Hồi 49: Sống chết chẳng qua là giấc mộng, sá gì phú quý với vinh hoa

Trong hoàng cung nước Đại Lý, Đoàn Chính Minh đang truyền ngôi vua cho Đoàn Dự, dặn bảo mọi điều. Cùng lúc này nhưng cách đó về phía bắc mấy ngàn dặm, ở điện Sùng Khánh trong hoàng cung thành Biện Lương nhà Đại Tống, thái hoàng thái hậu là Cao Thị đang nằm trên giường bệnh dặn dò hoàng tôn là Triệu Hú (tức Tông Triết Tôn): “Hài nhi! Tổ tiên biết bao khó nhọc mới dựng nên cơ đồ, đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được thiên hạ thái bình như ngày nay. Trước kia gia gia ngươi nắm quyền đã làm xáo động bách tính, gây nên đại biến. Hiện nay trăm họ đã được yên vui, nhưng nhớ tới những ngày khủng khiếp đã qua vẫn còn kinh tâm động phách. Ngươi có biết tại sao không?”

Triệu Hú đáp: “Hài nhi thường nghe tổ mẫu nói là vì gia gia hài nhi tin theo lời Vương An Thạch, thay đổi pháp độ cũ của nhà nước, khiến cho muôn dân cực khổ.”

Nét mặt khô đét của Thái hoàng thái hậu khẽ động, thở dài rồi nói: “Vương An Thạch đã có học vấn lại có tài năng, nhất định không phải là người vô dụng. Chỉ vì gia gia ngươi nóng lòng về việc trị nước, dụng tâm của y cũng là vì nước vì dân, có điều… Hỡi ơi! Tính tình y nóng nảy, muốn thành công mau lẹ nên thành ra hỏng việc. Dục tốc bất đạt là thế đó.” Bà nói tới đây lại ho rũ rượi, ngừng lại một lúc rồi nói tiếp: “Còn một điều nữa là y không chịu nghe lời trung ngôn nghịch nhĩ. Ai khen y là Thánh Thiên Tử thì không sao, còn kẻ nào thấy y làm việc gì bất lợi mà mở miệng khuyên can mấy câu, là y lập tức nổi nóng, kẻ thì bãi quan, kẻ thì thuyên chuyển đi xa. Như thế thì còn ai dám đem lời ngay thẳng mà can gián nữa?”

Triệu Hú đáp: “Tổ mẫu! Tiếc là chí lớn của gia gia chưa được toại nguyện. Những chính sách của người đều bị bọn tiểu nhân làm cho hỏng việc.”

Thái hoàng thái hậu nghe nói cả kinh, run giọng hỏi: “Chính sách là chính sách nào? Tiểu nhân là ai?”

Triệu Hú đáp: “Gia gia đã lập ra những phép Thanh Miêu, Bảo Mã, Bảo Giáp, chẳng phải là chính sách làm cho quốc phù, binh cường ư? Chỉ hận là bọn hủ nho như Tư Mã Quang, Lã Công Trứ, Tô Thức làm hỏng mất đại sự.”

Thái hoàng thái hậu đổi sắc mặt, gượng ngồi dậy, nhưng sức bà đã yếu quá rồi nên khó khăn lắm mới nhấc mình lên được một hai tấc, lại còn ho hắng không ngớt. Triệu Hú đáp: “Tổ mẫu đừng tức giận làm chi, cần giữ mình cho khỏe là hơn.” Giọng nói của y đầy vẻ châm chọc.

Thái hoàng thái hậu ho xong một trận, cố bình tâm lại rồi nói: “Hài nhi! Ngươi làm hoàng đế đã chín năm, nhưng chín năm nay… chín năm nay hoàng đế thật sự là tổ mẫu ngươi, việc gì cũng do tổ mẫu quyết định. Ngươi… ngươi tức tối, oán hận tổ mẫu lắm phải không?”

Triệu Hú đáp: “Tổ mẫu làm hoàng đế thay cho hài nhi, tức là thương hài nhi, sợ hài nhi cực khổ. Việc dùng người là do tổ mẫu quyết định, thánh chỉ cũng do tổ mẫu ban bố. Hài nhi được hưởng phúc thanh nhàn, sao lại dám oán hận tổ mẫu?”

Thái hoàng thái hậu lại thở dài rồi nói: “Người giống tính gia gia như đúc, lại tự cho là thông minh hơn người, muốn làm nên đại nghiệp. Trong lòng ngươi vẫn oán hận ta, lẽ nào ta không biết?”

Triệu Hú mỉm cười nói: “Dĩ nhiên là tổ mẫu đã biết rồi. Quân ngự lâm trong cung do người thân tín của tổ mẫu chỉ huy, bọn thái giám cũng là người tâm phúc của tổ mẫu, văn võ đại thần trong triều đều vâng mệnh tổ mẫu. Hài nhi chỉ có việc vâng lời dạy bảo của tổ mẫu, ngoài ra không còn việc gì phải làm nữa.”

Thái hoàng thái hậu nhìn lên đỉnh màn nói: “Chắc ngày ngày đều như hôm nay, ngươi chỉ mong cho bệnh ta nặng thêm rồi chết, cho ngươi… ngươi được rảnh tay hành động.” Triệu Hú nói: “Cái gì của hài nhi cũng là của tổ mẫu ban cho. Ngày mà gia gia hài nhi băng hà, nếu không được tổ mẫu chủ trương, thì các vị đại thần trong triều chẳng lập Ung vương thì cũng lập Tào vương lên ngôi, đâu đến lượt hài nhi? Ơn đức của tổ mẫu, hài nhi chẳng khi nào quên được. Nhưng… nhưng…” Thái hoàng thái hậu hỏi: “Nhưng cái gì? Sao ngươi không nói huỵch toẹt ra, mà cứ úp mở như vậy?”

Triệu Hú nói: “Hài nhi nghe người ta nói, sở dĩ tổ mẫu lập hài nhi là vì hài nhi còn nhỏ tuổi. Như thế thì tổ mẫu mới thao túng được việc triều chính.” Triệu Hú thu hết can đảm để nói câu này, trái tim non trẻ đập loạn lên. Y liếc mắt nhìn ra cửa điện, thấy bọn thái giám đều là tâm phúc của mình, tên nào cũng tay cầm khí giới phòng vệ rất nghiêm mật, mới tạm yên lòng.

Thái hoàng thái hậu gật gật đầu, đáp: “Ngươi nói không sai, quả là ta muốn chính mình xử lý mọi việc trong nước. Chín năm nay ta đã trị quốc ra sao?”

Triệu Hú lấy trong bọc ra một cuộn giấy, đáp: “Tổ mẫu! Trong chín năm nay đã có không biết bao nhiêu những bậc văn nhân trong triều ngoài nội ca tụng công đức, tổ mẫu chắc đã nghe đến phát ngán. Hôm nay có người mang đến một bản tấu chương của tể tướng nước Liêu trình lên Liêu đế, trong đó có đề cập đến chính sách trị quốc của tổ mẫu. Đây là luận điệu của đại thần địch quốc, tổ mẫu có muốn nghe chăng?”

Thái hoàng thái hậu than thở: “Thiên hạ ca tụng ta cũng được, phỉ báng ta cũng được, lão… lão thân chỉ sống đến đêm nay là hết… Chẳng hiểu ta có còn được thấy mặt trời mọc sáng mai không? Tể tướng nước Liêu nói về ta như thế nào?”

Triệu Hú mở cuốn trục ra, rồi nói: “Tên tể tướng đó nói về thái hoàng thái hậu như sau: Buông rèm nhiếp chính, chiêu nạp danh thần, bài trừ chính trị hà khắc. Trong chín năm trời, triều đình hưng thịnh, trăm họ yên vui…” Triệu Hú đọc đến đây thì ngừng lại, liếc sang thì thấy cặp mắt lờ đờ của thái hoàng thái hậu có mấy tia phấn khởi. Hắn lại đọc tiếp: “Người này đúng là nữ trung Nghiêu Thuấn…”

Thái hoàng thái hậu lẩm nhẩm: “Nữ trung Nghiêu Thuấn, nữ trung Nghiêu Thuấn! Dù thật là như vậy, cũng khó mà khỏi chết.” Đột nhiên trong bộ óc đã mờ mịt của bà lóe ra một tia sáng, bà lại hỏi: “Sao tể tướng nước Liêu lại đề cập đến ta? Hài nhi! Ngươi… ngươi phải cẩn thận đề phòng, chắc là bọn chúng đã biết ta sắp chết, chuẩn bị khinh nhờn ngươi đó.”

Bộ mặt non choẹt của Triệu Hú lộ vẻ kiêu ngạo. Y nói: “Họ muốn khinh nhờn hài nhi, hừ, đúng là như vậy, nhưng không phải chuyện dễ dàng đâu. Người Khất Đan có thám tử ở Đông Kinh nên biết tổ mẫu lâm trọng bệnh, chẳng lẽ chúng ta không biết đặt do thám ở Thượng Kinh hay sao? Đến tấu chương của chúng trình lên hoàng đế Đại Liêu cũng bị chúng ta lấy được đó thôi. Vua tôi Khất Đan thương nghị với nhau, nói là khi tổ mẫu trăm tuổi rồi, mà văn võ đại thần bên ta vẫn không thay đổi chính sách bảo quốc an dân thì thôi. Khi nào hài nhi… hài nhi khinh suất vọng động gì… thì bọn họ mới cử sự.”

Thái hoàng thái hậu thất thanh nói: “Nếu thế thì bọn chúng sẽ xuất binh nam chinh ư?” Triệu Hú đáp: “Đúng thế!” Y xoay người ra cửa sổ, nhìn lên chòm sao Bắc Đẩu thất tinh giữa bầu trời. Y tìm sao Bắc Cực, chăm chú nhìn về hướng Bắc mà lẩm bẩm: “Nhà Đại Tống ta binh cường lương đủ, nhân số cũng nhiều, sợ gì bọn Khất Đan? Chúng chẳng nam chinh thì ta cũng đem quân bắc phạt, quyết tỉ thí một phen”

Thái hoàng thái hậu nghe không rõ, hỏi lại: “Ngươi nói gì vậy? Cái gì mà tỉ thí một phen?” Triệu Hú lại trước giường bệnh rồi đáp: “Tổ mẫu! Dân số Đại Tống ta nhiều gấp mười nước Liêu, mà lương thảo cũng gấp ba mươi lần, có đúng thế không? Mười người chọi một, chẳng lẽ không thắng được họ hay sao?” Thái hoàng thái hậu run giọng hỏi: “Ngươi muốn khai chiến với nước Liêu ư? Năm trước Châu Nguyên hoàng đế oai võ như vậy, ngự giá thân chinh rồi cũng phải ký vào hòa ước Thiên Uyên. Ngươi… ngươi lại còn dám dấy động binh đao ư?”

Triệu Hú tức tối đáp: “Tổ mẫu vẫn chưa tin hài nhi, cứ coi hài nhi như một đứa con nít hỉ mũi chưa sạch, không hiểu việc đời. Nói hài nhi không bằng Thái tổ, Thái tông thì còn có lý, chẳng lẽ lại không bằng được Chân Tôn hoàng đế hay sao?” Thái hoàng thái hậu hạ giọng nói: “Ngay cả Thái Tôn hoàng đế năm xưa cũng bị Bắc quốc đánh cho đại bại, may mà chưa mất mạng.” Triệu Hú đáp: “Chuyện thiên hạ không phải lúc nào cũng giống nhau. Ngày trước Đại Tống ta không thắng nổi nước Liêu, nhưng vị tất đã vĩnh viễn chịu thua họ.”

Thái hoàng thái hậu còn muốn nói rất nhiều song tinh lực đã hết, đầu óc mờ mịt không còn sáng suốt, ngay việc nói ra tiếng cũng đã khó khăn. Nhưng vì lòng kiên cường nổi lên, thanh âm dõng dạc trở lại, bà nói tiếp: “Binh đao là việc dữ, sinh linh đồ thán, ngàn vạn lần không được khinh suất mà vọng động.”

Bà hít một hơi chân khí, rồi từ từ nói tiếp: “Hài nhi! Ta cầm quyền chính suốt chín năm trời, mà chưa phân tích rõ cho hài nhi hiểu. Đó là lỗi của ta, cứ tưởng rằng còn sống được lâu năm, ngờ đâu…” Bà ho hắng mấy tiếng rồi lại nói: “Đúng là chúng ta nhân số đông đúc, lương thực đầy đủ, nhưng Đại Tống vốn chuyên về văn học, còn võ bị lại kém Khất Đan. Hơn nữa, nếu xảy việc binh đao thì quân dân gan óc lầy đất, biết bao nhiêu người uổng mạng, bao nhiêu nhà cửa bị thiêu hủy? Làm vua thì trong lòng lúc nào cũng phải nghĩ đến chữ Nhân. Chưa nói đến chuyện thắng bại khó mà biết trước, dù có nắm chắc phần thắng cũng chẳng nên động binh là hơn.”

Triệu Hú nói: “Mười sáu châu quận Yên Vân của chúng ta đã bị người Liêu vô cớ chiếm đóng. Chúng còn đòi hàng năm phải tiến cống vàng lụa, chẳng khác nào một nước phiên thuộc. Hài nhi làm thiên tử nhà Đại Tống, làm sao chịu nổi cái nhục này? Chẳng lẽ cứ để bọn chúng vĩnh viễn khinh nhờn hay sao?” Thanh âm Triệu Hú mỗi lúc một vang dội. Y nói tiếp: “Ngày trước Vương An Thạch thay đổi pháp lệnh, dựng ra phép Bảo Giáp, Bảo Mã, cũng chỉ muốn cho quốc gia giàu mạnh để rửa nhục cho tổ tông. Kẻ làm con cháu, biết trả thù rửa hận cho tổ tông mới là đạo hiếu. Phụ hoàng của hài nhi suốt đời hoài bão ý chí làm cho đất nước hưng thịnh, phải chăng cũng là vì vậy? Hài nhi nhất quyết noi theo di chí của gia gia, nếu không thì nguyện như chiếc ghế này.” Y đột nhiên rút thanh kiếm ở trên lưng ra, chém chiếc ghế bên cạnh đứt làm hai đoạn.

Khi hoàng đế vào đây vốn không được xách đao đeo kiếm. Hoàng thái hậu thấy Triệu Hú còn nhỏ tuổi mà có hành động vũ phu thì không khỏi giật mình kinh hãi, liền nói bằng một giọng đau buồn, uất ức: “Sao mi dám đeo kiếm vào đây? Có phải là để giết ta không? Hay là ngăn cấm không cho ta buông rèm nhiếp chính? Thằng lỏi này lớn mật làm càn, ta phải truất phế mi!” Bản tính thái hoàng thái hậu vốn hiền từ, nhưng bà đã từng nắm giữ quyền binh lâu ngày, bây giờ bà thấy quyền hành bị uy hiếp liền lập tức nghĩ tới chuyện loại trừ đối thủ, dù là cốt nhục cũng không thể khoan dung. Trong lúc hoảng hốt, bà quên mất lúc này mình chỉ như ngọn đèn khô dầu, trong chốc lát là phải từ trần.

Trong lòng Triệu Hú thì chỉ nghĩ đến chuyện xung trận giết giặc, thu phục mười sáu châu quận Yên Vân. Mộng tưởng của y đã đạt đến cực đại, chỉ muốn thống suất trăm vạn hùng binh công phá Thượng Kinh, bắt Liêu chúa Gia Luật Hồng Cơ phải ra hàng. Y giơ cao thanh kiếm lên nói: “Quốc gia đại sự mà hư hỏng là vì bọn hủ nho kém cỏi nhát gan. Chúng tự xưng là quân tử, song thực ra đều tham sinh úy tử, chỉ là hạng tiểu nhân tự tư tự lợi. Hài nhi… hài nhi phải trừng phạt bọn chúng nặng nề, nhất định không tha!”

