵ nuốt lệ, không dám trả lời. Triệu Mẫn nói:

– Các vị là cao nhân trong võ lâm mà chẳng thấu hiểu lý lẽ gì hết. Mạc thất hiệp nếu là do Trương Vô Kỵ giết hại, thì bây giờ chàng chỉ việc cho mỗi người một nhát kiếm diệt khẩu là xong, đâu có gì khó? Chàng đã nhẫn tâm giết Mạc thất hiệp, chẳng lẽ không đủ nhẫn tâm giết nốt bốn vị? Các vị mà còn mở miệng chửi rủa, Triệu Mẫn ta sẽ cho mỗi vị một cái tát đó. Ta là con tiểu yêu nữ gian trá độc ác, đã nói là làm. Ngày trước ở chùa Vạn An, ta nể mặt Trương công tử, nên giữ lễ đối với các vị hơn hẳn kẻ khác đó. Cao thủ năm phái Thiếu Lâm, Côn Luân, Nga Mi, Hoa Sơn, Không Động đều bị ta chặt một ngón tay. Còn đối với Võ Đang chư hiệp ta có chút nào kém lễ đâu?

Bọn Tống Viễn Kiều nhìn nhau, tuy vẫn cho rằng Trương Vô Kỵ giết hại Mạc Thanh Cốc, song họ sợ Triệu Mẫn ra tay tát thật; đại trượng phu thà chết còn hơn bị nhục, nếu bị tiểu yêu nữ tát tai, thì quả là đại sỉ nhục, thành thử đành ngậm miệng, không dám chửi nữa.

Triệu Mẫn mỉm cười, nói với Trương Vô Kỵ:

– Chàng hãy đi dắt mấy con ngựa lại đây để chở họ tới hang.

Trương Vô Kỵ lưỡng lự, nói:

– Để ta cõng các vị ấy cũng được.

Triệu Mẫn hiểu tâm ý của chàng, cười khẩy, nói:

– Chàng võ công cao siêu thật, nhưng liệu có thể mang cùng lúc cả bốn người đi được chăng? Chàng sợ lúc chàng vừa đi khỏi, muội sẽ ra tay giết hại các vị sư bá sư thúc chứ gì. Chàng trước sau vẫn không tin muội. Thôi được, để muội đi dắt ngựa lại, chàng ở đây canh chừng.

Trương Vô Kỵ bị nàng nói trúng tim đen, mặt đỏ lên, song quả thực chàng không dám giao tính mạng bốn vị sư bá sư thúc cho một thiếu nữ tính nết bất thường này, bèn nói:

– Phiền cô nương đi dắt ngựa tới vậy, ta ở đây canh chừng cho bốn vị sư bá sư thúc. Vết thương của cô nương ra sao, đi lại có trở ngại lắm không?

Triệu Mẫn cười nhạt:

– Chàng có ân cần đến mấy, người ta cũng chẳng tin chàng đâu. Mình có son sắt nhiệt tâm, người ta cũng chỉ cho rằng mình lòng lang dạ thú.

Nói đoạn nàng quay đi dắt ngựa.

Trương Vô Kỵ ngẫm nghĩ mấy câu nàng vừa nói, cảm thấy hình như nói chàng bị các vị sư bá sư thúc nghi ngờ, cũng chính là nói việc chàng nghi oan cho nàng. Chàng đưa mắt nhìn nàng chậm chạp bước đi, thân hình chệnh choạng, đúng là do bị thương nên đi đứng khó khăn, trong bụng vừa thương vừa áy náy.

*

*     *

Triệu Mẫn vừa đi được một quãng, bỗng có tiếng vó ngựa theo đường cái từ phía bắc chạy xuống, một con chạy trước, hai con chạy sau, cả thảy ba người.

Nghe tiếng vó ngựa, Triệu Mẫn vội quay trở lại, nói:

– Có người đến kìa!

Trương Vô Kyỵ vẫy vẫy tay cho nàng, nàng chạy lại nấp sau tảng đá, nằm dán mình bên cạnh chàng; thấy Du Liên Châu một nửa người còn lộ ra bên ngoài, liền kéo ông ta vào.

Du Liên Châu trừng mắt nhìn nàng, nói:

– Đừng động vào ta!

Triệu Mẫn cười khẩy, nói:

– Bổn cô nương cứ động đấy, ông làm gì được nào?

Trương Vô Kỵ quát nhỏ:

– Triệu cô nương, không được vô lễ với sư bá của ta.

Triệu Mẫn lè lưỡi, nhăn mặt trêu Du Liên Châu.

Ngay lúc đó, con ngựa thứ nhất chỉ còn cách không bao xa, hai con ngựa chạy sau thì cách con đi đầu hai ba chục trượng. Khi con ngựa thứ nhất tới gần, Trương Vô Kỵ nói nhỏ:

– Đó là Tống Thanh Thư Tống sư ca!

Triệu Mẫn nói:

– Mau ngăn y lại!

Trương Vô Kỵ lấy làm lạ:

– Sao vậy?

Triệu Mẫn đáp:

– Đừng hỏi nhiều, chàng quên những gì đã nghe thấy trong miếu Di Lặc rồi à?

Trương Vô Kỵ chợt hiểu, nhặt một cục băng búng mạnh ra, nghe vèo một tiếng, trúng ngay đùi trước con ngựa Tống Thanh Thư cưỡi. Con ngựa đau quá, nằm khuỵu xuống liền.

Tống Thanh Thư nhảy ra, muốn kéo con ngựa đứng lên, nhưng nó đã gãy chân trái. Tống Thanh Thư thấy hai kẻ đuổi theo càng lúc càng tới gần, bèn chạy vội sang vệ đường. Trương Vô Kỵ lại búng một cục băng ra, trúng huyệt đạo trên đùi phải của gã. Triệu Mẫn thì vung tay liên tiếp bốn lần, điểm vào á huyệt của Võ Đang tứ hiệp, kịp thời ngăn chặn Tống Viễn Kiều lên tiếng gọi con.

Chỉ nghe Tống Thanh Thư kêu ối” một tiếng, ngã xuống đất.

Sau hai lần ngăn trở đó, hai kẻ cưỡi ngựa đằng sau đã đuổi tới, chính là Trần Hữu Lượng và Chưởng Bát long đầu của Cái Bang. Trương Vô Kỵ thầm kêu lạ: “Ba người này cùng đi đến núi Trường Bạch tìm độc vật để chế thuốc, tại sao một người chạy, hai kẻ đuổi theo đến nơi đây?” Rồi chàng nghĩ thầm: “Phải rồi, chắc là thiên lương của Tống Thanh Thư trỗi dậy, không chịu thực hiện hành vi bất hiếu bất nghĩa kia, cũng may là gặp được mình cứu cho”.

Trần Hữu Lượng và Chưởng Bát long đầu cùng nhảy xuống, cứ tưởng là con ngựa Tống Thanh Thư cưỡi chạy lâu hết hơi, mệt quá vấp ngã, hất luôn ngã xuống bị thương. Song Tống Thanh Thư võ công cao cường, có ngã cũng chỉ bị thương nhẹ, nên khi tới gần họ rút binh khí ra chĩa thẳng vào người gã.

Trương Vô Kỵ nhặt một cục băng, toan búng về phía Trần Hữu Lượng. Triệu Mẫn nắm cánh tay chàng, xua xua tay. Trương Vô Kỵ quay sang nhìn nàng. Triệu Mẫn khum khum lòng bàn tay đặt bên tai, rồi chỉ về phía Tống Thanh Thư, ngụ ý hãy nghe xem bọn kia nói gì.

Chỉ nghe Chưởng Bát long đầu tức giận nói:

– Tống Thanh Thư, ngươi đang đêm len lén bỏ chạy là cớ làm sao? Có phải ngươi định đi báo tin cho cha ngươi biết phải không?

Thanh Tử kim bát quái đao trong tay lão cứ múa nhứ nhứ trên đầu Tống Thanh Thư như định chém xuống. Tống Viễn Kiều nghe tiếng réo vù vù của thanh bát quái đao, rất lo cho tính mạng của đứa con yêu, bồn chồn ra mặt. Trương Vô Kỵ tình cờ ngoảnh lại, thấy ánh mắt đại sư bá từ vẻ lo lắng biến ngay thành vẻ khẩn cầu, bèn gật đầu, ý nói: “Sư bá cứ yên tâm, điệt nhi quyết không để Tống đại ca bị thương đâu”. Chàng nghĩ thầm: “Lòng cha mẹ thương con thật y như trời bể, đại sư bá đang căm hận, muốn băm vằm ta thành ngàn mảnh, thế mà vừa thấy con ông gặp nguy hiểm, ông đã quay sang cầu khẩn ta. Giả sử chính đại sư bá gặp nguy, ông là người anh hùng can đảm, cũng chả tỏ ra yếu đuối, cầu khẩn đến ai”. Trong giây lát, chàng lại mủi lòng nghĩ Tống Thanh Thư có người lo lắng thương yêu, còn chàng chỉ là một kẻ côi cút không cha không mẹ.