Thái hoàng thái hậu đột nhiên tỉnh táo lại, nghĩ bụng: “Thằng nhỏ này là đương kim hoàng đế. Nó có chủ ý của nó, ta không thể bắt nó nghe ta được nữa. Ta chỉ là một lão thái bà sắp chết đến nơi, còn nó là hoàng đế, nó mới là hoàng đế.” Bà dồn hết sức tàn, cố cao giọng lên nói: “Hài nhi! Ngươi có chí khí như vậy, tổ mẫu hết sức phấn khởi.” Triệu Hú cả mừng tra kiếm vào vỏ, hỏi lại: “Tổ mẫu! Hài nhi nói vậy có đúng không?” Thái hoàng thái hậu hỏi: “Hài nhi có biết thế nào là kế vẹn toàn chắc thắng không?” Triệu Hú chau mày đáp: “Dạy tướng luyện quân, nuôi ngựa tích lương, cùng người Liêu quyết một trận sống mái thì có thể thắng, nhưng không thể nói là vẹn toàn chắc thắng được.” Thái hoàng thái hậu nói: “Ngươi cũng đã hiểu đem quân đi đánh thì chưa chắc đã nắm vững được phần thắng. Đại Tống ta cũng có thể không đánh mà khuất phục được người ta.” Triệu Hú đáp: “Cho dân nghỉ ngơi, thi hành nhân chính, thì có thể không đánh mà khuất phục được lòng người, có phải thế chăng? Tổ mẫu! Đó chỉ là kiến thức thiển cận của bọn thư sinh kiểu như Tư Mã Quang, làm sao mà thành đại sự được?”

Thái hoàng thái hậu thở dài, nhẹ nhàng nói: “Kiến thức của Tư Mã tướng công thật là siêu tuyệt, sao lại bảo là thư sinh thiển cận? Ngươi có lúc nào rảnh việc thì nên đọc bộ sách Tư Trị Thông Giám của Tư Mã tướng công. Các triều đại hơn ngàn năm nay vì sao thịnh, vì sao suy, vì sao vong quốc, bộ sách này đều có ghi chép rõ ràng. Đại Tống ta đất cát phì nhiêu, dân cư đông đúc gấp mười nước Liêu, nếu không có việc chiến chinh thì mỗi ngày một hưng thịnh lên. Người Liêu tính nết hung hãn hiếu chiến, ta chỉ cần phòng thủ biên cương nghiêm mật, thì trong nội bộ của họ tất sinh nội biến, tàn sát lẫn nhau mà hao hụt nguyên khí. Năm trước, cái loạn Sở vương đã làm hao mòn mất một số lớn quân tinh nhuệ của nước Liêu…”

Triệu Hú vỗ đùi lớn tiếng nói: “Đúng thế! Khi ấy hài nhi đã toan xua quân bắc tiến để nội ngoại giáp công, nước Liêu đang có nội loạn, nhất định không thể đối phó được. Trời ơi! Thật là cơ hội ngàn năm một thuở mà bị lỡ mất rồi!”

Thái hoàng thái hậu nghiêm giọng nói: “Lúc nào ngươi cũng chỉ nghĩ đến chuyện gây hấn với nước Liêu. Ngươi… ngươi…” Đột nhiên bà ngồi dậy, trỏ tay vào mặt Triệu Hú.

Triệu Hú thấy thái hoàng thái hậu nổi cơn thịnh nộ, giật mình lùi lại ba bước. Chân y loạng choạng suýt té ngã, tay nắm chặt đốc kiếm, trống ngực đánh thình thình, miệng lớn tiếng la: “Mau! Các ngươi mau vào đây!”

Bọn thái giám nghe hoàng thượng la gọi, liền tiến vào điện. Triệu Hú run giọng hỏi: “Bà… bà… Các ngươi xem kỹ, bà làm sao rồi?” Y vừa thổ lộ bao nhiêu là hùng tâm tráng chí, muốn quyết một trận tử chiến cùng người Khất Đan, thế mà một bà già ốm o bệnh hoạn vừa ra oai, y lập tức hồn bất phụ thể, chân tay luống cuống. Một tên thái giám tiến lại mấy bước, nhìn kỹ thái hoàng thái hậu, lại đưa tay ra sờ mặt bà, rồi nói: “Khải tâu hoàng thượng, thái hoàng thái hậu đã cỡi hạc về trời rồi!”

Triệu Hú cả mừng, cười ha hả rồi la lớn: “Tuyệt diệu! Tuyệt diệu! Ta là hoàng đế rồi! Ta là hoàng đế rồi!”

Thực ra, y đã làm hoàng đế được chín năm rồi, nhưng trong chín năm ấy thì chỉ là hoàng đế hữu danh vô thực, việc lớn đều ở trong tay thái hoàng thái hậu. Từ bây giờ y mới thực sự là hoàng đế cầm quyền trị nước.

***

Triệu Hú tự mình trông nom triều chính, việc đầu tiên là y giáng chức Lễ bộ thượng thư Tô Thức, bắt phải đi làm tri phủ ở Định Châu. Tô Thức là một văn nhân lừng danh thiên hạ, ai cũng trọng vọng. Ông là nhân vật chính trong việc phản đối biến pháp cải cách của Vương An Thạch. Những năm Nguyên Hựu, thái hoàng thái hậu buông rèm nhiếp chính, bắt đầu trọng dụng Tư mã Quang và huynh đệ Tô Thức, Tô Triệt. Bà vừa qui thiên, hoàng đế đã đuổi Tô Thức đi, khiến cho từ triều đình đến dân gian đều bị bao phủ một không khí ảm dạm. Ai nấy than thầm: “Hoàng đế lại thi hành biến pháp, trăm họ khốn khổ đến nơi rồi!” Dĩ nhiên cũng có lắm kẻ mừng thầm, vì nếu hoàng đế thi hành cải cách thì chúng lại có cơ hội thăng quan phát tài.

Lúc này những người nắm quyền trong triều đều là cựu thần do thái hoàng thái hậu bổ nhiệm. Hàn lâm học sĩ Phạm Tô Vũ trình lên một bản tấu chương, nói rằng: “Tiên thái hoàng thái hậu lấy công bình chính trực làm gốc, bãi bỏ biến pháp của bọn Vương An Thạch, Lã Huệ Khanh, mà áp dụng chính sách cũ của tổ tiên. Nhờ thế mà xã tắc nguy nan rồi lại an bình, lòng người ly tán trở nên đoàn kết. Thậm chí Liêu chúa thương nghị cùng tể tướng, cũng nói là nếu Nam triều duy trì chính sự nhân hòa, thì chỉ nên giữ nguyên hiện trạng mà phòng thủ biên cương, không nên sinh sự. Bệ hạ nghĩ xem, địch quốc còn suy nghĩ như vậy, đủ biết lòng người trong nước thế nào. Nay nếu bệ hạ thay đổi chính sách, bọn tiểu nhân sẽ thừa cơ ngóc đầu dậy, mà kẻ vụ lợi cũng ghé mắt nhìn. Thần xin bệ hạ nghĩ đến tổ tiên trải gian nan dựng xây cơ nghiệp, nghĩ đến thái hoàng thái hậu phải nhọc lòng giữ vững giang sơn mà duy trì chính đạo, đừng nghe tiểu nhân sàm tấu, giữ chính sách cũ khiến quốc gia vững bền, bá tính an vui, thì thiên hạ thật là may lắm.”

Triệu Hú đọc tấu chương mà tức giận, đập bàn quát: “Ngươi bảo ta duy trì chính đạo, đừng nghe tiểu nhân sàm tấu. Hai câu này quả là không sai chút nào. Chỉ có điều, ai là quân tử, ai là tiểu nhân?” Nhà vua lại quắc mắt lên nhìn Phạm Tô Vũ.

Phạm Tô Vũ dập đầu tâu: “Bệ hạ minh xét. Lúc thái hoàng thái hậu bắt đầu buông rèm nhiếp chính thì hàng vạn thần dân trong triều ngoài nội đều nói là biến pháp làm cho bách tính phải lầm than. Thái hoàng thái hậu thương dân như con, đã thay đổi chính sách, ân xá cho những người có tội. Khi đó bệ hạ đã thuận lòng dân mà vâng theo lời thái hoàng thái hậu. Những quan chức bị bãi miễn đó, chính là tiểu nhân.”

Triệu Hú cười nhạt nói: “Họ bị thái hoàng thái hậu bãi miễn, có can dự gì đến trẫm đâu?” Y nói xong, lập tức rũ áo bãi triều.

Triệu Hú nhìn bọn đại thần mà ngứa mắt, nhưng vừa được chấp chính nên không tiện đuổi sạch. Y tạm thời hạ chiếu, thăng quan cho bọn nội thị Nhạc Sĩ Tuyến, Lưu Duy Giản, Lương Tòng Chính để thưởng chúng đã có công phụ họa với mình. Y cáo bệnh, không lâm triều mấy ngày liền.

Một hôm, thái giám đưa vào một tấu chương, nét chữ rồng bay phượng múa, dưới ký tên Tô Thức. Triệu Hú nói: “Thằng cha này viết chữ thật là đẹp, không hiểu hắn muốn nói những chuyện hồ đồ gì.” Rồi y mở tấu chương ra xem, thấy viết rằng: “Hạ thần đang chầu chực.trong triều thì được lệnh đi giữ biên cương. Hạ thần không muốn ra đi mà chưa được vào bái biệt, muốn thông tin đến bệ hạ cũng không phải dễ.” Triệu Hú nói: “Ta không thích bộ râu quai nón của ngươi, trọn đời không muốn nhìn thấy ngươi nữa.”

Y lại đọc tiếp: “Nhưng hạ thần không dám chẳng tận trung, đó là hành vi của thánh nhân đã dạy, phải vào chỗ tối để nhìn chỗ sáng, ngồi chỗ tĩnh mà xem chỗ động, thì vạn vật đều rõ ràng trước mắt. Bệ hạ là bậc thánh trí hơn đời, đang tuổi thanh niên…” Triệu Hú cười khẩy, nghĩ bụng: “Thằng cha rậm râu này hỗn láo, dám ra giọng mỉa mai. Hắn bảo ta “thánh trí hơn đời”, mà lại chú thích “đang tuổi thanh niên”, thì ra hắn bảo mình nhỏ tuổi, chưa hiểu việc trị nước.”

Y lại đọc tiếp: “Hạ thần chỉ mong bệ hạ hãy khoan hành động, cứ để tâm theo dõi để nhận rõ chính sách lợi hại ra sao, quần thần tà chính thế nào. Giả tỉ bệ hạ nghiên cứu ba năm rồi mới thực hiện, thì khi hành động tất nhiên bách tính không oán hận, bệ hạ không hối tiếc. Hạ thần e rằng chỉ có bọn thần tử vụ lợi mới nông nổi mà muốn hành động gấp rút, nay dâng biểu tấu này, mong rằng bệ hạ thận trọng mà cải cách thì phúc cho xã tắc, may cho thiên hạ lắm thay.”

Triệu Hú đọc hết tấu chương, thầm nghĩ: “Người ta nói thằng cha rậm râu họ Tô thông minh tuyệt đỉnh, quả nhiên danh bất hư truyền. Hắn biết ta nhất định noi theo tiên đế mà thi hành biến pháp, nhưng hắn không dám công khai ngăn trở mà chỉ khuyên ta hoãn lại ba năm. Y nói gì gì: “Hành động tất nhiên bách tính không oán hận, bệ hạ không hối tiếc”, chỉ là lời nói uyển chuyển. Như vậy tức là gấp rút vụ lợi thì bách tính oán hận, ta phải hối tiếc.” Triệu Hú nghĩ tới đó thì bất giác nổi lôi đình, xé vụn tấu chương.

Mấy hôm sau Triệu Hú lâm triều, Phạm Tô Vũ lại dâng tấu chương: “Đầu niên hiệu Chiêu Ninh, Vương An Thạch cùng Lã Huệ Khanh dựng ra biến pháp, cải cách lề luật cũ của tổ tông, đưa nhiều kẻ tiểu nhân vào làm hỏng việc nước. Chúng lại dấy động binh đao để mở rộng biên thùy, gây thù oán với ngoại bang khiến cho sinh linh đồ thán, trăm họ lầm than”. Triệu Hú xem tới đây thì lửa giận đã bốc lên, mắng thầm: “Ngươi thóa mạ Vương An Thạch cùng Lã Huệ Khanh thì có khác gì thóa mạ phụ hoàng ta?” Y lại xem tiếp: “Thái Xác liên tiếp mở nhà ngục lớn, Vương Thiều lấp Tây Hà, Chương Đôn mở rộng khe cừ, Thẩm Khởi nhiễu loạn bang giao, Thẩm Quát động binh ở phía tây làm quân dân tử thương tới hai mươi vạn người. Tiên đế lâm triều đã tỏ ra hối hận, Ngài tuyên bố triều đình phải chịu trách nhiệm này…” Triệu Hú càng xem càng tức giận, bỏ qua mấy dòng, lại đọc ở dưới: “Dân chúng khổ não như nhà có loạn, chỉ mong bệ hạ khai ân cứu giúp, để người khắp thiên hạ đều được bình yên…” Triệu Hú coi tới đây không nhịn được nữa, vỗ bàn đứng dậy.

Triệu Hú mới mười tám tuổi đã ở ngôi cao, tính tình lại nóng nảy. Y nổi nóng giữa buổi triều thì quần thần không khỏi sợ hãi thất sắc. Triệu Hú nghiêm giọng quát hỏi: “Phạm Tô Vũ! Ngươi trình tấu chương có phải là để phỉ báng chăng?” Phạm Tô Vũ dập đầu tâu: “Bệ hạ minh xét. Hạ thần vạn vạn lần không dám.”

Triệu Hú mới lên nắm quyền mà được thấy quần thần khiếp sợ, trong lòng đắc ý nên nộ khí tiêu tan. Nhưng y vẫn giữ vẻ mặt nghiêm khắc lớn tiếng nói: “Tiên đế là bậc thiên tài đại chí, muốn bình định, giang sơn, thống nhất thiên hạ, chỉ tiếc là ngài còn trẻ đã băng hà. Nay trẫm muốn nối chí của tiên đế, sao lại không được? Các ngươi cứ trách tiên đế thay đổi chính sách, nhàm cả tai trẫm là nghĩa làm sao?”

Trong quần thần có một vị đại thần tướng mạo thanh tú oai phong, bệ vệ bước ra, chính là tể tướng Tô Triệt. Triệu Hú vừa trông thấy đã phát ngán, nghĩ thầm: “Lão này là em thằng cha rậm râu họ Tô. Huynh đệ y cấu kết với nhau, chắc chắn trong miệng chó không thể mọc ngà voi.” Bỗng nghe Tô Triệt lên tiếng: “Bệ hạ minh xét. Tiên đế có nhiều điểm vượt cả tiền nhân, tỉ như ngài ở ngôi mười hai năm trời, đến cuối đời vẫn không chịu nhận tôn hiệu nào. Thần đã trình tấu chương ca tụng công đức, mà tiên đế vẫn khiêm nhường không nhận. Còn việc triều chính có điều lầm lẫn thì đời nào mà chẳng có? Hơn nữa, con cái sửa chữa việc cha đã lầm lẫn, đó là đạo hiếu của người xưa.”

Triệu Hú hắng giọng một tiếng, lạnh lùng hỏi lại: “Con cái sửa chữa việc cha đã lầm lẫn, là nghĩa làm sao?” Tô Triệt đáp: “Tỉ như việc ngày xưa, Hán Võ Đế ngoài đánh tứ di, trong dựng cung thất, tiền tài khánh kiệt, đến nỗi phải cướp bóc tài vật cùng nguồn lợi của bá tính, dân chúng không chịu nổi, suýt gây ra họa loạn. Khi Võ Đế băng hà, Chiêu Đế lên nối ngôi, thu dùng Hoắc Quang, bỏ những việc phiền hà, khiến cho Hán thất trở lại vững vàng.” Triệu Hú hừ một tiếng, thầm nghĩ: “Ngươi dám đem Hán Võ Đế mà so sánh với phụ hoàng ta!”

Tô Triệt thấy long nhan nhăn nhó đã biết là nguy hiểm, nghĩ thầm: “Nếu ta còn nói nữa thì hoàng thượng tất nổi lôi đình, không chừng mất mạng. Nhưng nếu cứ thuận gió theo chiều để cho thiên hạ loạn lạc, bách tính lầm than, cửa nhà tan nát, thì ta đây là một vị đại thần trong nước, nhẫn tâm thế nào được? Hôm nay chính là lúc ta phải đem sinh mạng nhỏ nhoi mà báo đáp thâm ân của thái hoàng thái hậu”. Ông bèn tiếp: “Đời Minh Đế nhà Hậu Hán lấy hai chữ Giám Sát làm gốc, tra xét lời nói cùng việc làm của bá quan thật là tỉ mỉ, tin tưởng các loại bùa chú quái đản tà đạo, khiến cho trên dưới đều phập phồng lo sợ, người người đều không thể sống yên. Khi Chương Đế lên nối ngôi, đã kiểm điểm lại chỗ được mất, đổi sang chính sách khoan hồng để lòng người vui vẻ, thiên hạ thịnh trị. Đó là những bậc làm con đã sửa chữa lỗi lầm của tiên phụ, trở thành những bậc đại hiếu để tiếng thơm muôn đời như thánh nhân đã dạy.”

Tô Triệt đã biết Triệu Hú lên ngôi lúc mới mười tuổi, chín năm nay việc gì cũng phải nghe theo mệnh lệnh của thái hoàng thái hậu, nhất định y thầm phẫn nộ trong lòng, quyết ý muốn hủy những chính sách của bà để quay về chính sách của đời Thần Tông, để tỏ lòng hiếu thuận với phụ thân. Do đó Tô Triệt mới đem chuyện đại hiếu của thánh nhân ra mà khuyên can hoàng thượng.

Triệu Hú lớn tiếng hỏi: “Hán Minh Đế theo đạo thuật thì đã có gì là không tốt? Ngươi đem Hán Võ Đế mà so với tiên đế là có dụng ý gì? Phải chăng là công nhiên phỉ báng? Hán Võ Đế dấy binh đại bại để chết hết quân lính, cuối đời đã hạ chiếu tự phê phán mình, tự trách cứ nặng nề những hành vi hoang đường. Đó là một ông vua bị hậu thế chê cười, sao ngươi dám đem ra so sánh với tiên đế?” Y càng nói, thanh ám càng nghiêm khắc, sắc mặt cũng biến đổi. Tô Triệt dập đầu lia lịa, rồi bước ra khỏi điện, quì trước sân để chờ xử tội, không dám nói gì nữa.

Rất nhiều đại thần cùng nghĩ: “Tiên đế thi hành biến pháp đã làm trăm họ ngày đêm hoảng hốt, so ra còn tệ hơn Hán Võ Đế nhiều.” Nhưng bá quan đều sợ hãi, không ai dám nói câu nào, cũng không ai dám năn nỉ giùm Tô Triệt.

Bỗng thấy một vị đại thần đầu tóc bạc phơ rẽ mọi người đi ra, chính là Phạm Thuần Nhân. Ông chậm rãi nói: “Xin bệ hạ bớt giận. Tô Triệt nói năng có điều thất thố, cũng chỉ vì y một dạ trung thành với bệ hạ. Bệ hạ mới lên chấp chính, đối với đại thần nên giữ lễ.” Triệu Hú nói: “Người ta đã có câu: Tần Hoàng Hán Võ, vậy Hán Võ Đế cũng tàn bạo như Tần Thủy Hoàng. Y nói thế còn chưa vô đạo hay sao?” Phạm Thuần Nhân tâu: “Tô Triệt chỉ nghị luận về thời thế cùng sự việc, chứ không so sánh về con người.”

Triệu Hú nghe Phạm Thuần Nhân giải thích mới nguôi giận, quát lên: “Tô Triệt vào đây!” Tô Triệt từ trong sân trở vào điện, không dám đứng ở chỗ cũ mà quỳ sau hết thảy quần thần, lên tiếng: “Hạ thần biết mình đắc tội với bệ hạ, xin nhận trách phạt.”

Hôm sau, có chiếu chỉ giáng chức Tô Triệt làm Đoan Minh Điện Học Sĩ kiêm Tri châu Nhữ Châu, biệt phái tể tướng đi làm một quan châu nho nhỏ.

***

Động tĩnh của quần thần Nam triều đều được thám tử nước Liêu phi báo về Thượng Kinh rất nhanh. Liêu chúa là Gia Luật Hồng Cơ được tin thái hoàng thái hậu Nam triều đã chết, hoàng đế Triệu Hú còn nhỏ tuổi đã giáng chức đại thần, thi hành biến pháp, thì vô cùng mừng rỡ nói: “Chuẩn bị xa giá để ta xuống Nam Kinh, thương nghị với Tiêu đại vương.”

Gia Luật Hồng Cơ lại nói: “Bọn thám tử Nam triều ở Thượng Kinh không phải là ít. Nếu chúng biết ta đến Nam Kinh, chắc sẽ chú ý đề phòng. Vậy phải giảm bớt số quân kỵ theo ta, lập tức lên đường, chẳng cần báo trước với Nam Viện Đại Vương nữa.” Liêu chúa dẫn ba ngàn giáp binh lập tức xuôi nam, lại nhớ đến cái loạn Sở vương ngày trước, bèn giao cho chính hoàng hậu là Tiêu thị thống lãnh binh quyền lưu lại giữ Thượng Kinh. Liêu chúa lại cắt ra năm vạn binh mã theo hộ tống, nhưng để đi sau.

Ngày mà Liêu chúa đến ngoài thành Nam Kinh thì Tiêu Phong đang đem hơn hai chục kỵ binh đi săn bắn. Ông được tin Liêu chúa đột ngột đến Nam Kinh, liền ruổi ngựa tiến về hướng Bắc để nghênh tiếp. Vừa thấy cờ trắng lọng vàng ở phía xa, Tiêu Phong đã xuống ngựa, lật đật chạy lại bái phục dưới đất.

Gia Luật Hồng Cơ xuống ngựa cười ha hả nói: “Hiền đệ! Ta cùng hiền đệ tiếng là vua tôi mà tình như cốt nhục, cần gì phải làm đại lễ?” Lão nâng Tiêu Phong dậy hỏi: “Có nhiều dã thú không?” Tiêu Phong đáp: “Mấy hôm nay lạnh quá, dã thú đều trốn xuống phương nam. Thần đi săn đã nửa ngày mới được một con sói và mấy con hươu nhỏ, chẳng có chi đáng kể.” Gia Luật Hồng Cơ cũng thích săn bắn, liền nói: “Chúng ta cùng xuống phía nam tìm dã thú đi!” Tiêu Phong đáp: “Phía nam giáp với đất đai của Nam triều. Thần sợ mất hòa khí giữa hai nước, nên nghiêm cấm thuộc hạ không được đi săn về phía đó.” Gia Luật Hồng Cơ hơi nhíu mày hỏi: “Thế thì không đi thu hoạch ư?” Tiêu Phong đáp: “Thần không dám.” Gia Luật Hồng Cơ nói: “Hôm nay huynh đệ ta tụ hội, phá lệ một lần cũng chẳng hề chi.” Tiêu Phong “Vâng!” một tiếng.

Hiệu tù và nổi lên, Gia Luật Hồng Cơ cùng Tiêu Phong cưỡi ngựa sánh vai mà đi, vòng quanh tường thành Nam Kinh, thẳng xuống phía nam. Đi chừng hơn hai trăm dặm, quân sĩ reo hò chia ra hai ngả, đi một quãng xa, rồi tiến lại gần nhau tựa như thắt miệng túi. Tiếng ngựa hí lẫn với tiếng chó sủa loạn lên, bốn bề từ từ quây lại. Vòng vây mỗi lúc một nhỏ hẹp, chồn cáo trong cỏ rậm chạy ra.

Gia Luật Hồng Cơ không muốn bắn giết những con thú nhỏ bé này, nhưng chờ hàng nửa ngày vẫn chẳng thấy những loài thú lớn như gấu, hổ xuất hiện. Lão đang cụt hứng, bỗng nghe có tiếng la hét loạn lên, từ phía đông nam có mười mấy hán tử đang chạy như bay tới. Cứ nhìn cách ăn mặc của họ thì biết ngay đó là bọn thợ săn và tiều phu người Nam triều. Quân Liêu đuổi không có dã thú, biết là hoàng thượng không vui, liền quay ra vây mười mấy người Hán này. Chúng quát tháo om sòm, rượt đuổi bọn này phải chạy đến chỗ Liêu chúa.

Gia Luật Hồng Cơ cười nói: “Hay lắm!” Rồi giương cung lắp tên bắn ra veo véo. Lão bắn không trật phát nào, chớp mắt đã có sáu người bị tên xuyên qua bụng cắm chặt xuống đất. Những người chưa trúng tên, khiếp đảm chạy về phía Nam thì lại gặp quân Liêu dùng trường mâu để buộc họ quay trở lại.

Tiêu Phong đau xót trong lòng, la lên: “Bệ hạ!” Gia Luật Hồng Cơ cười nói: “Bọn này để dành cho ngươi, ta muốn coi thần tiễn của hiền đệ!” Tiêu Phong lắc đầu đáp: “Bọn này vô tội, nên tha cho họ là hơn!” Gia Luật Hồng Cơ cười nói: “Người Hán đông quá, giết bớt đi thì dĩ nhiên thiên hạ thái bình thịnh trị. Bọn chúng đầu thai làm người Hán cũng là đáng tội chết rồi!” Nói xong, lão dùng liên châu tiễn bắn ra, mỗi mũi tên trúng một người. Mười mấy người Hán chẳng may mắn chút nào, có người chết ngay lập tức, có người trúng vào bụng chưa tuyệt khí chết ngay thì ngã lăn ra rên xiết! Bọn Liêu binh lớn tiếng reo hò, hoan hô: “Vạn tuế!”

Giả tỉ lúc ấy Tiêu Phong muốn ra tay ngăn trở, thì dĩ nhiên có thể ngăn Liêu chúa bắn tên, nhưng trước mặt quân sĩ mà công nhiên làm bẽ mặt hoàng đế thì phạm tội đại nghịch, nên chàng không nói gì, chỉ có nét mặt là lộ vẻ không bằng lòng.

Gia Luật Hồng Cơ cười hỏi: “Sao thế?” Lão đang định cất cung đi, thì chợt thấy một người cưỡi ngựa xông qua vòng vây chạy đến. Gia Luật Hồng Cơ thấy kỵ sĩ ăn mặc kiểu người Hán thì chẳng thèm hỏi gì, giương cung lắp tên bắn ngay. Người kia đưa hai ngón tay kẹp lấy đuôi mũi tên. Lúc ấy thì mũi tên thứ hai của Gia Luật Hồng Cơ bắn tới, người kia lại đưa tay lên kẹp, ngựa vẫn xông về phía Liêu chúa không hề dừng vó. Hồng Cơ liền bắn liên châu, tên nối nhau bay ra vun vút. Nhưng tên bắn nhanh, thì người kia cũng bắt nhanh. Chỉ trong chớp mắt, một người bắn ra bảy mũi tên, một người bắt được bảy mũi tên.

Bọn quân Liêu hộ vệ đều hò hét vang trời, tên nào cũng chĩa trường mâu ra ngăn cản trước mặt Liêu chúa, chỉ sợ người đó làm kinh hãi nhà vua.

Lúc này hai bên đã gần nhau, Tiêu Phong vừa nhìn rõ mặt người mới đến đã giật mình, kinh hãi la lên: “A Tử! Là muội đấy ư? Không được vô lễ với hoàng thượng!”

Kỵ sĩ kia cười khanh khách, ném cả bảy mũi lang nha tiễn cho bọn vệ binh, rồi nhảy xuống ngựa, quì mọp mà nói: “Hoàng thượng! Hạ thần đã bắt hết tên của ngài, ngài đừng trách nhé!” Gia Luật Hồng Cơ cười rộ, lên tiếng khen ngợi: “Hảo thân thủ! Hảo bản lĩnh!”

A Tử đứng dậy, gọi to: “Tỉ phu! Tỉ phu đến đón tiểu muội đấy ư?” Rồi nàng nhún chân một cái lại nhảy lên lưng ngựa, phi đến trước mặt Tiêu Phong.

Tiêu Phong thấy đôi mắt nàng đã có thần sắc thì vừa kinh ngạc vừa vui mừng, reo lên: “A Tử! Sao… sao mắt của muội lại khỏi được?” A Tử cười đáp: “Chính nhị đệ của tỉ phu đã chữa cho múội. Tỉ phu thấy y có giỏi không?” Tiêu Phong nhìn lại mắt A Tử thì không khỏi run lên, vì trong khóe mắt nàng chứa đầy nỗi thương tâm tịch mịch, không bút mực nào tả được. Lẽ ra, mắt nàng đã hết mù lòa, mà được gặp lại Tiêu Phong thì nàng phải vui mừng khôn xiết, thế mà mắt nàng lộ vẻ cực kỳ đau khổ là nghĩa làm sao? Nhưng tiếng cười của A Tử lại tỏ ra rất vui mừng. Tiêu Phong thầm nghĩ: “Không chừng Tử muội dọc dường đã gặp chuyện không được như ý.”

A Tử đột nhiên thét lên lanh lảnh, người nàng đang ở trong lòng Tiêu Phong bỗng co lại, rồi nhảy vọt qua vai chàng. Tiêu Phong cũng đã phát giác ra có người đột nhiên ám toán sau lưng mình. Chàng xoay mình lại đưa hai tay lên chặn trước ngực, thì thấy một cây đinh ba phóng tới. A Tử vươn tay trái ra chụp lấy cây đinh ba, ném ngược lại trúng vào trước ngực một người nằm dưới đất, đóng đinh hắn xuống. Người này vốn là một thợ săn người Hán, bị trúng tên của Gia Luật Hồng Cơ ngã ra nhưng chưa chết. Hắn thu tàn lực, phóng đinh ba vào sau lưng Tiêu Phong vì gã thấy chàng ăn mặc kiểu như đại thần nước Liêu, định giết chàng để rửa mối hận mình bị giết oan.”

A Tử trỏ vào mặt tên thợ săn đã chết, lớn tiếng mắng: “Mi không biết tự lượng, cái sức heo chó mà dám ám toán tỉ phu ta ư?”

Gia Luật Hồng Cơ thấy A Tử phóng đinh ba đâm chết tên thợ săn, cả mừng nói: “Hảo cô nương! Thân thủ cô nương tuyệt diệu ít người bì kịp. Mũi đinh ba vừa rồi không đả thương đựợc Nam Viện Đại Vương, thật là may mắn. Nếu y chỉ bị thương rất nhẹ, cũng đủ làm lỡ đại sự của ta. Không biết ta phải trọng thưởng cô nương thế nào cho xứng đáng?”