Chỉ nghe Tống Thanh Thư nói:

– Không phải tiểu đệ đi báo tin cho cha biết đâu.

Chưởng Bát long đầu hỏi:

– Bang chủ phái ngươi theo ta đến núi Trường Bạch tìm thuốc, ngươi lại tự dưng bỏ đi, không nói với ta, là sao?

Tống Thanh Thư nói:

– Ai cũng do cha mẹ sinh ra, các vị nỡ lòng nào lại cứ ép tiểu đệ làm hại phụ thân tiểu đệ? Tiểu đệ quyết không thể làm cái việc tồi tệ của loài cầm thú như vậy được.

Chưởng Bát long đầu xẵng giọng:

– Ngươi quyết ý chống lệnh của bang chủ hả? Tội phản bang bị trừng trị thế nào, ngươi biết chứ?

Tống Thanh Thư đáp:

– Tiểu đệ là kẻ có tội, vốn chả thiết sống nữa. Mấy hôm nay, mỗi khi chợp mắt, tiểu đệ lại thấy Mạc Thanh Cốc hiện ra đòi mạng, oan hồn ông ta cứ bám theo tiểu đệ. Chưởng Bát long đầu hãy chém một đao cho tiểu đệ chết quách đi rồi, tiểu đệ sẽ càng đa tạ đại ca!

Chưởng Bát long đầu giơ cao bát quái đao, quát:

– Được, để ta thành toàn cho ngươi!

Trần Hữu Lượng liền xen vào, nói:

– Long đầu đại ca, Tống huynh đệ đã không bằng lòng, có giết y cũng vô ích, thôi ta hãy để cho y đi.

Chưởng Bát long đầu kinh ngạc:

– Tha cho hắn đi ư?

Trần Hữu Lượng đáp:

– Đúng vậy! Y chính tay giết sư thúc Mạc Thanh Cốc của y, ắt sẽ có người trong môn phái của y thanh toán y, tội gì phải để binh khí của hiệp nghĩa đạo chúng ta bị dính bẩn thứ máu của kẻ bất nghĩa như y kia chứ.

Hôm trước ở miếu Di Lặc, Trương Vô Kỵ từng nghe Trần Hữu Lượng và Tống Thanh Thư nhắc tới Mạc Thanh Cốc, có câu “kẻ dưới phạm thượng” gì đó, lúc ấy Trương Vô Kỵ đã nghi Tống Thanh Thư đắc tội với Mạc sư thúc, song không thể ngờ cuối cùng Mạc Thanh Cốc lại bị chính Tống Thanh Thư giết hại. Bọn Tống Viễn Kiều bốn người tuy bị tảng đá che khuất không nhìn được, nhưng đã nghe rõ từng lời nói của Tống Thanh Thư, nên đều chấn động. Riêng Triệu Mẫn dường như đã đoán biết vài phần, nên khóe miệng nhếch nụ cười khinh miệt.

Chỉ nghe Tống Thanh Thư nói, giọng run run:

– Trần đại ca, đại ca từng thề độc, quyết không tiết lộ chuyện cơ mật đó, chỉ cần đại ca không nói ra, thì làm sao phụ thân tiểu đệ biết được?

Trần Hữu Lượng cười nhạt, nói:

– Ngươi chỉ nhớ lời thề của ta, song lại quên lời thề độc của chính ngươi. Ngươi thề từ nay về sau đều nghe lệnh ta, đó là ngươi hủy lời ước trước, đâu phải ta không chịu giữ lời?

Tống Thanh Thư ngẫm nghĩ một lát, nói:

– Đại ca bắt tiểu đệ bỏ thuốc độc vào đồ ăn thức uống của thái sư phụ và phụ thân, tiểu đệ thà chết cũng không làm, đại ca hãy mau đâm tiểu đệ một kiếm đi cho xong.