A Tử đáp: “Hoàng thượng! Hoàng thượng đã phong cho tỉ phu tiểu nữ làm quan lớn, thì xin hoàng thượng cũng cho tiểu nữ một chức quan để làm chơi. Tiểu nữ không cần chức to như tỉ phu, nhưng cũng đừng nhỏ quá để người ta chê cười.” Gia Luật Hồng Cơ cười đáp: “Ở nước Liêu ta phụ nữ không làm quan, để ta phong cho ngươi làm công chúa. Công chúa gì nhỉ? À phải rồi, kêu bằng Bình Nam Công Chúa!” A Tử bĩu môi nói: “Làm gì cũng được, nhưng làm công chúa thì tiểu nữ không làm đâu.” Hồng Cơ kinh ngạc hỏi: “Sao lại không làm?” A Tử đáp: “Hoàng thượng là huynh đệ với tỉ phu. Nếu tiểu nữ nhận làm công chúa thì hóa ra là hàng con hoàng thượng, chịu thấp xuống một bậc ư?”

Gia Luật Hồng Cơ thấy tình cảm A Tử đối với Tiêu Phong thật là nồng nhiệt. Tiêu Phong tuy ở ngôi cao mà không gần nữ sắc. Theo tập tục nước Liêu thì bậc đại thần như chàng, đừng nói tam thê tứ thiếp mà đến ba chục thê bốn chục thiếp cũng là chuyện thường. Liêu chúa thấy nàng có tình ý với Tiêu Phong, nhưng vì nàng còn nhỏ tuổi không tiện thành thân. Y liền cười nói: “Chức công chúa của ngươi là Trưởng công chúa, vai vế là muội tử ta, chứ không ngang hàng con gái ta. Chẳng những ta phong cho ngươi làm Bình Nam Công Chúa mà còn giúp cho ngươi thỏa lòng tâm nguyện, có được chăng?”

A Tử đỏ mặt lên hỏi: “Tiểu nữ có tâm nguyện gì? Sao bệ hạ lại biết? Bệ hạ là hoàng đế, sao lại gặp đâu nói đấy như thế?” A Tử chẳng biết sợ trời sợ đất là gì, ăn nói với Gia Luật Hồng Cơ mà chẳng giữ lễ vua tôi. May mà lễ giáo nước Liêu cũng không nghiêm lắm, Tiêu Phong lại được Hồng Cơ yêu mến tin cậy. Vì thế A Tử nói sao thì nói, Hồng Cơ vẫn cười ha hả rồi đáp: “Nếu ngươi không thích chức Bình Nam Công Chúa đó thì ta không phong nữa. Một, hai, ba, ngươi có thích không?” A Tử liền lạy phục xuống, khẽ nói: “A Tử tạ ân!” Tiêu Phong cũng khom lưng thi lễ nói: “Đa tạ bệ hạ tấn phong.” Tiêu Phong vốn coi A Tử như muội tử mình, nên nàng được Liêu chúa gia ân, chàng cũng ngỏ lời bái tạ.

Gia Luật Hồng Cơ lại cho là mình đoán không sai, nghĩ thầm: “Bây giờ ta đứng chủ hôn cho y một cách trọng thể, rồi sai y khởi binh đánh Tống, thì chắc là y phải tận tâm tận lực.” Còn Tiêu Phong lại tự hỏi: “Phen này hoàng thượng đến đây là có ý gì? Ngài phong A Tử làm công chúa, lại thêm hai chữ Bình Nam là nghĩa làm sao? Bình Nam, Bình Nam… Phải chăng là có ý động binh đánh xuống Nam triều?”

Gia Luật Hồng Cơ nắm tay Tiêu Phong nói: “Hiền đệ! Hai ta lâu ngày chưa được gặp nhau, bây giờ đi chơi nói chuyện một lúc.”

***

Hai người cưỡi ngựa đi về phía nam. Ngựa hay, đường tốt, chớp mắt đã đi được ngoài ba mươi dặm. Nơi đây là một cánh đồng bát ngát nhưng lại hoang vu, lúa má cùng cỏ dại mọc chen nhau. Chỗ nào cũng đầy chông gai, vì lâu ngày không người đi lại. Tiêu Phong nghĩ thầm: “Vì người Tống sợ bọn mình đến đây thu hoạch, đành phải bỏ hoang mấy chục vạn khoảnh ruộng tốt này”.

Gia Luật Hồng Cơ ra roi quất ngựa chạy lên một cái gò nhỏ, đứng nhìn đầy vẻ tự mãn. Tiêu Phong cũng giục ngựa theo lên. Chàng nhìn theo mục quang của Hồng Cơ, thấy phía nam núi đồi chập chùng bao la bát ngát, không biết đâu là cùng tận.

Gia Luật Hồng Cơ trỏ roi ngựa về phía nam nói: “Hiền đệ! Ba mươi năm trước, phụ hoàng đã dẫn ta tới đây, chỉ cho biết đó là giang sơn gấm vóc của nhà Đại Tống…” Tiêu Phong “Vâng!” một tiếng.

Hồng Cơ lại nói: “Ngươi sinh trưởng ở phương nam, từ thuở nhỏ đã am hiểu về nhân vật cùng sông núi Nam man. Phải chăng ở đó sung sướng hơn nhiều, không rét mướt khổ sở như chúng ta?” Tiêu Phong đáp: “Mỗi nơi có cái hay của nó. Trong tâm có thư thái thì người mới vui sướng được. Người nam không quen ở phương bắc, người bắc cũng không quen ở phương nam. Ông trời đã an bài như vậy, ai miễn cưỡng đứng núi này trông núi nọ thì chỉ rước lấy phiền não vào mình.” Hồng Cơ hỏi: “Thế thì người bắc xuống ở phương nam đã quen, rồi lại quay về sống ở miền bắc, thì có thấy phiền não không?” Tiêu Phong đáp: “Thần là người phiêu bạt giang hồ, bốn bể là nhà, khác với những người bình thường. Hiện nay thần đã được bệ hạ ban cho chỗ nương thân, lại được quan cao lộc hậu, trong lòng cảm tạ đại đức còn chưa hết, làm gì có chuyện phiền muộn nữa?”

Hồng Cơ quay lại nhìn vào mặt Tiêu Phong. Tiêu Phong không muốn bốn mắt gặp nhau, liền mỉm cười rồi nhìn ra phía khác.

Hồng Cơ chậm rãi nói: “Hiền đệ! Hai ta tuy phận là vua tôi nhưng tình là huynh đệ. Lâu ngày chưa được nói chuyện với nhau, sao ngươi cứ giữ lễ quân thần?” Tiêu Phong đáp: “Trước kia hạ thần chưa được biết bệ hạ, nên mạo phạm đã nhiều. Sau khi biết rồi, làm sao thần dám lấy nghĩa huynh đệ mà đối xử?” Hồng Cơ thở dài nói: “Làm hoàng đế thì không được giao kết thân thiết với người khác hay sao? Hiền đệ! Nếu ta được cùng ngươi bôn tẩu giang hồ, không bị điều gì câu thức, hóa ra lại sướng.”

Tiêu Phong nói: “Bệ hạ thích giao kết bằng hữu thì cũng chẳng khó gì. Thần có hai vị nghĩa đệ ở Trung Nguyên, một là Hư Trúc Tử ở cung Linh Thứu, một là Đoàn Dự người nước Đại Lý, đều là anh hùng hảo hán, phơi gan trải mật đối xử cùng người. Nếu bệ hạ muốn gặp, thần xin mời họ qua chơi Liêu quốc.” Từ lúc Tiêu Phong về Nam Kinh, hàng ngày phải giao thiệp với quần thần cùng tướng sĩ nước Liêu, lời nói tính tình đều không hợp ý, nên ông vẫn nhớ Đoàn Dự và Hư Trúc, chỉ mong họ đến nước Liêu để gặp mặt vài ngày cho thỏa tình khao khát.

Hồng Cơ cả mừng nói: “Hiền đệ mau mau sai người đưa thư mời hai vị nghĩa đệ đến nước Liêu. Nếu họ muốn làm quan, thì ta sẽ phong cho quan cao tước lớn.” Tiêu Phong mỉm cười đáp: “Mời họ qua chơi thì được, nhưng chắc họ không chịu làm quan đâu.”

Hồng Cơ trầm ngâm một lúc rồi nói: “Hiền đệ! Ta xem nét mặt cùng lời nói của ngươi dường như có ý không vui. Ta có phúc được làm hoàng đế, giàu gồm bốn bể, mà không làm cho ngươi được như ý, còn làm ca ca thế nào được?”

Tiêu Phong cảm động đáp: “Không dám giấu bệ hạ, việc năy là do thần lầm lỡ gây ra một mối hận chung thân, không còn cách nào vãn hồi được nữa.” Rồi chàng thuật sơ lại chuyện đã giết lầm A Châu cho Hồng Cơ nghe.

Hồng Cơ vỗ đùi đánh đét một cái rồi nói: “Thảo nào hiền đệ gần bốn mươi tuổi vẫn chưa lấy vợ, thì ra không quên được người cũ. Hiền đệ! Chuyện lầm lỡ của ngươi là phát xuất từ bọn người Hán tàn bạo mà ra, nhất là bọn Cái Bang lại càng vong ân bội nghĩa. Ngươi đừng phiền não nữa, ta lập tức hưng binh chinh phạt Nam man, giết cho kỳ hết bọn Cái Bang cùng võ lâm Trung Nguyên, để trả mối thù chúng hạ sát mẫu thân đệ, cùng cái hận vây khốn ngươi ở Tụ Hiền Trang. Ngươi thích con gái Nam man xinh đẹp thì ta sẽ bắt về cho một ngàn đứa, hai ngàn đứa để hầu hạ ngươi, có gì là khó đâu?”

Tiêu Phong nở một nụ cười đau khổ, nghĩ thầm: “Mình đã giết lầm A Châu, kiếp này chẳng thể gặp nàng được nữa. A Châu là A Châu, tính hết mọi nước trên thế gian cũng chỉ có một A Châu, thiên thu vạn tải cũng chỉ có một A Châu mà thôi. Một ngàn cô, một vạn cô mỹ nữ người Hán thì làm sao thay thế cho nàng được? Hoàng thượng quen có trong hậu cung hàng trăm hàng ngàn cung phi nô tì, làm sao hiểu được chữ Tình?” Chàng liền nói: “Đa tạ bệ hạ khai ân, nhưng thù oán giữa thần và võ lâm Trung Nguyên coi như đã một nét sổ toẹt, vì chính tay thần đã giết không ít người học võ ở Trung Nguyên. Oan oan tương báo thì vô cùng vô tận, nếu gây cuộc chiến chinh thì binh họa liên miên, nhất định không phải chuyện nhỏ.”

Gia Luật Hồng Cơ cười ha hả, nói: “Người Tống trọng văn khinh võ, nói khoác thì hay lắm, nhưng động đến binh đao thì chưa chắc đã chịu nổi một trận. Hiền đệ anh hùng vô địch, lãnh binh Nam chinh thì chỉ trong một ngày bình định Nam man, còn lo gì họa hoạn? Hiền đệ! Lần này ca ca đến đây, ngươi có biết vì lẽ gì không?” Tiêu Phong đáp: “Thần đang đợi bệ hạ cho biết.”

Hồng Cơ cười nói: “Việc thứ nhất, ta muốn hỏi hiền đệ địa thế Tây Hạ hiểm trở thế nào, quân mã mạnh yếu ra sao. Ngươi mới qua Tây Hạ chắc đã biết rõ tình hình, nói thử cho ta nghe liệu có lấy nước Tây Hạ được chăng?”

Tiêu Phong giật mình kinh hãi nghĩ thầm: “Hoàng thượng mưu đồ không nhỏ, đã muốn chiếm Nam Tống, lại toan lấy Tây Hạ”. Chàng đáp: “Vừa rồi thần qua Tây Hạ chỉ là đi chơi, xem cuộc cầu thân của công chúa nước này, không nghĩ gì đến địa thế chiến trận cả. Xin bệ hạ minh xét, thần tuy từng trải giang hồ, nhưng chỉ là những cuộc tỉ đấu tầm thường với người võ lâm, còn việc hành binh bố trận thì thật tình không hiểu gì hết.” Gia Luật Hồng cơ cười nói: “Hiền đệ bất tất phải quá khiêm nhường. Phen này quốc vương Tây Hạ yết bảng chiêu phò mã là một chuyện đầu voi đuôi chuột, chẳng có kết quả gì, thật đáng tức cười. Nếu hôm đó hiền đệ mang mười vạn binh đến, cưới công chúa Tây Hạ mang về Nam Kinh thì lại là chuyện khác, tốt đẹp hơn nhiều.” Tiêu Phong mỉm cười, nghĩ thầm: “Hoàng thượng cứ nghĩ là có trọng binh trong tay thì muốn sao cũng được.”

Gia Luật Hồng Cơ lại nói: “Hôm nay ca ca đến đây, còn có việc thứ hai nữa là thăng quan tấn tước cho hiền đệ. Hiền đệ hãy nghe ca ca gia phong.” Tiêu Phong đáp: “Hạ thần chịu ân đức của bệ hạ đã nhiều, không dám lại…” Gia Luật Hồng Cơ dõng dạc ngắt lời: “Nam Viện đại vương Tiêu Phong hãy nghe trẫm gia phong!” Tiêu Phong đành phải vội vàng nhảy xuống ngựa, lạy phục dưới đất.

Hồng Cơ tuyên bố: “Nam Viện đại vương Tiêu Phong hết dạ trung thành với quốc gia, là thủ túc của trẫm, nay phong tước Tống Vương, nhận chức Bình Nam Đại Nguyên Soái thống lĩnh ba quân. Khâm thử!”

Tiêu Phong trong lòng nghi hoặc mà không biết làm sao, chỉ nói: “Hạ thần chưa làm nên công trạng gì, không dám nhận lãnh đại ân của bệ hạ!” Hồng Cơ nghiêm giọng hỏi: “Sao? Ngươi kháng lệnh của trẫm ư?” Tiêu Phong thấy hoàng đế nghiêm giọng, biết rằng không thể chối từ, đành khấu đầu đáp: “Thần là Tiêu Phong tạ ơn bệ hạ!” Hồng Cơ cười ha hả, rồi nói: “Có thế mới là hiền đệ của ta!” Lão đưa hai tay ra đỡ Tiêu Phong dậy, nói: “Hiền đệ! Lần này ta xuôi nam không phải chỉ tới Nam Kinh mà thôi, còn muốn ngự giá vào thành Biện Lương nữa!”

Tiêu Phong lại một phen kinh hãi, quì tâu: “Bệ hạ muốn đến Biện Lương… Thế thì sao…” Liêu chúa cả cười ngắt lời: “Hiền đệ đã là Bình Nam Đại Nguyên Soái thống lĩnh ba quân, hãy lên đường trước đi, chúng ta tới thẳng Biện Lương! Sau này bình xong Đại Tống, sẽ đặt phủ Tống Vương của hiền đệ ở ngay hoàng cung của thằng lỏi Triệu Hú trong thành Biện Lương”.Tiêu Phong hỏi: “Bệ hạ nói là chúng ta khai chiến với Nam triều ư?”

Hồng Cơ đáp: “Không phải là ta khai chiến với Nam triều, mà là bọn Nam man muốn tỉ thí với ta! Ngày trước Nam triều còn thái hoàng thái hậu cầm quyền chính, mọi việc đều có khuôn phép, nên tuy ta vẫn muốn khởi binh Nam chinh, nhưng không nắm chắc phần thắng. Bây giờ mụ già đó chết rồi, thằng lỏi Triệu Hú chưa ráo máu đầu bỗng dưng phái người chỉnh đốn việc Bắc phòng, huấn luyện ba quân, tích lương chứa thảo, mộ binh nuôi ngựa. Thế là thằng lỏi đó cố ý gây hấn với ta, chứ còn gì nữa?”

Tiêu Phong nói: “Việc Nam triều huấn luyện sĩ tốt, chúng ta bất tất phải can thiệp đến. Mấy năm nay Tống, Liêu không giao binh, người dân hai nước từ trong triều ngoài nội đều an hưởng thái bình. Giả tỉ Triệu Hú xâm phạm bờ cõi thì chúng ta đánh cho tàn tạ. Còn nếu y sợ oai võ của bệ hạ mà không dám vọng động, thì ta chẳng cần gây sự với y làm gì.”

Hồng Cơ nói: “Hiền đệ không hiểu, Nam triều đất rộng người nhiều, sản vật phong phú. Nếu họ có minh quân trị nước mà muốn thôn tính Đại Liêu, chúng ta khó lòng địch nổi. May mà thằng lỏi Triệu Hú mới lên cầm quyền đã làm điều bất nghĩa, đuổi hết những vị đại thần có kiến thức, ngay cả Tô Đông Pha cũng bị biếm ra chốn biên cương. Lúc này vua tôi họ chẳng đồng lòng, thật là cơ hội ngàn năm một thuở. Nếu mình không cử sự thì còn đợi đến bao giờ?”

Tiêu Phong nhìn về phía nam, tưởng tượng ra cảnh hàng ngàn hàng vạn quân Liêu rong ruổi, nhà cửa bị tàn phá, lửa cháy ngút trời, già trẻ trai gái ở Trung Nguyên đều bị vó ngựa dày xéo rên xiết; tên bắn như mưa, quân Tống cùng quân Liêu chiến đấu cực kỳ khốc liệt. Những cảnh máu đổ thành sông, xương chất thành núi, như hiện ra trước mắt chàng.

Gia Luật Hồng Cơ lại lớn tiếng nói: “Tổ tông người Khất Đan ta lúc nào cũng nghĩ đến chuyện thu phục Nam triều, nhưng mấy phen hành động đều bị thất bại. Ngày nay chúng ta có được thiên thời, có thể lập nên công lớn. Hiền đệ! Sau này tên tuổi hai ta được lưu vào sử xanh, há chẳng hay lắm ru?”

Tiêu Phong quì hai gối xuống đất, liên tiếp dập đầu rồi nói: “Bệ hạ! Thần có một việc khẩn cầu.” Gia Luật Hồng Cơ cực kỳ kinh ngạc, đáp: “Hiền đệ có điều chi? Nếu sức ca ca làm được thì bất luận điều gì cũng ưng thuận!” Tiêu Phong nói: “Xin bệ hạ rủ lòng thương đến ức triệu sinh linh của hai nước Tống, Liêu mà thu ý chỉ nam chinh lại. Người Khất Đan chúng ta sinh sống bằng nghề săn bắn chăn nuôi, dù có lấy được đất đai Nam triều cũng bằng vô dụng. Huống chi việc đao binh hung hiểm khó mà nói trước được. Giả tỉ mình bị bất lợi thì không khỏi thương tổn đến oai danh của bệ hạ.”

Gia Luật Hồng Cơ nghe thấy Tiêu Phong không muốn cử binh nam chinh thì hết sức ngạc nhiên. Người Khất Đan từ vương công cho đến tướng soái đại thần, ai mà nghe thấy hai chữ “nam chinh” cùng nhảy nhót reo hò, không hiểu sao Tiêu Phong lại khuyên can ngăn trở. Gia Luật Hồng Cơ lại liếc nhìn Tiêu Phong, thấy chàng rủ cặp lông mày ra vẻ lo buồn, thì nghĩ thầm: “Ta phong cho y làm Tống Vương kiêm Bình Nam Đại Nguyên Soái, thế là y chỉ ở dưới một mình ta, mà trên cả muôn người, sao y lại không hớn hở mừng vui? Phải rồi! Tuy y là người Liêu, nhưng từ thuở nhỏ đã được bọn Nam man nuôi dạy, có thể nói phân nửa là người Nam man. Nước Đại Tống đối với y đã thành quê hương cố thổ, nên y nghe ta định phát binh đánh Nam man mới cực lực can gián. Thế thì dù ta có ép được y dẫn binh nam chinh, e rằng y cũng không chiu tận tâm tận lực.” Liêu chúa lại nói: “Ý ta đã quyết nam chinh, hiền đệ chẳng nên nói nhiều nữa.”

Tiêu Phong nói: “Chinh chiến là việc lớn của quốc gia, xin bệ hạ nghĩ kỹ. Nếu bệ hạ quyết ý nam chinh, xin hãy ủy thác cho bậc hiền tài nào khác. Hạ thần mà thống lĩnh ba quân, e rằng làm lỡ việc lớn của bệ hạ.”

Chuyến này Gia Luật Hồng Cơ phấn khởi xuôi nam, phong cho Tiêu Phong quan tước lớn, hạ lệnh cho chàng đem quân nam chinh, nghĩ tới tình nghĩa huynh đệ mà ban ân điển, đinh ninh rằng chàng phải hoan hỉ tạ ơn. Thế mà lão lại bị Tiêu Phong dội một gáo nước lạnh lên đầu, không chịu nhận chức Bình Nam Đại Nguyên Soái, trong lòng thật sự không vui. Liêu chúa lạnh lùng hỏi: “Trong mắt ngươi thì Nam triều trọng hơn Liêu quốc, có phải không? Ngươi trung với Nam triều mà không trung với Đại Liêu ta, có phải không?”

Tiêu Phong lạy mọp xuống đất rồi đáp: “Bệ hạ minh xét, Tiêu Phong là người nước Liêu dĩ nhiên là phải tận trung với Đại Liêu. Nếu Đại Liêu gặp nguy nan, Tiêu Phong dù phải nhảy vào lửa cũng tận trung báo quốc, chết vạn lần không lùi bước.”

Hồng Cơ nói: “Thằng lỏi Triệu Hú đã nảy ra ý muốn dòm ngó Đại Liêu. Người ta thường nói: Tiên hạ thủ vi cường, hậu hạ thủ tao ương. Chúng ta mà không kiềm chế họ trước thì cái họa vong quốc có thể xảy ra. Ngươi nói là tận trung báo quốc, chết vạn lần không lùi bước, ta muốn ngươi vì nước mà cầm quân, sao ngươi lại không chịu?”

Tiêu Phong đáp: “Thần bình sinh giết người đã lắm, thực tình không muốn nhúng tay vào máu nữa. Cầu xin bệ hạ cho thần được từ quan, vào chốn sơn lâm ẩn cư.”

Gia Luật Hồng Cơ nghe Tiêu Phong xin từ quan thì trong lòng căm giận, chỉ muốn giết ngay lập tức. Lão nắm lấy chuôi đao, toan rút ra chém vào cổ Tiêu Phong, nhưng lại nghĩ: “Người này võ công lợi hại, nếu mình chém y một đao mà không chết thì tất bị y sát hại. Huống chi ngày trước y đã có đại công cứu mạng, lại cùng mình kết nghĩa anh em. Thế mà ngày nay chỉ vì một câu nói không hợp đã giết kẻ công thần, sao khỏi mang tiếng vong ân phụ nghĩa?” Lão bèn thở dài một tiếng, buông đao ra nói: “Ý kiến của chúng ta không hợp nhau, nhất thời khó mà cưỡng ép được. Ngươi hãy về nghĩ lại. Mong rằng ngươi sẽ hồi tâm chuyển ý mà phụng mạng nam chinh.”

Tiêu Phong tuy phủ phục dưới đất, nhưng người đứng bên chỉ chau mày hay nhúc nhích ngón tay chàng cũng biết ngay, huống chi Gia Luật Hồng Cơ tay nắm chuôi đao nảy ý giết người? Chàng biết rằng nếu mình còn đối đáp với Hồng Cơ thì càng nói càng căng thẳng, khó tránh khỏi chuyện trở mặt nhau, liền đáp ngay: “Tuân chỉ!” Rồi chàng lập tức đứng dậy, dắt ngựa lại cho Hồng Cơ.

Hồng Cơ không nói nửa lời, nhảy phắt lên lưng ngựa, phóng đi ngay. Vua tôi lúc trước cưỡi ngựa song song đi xuống phía nam, bây giờ quay về phía bắc thì chúa trước tôi sau, cách nhau đến nửa dặm dường. Tiêu Phong biết rằng Gia Luật Hồng Cơ đã sinh lòng nghi kỵ, nếu chàng đi gần quá thì sợ nhà vua không yên lòng, mà đối với chuyện nam chinh cũng không biết nói gì thêm, nên chàng đi sau một quãng xa.

Hai người về đến thành Nam Kinh, Tiêu Phong mời Liêu chúa nghỉ lại trong phủ Nam Viện Đại Vương. Hồng Cơ cười nói: “Ta không ở lại Vương phủ để khỏi phiền hiền đệ, chỉ muốn hiền đệ được yên tĩnh mà suy tính cho kỹ những chuyện họa phúc lợi hại. Ta về ngự doanh mà nghỉ!” Tiêu Phong liền đưa Hồng Cơ đến ngự doanh.

Hồng Cơ có đem từ Thượng Kinh đến rất nhiều bảo đao bảo kiếm cùng ngựa hay gái đẹp, ban thưởng cho Tiêu Phong hết. Tiêu Phong tạ ơn, nhận lấy đưa về Vương phủ.

Tiêu Phong rất ít khi đích thân lo chính sự, lại không ưa sách vở chữ nghĩa, nên trong vương phủ chẳng có thư phòng chi hết. Ngày thường chàng cùng chư tướng ngồi bệt trong đại sảnh chuyển bì rượu mà uống, xẻo thịt ra mà ăn, vẫn giữ tập quán thô hào như ở Cái Bang năm trước. Khi các tướng Khất Đan ở trong lều trướng nơi sa mạc thì cũng vậy mà thôi, họ thấy đại vương thân cận hòa đồng với mọi người, được đại vương đích thân tiếp đãi như thế thì lấy làm hoan hỉ.

Tiêu Phong ở ngự doanh trở về thì trời vừa tối. Lúc chàng bước vào đại sảnh, thấy dưới ánh lửa lập lòe có một thiếu nữ áo tía nằm phục trên tấm da hổ, chính là A Tử.

Nàng nghe tiếng bước chân Tiêu Phong đi vào, liền nhỏm đậy, chạy ra ôm lấy cổ, rồi nhìn thẳng vào mắt chàng hỏi: “Muội đến đây, huynh có vui mừng không? Sao vẻ mặt huynh lại buồn bã như thế?” Tiêu Phong lắc đầu đáp: “Ta còn có việc khác. A Tử! Muội đến đây, ta mừng lắm. Trên đời này ta chỉ còn nghĩ đến một mình muội, lúc nào ta cũng lo Tử muội gặp chuyện không may. Nay Tử muội lại quay về cạnh ta, đôi mắt cũng khỏi rồi, thì ta không còn lo lắng gì nữa.”

A Tử cười nói: “Tỉ phu! Chẳng những tiểu muội chữa khỏi mắt, mà còn được hoàng thượng phong làm công chúa. Huynh có thích không?” Tiêu Phong đáp: “Có phong làm công chúa hay không, thì Tiểu A Tử vẫn là Tiểu A Tử. Hoàng thượng lại thăng quan cho ta, ôi thôi!” Chàng thở dài một tiếng, xách một túi rượu lên, mở nắp ra uống ừng ực hai ngụm lớn. Bốn vách đại sảnh xếp toàn bì rượu, lúc nào Tiêu Phong hứng lên lại uống, không cần có người phục thị. A Tử cười nói: “Cung hỉ tỉ phu lại được thăng quan!”

Tiêu Phong lại thở dài, đáp: “Hoàng thượng phong cho ta làm Tống Vương, Bình Nam Đại Nguyên Soái, thống lĩnh ba quân đi chinh phạt Nam triều. Muội nghĩ mà xem, nếu xảy ra chiến tranh thì phải mất mạng bao nhiêu quan binh cùng bách tính? Vì ta không chịu lãnh mệnh, nên hoàng thượng đem lòng tức giận.”

A Tử nói: “Tỉ phu! Huynh thật là cổ quái! Muội nghe người ta kể, khi ở Tụ Hiền Trang, huynh đã sát hại vô số hào kiệt võ lâm Trung Nguyên mà không thở dài một tiếng. Bọn dã man võ lâm Trung Nguyên khinh mạn huynh quá sức tệ hại. Hôm nay chẳng phải dễ dàng mà huynh được hoàng thượng cho một cơ hội nở mày nở mặt, thống lĩnh đại quân giết sạch chúng mà rửa hận. Thế mà nét mặt huynh lại không vui là nghĩa làm sao?”

Tiêu Phong lại nâng bì rượu lên uống một ngụm lớn, rồi thở dài đáp: “Ngày ấy ta cùng tỉ tỉ của muội bị vây đánh, nếu mình không quyết chiến thì phải bị loạn đao phân thây, đó là trường hợp bất đắc dĩ. Hôm ấy ta phải giết không ít hảo bằng hữu, mỗi khi nghĩ đến lại hối hận trong lòng.”

A Tử nói: “À! Tiểu muội hiểu rồi, ngày ấy huynh vì A Châu nên mới giết người. Vậy bây giờ huynh hãy vì muội mà giết bọn Nam man, như vậy có được không?”

Tiêu Phong trợn mắt lên nhìn nàng, nghiêm giọng đáp: “Mạng người là chuyện lớn, vậy mà muội nói cứ như giết dê, giết bò. Gia gia Tử muội tuy là người Đại Lý, song má má Tử muội cũng là người Tống.”

A Tử bĩu môi, xoay lưng lại rồi nói: “Muội đã sớm biết rồi. Trong lòng huynh thì một ngàn muội cũng không bằng một tỉ tỉ, một vạn A Tử còn sống cũng chưa bằng một A Châu đã chết rồi. Tiểu muội chắc là phải chết may ra mới được tỉ phu nghĩ tới một chút. Nếu tiểu muội biết thế này… thì chẳng tội gì mà lặn lội đường xa diệu vợi đến đây để… thăm tỉ phu… Tỉ phu có bao giờ quan tâm đến tiểu muội đâu?”

Tiêu Phong nghe lời nói của nàng đầy vẻ oán hận, bất giác tim chàng đập loạn lên, ngờ rằng cô bé này ngấm ngầm có tình ý với mình. Chàng liền đáp: “A Tử! Muội còn nhỏ tuổi, bướng bỉnh mà tức tối, không hiểu được chuyện của người lớn…” A Tử cướp lời: “Cái gì mà nhỏ tuổi với cả người lớn? Muội không còn nhỏ nữa đâu. Huynh đã nhận lời với tỉ tỉ mà lo lắng cho muội… huynh chỉ lo lắng cho cơm ăn áo mặc… huynh có lo lắng đến tâm sự của muội không? Huynh chưa bao giờ nghĩ tới trong lòng muội đang nghĩ đến chuyện gì.” Tiêu Phong càng nghe lại càng kinh hãi, không dám đáp lời.