Trần Hữu Lượng nói:

– Tống huynh đệ, cổ nhân có câu “Kẻ thức thời mới là tuấn kiệt”, bọn ta đâu có buộc ngươi thí phụ diệt tổ, chẳng qua chỉ bỏ thuốc khiến họ hôn mê một phen mà thôi. Ở miếu Di Lặc chẳng phải ngươi đã bằng lòng rồi ư?

Tống Thanh Thư nói:

– Không, không đâu! Tiểu đệ chỉ bằng lòng bỏ thuốc mê, đằng này Chưởng Bát long đầu lại đi bắt những rắn rết cực độc, là những thứ giết người, chứ đâu phải làm thuốc mê tầm thường.

Trần Hữu Lượng thản nhiên thu kiếm về, nói:

– Chu cô nương của phái Nga Mi đẹp như tiên giáng trần, trên đời này khó tìm được người thứ hai như nàng, ngươi đành lòng để nàng rơi vào tay tên tiểu tử Trương Vô Kỵ thì lạ thật. Này Tống huynh đệ, canh khuya bữa đó, ngươi nhòm trộm phòng ngủ của các cô nương phái Nga Mi, để thất sư thúc của ngươi bắt gặp, đuổi theo ngươi tới vách núi, đôi bên tỷ thí, mới dẫn đến việc ngươi giết chết sư thúc, là vì lẽ gì vậy? Chẳng phải vì Chu cô nương ôn nhu mỹ mạo đó sao? Việc đã làm rồi, đâm lao phải theo lao, ngựa vào đường hẹp làm sao quay đầu? Ta thấy ngươi trèo cau tới buồng mà lại tụt xuống không hái quả, chẳng đáng tiếc lắm sao?

Tống Thanh Thư loạng choạng đứng lên, giận dữ nói:

– Trần Hữu Lượng, ngươi đừng dùng lời lẽ ngon ngọt ép buộc ta nữa. Tối hôm đó ta làm bại hoại gia phong phái Võ Đang, bị Mạc sư thúc đuổi tới, có chết dưới tay sư thúc cũng đáng lắm, ai bảo ngươi ra tay giúp ta? Ta trúng phải ngụy kế của ngươi, để đến nỗi thân bại danh liệt, sa xuống bùn không rút chân lên được nữa.

Trần Hữu Lượng cười, nói:

– Hay lắm, hay lắm! Lưng Mạc Thanh Cốc bị trúng “Chấn thiên thiết chưởng”[124] là do ngươi đánh, hay Trần Hữu Lượng ta đánh? Món đó có phải là võ công của phái Võ Đang không nào? Ta làm sao biết môn võ công đó? Đêm hôm ấy ta cứu mạng ngươi, giữ thanh danh cho ngươi, ngươi lại cho là sai ư? Tống huynh đệ, ta với ngươi quen biết như thế, chuyện đã qua thôi không nhắc đến nữa. Việc ngươi giết sư thúc của ngươi, ta sẽ giữ kín như bưng, không tiết lộ nửa lời. Núi cao sông dài, hẹn sau này gặp lại.

Tống Thanh Thư run run hỏi lại:

– Trần… Trần đại ca, đại ca muốn làm gì tiểu đệ?

Giọng nói của gã đầy vẻ lo lắng. Trần Hữu Lượng cười đáp:

– Làm gì ngươi ư? Chẳng làm gì cả. Để ta cho ngươi coi một thứ, xem ngươi có biết là gì không.

Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn nấp sau tảng đá, đều muốn thò đầu ra xem Trần Hữu Lượng giơ cái gì ra, nhưng đành cố nhịn, chỉ nghe Tống Thanh Thư ồ lên một tiếng kinh ngạc, run run nói:

– Cái này… cái nhẫn sắt của chưởng môn phái Nga Mi này là vật của Chu cô nương, sao đại ca… đại ca lấy ở đâu ra vậy?

Trương Vô Kỵ cũng giật mình, nghĩ thầm: “Lúc ta và Chỉ Nhược, rõ ràng nàng còn đeo chiếc nhẫn chưởng môn, sao lại rơi vào tay Trần Hữu Lượng là thế nào nhỉ? Chắc lão ta làm giả để bịp người khác”.

Chỉ nghe Trần Hữu Lượng cười đáp:

– Ngươi hãy nhìn cho kỹ, món này là thật hay giả. Lát sau, tiếng Tống Thanh Thư nói:

– Khi tiểu đệ ở Tây Vực hỏi Diệt Tuyệt sư thái về võ công, có thấy trên tay bà ta đeo cái nhẫn này, chắc nó là thật.

Nghe “coong” một tiếng kim loại chạm nhau, rồi Trần Hữu Lượng nói:

– Nếu nó là đồ giả, nhát kiếm vừa rồi đã làm nó đứt đôi rồi. Ngươi nhìn đây, mặt trong chiếc nhẫn có bốn chữ “Lưu di tương nữ”, làm sao là đồ giả được? Đây chính là cái nhẫn sắt đen, di vật của tổ sư phái Nga Mi Quách Tương nữ hiệp.

Tống Thanh Thư hỏi:

– Trần đại ca, đại ca… lấy đâu ra thế? Chu cô nương… ra sao rồi?

Trần Hữu Lượng lại cười, nói:

– Chưởng Bát long đầu, chúng ta đi thôi, Cái Bang từ rày không có người này nữa.

Nghe tiếng chân hai người bước đi, Tống Thanh Thư gọi:

– Trần đại ca, mau quay lại. Chu cô nương đang ở trong tay đại ca phải không? Hiện giờ nàng sống hay chết?

Trần Hữu Lượng quay lại, mỉm cười:

– Chu cô nương đang ở trong tay ta. Một giai nhân tuyệt trần như thế, có người đàn ông nào trông thấy chẳng động lòng? Ta đến giờ vẫn chưa thành gia thất, nếu cầu xin bang chủ để Chu cô nương làm vợ ta, chắc bang chủ chuẩn y liền.

Tống Thanh Thư ậm ự mấy tiếng, tựa hồ bị nghẹn cổ, không nói ra được.

Trần Hữu Lượng nói tiếp:

– Kể ra, bậc quân tử không nên cướp đoạt thứ mà người khác yêu thích. Tống huynh đệ chính vì Chu cô nương mà gây ra chuyện tày đình, Trần Hữu Lượng ta há có thể vì sắc đẹp mà làm tổn thương nghĩa khí huynh đệ? Thế nhưng bây giờ ngươi đã thành kẻ mắc tội phản bang, hai ta ân đoạn nghĩa tuyệt, không còn gì để nói với nhau nữa, phải vậy không?

Tống Thanh Thư lại ậm ự mấy tiếng. Trương Vô Kỵ liếc nhìn Tống Viễn Kiều, thấy hai dòng lệ chảy dài trên má ông, rõ ràng trong lòng ông đau đớn vô cùng.

Bỗng nghe Tống Thanh Thư nói:

– Trần đại ca, Long đầu đại ca, quả thực tiểu đệ nhất thời hồ đồ, mong hai vị đại ca lượng thứ cho. Tiểu đệ xin chuộc tội với hai vị.

Trần Hữu Lượng cười ha hả, nói:

– Có thế chứ! Có thế mới là hảo huynh đệ chứ! Ta vỗ ngực bảo đảm với chú em, chỉ cần chú em đem món “mông hãn dược” lên núi Võ Đang, lén bỏ vào ấm trà cho mọi người uống, chú em sẽ không có gì phải lo lắng cho tính mạng lệnh tôn cả, còn giai nhân tuyệt sắc Chu Chỉ Nhược thì sẽ thành người nâng khăn sửa túi cho chú em. Bọn ta chẳng qua chỉ muốn uy hiếp Trương Tam Phong và Võ Đang chư hiệp để buộc Trương Vô Kỵ nghe lệnh bọn ta mà thôi. Nếu hại chết Trương chân nhân và lệnh tôn, Trương Vô Kỵ sẽ tìm đến Cái Bang báo thù, thử hỏi đâu có lợi gì cho bọn ta?

Tống Thanh Thư nói:

– Trần đại ca nói chí phải.

Trần Hữu Lượng lại nói:

– Đợi khi Cái Bang chế ngự được Minh giáo, đánh đuổi Thát tử, lấy được thiên hạ rồi, bang chủ lên ngôi hoàng đế, thì huynh đệ chúng ta đều là khai quốc công thần, vinh thê ấm tử, đó là chuyện đương nhiên, ngay cả lệnh tôn đại nhân cũng nhờ chú em mà được nở mày nở mặt.