A Tử quay người lại, nói tiếp: “Hôm trước muội bị mù lòa, tự biết huynh chẳng ưa gì mình, nên muội cũng chẳng đến thân cận làm chi. Bây giờ đôi mắt muội lành rồi, huynh cũng chẳng thèm nghĩ đến. Muội… muội kém A Châu tỉ tỉ ở chỗ nào? Muội không dễ nhìn bằng tỉ tì ư? Muội kém thông minh hơn tỉ tỉ ư? Chỉ vì tỉ tỉ chết rồi, nên lúc nào tỉ phu cũng nhớ. Muội… muội chỉ hận không được huynh đánh cho một chưởng chết ngay, như thế thì huynh mới bớt nghĩ đến A Châu mà nghĩ đến muội…”

A Tử nói đến chỗ thương tâm, đột nhiên nhảy xổ vào lòng Tiêu Phong rồi khóc òa lên. Tiêu Phong nhất thời chân tay luống cuống, không biết phải làm gì.

A Tử nghẹn ngào một lúc, rồi lại nói: “Muội có còn là đứa trẻ con nữa đâu? Vào đêm mưa gió ở bên cây cầu nhỏ, muội thấy huynh đánh chết tỉ tỉ, rồi khóc lóc cực kỳ thảm thiết. Muội thấy thế mà thương huynh vô cùng, vô cùng. Trong lòng muội đã nghĩ, huynh đừng đau lòng như thế, đã mất A Châu thì muội sẽ thay thế A Châu mà chăm sóc cho huynh hết tình hết ý. Muội đã định bụng đi theo huynh suốt đời, nhưng lại không lọt vào mắt của huynh. Vì huynh nhất định không cho muội đi theo, nên muội mới rủa thầm: Được rồi! Ngươi đã không chịu, thì ta quyết làm cho ngươi thành tàn phế để ta muốn làm gì làm, bắt ngươi phải đi theo ta suốt đời.”

Tiêu Phong lắc lắc đầu rồi nói: “Đừng nhắc đến những chuyện đã qua nữa.” A Tử la lên: “Cái gì mà gọi là chuyện đã qua? vĩnh viễn trong lòng muội, những chuyện đó như mới phát sinh. Đâu phải muội chưa từng nói với huynh, nhưng trước nay huynh có coi muội ra gì đâu?”

Tiêu Phong nhẹ nhàng vuốt tóc A Tử, khẽ nói: “A Tử! Ta lớn tuổi hơn muội nhiều. Ta chỉ có thể lo lắng cho muội như một vị thúc thúc hoặc ca ca mà thôi. Suốt đời ta chỉ yêu có một người, đó là tỉ tỉ của muội. Vĩnh viễn không có nữ nhân thứ hai nào thay thế cho A Châu được. Ta nhất định không thể yêu một cô gái nào nữa. Hoàng thượng đã ban cho ta hơn một trăm mỹ nữ, mà ta chưa để mắt nhìn đến bao giờ. Ta quan tâm đến muội, hoàn toàn chỉ vì A Châu.”

A Tử vừa giận vừa buồn, vung tay lên tát mạnh vào mặt Tiêu Phong đánh bốp một cái. Giả tỉ Tiêu Phong muốn né tránh thì làm sao phát chưởng này đánh trúng mặt chàng được? Nhưng chàng thấy A Tử căm hận đến xám mặt, toàn thân run lẩy bẩy, mục quang lộ vẻ cực kỳ đau khổ, nên không nỡ tránh phát chưởng này.

A Tử tát xong lại hối hận, la lên: “Tỉ phu! Là muội không tốt, huynh… huynh đánh muội đi, đánh muội đi!” Tiêu Phong nói: “Thế còn chưa phải là tính tình trẻ nít ư? A Tử! Trên thế gian này chẳng có việc gì là quá lớn không giải quyết được, muội bất tất phải thương tâm làm chi. Sao mục quang của muội lai buồn thảm đến thế? Tỉ phu chỉ là một hán tử thô lỗ, ở cạnh muội mà chỉ biết khuyên muội đừng đau buồn nữa.”

A Tử hỏi: “Mục quang của muội trông buồn thảm lắm ư? Ôi, đó là của gã Xú Bát Quái đã cho muội.” Tiêu Phong hỏi: “Gã Xú Bát Quái nào đã cho muội?” A Tử nói: “Đôi tròng mắt này là của gã Xú Bát Quái đầu sắt đã cho tiểu muội.”Tiêu Phong nhất thời vẫn chưa hiểu được, liền hỏi: “Gã Xú Bát Quái đầu sắt là ai?” A Tử đáp: “Gã là Bang chủ Cái Bang tên gọi Trang Tụ Hiền. Huynh có biết gã là ai không? Nói tới lại không khỏi cười vỡ bụng, gã chính là Du Thản Chi mà muội đã chụp cái lồng sắt vào đầu. Gã là con của Du Câu nhị trang chủ Tụ Hiền Trang, đã từng ném vôi bột vào mắt huynh. Không hiểu gã học được võ công cổ quái ở đâu, rồi cứ lẽo đẽo theo muội mãi, dám liều mạng để mong được muội thương yêu. Lúc muội mù lòa đã bị gã lừa gạt cực kỳ đau khổ, cứ gọi tới gọi lui gã là Trang công tử. Bây giờ, mỗi khi nghĩ đến muội lại xấu hổ vô cùng!”

Tiêu Phong ngạc nhiên hỏi:”Té ra Trang Bang chủ Cái Bang chính là gã Thiết Sửu đồ chơi của muội, hèn gì mặt gã đầy những sẹo, chắc là khi tháo cái đầu sắt đã bị tổn hại đến da mặt. Gã Thiết Sửu này lại là Du Thản Chi ư? Hừ, thật ra thì muội đã chơi ác quá rồi, hại người ta đến như thế. Người này không nghĩ đến oán cũ, lại hết lòng với muội, thật là hiếm có.”

A Tử cười nhạt nói: ” Hừ! Cái gì mà hiếm có? Có phải gã thật sự hảo tâm đâu? Gã chỉ muốn nịnh nọt để lấy cho được tiểu muội.”

Tiêu Phong nhớ lại hôm trước ở trên núi Thiếu Thất, Du Thản Chi đã đăm đăm nhìn A Tử bằng cặp mắt thâm tình, nhưng lúc đó chàng không để tâm lắm. Tiêu Phong lại hỏi: “Muội hiểu ra chân tướng gã, rồi nổi nóng lên giết phắt gã đi phải không? Rồi muội móc lấy cặp mắt phải không?” A Tử lắc đầu đáp:”Không phải, muội không giết gã. Cặp mắt này là gã tự nguyện cho muội.” Tiêu Phong lại càng không hiểu, liền hỏi: “Sao gã lại móc mắt ra cho muội?”

A Tử đáp:”Gã là một tên si ngốc. Muội lên cung Linh Thứu núi Phiêu Diểu tìm Hư Trúc Tử để xin chữa mắt. Y lục sách thuốc ra đọc mất nửa ngày, rồi nói là phải có mắt người sống thay vào mới được. Toàn bộ bọn nữ nhân trong cung Linh Thứu đều là thuộc hạ Hư Trúc Tử. Muội đến xin y chữa mắt, dĩ nhiên không tiện móc mắt bọn nữ nhân đó, bèn sai Du Thản Chi xuống núi tìm một người, thì gã khóc ròng, nói là khi muội khỏi mắt rồi, nhìn thấy chân tướng gã chắc chắn sẽ không quan tâm gì đến gã nữa. Muội đã bảo là vẫn coi gã như cũ, nhưng gã không tin. Ngờ đâu gã lấy một lưỡi dao nhọn đưa cho Hư Trúc Tử, bảo lấy mắt gã mà thay. Gã đã tự nguyện như thế, mà Hư Trúc Tử vẫn không chịu. Gã đầu sắt liền cầm dao rạch vào người mấy nhát, rạch lên mặt mấy nhát, rồi nói, nếu Hư Trúc Tử không chịu thì gã tự sát ngay lập tức. Hư Trúc Tử không biết làm sao, đành lấy mắt gã để thay vào cho muội.”

A Tử kể lại câu chuyện một cách thản nhiên như chuyện đương nhiên phải thế, nhưng Tiêu Phong nghe thì lại cho là chuyện rùng rợn bình sinh chưa thấy, còn kinh tâm động phách hơn cả ác đấu giết người. Hai tay chàng run lên, đánh rơi bi rượu xuống đất nghe “bịch” một tiếng rồi hỏi: “A Tử! Du Thản Chi cam tâm tình nguyện đem cặp mắt tặng cho ngươi ư?” A Tử đáp: “Đúng thế!” Tiêu Phong nói: “Ngươi… ngươi đúng là lòng dạ sắt đá, người ta tặng mắt cho ngươi mà ngươi cũng nhận ư?”

A Tử nghe chàng xẵng giọng, hai hàng nước mắt lại chảy ra, rồi khóc òa lên nói: “Tỉ phu! Nếu huynh bị mù mắt thì muội cũng cam tâm tình nguyện tặng cặp mắt cho huynh!”

Tiêu Phong nghe giọng nàng cực kỳ thiết tha, tuyệt không chút giả trá nên không khỏi động lòng, dịu dàng nói: “A Tử! Tình cảm của vị Du quân dành cho muội là cực kỳ thâm trọng. Muội có phúc mà không chịu hưởng, trên thế gian này, ngoài y ra thì còn tìm đâu được một vị lang quân thứ hai hữu tình như thế? Hiện giờ y ở đâu?”

A Tử đáp: “Chắc là gã còn ở cung Linh Thứu. Gã đã mù lòa thì làm sao mà xuống được núi Phiêu Diểu?”

Tiêu Phong nói: “Ôi chao! Không chừng nhị đệ sẽ tìm được một tên tử tù để thay mắt cho gã.” A Tử nói: “Không được đâu! Tiểu hòa thượng… không phải, Hư Trúc Tử đã nói, mắt của muội chỉ bị Đinh Xuân Thu dùng chất độc làm mù, kinh mạch chưa đứt, bên trong vẫn tốt, nên có thể thay cặp tròng mắt được. Còn Du Thản Chi bị móc mắt ra thì kinh mạch bị đứt hết, không thay lại được nữa.” Tiêu Phong nói: “Muội mau mau đi tìm y, rồi vĩnh viễn không rời xa gã nữa.” A Tử lắc đầu đáp: “Muội không đi, muội chỉ kề cận tỉ phu mà thôi. Con người xấu như quỷ sứ kia, muội chỉ trông thấy là đã muốn nôn, làm sao đi với gã được?” Tiêu Phong tức giận nói: “Tuy mặt y xấu xí, nhưng lòng dạ y đẹp gấp trăm lần ngươi. Ta không muốn ở cạnh ngươi, ta không muốn nhìn thấy ngươi nữa.” A Tử khóc rống lên: “Muội… muội…”

Bỗng nghe có tiếng chân người bước tới cửa, rồi hai gã vệ sĩ đồng thanh nói: “Thánh chỉ tới!” Cánh cửa mở ra, Tiêu Phong cùng A Tử quay người lại, thấy sứ giả của hoàng đế tiến vào sảnh đường.

Nghi lễ ở triều đình nước Liêu không phiền phức như ở Đại Tống, thần tử thấy sứ giả của hoàng đế mang chiếu chỉ tới thì chỉ đứng nghiêm trang để nghe đọc, không phải mặc triều phục, bày hương án, quì xuống tiếp chỉ. Sứ giả lớn tiếng nói: “Hoàng thượng triệu Bình Nam Công Chúa vào triều kiến.” A Tử đáp: “Vâng!” rồi lau nước mắt, đi theo sứ giả.

Tiêu Phong nhìn sau lưng A Tử, nghĩ thầm: “Du Thản Chi đối với nàng hết dạ chung tình, thật là cổ kim hiếm có. Chỉ vì mối tình đầu của nàng đã đặt vào ta, mà lúc nàng bị trọng thương, ta lại không tị hiềm nam nữ, đến nỗi nàng mang một mối tình si từ lúc còn nhỏ tuổi. Ta phải bảo nàng quay về với Du quân. Người ta đối với nàng như vậy, nếu nàng ruồng bỏ con người đui mù đáng thương đó, thì hoàng thiên tất chẳng dung tha” Tiếng bước chân của sứ giả và A Tử đi mỗi lúc một xa, rồi dần dần không nghe thấy nữa. Tiêu Phong lại nghĩ tới chuyện Gia Luật Hồng Cơ quyết ý sai chàng đi đánh Tống.

Chàng nghĩ thầm: “Không hiểu hoàng thượng triệu kiến A Tử có việc gì? Chắc chỉ để bảo nàng khuyên mình vâng mệnh đánh Tông. Nếu mình cương quyết không tuân chiếu chỉ thì còn đâu là phép nước? Vừa rồi ở phía nam thành đã xảy ra tranh chấp, hoàng thượng nắm lấy chuôi đao, đã nổi sát khí, nhưng chắc ngài nghĩ lại tình chúa tôi, nghĩa huynh đệ rồi cố nén lòng. Nếu mình phụng mệnh phạt Tống, tàn sát ngàn ngàn vạn vạn người Tống, thì quá nhẫn tâm. Huống chi phụ thân lại đã xuất gia ở chùa Thiếu Lâm, nếu người nghe mình dẫn quân nam chinh thì nhất định phải đau lòng. Hỡi ôi! Mình chống lại lệnh vua là kẻ bất trung, không vẹn tình kim lan là bất nghĩa. Mình đem quân nam chinh tàn sát bá tính lại là bất nhân, trái với ý nguyên của phụ thân lại là bất hiếu. Trung hiếu khó vẹn, nhân nghĩa khó toàn, mình biết làm sao cho phải? Thôi, thôi! Chức Nam Viện Đại Vương này không làm nữa, mình không chờ từ biệt, cứ treo ấn mà bỏ đi, nhưng đi đâu bây giờ? Trời đất mênh mông mà không có chỗ cho Tiêu Phong này dung thân!

Chàng nâng bì rượu lên, nốc hai ngụm lớn, rồi tự nhủ: “Ta chờ A Tử quay về, rồi dẫn nàng lên núi Phiêu Diểu. Một là đưa nàng lại cho Du quân, hai là ở chơi với nhị đệ ít ngày, rồi sau sẽ liệu.”

***

A Tử đi theo sứ giả đến ngự doanh, nàng vừa nhìn thấy Gia Luật Hồng Cơ đã nói: “Hoàng thượng! Cái chức Bình Nam Công Chúa này xin trả lại cho ngài, muội không làm nữa!”

Lý do Hồng Cơ triệu kiến A Tử quả không ngoài dự liệu của Tiêu Phong, chỉ muốn nàng về khuyên Tiêu Phong phụng chỉ mà nam chinh. Vừa nghe A Tử nói, hoàng thượng đã chau mày, giận dữ quát: “Việc triều đình phong thưởng là đại sự quốc gia, đâu phải chuyện trẻ con mà muốn làm là làm, không làm thì thôi?” Hồng Cơ sủng ái Tiêu Phong, yêu hoa thích cả lá nên vẫn thường nuông chiều A Tử, lão đột nhiên mắng câu này kể ra cũng nặng. A Tử nấc một tiếng, rồi òa lên khóc. Hồng Cơ giậm chân rồi nói: “Nói năng loạn xạ, thật chẳng ra gì!”

Bỗng phía sau trướng có thanh âm nữ nhân trong trẻo vang lên: “Hoàng thượng giận dữ chuyện gì vậy? Sao lại làm tiểu cô nương phải khóc lóc thế kia?” Rồi có tiếng ngọc khua đinh đang, một thiếu phụ sang trọng bước ra.

Thiếu phụ này mắt long lanh như sóng, miệng tươi tắn như hoa. A Tử biết đây là Mục quý phi, vốn rất được Hồng Cơ sủng ái. Nàng vừa khóc vừa nói: “Mục quý phi! Quý phi phân xử công bằng giúp, tiểu nữ chỉ nói là không làm Bình Nam Công Chúa nữa, mà hoàng thượng đã quát mắng ngay.”