Tống Thanh Thư cười gượng:

– Phụ thân tiểu đệ không màng danh lợi, tiểu đệ chỉ mong lão nhân gia tha mạng, không giết tiểu đệ là đã mãn nguyện rồi.

Trần Hữu Lượng cười, nói:

– Trừ phi lệnh tôn là thần thánh, biết hết mọi chuyện quá khứ vị lai, còn không thì làm sao biết được bí mật kia? Tống huynh đệ, chân chú em có bị thương không? Thôi lên đây, hai ta cưỡi chung một con ngựa, đến thị trấn phía trước sẽ mua con ngựa khác.

Tống Thanh Thư nói:

– Tiểu đệ chạy vội, chân bị va vào băng, xui quá, lại trúng ngay huyệt Trúc Tân. Chuyện trên đời kể cũng khéo sắp đặt thật.

Ban nãy gã chỉ lo bị Chưởng Bát long đầu và Trần Hữu Lượng đuổi kịp, hoàn toàn không ngờ có người nấp sau tảng đá ám toán, cứ ngỡ mình vô ý va phải cạnh băng nhọn mà thôi.

Trần Hữu Lượng cười nói:

– Như thế sao gọi là xui? Phải nói là Tống huynh đệ diễm phúc quá lớn, có số lấy được giai nhân tuyệt sắc. Nếu không bị va vào băng, bọn ta không đuổi kịp, chú em vẫn chưa tỉnh ngộ, chính mình đã thân bại danh liệt, lại còn làm hỏng cả đại sự của bổn bang. Thế rồi Chu cô nương sắc nước hương trời kia phải theo Trần Hữu Lượng ta phí cả một đời, có khác gì phượng hoàng phải cặp với quạ khoang, bông hoa nhài cắm bãi phân trâu?

Tống Thanh Thư hừ một tiếng, nói:

– Trần đại ca, không phải là tiểu đệ không không biết hay dở, không tin Trần đại ca…

Trần Hữu Lượng không đợi gã nói hết câu, ngắt lời:

– Chú em muốn gặp Chu cô nương, phải không nào? Chuyện đó dễ thôi. Hiện giờ bang chủ và các vị trưởng lão đang ở Lư Long, Chu cô nương cũng đang ở đó với mọi người. Bọn mình cùng đến Lư Long gặp mặt là được. Đợi làm xong đại sự trên núi Võ Đang, ta sẽ lập tức lo việc cưới xin cho chú em, để chú em thỏa nguyện, chú em phải đội ơn Trần đại ca suốt đời, ha ha, ha ha!

Tống Thanh Thư nói:

– Hay lắm, vậy chúng ta đi Lư Long. Trần đại ca, Chu cô nương vì lẽ gì lại… đi theo bổn bang vậy?

Trần Hữu Lượng cười, đáp:

– Đó là công lao của Long đầu đại ca. Hôm trước, Chưởng Bát long đầu và Chưởng Bổng long đầu uống rượu trên tửu lâu, thấy có ba người lạ giả làm đệ tử bổn bang trà trộn vào, bèn sai người theo dõi, sau đó mới hay trong đó có một vị tuyệt thế giai nhân là Chu cô nương. Chưởng Bát long đầu liền sai người đi mời họ đến. Chú em yên tâm, Chu cô nương bình yên đại cát, không mất một sợi tóc nào đâu.

Trương Vô Kỵ thầm kêu khổ: “Thì ra ở tửu lâu hôm ấy, cuối cùng bọn chúng đã nhận ra ba người lạ. Giá nghĩa phụ sáng mắt, thể nào lão nhân gia cũng nhìn ra những sự bất thường, ta và Chỉ Nhược chẳng biết gì cả. Không biết nghĩa phụ có được bình an hay không?”

Thế nhưng trong câu chuyện Trần Hữu Lượng chẳng nhắc gì đến Tạ Tốn, chỉ nghe lão nói tiếp:

– Sau khi Chu cô nương thành thân cùng chú em, hai phái Nga Mi, Võ Đang cùng tuân theo mệnh lệnh của Cái Bang, rồi cả Minh giáo tuân phục nữa, thanh thế sẽ lừng lẫy biết chừng nào? Chỉ cần đánh đuổi người Mông Cổ đi, thì giang sơn gấm vóc sẽ có chủ mới liền.