Mục quý phi thấy nàng khóc lóc trông rất đáng thương. Lâu ngày gặp lại, bà thấy A Tử đã cao lớn hơn, dung nhan cũng diễm lệ hơn, bèn quay lại liếc Hồng Cơ một cái, bĩu môi mỉm cười nói: “Hoàng thượng! Nàng không chịu làm Bình Nam Công Chúa, thì hoàng thượng phong làm Bình Nam Quý Phi đi!”

Hồng Cơ vỗ đùi rồi nói: “Nói nhảm, nói nhảm! Ta phong cho cô bé này cùng Tiêu Phong hiền đệ, một người làm Bình Nam Đại Nguyên Soái, một người làm Bình Nam Công Chúa, lại muốn chúng kết hôn với nhau một cách vẻ vang. Không ngờ hiền đệ đã không chịu làm Bình Nam Đại Nguyên Soái, bây giớ cô bé cũng không chịu làm Bình Nam Công Chúa nốt. Phải rồi! Ngươi là người Nam man, không thích chuyện ta bình nam, có phải vậy chăng?”

A Tử đáp:”Muội có nghĩ gì đến chuyện ngài bình nam hay chẳng bình nam đâu? Ngài muốn bình đông cũng được, mà bình tây cũng xong, muội hoàn toàn không quan tâm. Nhưng tỉ phu của muội… tỉ phu bắt muội phải lấy tên Xú Bát Quái đui mắt.” Hồng Cơ cùng Mục quý phi đều ngạc nhiên hỏi: “Sao lại thế?” A Tử không muốn nói rõ nguyên do, chỉ đáp: “Tỉ phu không thích muội, bắt muội đi lấy người khác.”

Giữa lúc ấy bên ngoài trướng có tiếng người kêu khẽ: “Hoàng thượng!”Hồng Cơ chạy ra, thấy một tên vệ sĩ thân tín được cử sang hầu cận Tiêu Phong. Gã hạ giọng nói: “Khải tấu hoàng thượng! Tiêu đại vương đóng cửa công khố, dùng vải gói kim ấn lại rồi treo lên xà nhà, dường như… đại vương… muốn không từ biệt mà bỏ đi.”

Hồng Cơ nghe mà tức giận vô cùng, quát lên: “Phản rồi! Phản rồi! Hắn có còn coi ta là hoàng đế nữa không?” Lão ngầm nghĩ một chút, rồi gọi: “Truyền Ngự Doanh chỉ huy sứ vào đây!” Ngự Doanh chỉ huy sứ vừa lật đật chạy vào, Hồng Cơ đã ra lệnh: “Ngươi lập tức đem binh mã đến vây chặt Nam Viện Vương phủ.” Lão lại xuống chỉ: “Đóng chặt cổng thành, bất luận là ai cũng không được ra vào.” Hồng Cơ sợ Tiêu Phong thống lĩnh bộ thuộc làm phản, liền truyền lệnh gọi hết các bộ tướng dưới trướng Nam Viện Đại Vương đến ngự doanh.

Mục quý phi đang ngồi trong trướng, nghe bên ngoài có tiếng tù và inh ỏi, tiếng vó ngựa dồn dập, không biết đã xảy ra biến cố gì. Người Khất Đan vốn không phân biệt nam nữ nghiêm khắc lắm, bà chạy ra ngoài trướng, khẽ hỏi Hồng Cơ: “Bệ hạ! Đã xảy ra chuyện gì? Sao bệ hạ phải nổi giận xung thiên như vậy?” Hồng Cơ tức giận nói: “Thằng cha Tiêu Phong thật không biết tốt xấu, dám phản ta mà bỏ đi. Lòng hắn vẫn hướng về Nam triều, chắc là hắn tính đi báo tin cho bọn Nam man. Hắn đã biết rất nhiều bí mật quân cơ của Đại Liêu, nếu bỏ qua Tông triều thì thật là nỗi lo trong gan ruột của ta.” Mục quý phi trầm ngâm nói: “Thiếp thường nghe bệ hạ nói là võ công hắn rất cao. Nếu không bắt được mà để hắn ra khỏi trùng vi, quả là một mầm họa lớn.” Hồng Cơ nói: “Đúng thế!” Rồi lão hạ lệnh cho bọn vệ sĩ: “Lệnh cho các trại Phi Long, Phi Hổ, Phi Báo phải hỏa tốc dẫn quân đến ngoài phủ Nam Viện Đại Vương để tiếp viện.” Bọn vệ sĩ ngự doanh vâng lệnh, truyền lệnh xuống cho các trại.

Mục quý phi nói: “Bệ hạ! Thiếp có một kế!” Rồi bà ghé tai Hồng Cơ thì thầm một lúc. Gia Luật Hồng Cơ gật đầu nói: “Hay lắm! Việc này mà thành, ta nhất định sẽ trọng thưởng!” Mục quý phi mỉm cười nói: “Được thấy bệ hạ vui lòng đã là trọng thưởng rồi. Bệ hạ đối xử với thiếp như vậy, thiếp còn mong gì hơn nữa?”

Bên ngoài điều động binh mã rầm rộ. A Tử ở trong trướng vẫn thản nhiên như không. Trong những cuộc đi săn, người Khất Đan vẫn hò hét quát tháo gọi nhau mà chạy tới chạy lui, nàng đã được thấy hàng ngày, không ngờ Hồng Cơ đang điều động binh mã để đi bắt Tiêu Phong. Nàng ngồi thẫn thờ, ruột rối như mớ bòng bong, cứ thầm nghĩ: “Hôm nay ta thổ lộ tâm tình với tỉ phu, nhưng y… y chẳng để ý gì đến ta, lại toan bắt ta đi theo gã Xú Bát Quái kia. Ta… ta thà chết chứ không đi, không đi, không đi, nhất quyết không đi!” Trong lòng nghĩ như thế, hai chân nàng không ngớt giẫm lên đầu con cọp thêu trên tấm thảm.

Thốt nhiên, một bàn tay khẽ đạt lên vai A Tử. Nàng giật mình ngoảnh đầu nhìn lại, thì chạm phải mục quang ấm áp dịu hiền của Mục quý phi. Bà cười hỏi: “Tiểu muội muội! Sao muội lại xuất thần như thế? Muội đang nghĩ tới tỉ phu, có phải thế không?”

A Tử nghe bà nhắc đến tâm sự của mình, bất giác hai má đỏ lên, cúi đầu không nói gì. Mục quý phi ngồi xuống cạnh A Tử, khẽ cầm tay nàng vuốt ve, dịu dàng nói: “Tiểu muội muội! Tính khí bọn nam nhân thường thô lỗ nóng nảy. Nhất là Hoàng thượng cùng Nam Viện Đại Vương đều là anh hùng hảo hán đương thời, muốn thu phục tấm lòng của họ thật là không phải dễ.” A Tử gật gật đầu, nghĩ ràng bà nói câu này có lý. Mục quý phi lại nói: “Trong hậu cung chúng ta có tới hàng trăm hàng ngàn nữ nhân, thật không biết bao nhiêu người mỹ lệ hơn ta, khéo chiều chuộng hoàng thượng hơn ta. Thế mà hoàng thượng chỉ sủng ái một mình ta, một phần là vì duyên phận, một phần là nhờ ta quen với một vị lão hòa thượng ở Thánh Đức Tự tại Thượng Kinh. Tiểu muội tử! Tỉ phu cũa muội không đặt trái tim vào muội, nhưng muội cũng chẳng nên buồn phiền. Khi nào ta cùng hoàng thượng về Thượng Kinh, muội hãy cùng đi một chuyến, đến gặp vị cao tăng tại Thánh Đức Tự, xin người tìm phép giúp muội.”

A Tử ngạc nhiên hỏi: “Vị lão hòa thượng ấy có phép gì?” Mục quý phi đáp: “Việc này ta chỉ nói với muội, muội ngàn vạn lần không được kể với ai. Bây giờ muội phải thề với ta là quyết không tiết lộ bí mật!” A Tử liền nói: “Nếu muội mà tiết lộ bí mật của Mục quý phi thì sẽ bị loạn đao phân thây, chết không toàn thi thể.” Mục quý phi trầm ngâm một lát rồi nói: “Không phải là ta không tin muội, nhưng vì… vì sự việc này liên quan trọng đại. Muội phải thề nặng hơn mới được.” A Tử đáp: “Được! Nếu muội mà tiết lộ bí mật của Mục Quý phi thì sẽ bị chính tỉ phu của muội phóng chưởng đánh chết.” Nàng nói đến đây, trong lòng cảm thấy chua xót, nhưng cũng có chút ít hương vị ngọt ngào.

Mục Quý phi gật đầu, nói: “Bị người mình yêu phóng chưởng đánh chết, thì thật là bi thảm gấp trăm lần loạn đao phân thây. Bây giờ ta tin muội rồi. Tiểu muội tử! Vị cao tăng này Phật pháp vô biên, thần thông quảng đại. Sau khi ta quỳ xuống cầu khẩn, hòa thượng cho ta hai lọ nhỏ nước thánh, dặn ta ngấm ngầm khấn vái rồi lén cho người mình yêu uống vào. Người nào đã uống nước thánh đó thì đến chết cũng không thay lòng đổi dạ. Ta đã cho hoàng thượng uống một lọ rồi, hãy còn một lọ đây.” Bà nói xong, móc trong bọc ra một chiếc lọ sứ nhỏ xíu màu đỏ tươi, nắm thật chặt tựa như chỉ sợ rơi xuống mà bể mất. Thật ra dưới nền có trải thảm dày, dù có rơi xuống cũng chẳng sao.

A Tử vừa kinh ngạc vừa mừng thầm, mở miệng năn nỉ: “Hảo tỉ tỉ, cho muội xem một chút!” Mục quý phi nói: “Xem thì được, nhưng đừng dốc lên.” Hai tay bà trịnh trọng đưa lọ thuốc cho A Tử. A Tử đón lấy, mở nút ra ngửi thì thấy một mùi hương thoang thoảng. Mục quý phi lập tức đưa tay ra lấy lọ thuốc về, đút nút gỗ lại, dùng sức ấn chặt như chỉ sợ thuốc bay hơi mất, rồi nói: “Kể ra thì ta cũng muốn cho muội. Nhưng e rằng vạn nhất hoàng thượng thay lòng đổi dạ, thì ta không còn nước thánh mà dùng nữa.”

A Tử nói: “Tỉ tỉ vừa nói hoàng thượng uống vào thì vĩnh viễn không thay lòng đổi dạ nữa kia mà?” Mục quý phi mỉm cười đáp: “Nói thì nói thế, nhưng không biết hiệu quả của nước thánh này có được bền không. Nếu bền vĩnh viễn thì sao vị lão hòa thượng đó phải cho ta đến hai lọ? Ta chỉ lo bọn phi tần khác mà có, thì chúng cũng lén cho hoàng thượng uống, dĩ nhiên hoàng thượng sẽ thay lòng đổi dạ với ta, chia sẻ tình yêu…”

Ngay lúc đó, bỗng nghe tiếng Gia Luật Hồng Cơ ở ngoài ngự doanh la gọi: “A Mục! Ngươi ra đây, ta có chuyện muốn hỏi.” Mục Quý phi cười đáp: “Ra ngay!” Rồi bà thoăn thoắt chạy ra. Bỗng một tiếng động nhỏ vang lên, cái lọ nhỏ từ trong bọc Mục quý phi rơi ra, nhưng bà không biết.

A Tử vừa kinh ngạc vừa hoan hỉ, chờ bà ra khỏi phòng rồi chạy lại nhặt lấy chiếc lọ cất vào bọc, nghĩ thầm: “Ta phải đem nước thánh này về cho tỉ phu uống, rồi rót nước lã vào trả lại quý phi. Bà đã được hoàng thượng vĩnh viễn sủng ái, thì cũng chẳng dùng nước thánh này làm gì nữa.” Nàng rón rén mở cửa sau, nhẹ nhàng lến ra khỏi ngự doanh, rồi chạy nhanh về phía Vương phủ Nam Viện Đại Vương.

***

A Tử thấy ngoài Vương phủ đang có rất nhiều binh lính, dường như Nam Viện Đại Vương đang phát động binh mã. Nàng tiến vào đại sảnh thì thấy Tiêu Phong đang chắp tay sau lưng, đi lùi đi tới ra chiều nóng ruột.

Chàng vừa thấy A Tử thì cả mừng nói: “A Tử! Muội về thật là đúng lúc, ta chỉ sợ muội bị hoàng thượng bắt giữ rồi. Chúng ta phải đi ngay, chậm thì không kịp nữa!” A Tử ngạc nhiên hỏi: “Đi đâu? Tại sao chậm thì không kịp? Vì lẽ gì mà hoàng thượng muốn bắt giữ muội?”

Tiêu Phong nói: “Muội nghe mà xem!” Hai người im lặng chú ý nghe, thì ở bốn mặt Vương phủ đều có tiếng vó ngựa dồn dập không ngớt, xen lẫn với tiếng thiết giáp và binh khí khua loảng xoảng, cả bốn phía đông tây nam bắc đều như nhau. A Tử hỏi: “Chuyện gì vậy? Huynh định dẫn quân đi chinh phạt ư?”

Tiêu Phong cười khổ, nói: “Những binh lính này không ở trong tay ta nữa. Hoàng thượng sinh lòng ngờ vực, đang muốn bắt ta.” A Tử nói: “Hay lắm! Đã lâu chúng ta không được đánh nhau. Huynh với muội cứ xung sát phá vây mà ra.” Tiêu Phong lắc đầu nói: “Ân đức của hoàng thượng đối với ta không ít, đã phong ta làm Nam Viện Đại Vương lại còn thăng quan tấn tước. Vì ta nhất quyết chẳng chịu xuất chinh nên ngài bắt buộc phải sinh lòng nghi kỵ. Nếu ta tàn hại thuộc hạ của hoàng thượng là không trọng nghĩa huynh đệ, sẽ bị anh hùng thiên hạ chê cười. Nếu Tiêu Phong này vong ân bội nghĩa thì còn mặt mũi nào mà trông thấy ai? A Tử! Chúng ta chạy đi cho êm thấm, đừng để họ bắt là xong.”

A Tử nói: “Hừ, chạy thì chạy. Tỉ phu! Bây giờ chúng ta chạy đi đâu?” Tiêu Phong đáp: “Chạy lên cung Linh Thứu núi Phiêu Diểu.” A Tử sa sầm nét mặt đáp: “Muội không muốn gặp gã Xú Bát Quái nữa đâu.” Tiêu Phong nói: “Việc khẩn cấp lắm rồi, phải chạy lên núi Phiêu Diểu mà thoát hiểm trước đã, rồi sẽ tính sau.”

A Tử nghĩ thầm: “Thế là tỉ phu muốn bắt mình lên núi Phiêu Diểu rồi bỏ mình ở đó. Bây giờ phải cho y uống nước thánh để y đem lòng yêu mình, rồi nghe theo lời mình nói. Nếu còn chần chừ, e rằng Mục quý phi đến nơi lấy lại mất. Nàng liền đáp: “Được rồi! Để tiểu muội lấy mấy bộ y phục đã.”

Nàng lật đật chạy vào hậu đường, rót nước thánh vào một cái bát lớn, rồi vừa pha rượu cho đầy vừa lâm râm khấn: “Đức Bồ Tát có linh thiêng, xui khiến cho Tiêu Phong uống nước thánh xong sẽ đem hết lòng dạ yêu thương A Tử, rồi kết làm phu phụ, vĩnh viễn không nghĩ tới A Châu tỉ tỉ nữa.” Nàng trở ra sảnh đường nói: “Tỉ phu! Huynh hãy uống cạn bát rượu này cho phân khởi tinh thần. Phen này chúng ta ra đi, chắc là vĩnh viễn không trở lại đây nữa.”