Gã nói lời này đầy vẻ đắc ý, làm như Cái Bang đã lấy được thiên hạ, và gã ta, Trần Hữu Lượng, đã lên ngôi hoàng đế rồi không bằng. Tống Thanh Thư và Chưởng Bát long đầu cũng cười phụ họa theo vài tiếng.

Trần Hữu Lượng nói:

– Bọn mình đi thôi. Tống huynh đệ, Mạc thất hiệp chết cũng gần đâu đây, cái hang mình giấu xác ông ta hình như cũng không xa mấy, phải không nhỉ? Chú em chạy tới đây, bỗng dưng ngựa khuỵu chân trước, không lẽ là do âm hồn Mạc thất hiệp hiển linh? Ha ha, ha ha!

Tống Thanh Thư không dám trả lời. Ba người tới bên ngựa, leo lên yên phóng đi.

Trương Vô Kỵ đợi ba kẻ kia đi xa rồi, vội giải huyệt cho Võ Đang tứ hiệp, liên tiếp cúi lạy, nói:

– Các vị sư bá sư thúc, điệt nhi lâm vào cảnh bị hiềm nghi, không biện bạch được, đắc tội với các vị sư bá sư thúc, xin chịu sự trừng phạt.

Tống Viễn Kiều thở dài não nuột, hai mắt rưng rưng, ngẩng mặt lên trời, không nói gì.

Du Liên Châu vội đỡ Trương Vô Kỵ đứng dậy, nói:

– Lúc nãy bọn ta đã trách lầm ngươi, là lỗi của bọn ta. Chúng ta thân như ruột thịt, ngươi khỏi cần nói nữa. Thật không ngờ Thanh Thư… ôi, nếu không phải chính tai bọn ta nghe thấy, ai mà tin nổi?

Tống Viễn Kiều rút phắt trường kiếm, nói:

– Thì ra thất đệ bắt gặp tên súc sinh Thanh Thư… thằng súc sinh ấy nhòm trộm phòng ngủ của các nữ hiệp phái Nga Mi, nên mới đuổi theo thanh lý môn hộ. Ba vị sư đệ, điệt nhi Vô Kỵ, chúng ta hãy đuổi theo, để ta tự tay giết chết tên súc sinh ấy.

Nói xong liền thi triển khinh công, đuổi theo Tống Thanh Thư.

Trương Tòng Khê nói:

– Đại ca hãy quay lại, mọi việc phải bàn cho kỹ đã.

Tống Viễn Kiều bất chấp, cứ xách kiếm chạy như bay. Trương Vô Kỵ vọt đi như tên bắn, sau vài lần nhún mình đã chắn phía trước Tống Viễn Kiều, cúi mình nói:

– Đại sư bá, tứ sư bá có lời muốn thưa với đại sư bá. Tống đại ca nhất thời bị người ta gài bẫy, rồi đây sẽ tỉnh ngộ. Đại sư bá muốn trách phạt, cũng không cần vội.

Tống Viễn Kiều nghẹn ngào nói:

– Thất đệ… thất đệ… người anh như ta thật có lỗi với đệ.

Ông nhớ tới năm nào Trương Thúy Sơn vì có lỗi với Du Đại Nham mà tự sát, lúc này mới thấu hiểu tâm trạng bấy giờ của ngũ đệ, liền đưa kiếm lên cứa ngang cổ mình.

Trương Vô Kỵ cả kinh, thi triển ngay thủ pháp

“Càn khôn đại na di” đoạt lấy thanh kiếm từ tay Tống Viễn Kiều, nhưng lưỡi kiếm vẫn chạm vào cổ thành một vệt máu dài.

Lúc ấy bọn Du Liên Châu đã chạy tới nơi, Trương Tòng Khê liền khuyên:

– Đại ca, Thanh Thư làm cái việc đại nghịch bất đạo đó, người trong phái Võ Đang không thể dung tha cho nó. Nhưng thanh lý môn hộ là việc nhỏ, hưng phục giang sơn là việc lớn, chúng ta không thể vì chuyện nhỏ mà bỏ việc lớn.

Tống Viễn Kiều trợn mắt, nói:

– Đệ… đệ bảo thanh lý môn hộ là việc nhỏ ư? Ta… ta sinh ra một đứa con ngỗ nghịch… Trương Tòng Khê nói:

– Cứ theo lời Trần Hữu Lượng kia nói, thì bọn Cái Bang muốn mượn tay Thanh Thư mưu hại ân sư của chúng ta để khống chế các đại môn phái võ lâm, chiếm đoạt thiên hạ. An nguy của ân sư là chuyện lớn nhất của bản môn, còn họa phúc của võ lâm và bách tính là chuyện lớn nhất trong thiên hạ. Thanh Thư làm nhiều việc bất nghĩa, sớm muộn sẽ bị báo ứng; chúng ta nên bàn đại sự thì hơn.

Tống Viễn Kiều nghe có lý, đành tra kiếm vào bao, chán nản nói:

– Ta lúc này bụng rối như tơ vò, mọi việc nghe theo tứ đệ vậy.

Ân Lê Đình lấy thuốc rịt vào vết thương ở cổ cho đại sư ca.

Trương Tòng Khê nói:

– Cái Bang mưu hại ân sư, hiện giờ ân sư chưa hề hay biết, chúng ta phải gấp rút đi suốt ngày đêm về núi Võ Đang. Tên Trần Hữu Lượng kia tuy nói mượn tay Thanh Thư, song hạng người gian xảo như hắn có trăm phương ngàn kế, đã ra tay rồi không chừng. Việc hệ trọng trước mắt là huynh đệ chúng ta bảo vệ tấm thân vàng ngọc của ân sư, lão nhân gia tuổi đã cao, nếu lại xảy ra việc một hòa thượng Thiếu Lâm giả đến báo tin, thì bọn đệ tử chúng ta chết vạn lần cũng không chuộc lại được.

Vừa nói vừa đưa mắt về phía Triệu Mẫn ở đằng xa, trong lòng vẫn còn căm giận việc nàng sai người đến mưu hại Trương Tam Phong.

Tống Viễn Kiều toát mồ hôi lạnh, giọng run run, nói:

– Đúng, đúng thế! Ta vội lo việc truy sát nghịch tử, quên mất sự an nguy của ân sư, thật là đáng chết. Chuyện nặng nhẹ không biết xét đoán, đúng là kẻ hồ đồ.

Rồi giục:

– Thôi đi mau, đi mau!

Trương Tòng Khê nói với Trương Vô Kỵ:

– Vô Kỵ, ngươi hãy lo việc cứu Chu cô nương. Khi nào xong việc, về thăm núi Võ Đang một chuyến nhé.

Trương Vô Kỵ đáp:

– Xin tuân lệnh sư bá.

Trương Tòng Khê hạ giọng, nói:

– Triệu cô nương kia tính nết như lang sói, ngươi phải hết sức cẩn thận. Vết xe đổ của Thanh Thư, ngươi nên nhớ, nam tử hán đại trượng phu chớ sa chân vì nữ sắc.

Trương Vô Kỵ đỏ mặt gật đầu.

Trương Vô Kỵ cùng Võ Đang tứ hiệp đem thi thể Mạc Thanh Cốc chôn bên cạnh tảng đá lớn, năm người quỳ lạy, khóc một hồi, rồi bốn người lên ngựa đi trước.

Triệu Mẫn chậm rãi tới trước mặt Trương Vô Kỵ, nói:

– Tứ sư bá dặn chàng phải đề phòng, chớ để con yêu nữ này mê hoặc, phải nhớ cái vết xe đổ Tống Thanh Thư, có phải vậy không?

Trương Vô Kỵ đỏ mặt, ngượng ngùng nói:

– Sao cô nương biết? Tai cô nương thính tới mức ấy sao?

Triệu Mẫn hừ một tiếng, nói:

– Muội bảo, rồi đây mấy vị kia sẽ không trách Tống Thanh Thư có dã tâm, trái lại sẽ đổ tại sắc đẹp của Chu cô nương mà hủy hoại một đời vị Võ Đang thiếu hiệp cho coi. Trương Vô Kỵ nghĩ không chừng sẽ như vậy thật, song lại nói:

– Các vị sư bá đều là quân tử biết điều, ai lại đi trách người bừa bãi như thế?

Triệu Mẫn cười khẩy:

– Càng cho mình là quân tử, càng hay trách người bừa bãi.

Nàng ngừng một chút, rồi cười:

– Thôi mau đi cứu Chu cô nương của chàng đi, kẻo rơi vào tay Tống Thanh Thư thì chàng xôi hỏng bỏng không đấy.

Trương Vô Kỵ lại đỏ mặt, hỏi:

– Ta việc gì mà xôi hỏng bỏng không kia chứ?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.