Tiêu Phong đỡ lấy bát rượu. Dưới ánh đèn lửa, chàng thấy hai tay A Tử run rẩy, vẻ mặt cũng khác lạ, vừa ra chiều phấn khởi vừa rõ nét ôn nhu, bất giác động lòng nhớ lại chuyện xưa, lúc nào A Châu vui sướng trong lòng thì nét mặt cũng như thế này. Hỡi ôi! Xem chừng A Tử đã quá si tình với mình rồi. Chàng dốc bát rượu vào miệng nuốt ừng ực, rồi hỏi: “Muội đã lấy y phục chưa?” A Tử thấy Tiêu Phong uống cạn nước thánh thì cả mừng, đáp luôn: “Không cần lấy y phục nữa, chúng ta đi thôi!”

Tiêu Phong đeo một cái bọc lên vai, trong bọc chỉ đựng ít quần áo và tiền bạc. Chàng khẽ nói: “Bọn chúng đề phòng ta chạy về phía nam, nên ta phải đi về phía bắc.” Chàng dắt tay A Tử lẹ làng đến gần cổng, nhìn thấy hai tên vệ sĩ đang sóng vai đi tới. Tiêu Phong nấp ở sau cổng, hắng giọng một tiếng. Hai tên vệ sĩ vừa chạy lại xem, chàng liền phóng ngón tay ra điểm huyệt nhanh như chớp, rồi kéo chúng vào bụi rậm, khẽ bảo: “Mau đổi mũ áo của hai người này.” A Tử vui vẻ đáp: “Tuyệt diệu!” Hai người lột mũ áo vệ sĩ mặc vào mình, tay cầm trường mâu sóng vai mà đi! A Tử đội mũ sụp xuống tận mí mắt, liếc qua Tiêu Phong thấy chàng rùn người cho thấp xuống mà đi, không khỏi cười thầm. Hai người đi được hơn hai chục bước, bỗng gặp một tên thập phu trưởng dẫn mười tên thân binh đi tuần qua đó. Tiêu Phong cùng A Tử liền tránh vào vệ đường, giơ trường mâu lên chào.

Tên thập phu trưởng gật đầu rồi bước qua, nhưng dưới ánh đuốc bỗng thấy A Tử mặc áo giáp vừa dài vừa rộng, không hợp mắt chút nào, bất giác nhìn cái nữa, thì thấy vỏ đao sau lưng nàng cũng kéo lê dưới đất. Hắn tức giận, vung quyền đập xuống vai A Tử, quát hỏi: “Ngươi ăn mặc kiểu gì thế?” A Tử cho là mình bị bại lộ hành tung, liền xoay tay lại nắm lấy cổ tay gã, lại phóng chân đá vào lưng gã. Tên thập phu trưởng kêu lên một tiếng “Úi chao!”, rồi té nhào xuống.

Tiêu Phong nói: “Chạy mau!”, rồi kéo A Tử chạy về phía trước. Mười tên thân binh lớn tiếng la: “Có thích khách! Có gian tế!” Chúng chưa biết hai người này là Tiêu Phong và A Tử. Hai người chạy được một quãng nữa thì gặp mười mấy tên khinh kỵ từ phía trước chạy lại. Tiêu Phong giơ trường mâu lên gạt ngang một cái, bọn chúng ngã hết từ trên ngựa xuống đất. Chàng xách A Tử để lên lưng ngựa, rồi chính mình nhảy lên một con khác, kéo ngựa quay đầu lại, chạy thẳng về hướng cửa Bắc.

Lúc này binh tướng vây quanh bốn mặt. Vương phủ Nam Viện Đại Vương đều đã biết tin, bốn phương tám hướng đều kéo đến đuổi theo. Tiêu Phong phóng ngựa chạy thật nhanh, quả nhiên chàng dự đoán rất đúng, mười phần quân Liêu thì đến tám phòng thủ phía nam, còn phía bắc thì chỉ lác đác mấy tên. Bọn này cũng đã được báo động, vừa thấy hai người đi đến đã hoảng vía. Chúng cũng tuân theo quân lệnh mà tiến lại ngăn cản, nhưng mới nghe Tiêu Phong quát một tiếng là đã dạt ra tránh chỗ, rồi mới chạy theo sau vừa rượt đuổi vừa la hét. Khi Ngự Doanh chỉ huy sứ điều động nhân mã đuổi tới nơi thì Tiêu Phong cùng A Tử đã chạy xa rồi.

Tiêu Phong giục ngựa ra đến cửa Bắc thì cổng thành đã đóng chặt, lại có hơn trăm người canh giữ, cùng đưa trường mâu ra cản đường. Giả tỉ Tiêu Phong xông vào đánh giết thì bọn Liêu binh này không ngăn trở nổi, nhưng chàng chỉ cần chạy thoát thân, không muốn giết hại người cùng một nước. Tiêu Phong vươn tay phải ra xách A Tử từ lưng con ngựa kia qua ôm vào lòng, chân trái nhún vào bàn đạp một cái, hai chân đứng trên lưng ngựa, hít một hơi chân khí rồi phi thân nhảy lên tường thành. Kể ra thì tường thành quá cao, khó nhảy tới được, nhưng chàng đã tính sẵn. Lúc thân hình hết đà, bắt đầu rơi xuống, tay trái chàng đâm mạnh cây trường mâu vào tường thành để mượn sức nhảy lên cái nữa, quả nhiên lên tới mặt thành.

Tiêu Phong nhìn ra ngoài thành, chỉ thấy tối đen không có đèn lửa chi hết, chứng tỏ không ai dự đoán là chàng chạy về phía bắc, nên ngoài thành không có một tên quân nào canh giữ. Tiêu Phong hú một tiếng dài, rồi hướng vào trong thành lớn tiếng nói: “Các ngươi về báo với hoàng thượng, Tiêu Phong có tội với hoàng thượng, không dám gặp mặt. Đại ân đại dức của hoàng thượng, Tiêu Phong nhất định không quên.”

Chàng ôm lấy lưng A Tử quay người ra ngoài, chỉ cần nhảy xuống khỏi tường thành là như cá lội dưới biển, chim bay trên trời, không còn bị ai câu thúc nữa.

Trong lòng chàng đang hoan hỉ, vừa sắp tung mình nhảy xuống thì đột nhiên trong bụng nổi đau kịch liệt, hai tay tê dại. Tay trái đang ôm lưng A Tử bất giác buông lơi, nàng rơi xuống mặt thành. Rồi hai chân chàng cũng nhũn ra, ngã lăn ra bên cạnh A Tử. Bụng chàng tưởng chừng như bị trăm ngàn mũi dao đâm vào, đau đớn vô cùng, không nhịn nổi phải “Ôi chao” một tiếng. A Tử cả kinh la hỏi: “Tỉ phu! Huynh làm sao vậy?” Toàn thân Tiêu Phong co rúm lại, răng khua lách cách mà đáp: “Ta… ta trúng… kịch độc… Đợi… đợi ta vận khí… trục ra…” Chàng vận chân khí vào Đan điền để thúc đẩy chất độc ra ngoài, nhưng không vận khí còn đỡ hơn, vận khí thì toàn thân lại càng đau đớn, nội tức trong Đan điền chỉ đưa lên được vài tấc, rồi trầm xuống lại. Tiêu Phong nghe tiếng vó ngựa dồn dập, có đến nghìn quân khinh kỵ từ phía nam chạy tới. Chàng cố vận khí lần nữa thì tứ chi hoàn toàn tê dại, liền biết ngay là mình trúng phải chất độc lợi hại vô cùng, không thể dùng nội lực thúc đẩy ra được. Tiêu Phong liền bảo: “A Tử! Muội mau mau chạy đi. Ta… ta không thể đi theo muội được!”

A Tử đột nhiên tỉnh ngộ, biết mình đã mắc gian kế của Mục quý phi, chính mình đã đem thuốc độc cho Tiêu Phong uống mà cứ tưởng là nước thánh. Nàng vừa kinh hãi vừa hối hận, ôm lấy cổ Tiêu Phong vừa khóc vừa nói: “Tỉ phu!… Muội hại huynh rồi, thuốc độc này là muội đã cho huynh uống.” Tiêu Phong đang run lên, chẳng hiểu ra sao, hỏi lại: “Sao muội lại hại chết ta?” A Tử vừa khóc vừa đáp: “Không, không! Mục quý phi cho muội một lọ nước, nói dối muội là huynh uống vào sẽ vĩnh viễn thương yêu, lấy muội làm… làm vợ. Muội ngu xuẩn nên bị mắc lừa. Tỉ phu! Muội nguyện chết cùng huynh, chúng ta vĩnh viễn không rời nhau nữa.” Nói xong, nàng rút đoản đao ra, toan tự đâm vào cổ.

Tiêu Phong nói: “Khoan… khoan đã!” Toàn thân chàng nóng như lửa thiêu, đau như dao cắt, không thể suy nghĩ được, một lúc sau mới hiểu A Tử nói gì, liền đáp: “Ta không chết đâu, muội bất tất phải tự vẫn.”

Bỗng nghe hai cánh cổng thành nặng nề rít lên ken két, rồi mở ra. Mấy trăm kỵ binh xông ra cửa Bắc, lập thành trận thế. Tiêu Phong ngồi trên mặt thành nhìn ra phía bắc, thấy ánh lửa lập lòe trong một phạm vi hàng mấy dặm, tựa như những con rồng lửa uốn khúc quây lấy cửa Bắc. Chàng quay lại nhìn về phía nam cũng thấy đèn đuốc sáng rực gần nửa thành trì, nghĩ thầm: “Hoàng thượng điều động hết binh mã ở ngự doanh ra đây, chỉ để bắt một mình ta! Trong thành ngoài thành đều có tiếng reo hò rầm rộ: “Phản tặc Tiêu Phong! Mau mau đầu hàng đi!”

Tiêu Phong lại nổi cơn đau bụng kịch liệt, hạ giọng bảo: “A Tử! Muội mau mau trốn đi!” A Tử đáp: “Chính tay muội hạ độc hại chết huynh, sao có thể chạy trốn một mình? Muội… muội… nguyện cùng chết với huynh một chỗ!” Tiêu Phong cười khổ, nói:”Đây không phải là loại độc dược giết người, ta chỉ nhất thời đau đớn, không động thủ được mà thôi.”

A Tử mừng rỡ hỏi lại: “Thật ư?”

Nàng xoay người lại, gắng sức cõng Tiêu Phong lên vai. Nhưng thân hình nàng nhỏ nhắn quá, mà Tiêu Phong lại khôi vĩ, A Tử cõng chàng đứng lên rồi, mà hai chân chàng vẫn chấm đất. Lúc ấy, hơn chục tên võ sĩ Khất Đan trèo lên mặt thành, tay cầm đoản đao, tay cầm đuốc. Bọn chúng đều khiếp oai Tiêu Phong, không dám đến gần.

Tiêu Phong nói: “Chống cự cũng vô ích, để chúng lại bắt đi thôi!” A Tử vừa khóc vừa nói: “Không! Ai dám đụng đến một sợi tóc của huynh, muội phải giết ngay lập tức!” Tiêu Phong nói: “Đừng vì ta mà giết người. Nếu ta chịu giết người, thì đã phụng chỉ lãnh binh đi chinh phạt Nam triều rồi, hà tất phải để xảy ra những chuyện rắc rối?” Rồi chàng lớn tiếng nói: “Các người rụt rè như vậy thì đâu phải là nam tử Khất Đan? Hãy đưa ta đến yết kiến hoàng thượng!”

Bọn vô sĩ đều sửng sốt, khom lưng cung kính nói: “Vâng! Bọn tiểu nhân vì tuân thánh chỉ mà vô lễ với đại vương, xin đại vương tha tội!” Tiêu Phong mới làm Nam Viện Đại Vương chưa được bao lâu, nhưng oai danh chàng vang lừng đất Bắc, tướng sĩ Khất Đan mười phần kính phục. Trong đám đông thì quân lính vẫn la ó rầm trời: “Phản tặc Tiêu Phong”, nhưng vừa đối diện chàng lại tự nhiên sinh ra kính sợ, không dám vô lễ chút nào.

Tiêu Phong vịn vai A Tử gắng gượng đứng lên, lục phủ ngũ tạng quặn đau như bị bứt ra từng khúc. Bọn quân sĩ lùi xa một trượng, tra đao vào vỏ, theo chàng đi từng bước một, lần bậc đá mà xuống khỏi mặt thành. Các tướng sĩ thấy Tiêu Phong xuống tới nơi, bất giác không tự chủ được, nhảy cả xuống ngựa. Trong thành ngoài thành, hàng vạn tướng sĩ đứng im phăng phắc.

Dưới ánh lửa, Tiêu Phong thấy tướng sĩ đều ra vẻ cung kính, thì trong lòng cũng nảy ra một ý nghĩ ấm áp: “Mình mà Nam chinh, thì e rằng hàng vạn tướng sĩ này sống sót mà trở về Bắc quốc chưa được một nửa. Nếu mình thật sự cứu sống được rất nhiều sinh linh, thì có bị hoàng thượng đem ra xử tử cũng không oán hận. Nhưng chỉ sợ hoàng thượng giết mình xong, lại phái người khác dẫn binh Nam chinh…” Nghĩ tới đây, bụng chàng lại nổi cơn đau, người lảo đảo muốn té.

Một tên bộ tướng dắt ngựa lại rồi đỡ chàng lên lưng ngựa, A Tử cũng cưỡi ngựa đi theo sau. Đoàn người tiền hô hậu ủng, lại nhắm hướng nam đưa Tiêu Phong về Vương phủ. Các tướng sĩ tuy đã bắt được Tiêu Phong, lập được đại công, nhưng chẳng thấy vui mừng chút nào. Chỉ nghe thấy tiếng thiết giáp loảng xoảng, tiếng mấy vạn móng sắt ngựa gõ lộp cộp trên đường lát đá, nghe rất ồn ào, nhưng tuyệt không có một tiếng hoan hô.

Đoàn người đi vào cửa Bắc đang mở rộng, gần đến cầu Bạch Mã, Tiêu Phong giục ngựa lên cầu. A Tử đột nhiên vọt người lên, hai chân đứng trên yên ngựa, rồi nhảy vèo xuống sông. Tiêu Phong bị bất ngờ, không khỏi giật mình, rồi lại mừng thầm. Chàng nhớ lại ngày mới gặp cô bé ương ngạnh này, nàng đã nhảy xuống Tiểu Kính Hồ giả chết để lừa gạt song thân, nghề bơi lặn thật là hiếm thấy. Bây giờ nàng đã lặn xuống nước trốn đi, thật là chuyện tốt, nhưng chàng e rằng từ đây không còn ngày tái hội, cũng cảm thấy bâng khuâng. Tiêu Phong lớn tiếng gọi: “A Tử! Sao muội lại tự trầm? Hoàng thượng có làm khó muội đâu, hà tất phải nhảy xuống sông tự tận?”

Các tướng sĩ nghe Tiêu Phong nói vậy, lại thấy A Tử chìm xuống đáy sông rồi không nổi lên nữa, cũng cho là nàng tự trầm mà chết. Hoàng đế chỉ hạ lệnh bắt một mình Tiêu Phong, A Tử chết thì cũng thế mà trốn thoát cũng được thôi, mọi người chẳng bận tâm làm chi. Họ dừng lại đầu cầu một chút, nhìn xuống sông không thấy động tĩnh gì, rồi lại đi theo Tiêu Phong.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.